18.Nội Ngoại.
Trong 18 giới, bao nhiêu
giới thuộc nội[1] , bao nhiêu giới thuộc ngoại [2]?
Tụng văn.
Hán.
内 十 二
眼 等
色 等 六
為 外
Âm Hán.
Nội thập nhị nhãn
đẳng
Sắc đẳng lục vi
ngoại
Dịch nghĩa.
Nội giới có mười
hai, mắt, v.v..
Sáu giới sắc, thanh,
v.v... là ngoại (38ab).
Luận thích.
1.Tổng thích (nội
ngoại ).[3].
Mười hai giới gồm
sáu căn (indriya), sáu thức (vijñāna) gọi là nội. Ngoại chỉ
cho sáu cảnh (gocara) còn lại; đó là sắc, thanh,v.v...
2.Biệt thích.
i.Chánh thích. sở y
của ngã gọi là nội; ngoại, nghĩa là ngoài những giới nầy
[4].
ii.Phân biệt. ngã thể
vốn đã không có, làm sao lại có nội ngoại?
Vì là chỗ nương tựa
của ngã chấp [5] cho nên tạm thời [6] nói tâm là ngã. Khế
kinh nói rằng,
Do khéo léo điều phục
ngã,
Người trí được
sanh lên cõi trời.
Trong những Kinh khác,
đức Thế tôn (Bhagavān) cũng nói đến việc điều phục tâm.
Chẳng hạn Khế kinh nói,
Hãy khéo léo điều
phục tâm
Tâm được điều phục,
ắt sanh lạc.
Do vậy, tâm tạm nói
là ngã.
Nhãn,v.v... là sở y
(āśraya) thân cận của ngã nên gọi là nội. Sắc, v.v... là
sở duyên (ālambana-pratyaya) sơ viễn của ngã nên gọi là ngoại.
(Vấn nạn) Nếu vậy,
sáu thức không nên gọi là nội, bởi lẽ, khi đó (thời,
時; adhvan) sáu thức chưa đến vị trí của ý, chẳng phải
là sở y của tâm [7].
(Phản nạn) Khi đến
vị trí của ý, không mất sáu thức giới; khi chưa đến vị
trí của ý, cũng không vượt ra ngoài tướng trạng của ý.
Nếu khác như thế thì, ý giới chỉ nên ở quá khứ; sáu
thức chỉ nên ở hiện tại, vị lai. Và như vậy, trái với
bản tôn (Hữu Bộ) nói rằng, 18 giới thông cả ba đời.
Lại nữa, nếu trong
hiện tại và vị lai, sáu thức không có tướng của ý giới
thì, ý giới trong quá khứ cũng không nên thành lập, vì tướng
ở ba đời, không thể thay đổi [8].
Như vậy đã nói xong
về nội và ngoại.Tiếp đến,
19. Đồng phần, Bỉ
đồng phần.
Trong 18 giới, bao nhiêu
giới là đồng phần (sabhāga), bao nhiêu giới là bỉ đồng
phần (tat-sabhāga)?
Tụng văn.
Hán
法 同 分
餘 二
作 不 作
自 業
Âm Hán.
Pháp đồng phần dư
nhị
tác bất tác tự nghiệp.
Dịch nghĩa:
Pháp giới là đồng
phần, còn lại cả 2,
có hoạt động tự
thân và không có hoạt động tự thân (38cd).
Luận thích:
1.Phápgiới (dharmadhātu):
/38c/.Pháp giới là
đồng phần [9] : nghĩa là duy chỉ có một pháp tức pháp giới
là đồng phần. Như khi cảnh là sở duyên của thức, ở trong
đó, thức đã sinh khởi các sanh pháp [10] cảnh sở duyên nầy
gọi là đồng phần. Không một pháp giới nào mà không ở
trong đó, đã sanh, đang sanh và sẽ sanh vô biên thức [11].Do
vậy, chư thánh quyết định sanh tâm quán tất cả các pháp
đều là vô ngã (đây là ví dụ cụ thể về quán vô ngã).
Trừ tự thể và các
pháp câu hữu của tâm, tất cả các pháp còn lại đều là
sở duyên. Các pháp được trừ như vậy cũng là cảnh sở
duyên của đệ nhị niệm tâm. Đệ nhị niệm tâm nầy duyên
cùng khắp với tất cả các cảnh, không thiếu một cảnh
nào. Cho nên, pháp giới luôn luôn gọi là đồng phần.
2. Các giới khác.
/38c/.còn lại cả 2:
tức 17 giới còn lại đều có đồng phần và bỉ đồng phần
[12].
Sao gọi là đồng phần
và bỉ đồng phần? Đó là có hoạt động tự thân và
không có hoạt động tự thân. Nếu có hoạt động tự thân
gọi là đồng phần; không có hoạt động tự thân gọi là
bỉ đồng phần.Trong đó, nhãn giới đối với các sắc, đã
thấy, đang thấy và sẽ thấy gọi là đồng phần nhãn. Như
vậy nói rộng ra cho đến ý giới; mỗi mỗi giới đối với
đối tượng của nó (tự cảnh), nói về hoạt động tự
thân (tự dụng).
Tỳ-bà-sa sư nước
Ca-thấp-di-la [13] nói rằng (truyền thuyết), bỉ đồng phần
nhãn có 4 loại -đó là không thấy các sắc đã (1), đang (2),
sẽ diệt (3) và các pháp không sanh khởi (4).Các Luận sư Tây
phương nói, có 5 loại; đó là pháp bất sanh lại chia làm
hai -một, thuộc thức; hai, không thuộc thức.
Cho đến thân giới,
nên biết cũng như vậy.
Ý bỉ đồng phần
chỉ có bất sanh pháp.
Sắc giới được con
mắt đã, đang và sẽ thấy gọi là sắc đồng phần. Sắc
bỉ đồng phần cũng có 4 loại – đó là sắc đã, đang,
sẽ và các pháp không sanh, không được thấy bởi mắt. Nói
rộng ra cho đến xúc giới cũng như vậy; mỗi mỗi căn cứ
vào căn của nó, (tức tai, v.v...), nói về hoạt động tự
thân (của mỗi một trần cảnh). Theo đó, nên biết ý nghĩa
của đồng phần và bỉ đồng phần.
Mắt ở nơi một người
là đồng phần, ở nơi tất cả những người còn lại cũng
là đồng phần. Bỉ đồng phần cũng như vậy. Nói rộng ra
cho đến ý giới cũng như vậy.
Sắc không như vậy,
đối với người thấy, gọi là đồng phần; với người
không thấy là bỉ đồng phần. Lý do vì sao? Vì rằng, sắc
được thấy bởi một người, cũng được thấy bởi nhiều
người; như nhìn các sắc tượng như mặt trăng, khiêu vũ,
đánh bốc, v.v... (đây là ví dụ các sắc được nhiều người
thấy). Mắt thì không như vậy; nghĩa là, một nhãn căn không
thể hai người cùng thấy sắc.
Do mắt không cùng chung
cho nên căn cứ vào một tương tục [14] để thành lập đồng
phần và bỉ đồng phần. Sắc là cùng chung nên căn cứ vào
nhiều tương tục để thành lập đồng phần và bỉ đồng
phần.
Cũng như nói về sắc
giới, các giới thanh, hương, vị, xúc, nên biết cũng như
vậy.
Thanh có thể giống
như sắc. Ba cảnh hương, vị, xúc phải tiếp hợp với căn
mới có thủ đắc, tức là không cùng chung, chỉ một người,
ngoài ra là không. Thế thì lẽ đáng nên nói giống như nhãn,
không nên như sắc.Tuy có lý như vậy nhưng lại đồng thời
có sự cùng chung. Sao vậy? Ba giới hương, v.v... ở nơi một
hay nhiều người đều có thể phát sanh các thức mũi, v.v...(tức
là cùng chung). Mắt, v.v... thì không như vậy; cho nên, như
sắc mà nói.
Sáu thức mắt, v.v...,
đồng phần và bỉ đồng phần đối với các pháp sanh và
bất sanh, theo như ý giới mà nói.
3.Ý nghĩa của đồng
phần,v.v...
Nghĩa của đồng phần
và bỉ đồng phần là như thế nào?
/38d/. có hoạt động
tự thân và không có hoạt động tự thân.
Ba pháp căn, cảnh,
thức giao thiệp với nhau gọi là đồng phần. Hoặc phần
có nghĩa là hoạt động của tự thân. Hoặc, phần có nghĩa
là xúc sở sanh. Cùng có chung phần nầy cho nên nói là đồng
phần.
Trái với đồng phần
là bỉ đồng phần. Do Phi đồng phần (bỉ đồng phần) có
chủng loại giống với đồng phần nên gọi là bỉ đồng
phần [15].
Đã nói xong về đồng
phần và bỉ đồng phần.
20.ĐOẠN TRỪ [16].
Trong 18 giới,
bao nhiêu giới thuộc kiến đoạn [17], bao nhiêu giới thuộc
tu đoạn [18] và bao nhiêu giới thuộc phi sở đoạn [19]?
Tụng văn.
Hán.
十 五 唯
修 断 後 三 界 通 三
不 染 非
六 生 色 定 非 見
断
Âm Hán.
Thập ngũ duy tu đoạn
hậu tam giới thông tam
Bất nhiễm phi lục
sanh Sắc định phi kiến đoạn
Dịch nghĩa:
Mười lăm giới thuộc
tu đoạn
Ba giới sau cùng thông
cả ba.
Pháp bất nhiễm, không
do thứ 6 sanh,
và Sắc chẳng thuộc
kiến sở đoạn (39)
.
Luận thích:
1.Phân biệt.
/39ab/.Mười lăm giới
: đó là mười sắc giới và năm thức giới.
thuộc tu đoạn : chỉ
có 15 giới nầy được đoạn trừ ở giai đoạn tu đạo.
Ba giới sau cùng : đó
là ý giới, pháp giới và ý thức giới.
thông cả ba : nghĩa
là ba giới sau cùng nầy thông với cả ba loại (tức được
đoạn trừ ở hai giai đoạn kiến, tu; đồng thời chúng còn
có tính chất vô lậu nên thuộc phi sở đoạn).
Tám mươi tám tuỳ
miên, các pháp câu hữu [20] của chúng và tuỳ hành đắc [21]
đều được đoạn trừ ở giai đoạn kiến đạo nầy. Tất
cả các pháp hữu lậu còn lại đều được đoạn trừ ở
giai đoạn tu đạo. Tất cả các pháp vô lậu thuộc phi sở
đoạn.
2. Các ý kiến khác.
Há không phải có pháp
được đoạn trừ ở giai đoạn kiến đạo, đó là dị sanh
tánh và các nghiệp thân ngữ đưa đến quả báo xấu ác vì
những pháp nầy hoàn toàn trái ngược với thánh đạo chăng
[22]?.
3.Tướng các pháp được
đoạn trừ.
/39cd/. Pháp bất nhiễm,
không do thứ 6 sanh,
và Sắc chẳng thuộc
kiến sở đoạn
Tuy có, nhưng những
pháp nầy chẳng phải được đoạn trừ ở kiến đạo. Nói
một cách văn tắt rằng [23], các pháp bất nhiễm [24],
không do thứ sáu sanh và sắc [25] chắc chắn không thể được
đoạn trừ ở kiến đạo.
Dị sanh tánh (Pṛthagjanatva)
nhiếp thuộc bất nhiễm ô vô ký (Akliṣṭâvyākṛta) [26],
bởi lẽ những vị đã ly dục (Vītarāga), những hàng đã
đoạn thiện căn (Samnochinna-kuśalamūla) còn vẫn thành tựu.
Dị sanh tánh nầy, nếu được đoạn trừ ở kiến đạo thì
hoá ra, khổ pháp nhẫn vị là hàng dị sanh.
Thứ sáu : chỉ cho
ý xứ; không sanh ra từ xứ nầy (ý xứ) nên gọi là phi lục
sanh. Có nghĩa sanh ra từ năm căn nhãn, v.v... tức là năm
thức, v.v....
Sắc: tất cả các
nghiệp thân ngữ, v.v....
Tất cả các pháp trên
chắc chắn không thể là kiến sở đoạn.
Vì sao như vậy?
Vì chẳng phải do mê
mờ về đế lý mà chúng khởi lên.
Như vậy, nói xong kiến
sở đoạn, v.v...
21.KIẾN, PHI KIẾN.
Tụng văn.
Hán.
眼 法 界
一 分 八 種 說 名
見
五 識
俱 生 慧 非 見 不
度 故
眼 見
色 同 分 非 彼 能 依
識
傳 說
不 能 觀 被 障 诸
色 故
Âm Hán.
Nhãn pháp giới nhất
phần Bát chủng thuyết danh kiến
Ngũ thức câu sanh huệ
phi kiến bất đạc cố.
Nhãn kiến sắc đồng
phần phi bỉ năng y thức
Truyền thuyết bất
năng quán bị chướng chư sắc cố.
Dịch nghĩa:
Nhãn giới, một phần
pháp giới tám loại gọi là kiến
Năm thức thuộc huệ
câu sanh chẳng phải là kiến, vì không suy đạc.
(40)
Thấy sắc là đồng
phần nhãn chẳng phải thức năng y kia;
theo truyền thuyết,
không thể thấy các sắc bị ngăn che
(41)
Luận thích:
/40a/.Nhãn giới hoàn
toàn là kiến [27] (Dṛṣti).
/40ab/.Một phần pháp
giới, tám loại gọi là kiến : (pháp giới gồm có ba phần
-một, các pháp tương ưng với tâm tức là tâm sở; hai, các
pháp không tương ưng với tâm, đó là bất tương ưng hành
pháp; và ba là các sắc vô biểu). Tất cả các giới còn lại
không phải là kiến.
Tám loại là những
gì? Đó là năm loại kiến nhiễm ô, thân kiến (sat-kāya-dṛṣti),
v.v... cùng ba loại thế gian chánh kiến, hữu học chánh kiến
và vô học chánh kiến.Trong pháp giới, tám loại nầy là kiến,
còn lại không phải là kiến. Năm loại thân kiến, v.v...,
đến phẩm Tuỳ miên sẽ nói.
Thế gian chánh kiến
: đó là ý thức tương ưng với huệ thiện hữu lậu [28].
Hữu học chánh kiến : đó là vô lậu kiến trong thân phần
các vị hữu học. Vô học chánh kiến : đó là vô lậu kiến
trong thân phần của các vị vô học.
Thí như ban đêm, ban
ngày, có mây, không mây, nhìn ảnh tượng của các sắc pháp,
rõ ràng hay không rõ ràng không giống nhau. Cũng như vậy, các
kiến thế gian hoặc nhiễm hoặc không nhiễm cùng các kiến
của hữu học (śaikṣa) hay vô học (aśaikṣa) quán sát tướng
trạng của các pháp cũng không giống nhau.
Lý do vì sao mà thế
gian chánh kiến chỉ tương ưng với ý thức? Bởi lẽ,
/40cd/.Năm thức thuộc
huệ [29] câu sanh,
chẳng phải là kiến
vì không suy đạc
Trước là thẩm lự
[30], tiếp đến là quyết đạc [31] mới gọi là kiến. Năm
thức thuộc huệ câu sanh không có khả năng như vậy vì không
có phân biệt cho nên chẳng phải là kiến. Căn cứ vào đây,
các huệ nhiễm, vô nhiễm và các pháp còn lại, nên biết,
chẳng phải là kiến.
(Thức kiến gia–Pháp
Cứu -Đại Chúng Bộ) Nếu vậy, nhãn căn không có khả năng
quyết đạc, tại sao gọi là kiến?
/41a/.Thấy sắc là
đồng phần nhãn
Bởi do khả năng quán
chiếu sắc pháp [32] một cách sắc sảo rõ ràng cho nên cũng
gọi là kiến (nhãn kiến gia -Thế Hữu).
(Thức kiến nạn) Nếu
cho rằng nhãn kiến thì khi các thức khác đang hoạt động
[33] cũng nên gọi là kiến (con mắt cũng phải thấy)?
Chẳng phải tất cả
các loại nhãn đều có công năng hiện kiến.
(Thức gia)Thế thì
nhãn nào có công năng hiện kiến?
Đó là đồng phần
nhãn cùng hợp vị trí với thức có công năng thấy; ngoài
ra, chẳng có nhãn nào khác.
(Thức gia) Nếu như
vậy thì lẽ đáng thức năng y kia thấy sắc, chứ đâu phải
mắt [34]?
/41b/.Chẳng phải thức
năng y kia
(Tất cả, trừ Thức
kiến gia) Không phải vậy. Nhãn thức chắc chắn không thể
thấy được. Lý do vì sao?
/41cd/. Theo truyền thuyết,
không thể thấy các sắc bị ngăn che
(Nhãn kiến gia) Truyền
thuyết nói, vì không thể nhìn thấy các sắc bị chướng
ngại. Theo hiện kiến thế gian, các sắc bị chướng ngại
bởi tường, v.v..., thì không thể thấy được. Nếu cho rằng
thức thấy, thức là vô đối tức không bị chướng ngại
bởi tường, v.v..., lẽ ra nên thấy các sắc bị che chắn
(bởi tường, v.v...).
(Thức gia đáp) Đối
với các sắc bị chướng ngại, thức con mắt không sanh, thức
đã không sanh, như thế nào mà thấy được.
(Nhãn gia hỏi) Đối
với các chướng sắc kia, vì sao thức con mắt không sanh? Nếu
cho rằng mắt thấy [35], thì mắt là hữu đối nên đối với
các chướng sắc, không thể thấy được; thức với ý căn
của nó cùng một cảnh chuyển khởi; cho nên có thể nói
đối với các chướng sắc, thức con mắt không thể sanh khởi.
Còn các ông cho rằng thức thấy thì tại vì duyên cớ gì
lại không khởi lên?
(Thức gia phản nạn)
Mắt đâu giống như thân, căn cảnh hoà hiệp [36] mới thủ
đắc mà nói hữu đối, nên không thể thấy được những
sắc kia đâu.
(Thức gia trùng nạn)
Hơn nữa, tại sao các sắc bị ngăn trở bởi pha lê (sphaṭika,
頗 胝 迦 ), lưu ly (abhra-paṭala), mi ca, nước, v.v..., vẫn
thấy. Do vậy không phải do con mắt có chất ngại nên
đối với các chướng sắc không thể thấy.
(Nhãn gia hỏi) Nếu
vậy, cho rằng thức thấy thì thế nào?
(Thức gia đáp) Nếu
ở nơi đó, ánh sáng không gián cách, đối với chướng sắc,
thức con mắt sanh khởi. Nếu cũng ở nơi đó, ánh sáng bị
cách trở, đối với các chướng sắc, thức con mắt
không thể sanh khởi. Thức đã không sanh tức không thể thấy.
(Thức gia thông kinh)
Song, Khế kinh nói, mắt thấy sắc tức căn cứ sở y mà
gọi tên năng y vậy.
(Thức gia dẫn dụ)
Như Kinh kia nói, ý có công năng nhận biết các pháp, thật
sự chẳng phải ý nhận biết, vì đã là quá khứ.
(Nhãn gia) Thế thì
cái gì nhận biết?
(Thức gia) Đó là ý
thức. Ý là chỗ nương của thức cho nên dùng nó để gọi
tên của thức năng y (ý thức).
(Thức gia lại đáp)
Hoặc như, dựa vào sở y mà nói nghiệp năng y; như thế gian
nói, tiếng nói của giường, ghế [37]. (Thật sự giường
ghế đâu có tiếng nói; nhưng nó là sở y, nên lấy đó để
gọi tên năng y tức tiếng người vậy).
(Thức gia lại dụ)
Lại như Kinh nói, các sắc được nhận biết bởi mắt, đáng
ưa, đáng thích; thật sự chẳng phải các sắc đáng ưa thích
nầy được biết bởi mắt.(Thức gia lại chứng) Lại như
Kinh nói, Phạm chí nên biết, do con mắt là cửa mà thấy sắc,
nên biết rằng, nhãn thức thông qua cửa để thấy. Không
nên nói, cửa chính là thấy vì nếu nói như vậy hoá ra Kinh
lại nói rằng, do mắt là sự thấy mà thấy sắc [38] (đây
là câu nói rất phi lý, không có Kinh nào nói như vậy).
(Nhãn gia vấn nạn)
Nếu thức thấy (paśyati) thì cái gì liễu biệt (vijānāti)?
(Thức gia giải thích)
Kiến cùng với liễu biệt, hai tác dụng có gì khác nhau; chính
thấy sắc gọi là liễu sắc. Ví dụ như, thiểu phần huệ
[39] (kaścit prajñā) gọi là năng kiến (paśyati), cũng gọi
là năng giản trạch (prajānāti). Cũng như vậy, thiểu phần
thức [40] (kaścit vijñāna)gọi là năng kiến, cũng gọi là
năng liễu biệt.
Các vấn nạn khác
nói rằng,
(Độc tử bộ [41]
chất vấn) Nếu mắt là năng kiến thì mắt là kiến thể,
cái gì làm kiến dụng?
(Nhãn gia đáp) Câu
nầy chẳng phải là nạn vấn. Bởi lẽ, đã cùng chấp nhận
thức là năng liễu biệt, nhưng không có sự khác nhau giữa
liễu thể và liễu dụng; kiến cũng nên như vậy.
Có các vị khác [42]
lại nói : Nhãn thức năng kiến, đó là sở y của kiến, (theo
đó) Nhãn cũng gọi là năng kiến (tức mắt thấy sắc). Chẳng
hạn như, (chuông là) chỗ phát ra tiếng (sở y của tiếng)
cũng gọi là chuông kêu.
(Nhãn kiến gia nạn)
Nếu vậy, nhãn căn là sở y của thức, nên nói năng thức?
(Đàm-ma-đa-la) Không
có lỗi như vậy. Thế gian đều chấp nhận nhãn thức là
kiến, do khi nó sanh khởi, nói năng kiến sắc chứ không nói
năng thức sắc.
(Đàm-ma-đa-la dẫn
Hữu bộ Bà sa để thông nạn) Trong Tỳ-bà-sa [43] cũng có
nói rằng, như được thủ đắc bởi mắt, được liễu biệt
bởi thức gọi là năng kiến. Do đó, chỉ nói mắt gọi là
năng kiến, không gọi là năng thức. Chỉ trong khi thức hiện
tiền, nói là năng thức sắc. Ví như nói rằng, mặt trời
gọi là năng tác trú. [44]
Các Luận sư Kinh bộ
nói, sao lại vô ích thế. [45] Với các duyên như mắt, màu
sắc, v.v... nhãn thức sanh khởi; ở đó, cái nào là năng kiến,
cái nào là sở kiến; không cái gì khác ngoài pháp, duy chỉ
có nhân quả, thật sự không có tác dụng. Vì thuận theo thế
tình tạm thời bày ra ngôn thuyết (giả hưng, 假 興 ), nhãn
gọi là năng kiến, thức gọi là năng liễu. Đối với những
vấn đề như vậy, người trí không nên hạn cuộc, chấp
chặt. Như Thế tôn nói, ngôn từ địa phương không nên chấp
chặt, khái niệm (danh tưởng, 名 想 ) thế gian không nên mãi
mê tìm cầu [46].
Song, những nhà Vaibhāsika
ở Kaśmira nói, mắt thấy (nhãn năng kiến), tai nghe (nhĩ năng
văn), mũi ngưởi (tỷ năng hứu), lưỡi nếm (thiệt năng thưởng),
thân biết cảm xúc (thân năng giác), ý phân biệt (ý
năng liễu).
22.Phụ luận.
i.Thấy trước sau:
Khi thấy sắc, một
mắt thấy hay hai mắt cùng thấy? Thật ra không có chuẩn mực
nhất định.
Tụng văn.
Hán:
或 二 眼
俱 時 見 色 分 明
故.
Âm Hán.
Hoặc nhị nhãn câu
thời kiến sắc phân minh cố.
Dịch nghĩa:
/42ab/.Hoặc hai mắt
đồng thời thấy sắc được rõ ràng vậy.
Luận thích:
Các vị Đại luận
sư A tỳ đạt ma đều nói rằng, hoặc có lúc, hai mắt cùng
thấy vì mở hai mắt, thấy sắc rõ ràng; khi mở một mắt,
thấy sắc không rõ. Lại nữa, khi mở một mắt, bít một
mắt, thì hiện tiền trước mắt thấy hai mặt trăng, v.v...;
khi nhắm một mắt, bít một mắt, thì vấn đề kia không xảy
ra. [47] Cho nên, có khi hai mắt cùng thấy; và chẳng phải do
sở y khác nhau mà thức phân thành hai phần; nó tồn tại không
có phương sở không giống với các ngại sắc.
ii. Căn cảnh ly hiệp.
Như Tôn nầy nói, mắt
thấy, tai nghe cho đến ý liễu biệt các trần cảnh kia, thế
thì khi căn thủ đắc là chí hay là bất chí?
Tụng văn.
Hán.
眼 耳 意
根 境 不 至 三 相 違
Âm: Hán
Nhãn nhĩ ý căn cảnh
bất chí tam tương vi.
Dịch nghĩa:
/42cd/.Các căn mắt
tai và ý thủ cảnh
bất chí; ba căn
kia thì ngược lại.
Luận thích:
/42c/Các căn mắt tai
và ý thủ đắc cảnh bất chí [48] : nghĩa là, mắt thấy các
sắc pháp từ xa, còn như hạt bụi trong mắt, v.v.. [49] không
thể nhìn thấy. Tai cũng nghe các âm thanh từ xa; những âm
thanh áp sát lỗ tai, không thể nghe được. Hơn nữa, nếu
cho rằng hai căn mắt tai thủ đắc đối tượng áp sát thì
không thể tu tập phát sanh thiên nhãn căn và thiên nhĩ căn
được, cũng giống như tỷ căn, v.v... vậy.
Nếu mắt thấy các
sắc từ xa, vì lý do gì lại không thấy được tất cả các
sắc bị chướng ngại từ xa [50]?
(Luận chủ).Thế tại
sao, nam châm hút sắt từ xa lại chẳng hút tất cả các sắt
từ xa.
Chấp thấy tiếp hợp
đối tượng cũng giống với nạn rằng, tại sao không
thể thấy hết tất cả các sắc tiếp hợp như hạt bụi,
thẻ tre, v.v... nơi mắt? Lại như mũi, v.v... thủ đắc
đối tượng tiếp hợp, song vẫn không thủ đắc tất cả
các hương, v.v... đồng thời tiếp xúc với căn. Như vậy,
căn con mắt tuy thấy không tiếp hợp nhưng không phải thấy
tất cả. Căn lỗ tai cũng vậy. Ý là vô sắc nên không thể
tiếp hợp cảnh được.
/42d/.ba căn kia
thì ngược lại
Có kiến chấp cho rằng,
nhĩ căn thông thủ cảnh không tiếp hợp và cả cảnh tiếp
hợp, vì âm thanh từ trong lỗ tai cũng có thể nghe được.
Ba sắc căn mũi, v.v... còn lại, ngược với các căn trên,
chỉ thủ đắc cảnh tiếp hợp. Làm thế nào để biết căn
lỗ mũi chỉ thủ đắc hương tiếp hợp? Do vì khi không thở
thời không ngửi được mùi hương. Thế nào gọi là tiếp
hợp? Nghĩa là vô gián sanh [51]. Lại nữa, các cực vi [52]
có tương xúc không? Các luận sư Kaśmīrika nói, không tương
xúc. Vì sao như vậy? Bởi lẽ, nếu các cực vi biến thể
tương xúc tức là có thật vật (vật thể có thật), ắt
mắc lỗi thể trở nên tương tạp. Nếu tiếp xúc từng phần
thành ra lỗi hữu phần [53]; song các cực vi lại không thể
chia chẻ nhỏ hơn (nirayava). Nếu vậy, lý do vì sao, khi gõ
vào nhau lại phát ra tiếng [54]? Chỉ vì các cực vi vô
gián sanh. Nếu chấp nhận tương xúc thì khi gõ vào đá, vỗ
vào tay, thể ắt lẫn lộn[55] .
Nếu bất tương xúc,
tại sao các tụ sắc khi va vào nhau lại không phân tán?
Do phong giới (vāyadhātu) nhiếp trì cho nên không tán. Có phong
giới có khả năng khiến cho hoại tán; như thời kiếp hoại
(varttanyām). Hoặc có phong giới khiến nhiếp thành sự vật;
như thời kỳ kiếp thành (vivarttanyām).
Như thế nào ba căn
do vô gián sanh gọi là thủ cảnh tiếp hợp? Tức do vô
gián gọi là thủ cảnh tiếp hợp. Đó là ở trung gian hoàn
toàn không có một vật nhỏ. Lại nữa, hoà hiệp sắc
[56] chấp nhận là hữu phương phần cho nên tương xúc không
có lỗi. Do chấp nhận lý lẽ nầy, văn nghĩa của Tỳ-bà-sa
được thành lập một cách hợp lý. Luận Bà sa hỏi rằng,
các xúc vật nầy lấy xúc làm nhân mà sanh khởi hay lấy phi
xúc làm nhân mà sanh khởi. Các phi xúc cũng hỏi như vậy.
Bà sa căn cứ vào lý lẽ nầy, mà bất định đáp –có lúc
lấy xúc làm nhân sanh khởi phi xúc; đó là các vật hoà hiệp
đang lúc ly tán [57]. Có lúc lấy phi xúc làm nhân sanh khởi
xúc; đó là các vật ly tán đang lúc hoà hợp [58]. Có lúc
lấy xúc làm nhân sanh ra xúc; đó là vật hoà hiệp lại ở
trong lúc hoà hiệp [59]. Có lúc phi xúc làm nhân sanh khởi phi
xúc; đó là hướng du trần đồng loại tương tục [60]. Tôn
giả Thế Hữu (Vasumitra) nói, các cực vi tương xúc tức nên
tồn tại (trú) đến niệm sau (hậu niệm, đệ nhị niệm).
Song Đại đức (Dharmatrata) nói, tất cả các cực vi thật
sự không tương xúc, chỉ do vô gián, giả lập tên gọi là
xúc (xúc danh). Ý nầy của Đại đức nên đáng chấp nhận
(ái nhạo). Nếu khác như vậy, thì các cực vi nầy nên có
khoảng cách (khoảng trống, gián khích), ở giữa đã có khoảng
trống thì cái gì để trở ngại các pháp lưu hành mà nói
là hữu đối (cực vi có nghĩa hữu đối). Lại nữa, nếu
lìa cực vi thì không thể có hoà hiệp sắc; hoà hiệp tương
xúc tức xúc cực vi, như thế có thể biến ngại; đây cũng
như vậy.
Lại chấp nhận cực
vi có phương phần (digbhāgabheda), xúc hay không xúc đều có
phương phần (sāvayavatva); nếu không có phương phần, dầu
có chấp nhận tương xúc, cũng không có lỗi (tư quá).
iii.Đẳng lượng, Bất
đẳng lượng.
a.Lượng của đối
tượng.
Các căn mắt, v.v...
đối với tự cảnh đều thủ đắc đẳng lượng, nhưng vì
do chuyển biến nhanh chóng cho nên thấy núi lớn [61], thấy
vòng lửa [62], v.v... hay là đối với tự cảnh, thông thủ
cả đẳng, bất đẳng lượng ư [63]?
Tụng văn.
Hán:
應 知
鼻 等 三 唯 取 等 量
境.
Âm Hán
Ưng tri tỷ đẳng tam
duy thủ đẳng lượng cảnh
Dịch nghĩa:
Nên biết, ba căn mũi,v.v..
chỉ thủ lượng cảnh ngang bằng
/43ab/.
Luận giải thích :
Như trước đã nói,
ba căn mắt, v.v... thủ đắc cảnh tiếp hợp, nên biết chỉ
thủ đắc cảnh ngang bằng; chẳng hạn lượng căn nhỏ thì
lượng cảnh cũng vậy; tương xứng với nhau, hoà hợp phát
sanh các thức mũi, v.v.... Mắt, tai bất định; đó là, mắt
đối với sắc có lúc thủ đắc lượng nhỏ như thấy đầu
sợi lông; có lúc thủ đắc lượng lớn như khi vừa mở mắt
thấy núi lớn, v.v...; có lúc thủ đắc lượng ngang bằng
như thấy hạt bồ đào. Cũng như vậy, căn lỗ tai nghe các
loại âm thanh lớn nhỏ được phát ra bởi muỗi, sấm, v.v...
tuỳ theo các lượng ứng hợp hoặc nhỏ hoặc ngang bằng hoặc
lớn. Ý căn vốn không chất ngại nên không thể luận bàn
về hình lượng khác nhau được.
b.Cực vi an bố.
Cực vi của các căn
mắt, v.v... được an bố [64] như thế nào?
Cực vi căn con mắt được sắp xếp chung quanh (bàn bố) đồng
tử, giống như loại hoa tuy hương (ajājīpuṣpa, 香 菱 花
), có màng trong suốt bao bọc khiến không bị phân tán. Có
thuyết cho rằng, cuốn nhiều lớp hình như viên (bi, hoàn,
丸, pi? avat), thể trong suốt như pha lê, không chướng
ngại lẫn nhau. Cực vi nhĩ căn cuốn thành từng vòng nằm
trong lỗ tai như vỏ cây hoa (quyện hoa bì, 卷 崋 皮, bhūrja).
[65] Cực vi căn lỗ mũi nằm trong lỗ mũi (ghā ābhyantare),
lưng trên mặt dưới giống như hai mai móng tay (śalākāvat
song trảo giáp). Ba căn đầu tiên nầy được tạo theo hàng
ngang, không có cao thấp, như tràng hoa (mālāvat) trên đầu
vậy (quan hoa man, 冠 花 曼). Cực vi căn lưỡi nằm ở trên
lưỡi hình như nửa mặt trăng. Truyền thuyết (quan điểm
của Bà sa) nói [66] trong lưỡi, lượng như đầu sợi lông,
chẳng phải cực vi thiệt căn cùng khắp cả lưỡi. Cực vi
thân căn cùng khắp thân thể, như lượng của thân hình. Cực
vi nữ căn hình như trống cơm (cổ tang, 鼓 桑). Cực vi nam
căn hình như ngón tay (chỉ đạp, 指 踏). Cực vi căn con mắt
có lúc, tất cả đều là đồng phần (sabhāga); có lúc tất
cả đều là bỉ đồng phần (tatsabhāga); có lúc một phần
là bỉ đồng phần còn lại là đồng phần. Cho đến, cực
vi căn lưỡi cũng như vậy. Cực vi thân căn chắc chắn không
thể tất cả đều là đồng phần; cho đến trong Cực nhiệt
nại lạc ca, lửa dữ bọc thân, còn có vô lượng cực vi
thân căn là bỉ đồng phần. Truyền thuyết, [67] nếu thân
căn phát sanh thức cùng khắp, thì thân thể (āśraya : sở
y) lẽ ra nên bị tán hoại vì không có mỗi một căn cảnh
nào có một cực vi làm duyên sở y, phát sanh thức thân. Năm
thức chắc chắn tích tập nhiều cực vi mới thành sở y,
sở duyên tánh. Chính do lý lẽ nầy cho nên cũng nói rằng,
thể của cực vi không thể thấy được (anidarśana).
iv.Y thế (thời gian).
Như trước đã nói,
thức có sáu loại là thức giới con mắt cho đến ý thức
giới. Vậy, cũng giống như năm thức duyên với hiện tại,
ý thức duyên với quá khứ, sở y của thức (thức y) cũng
như thế sao? Không thể như thế. Tại sao?
Tụng văn:
Hán:
後 依 唯
過 去 五 識 依 或
俱.
Âm: Hán
Hậu duy y quá khứ
Ngũ thức y hoặc câu
Dịch nghĩa:
Thức thứ sáu chỉ
duyên với quá khứ
Năm thức trước duyên
với cả hai /43cd/.
Luận giải thích :
Ý thức chỉ nương
vào vô gián diệt ý. [68] Năm thức mắt, v.v...nương vào hoặc
cả hai.[69] Nói Hoặc, ý cho thấy năm thức nầy cũng
nương vào quá khứ. Nhãn là câu sanh sở y của nhãn thức;
như vậy cho đến thân là câu sanh sở y của thân thức; đều
là đời hiện tại. Vô gián diệt ý là sở y thuộc quá khứ
[70]. Sở y của năm thức thân nầy có cả hai loại; đó là
năm căn mắt, v.v... là sở y riêng biệt; ý căn là sở y tánh
chung cho cả năm thức. Cho nên nói như vậy.
Nếu là tánh sở y
của nhãn thức có đồng thời là vô gián duyên [71] của nhãn
thức v.v... chăng; hoặc nếu là vô gián duyên của nhãn thức,
v.v... có đồng thời là sở y tánh của nhãn thức chăng?
Để phân biệt nên
lập bốn câu :
1.Câu thứ nhất: câu
sanh nhãn căn (tức là nhãn căn là sở y tánh của nhãn thức
mà không phải là vô gián duyên).
2.Câu thứ hai: vô gián
diệt tâm sở pháp giới [72] (tức là các pháp tâm sở là
vô gián diệt duyên của nhãn thức mà không phải là sở y
tánh của nhãn thức).
3. Câu thứ ba: quá khứ
ý căn (tức vừa là sở y tánh vừa là vô gián diệt của
nhãn thức).
4. Câu thứ tư: ngoài
các pháp đã được nói ra (các pháp còn lại không là sở
y, sở duyên của nhãn thức).
Cho đến thân thức
cũng như vậy. Mỗi mỗi nên nói theo tự căn.
Ý thức nên thuận
theo câu đầu để nói, đó là: sở y tánh của ý thức quyết
định là đẳng vô gián duyên của ý thức. Có lúc, đẳng
vô gián duyên của ý thức không phải là sở duyên tánh của
ý thức; đó là vô gián diệt tâm sở pháp giới.
v. Định danh sở y:
Vì duyên do gì, thức
sanh khởi phải nhờ vào hai duyên mà khi lấy tên theo sở y
thì chỉ theo căn mà không theo cảnh?
Tụng đáp :
Hán:
随 根 變
識 異 故 眼 等 名
依.
Âm: Hán
Tuỳ căn biến thức
dị cố nhãn đẳng danh y.
Dịch nghĩa:
Theo căn chuyển biến,
thức đổi khác
nên các căn mắt,v.v...
được gọi là y (44ab)..
Luận giải thích:
Mắt, v.v... tức là
sáu giới mắt, mũi, v.v... Do các căn mắt, tai,v.v... chuyển
biến nên thức có sự đổi khác; thứ đến, tuỳ theo căn
lành mạnh hay suy tổn mà thức có được sự nhận thức rõ
ràng hay không rõ ràng. Chẳng phải do sắc, thanh, v.v... chuyển
biến khiến thức đổi khác. Do thức tuỳ thuộc vào căn,
không tuỳ thuộc cảnh nên tên gọi theo sở y là tại căn
nhãn, v.v... mà chẳng phải là gì khác.
vi. Định danh thức:
Vì duyên cớ gì, sắc,
v.v... là đối tượng chính được duyên nhưng khi gọi lại
là nhãn thức cho đến ý thức mà không gọi là sắc thức
cho đến pháp thức?
Tụng nói:
Hán:
彼 及 不
共 因 故 随 根 說
識
Âm: Hán
Bỉ cập bất cọng
nhân Cố tuỳ căn thuyết thức
Dịch nghĩa:
Vì chúng (mắt,...)
và tính chất cá biệt
cho nên theo căn mà
nói thức (44cd).
Luận giải thích:
Chúng (bỉ) như trước
đã nói, chỉ cho các căn mắt, v.v... gọi là danh y (tức là
chỗ dựa để đặt tên). Căn là chỗ dựa cho nên theo căn
nói. Và tính chất cá biệt [73] nghĩa là con mắt chỉ là sở
y của nhãn thức; sắc thì được thủ đắc bởi nhãn
thức của tự tha thân và thông với ý thức tự tha; cho đến
thân xúc, nên biết cũng như vậy. Do sở y ưu việt (tính ưu
việt của căn) và tính chất cá biệt của nó cho nên khi lấy
tên thức, theo căn mà không theo cảnh. Như nói tiếng trống,
mộng lúa chẳng hạn [74].
vii. Sở y địa:
Tuỳ theo vị trí của
thân (ở cõi nào), khi nhãn nhìn thấy sắc, địa của thân,
nhãn, sắc, thức có đồng nhau không [75]?
Nên nói, bốn loại
nầy, hoặc dị hoặc đồng.
Nghĩa là,
a. Khi sanh ở cõi Dục,
- Nếu dùng con mắt
tự địa, [76] thấy tự địa sắc, thì bốn loại trên đều
cùng chung một địa.
- Nếu dùng con mắt
sơ thiền, thấy sắc cõi Dục, thì thân và sắc tại cõi Dục;
mắt và thức tại sơ thiền; thấy sắc ở Sơ thiền, thân
tại cõi Dục, ba loại kia thuộc sơ định.
- Nếu dùng con mắt
nhị thiền, thấy sắc cõi Dục thì thân, sắc thuộc cõi Dục,
mắt thuộc nhị định, thức thuộc sơ định; thấy sắc ở
sơ định thì thân thuộc cõi Dục, mắt thuộc nhị định,
sắc, thức thuộc sơ định; thấy sắc ở nhị định, thân
thuộc cõi Dục, mắt, sắc thuộc nhị định, thức thuộc
sơ định.
- Như vậy, nếu dùng
con mắt cõi thiền thứ ba, thứ tư nhìn xem các sắc cõi dưới
hoặc sắc thuộc tự địa, theo như lý mà biết.
b. Sanh sơ tịnh lự,
- Nếu dùng con mắt
tự địa nhìn thấy sắc tự địa thì cả bốn đều cùng
chung một địa; nếu nhìn sắc cõi Dục, ba thứ thuộc sơ
định, sắc thuộc cõi Dục.
- Nếu dùng con mắt
cõi thiền thứ hai nhìn sắc cõi thiền thứ nhất, ba thứ
thuộc sơ định, mắt thuộc nhị định; nhìn sắc cõi Dục
thì thân và thức thuộc sơ định, sắc thuộc cõi Dục, mắt
thuộc nhị định; nhìn sắc cõi thiền thứ hai thì thân,
thức thuộc sơ định, mắt và sắc thuộc nhị định.
Như vậy, nếu dùng
mắt cõi thiền thứ ba, thứ tư nhìn sắc tự địa hoặc sắc
cõi dưới hoặc sắc cõi trên, theo như lý mà suy nghĩ.
Và cũng như vậy, sanh
vào các cõi thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư, dùng mắt tự
tha địa nhìn (kiến) sắc tự tha địa, theo như lý mà suy
nghĩ. Các giới khác, cũng nên như vậy mà phân biệt.
Nay tóm tắt các tướng
trạng [77] của chúng.
Tụng nói:
Hán:
眼 不 下
於 身 色 識 非 上
眼
色 於 識
一 切 二 於 身 亦 然
如 眼 耳
亦 然 次 三 皆 自 地
身 識
自 下 地 意 不 定 應
知
Âm Hán
Nhãn bất hạ ư thân
sắc thức phi thượng nhãn
Sắc ư thức nhất
thiết Nhị ư thân diệc nhiên.
Như nhãn nhĩ diệc nhiên
Thứ tam giai tự địa.
Thân, thức tự hạ
địa Ý bất định, ưng tri.
Dịch nghĩa:
/45/ Mắt không ở
dưới thân
Sắc, thức không thể
trên mắt.
Sắc đối với thức
là tất cả (các địa)
Sắc thức đối với
thân cũng vậy.
/46/ Như nhãn thức,
nhĩ thức cũng vậy
ba thức tiếp đều
thuộc tự địa.
Thân, thức là tự
và hạ địa
Ý thì bất định,
nên biết.
Luận giải thích:
Ba thứ thân, mắt và
sắc thông với cả năm địa; đó là, trong cõi Dục, bốn
cõi thiền, mắt và thức duy chỉ tại cõi Dục và cõi thiền
thứ nhất. Trong đó,
/45a/ Mắt không
ở dưới thân.
Căn con mắt với (vọng
hướng) cõi mà thân sanh thì hoặc là ngang hoặc là trên, không
thể ở dưới.
/45b/ Sắc, thức không
thể trên mắt.
Sắc và thức đối
với mắt thì ngang hoặc dưới, không thể ở trên. Mắt cõi
dưới không thể nhìn sắc cõi trên. Thức cõi trên không thể
nương vào con mắt cõi dưới.
/45c/ Sắc đối với
thức là tất cả (các địa)
Sắc dối với thức
thông với cả ba, trên, dưới và ngang bằng.
/45d/ Sắc thức đối
với thân cũng vậy.
Sắc và thức đối
với thân cũng giống như sắc đối với thức, nói rộng ra.
/46a/ Như nhãn thức,
nhĩ thức cũng vậy
Nhĩ giới, nên biết
như nhãn vậy. Nghĩa là, lỗ tai không ở cõi dưới thân, thanh
và thức không thể ở trên lỗ tai; thanh đối với thức là
tất cả; hai (thanh thức) đối với thân cũng vậy. Tuỳ theo
sự ứng hợp, giải thích rộng rãi theo như mắt vậy.
/46b/ Ba thức tiếp
đều thuộc tự địa.
Ba thức mũi, lưỡi,
thân đều thuộc tự địa. Ở trong đó có sự khác biệt:
đó là, thân với xúc, địa tất đồng.
/46c/ Thân, thức là
tự và hạ địa
Thức đối với xúc
và thân hoặc là tự địa hoặc là hạ địa.Tự có nghĩa
là nếu sanh ở cõi Dục, cõi sơ thiền đối với ba cõi trên
thì gọi là hạ địa.
/46d/ Ý thì bất định,
nên biết.
Nên biết, ý giới,
bốn việc đó bất định. Nghĩa là, ý có khi cùng với thân,
thức, pháp, cả bốn đều cùng chung một địa; có lúc
hoặc trên có lúc hoặc dưới. Thân có ngũ địa, ba thứ kia
thông với tất cả, khi ở trong nhập định (Du đẳng chí),
hoặc thọ sanh, tuỳ theo chỗ ứng hợp, hoặc dị, hoặc đồng.
Như trong phẩm Định ở sau, sẽ phân biệt rộng rãi. Ở đây,
muốn tránh sự dài dòng nên lượt bỏ bớt.
Trước sau nói đi nói
lại, dụng ít, công nhiều. Bàn luận rộng ra đã đủ, nay
trở về phần chính.
23.Thức, sở thức.
Nên suy nghĩ, trong 18
giới, bao nhiêu giới được biết bởi thức nào?
Tụng nói:
Hán:
五 外 二
所 識
Âm Hán
Ngũ ngoại nhị sở
thức
Dịch nghĩa:
/47a/.Năm ngoài được
biết với cả hai.
Luận giải thích:
Trong 18 giới, năm giới
sắc, thanh, v.v..., theo thứ tự, được biết [78] bởi từng
mỗi thức trong năm thức mắt,v.v...; lại nữa, chúng đều
được biết [79] bởi ý thức (manas). Năm giới như vậy, trong
sáu thức, chúng được biết bởi hai thức. Do đây mà biết,
13 giới còn lại tất cả đều được biết bởi ý thức,
chúng chẳng phải là cảnh sở duyên của năm thức.
24. Thường, vô thường.
Tụng nói:
Hán:
常 法 界
無 為
Âm Hán
Thường pháp giới
vô vi
Dịch nghĩa:
/47b/ Thường chỉ có
pháp giới, vì là vô vi.
Trong 18 giới, không
có một giới nào hoàn toàn là pháp thường trú, chỉ có một
phần pháp giới tức vô vi pháp là thường.
Pháp vô thường là
phần pháp giới còn lại và tất cả 17 giới kia.[80]
25. Căn, Phi căn.
Tụng nói:
Hán:
法 一 分
是 根 并 内 界 十 二
Âm Hán:
Pháp nhất phần thị
căn tịnh nội giới thập nhị.
Dịch nghĩa:
Pháp giới, một phần
của nó là căn; và mười hai nội giới là căn (47cd).
Lại như trong Kinh [81]
nói 22 căn, đó là nhãn căn (cakṣurindriya), nhĩ căn (srotrendriya),
tỷ căn (ghrānendriya), thiệt căn (jīhvendriya), thân căn (kāyendriya),
ý căn (manaindriya), nữcăn (strīndriya), nam căn (puruendriya),
mạng căn (jīvitendriya), lạc căn (sukkhendriya), khổ căn (dukkhendriya),
hỷ căn (saumanasyendriya), ưu căn (daumanasyendriya), xả căn (upekkendriya),
tín căn (śraddhendriya), cần căn (vīryendriya), niệm căn (smṛtīndriya),
định căn (samadhīndriya), huệ căn (prajñendriya), vị tri đương
tri căn (anājñātamājñāsyāmīndriya), dĩ tri căn (ājñendriya),
cụ tri căn ājñāvīndriya). Các đại luận sư A tỳ đạt ma
đều bỏ thứ tự lục xứ trong kinh, sau mạng căn mới nói
ý căn, tức y cứ vào hữu sở duyên môn.
Hai mươi hai căn được
nói như vậy, trong 18 căn, 12 nội giới (adhyātmika) nhiếp thuộc
một phần pháp giới; một phần pháp giới: 11 giới từ mạng,
v.v…, một phần của ba sau, nhiếp thuộc pháp giới. Nội
thập nhị: năm căn mắt, v.v... nhiếp thuộc vào như chính
tên của chúng. Ý căn thông nhiếp thất tâm giới. Một phần
ba giới sau nhiếp thuộc ý và ý thức. Nữ căn, nam căn nhiếp
thuộc một phần thân giới. Như sau sẽ nói.
Năm giới sắc, v.v..
còn lại và một phần pháp giới thể đều chẳng phải căn.
Thuyết nhất thiết
hữu bộ câu xá luận. (q.2).
Bản dịch Thích PHƯỚC
VIÊN
[1] Ht. 內
nội . Cđ. 我 依 ngã y . Skt. Ādhyātmika.
[2] Ht. 外
ngoại . Cđ.我 依 外 ngã y ngoại . Skt. Bāhya.
[3] Ht. 內
外, nội ngoại. Tỳ-bà-sa q.148, nói “然 內 外 法 差 別
有 三 ﹕ 1. 相 續 內 外: 謂 在 自 身 名 內, 在 他
身 及 非 情 數 名 為 外 . 2。 處 內 外: 謂 心 心 所 所
依 名 內; 所 緣 名 外. 3。 情 非 情 內 外: 謂 有 情 數
法 名 內; 非 情 數 法 名 外, Song, các pháp nội ngoại có
ba loại khác nhau: 1.Tương tục nội ngoại -nghĩa là ở tự
thân gọi là nội; ở tha thân và phi tình số gọi là ngoại.
2.Xứ nội ngoại -sở y của tâm, tâm sở gọi là nội; sở
duyên gọi là ngoại. 3.Tình phi tình nội ngoại –pháp hữu
tình số gọi là nội; phi tình gọi là ngoại”.
[4] Thử
dư, 此 餘 tức là ngoài các nội giới.
[5] Ht. 我
執 依 止, Chỗ nượng tựa của ngã chấp. Quang ký q.2,tr.45c15,
我 執 謂 我 見 。 依 止 謂 心 心 所 與 我 見 相 應 故
名 我 執 依 止, ngã chấp có nghĩa là ngã kiến ( tức
là kiến chấp về bản ngã), chỗ nương tựa nghĩa là tâm,
tâm sở tương ưng với ngã kiến vậy . .... Có giải thích
khác, cũng ở tr.45c18, 心 是 我 執 所 緣 故 名 我 執 依
止, tâm là sở duyên của ngã chấp cho nên nói là chỗ nương
tựa của ngã chấp.
[6] Hán:
giả, 假.
[7] Quang
ký q.2, tr. 46a06, 若 爾 現 未 六 識 未 至 過 去 意 位 非
心 所 依 故 應 不 名 內, nếu vậy, sáu thức ở hiện tại
và vị lai chưa đến vị trí của ý trong quá khứ (tức chưa
trở thành ý căn ), chẳng phải là sở y của tâm, cho nên
lẽ ra không thể là nội được.
[8] Ht. 無
改 易 故, vô cải dịch cố: có nghĩa là cố định, không
thay đổi . Cđ. 無 不 定 義, vô bất định nghĩa :là
nghĩa nhất định, không thay đổi. Cả hai từ nầy ở trong
văn mạch đều diễn tả ý rằng, tướng của ý giới là
nhất định, cố định, nếu chỉ có ở quá khứ thì chỉ
có ở quá khứ, không thể có ở hiện tại và vị lai.
[9] Ht. 同
分 đồng phần . Cđ. 等 分 đẳng phần. Skt. Sabhāga. Căn cứ
theo Skt., phải đọc là đồng PHẦN (dấu huyền), đọc PHẬN
(dấu nặng) như thói quen các nhà học Câu-xá Việt nam xưa
nay là sai).
[10] Ht.
生 法, Sanh pháp . Quang ký,q.2, tr.504b26, 生 法 謂 未 來 正
生 及 當 生 也 sanh pháp là pháp đang sanh khởi và sẽ sanh
khởi trong vị lai.
[11] Ht.
Vô biên ý thức, 無 邊 意 識. Quang ký q.2, tr. 64b03, 無
邊 意 識 是 無 我 觀, vô biên ý thức là vô ngã quán
[12] Ht.
彼 同 分, bỉ đồng phần . Cđ. 非 等 分, phi đẳng
phần. Skt. tat-sabhāga.
[13] Ht.
迦 濕 彌 羅 國 毘 婆 沙 師, Ca thấp di la quốc (Kaśmīra)
Tỳ bà sa sư . Cđ. 罽 賓 國 師, Kế Tân quốc sư .
[14] Ht.
相 續, tương tục : chỉ cho một pháp trước sau liên tục
không gián đoạn. Luận đại Tỳ Bà sa q. 60, chia tương tục
làm 5 loai –1.trung hữu tương tục; 2.sanh hữu tương tục;
3.thời phần tương tục; 4. pháp tánh tương tục; 5.sát na
tương tục. Skt. Saṃtati.
[15] Câu
nầy bản của Cđ. tr. 170b08 là, Phi đẳng phần có cùng chủng
loại với đẳng phần; tuy tương tợ nhưng chẳng phải là
đẳng phần nên gọi là bỉ đồng phần, 非 等 分 者 是
等 分 同 類; 雖 似 彼 非 彼 故 名 非 等 分. Bảo sớ q.2,
tr.505c02 giải thích, có tác dụng gọi là đồng phần, không
có tác dụng gọi là phi đồng phần. Phi đồng phần vô dụng
nầy cùng với đồng phần hữu dụng kia cùng có công năng
thấy các sắc tướng cho đến dẫn khởi lẫn nhau, đó là
cùng có chung chủng loại tức là có hữu dụng, vô dụng khác
nhau nhưng lại tương tợ nên gọi là chủng loại phần đồng.
有 作 用 名 同 分, 無 作 用 名 非 同 分. 此 無 用 非 同
分 與 彼 有 用 同 分, 同 能 見 相 乃 至 互 相 引
故, 是 種 類 分 同 即 是 有 用 無 用 類 雖 別 而
互 相 似 名 種 類 分 同 .
[16] H. 斷
đoạn, luận Chánh lý nói “斷 義 云 何 。 略
有 二 種 ﹕ 一 離 縛 斷 ; 二 離 境 斷 。 離 縛 斷
者, 如
契 經 言 於 無 內 眼 結, 如 實 了 知 我 無 眼 結 。 離
境 斷 者, 如 契 經 言 汝 等 苾 芻, 若 能 於 眼 斷 欲 貪
者 是 則 名 為 眼 得 永 斷, Đoạn có nghĩa là gì? –có
hai loại :1.Đoạn trừ do xa lìa trói buộc. 2.Đoạn trừ do
xa lìa các cảnh (tham, v.v..). Đoạn trừ do xa lìa trói
buộc, như Kinh nói, đối với nội nhãn không có sự dính
mắc thì biết một cách như thật rằng ta không có sự dính
mắc của nhãn. Đoạn trừ do xa lìa các cảnh (tham, v.v... ),
như Kinh nói, Nầy các Bí sô, nếu đối với nhãn, đoạn trừ
dục tham, đó gọi là nhãn được vĩnh viễn đoạn trừ
“. Luận Hiển tôn q.4. nói “一 自 性 斷 ; 二 所 緣 斷
若 法 是 結 及 一 果 等, 對 治 生 時, 於 彼 得 斷 名 自
性 斷 。 由 彼 斷 故 於 所 緣 事 便 得 離 繋, 不
必 於 中 得 不 成 就 名 所 緣 斷, một, tự tánh đoạn;
hai, sở duyên đoạn. Nếu pháp là kết (trói buộc, dính mắc)
và nhất quả, v.v..., khi phần đối trị sanh khởi (chứng
được pháp đối trị), chúng được đoạn trừ (hết sự
dính mắc, trói buộc) gọi là tự tánh đoạn. Do đoạn trừ
ở trong tự tánh đó cho nên đối với sở duyên không
còn bị ràng buộc, không nhất thiết ở trong đó phải đạt
được sự không thành tựu, gọi đó là sở duyên đoạn”.
[17] Ht.
見 所 斷 kiến sở đoạn 。 Cđ. 見 諦 所
滅 kiến đế sở diệt tức là các phiền não được đoạn
trừ ở giai đoạn kiến đạo, thấy được đế lý. Skt. Darśana-heya.
[18] Ht.
修 所 斷 tu sở đoạn . Cđ. 修 道 所 滅 tu đạo sở diệt
: các phiền não được đoạn trừ ở giai đoạn tu đạo,
tức ở niệm tâm thứ 16..Skt. Bhāvanā-heya.
[19] Ht.
非 所 斷 phi sở đoạn . Cđ. 非 所 滅 phi sở diệt : các
pháp vô lậu không phải là pháp được đoạn trừ được
xếp vào phi sở diệt. Skt. Aheya.
[20] Ht.
俱 有 法 câu hữu pháp, . Tụng sớ của Quang huy, q.2,tr.831a03,
“俱 有 法 者 謂 與 見 惑 相 應 心 所 兼 四 相 是 也,
Câu hữu pháp là các pháp tâm sở tương ưng với kiến hoặc,
và bốn tướng sanh trụ dị diệt. »
[21] Ht.
隨 行 得 Tuỳ hành đắc . Bảo sớ, q.2,tr.506a20, “隨 行
得 者 謂 是 隨 眠 上 得, 隨 行 心 心 所 法 上 得, 非 是
說 得 為 隨 行 也, tuỳ hành đắc chỉ cho đắc trên tuỳ
miên và đắc trên các pháp tâm, tâm sở tuỳ hành ; không
thể nói đắc là tuỳ hành”.
[22] Quang
ký q.2, tr.48a17 nêu ý kiến của Kinh bộ (Sautrāntika), “異
生 性 等 得 聖 不 起 與 聖 相 違 現 應 見 道, dị sanh
tánh, v.v... không thể có mặt khi chứng đắc thánh quả vì
hoàn toàn tương phản với thánh đạo, lẽ đáng nên thuộc
kiến đoạn”.
[23] Ht.
略 說 彼 相 lược thuyết bỉ tướng .Cđ. 略 說 見 諦 滅
相 lược thuyết kiến đế diệt tướng
[24] Luận
Hiển tông nói “言 不 染 汙 法 者 謂 有 漏 善 無 富 無
記, gọi là pháp nhiễm ô đó là pháp thiện hữu lậu
và pháp vô phú vô ký”.
[25] Luận
Hiển tông nói : “色 謂 有 漏 染 不 染 色, sắc ở chỉ
chỉ cho các sắc hữu lậu nhiễm hoặc không nhiễm.”
[26] Luận
Chánh lý nói “其 異 生 性 是 不 染 汙 無 記 性 攝 此
若 染 汙 欲 界 異 生 離 欲 貪 應 非 異 生 。 。 。 此
若 是 善 斷 善 根 者 應 非 異 生, hàng dị sanh tánh thuộc
tính chất vô phú vô ký không nhiễm ô. Nếu là dị sanh cõi
dục nhiễm ô thì sau khi lìa dục tham (chứng sơ thiền), lẽ
ra không còn là dị sanh nữa. ......nếu là thiện, thì
chúng sanh đoạn thiện căn không phải là dị sanh”.
[27] Ht.
見 kiến . Skt. (Dṛṣti).Tỳ Bà Sa q.49 nói : “以 四 事 故
名 為 見 ﹕1. 徹 視 故. 2. 推 度 故. 3 堅 執 故 4.深
入 故,bao gồm bốn tính chất gọi là kiến :1.thấy thấu
suốt . 2. suy đạc. 3. thủ đắc bền vững. 4.vào sâu.
[28] Ht.
善 有 漏 慧, thiện hữu lậu huệ. Cđ. 善 有 流 慧, thiện
hữu lưu huệ.
[29] Ht.
俱 生 慧 Câu sanh huệ . Cđ. 倶 生 智 Câu sanh trí.
[30] Ht.
審 慮 thẩm lự (khảo sát). Cđ. 簡 擇 giản trạch.
Skt. upadhyāna # upanidhyāna.
[31] Ht.
決 度 quyết đạc (phán đoán). Skt. santīrika . Sphut., “santīraṇa,
khả năng phán đoán, là khả năng dẫn khởi sự quyết định
trước khi khảo sát đối tượng” T.T.Sỹ.
[32] Bảo
sớ q.2, tr.507c12 “尊 者 世 友 眼 見 此 是 友 部 正
義 尊 者 法 救 眼 識 見 尊 者 妙 音 眼 識 相 應 慧 見
譬 喻 者 眼 識 同 時 心 心 所 法 和 合 見 又 說 犢 子
部 心 心 所 和 合 見 Tôn giả Thế Hữu thưộc Hữu bộ
chủ trương con mắt thấy. Tôn giả Pháp Cứu chủ trương
thức con mắt thấy. Tôn giả Diệu Âm chủ trương huệ tương
ưng với thức con mắt thấy. Thí Dụ bộ chủ trương thức
con mắt đồng thời hoà hợp với tâm và tâm sở thấy. Độc
tử bộ chủ trương tâm, tâm sở hoà hợp thấy”
[33] Ht.餘
識 行 時 Dư thức hành thờ i . Cđ. 餘 識 相 應 Dư thức
tương ưng . Bảo sớ q.2, tr507c21 “若 眼 能 見
者 耳 識 等 起 時 眼 應 能 見, nếu nhãn thấy thì khi các
thức nhĩ, v.... khởi lên, lẽ ra nhãn cũng phải thấy.” Lưu
ý. Nhất Thiết Hữu bộ chủ trương rằng, sáu thức không
thể đồng thời khởi lên hoạt động một lúc.
[34] Bảo
sớ q.2, tr.507c23 “若 識 有 則 見 識 無 不 見
此 見 則 由 能 衣 識 應 是 識 見, nếu thức có
thì thấy, thức không có không thấy, thế thì cái thấy nầy
chính là do thức năng y, lẽ ra phải là thức thấy”.
[35] Sphut.,
chỉ những vị chủ trương mắt thấy trong Vaibhāṣika, T.T.Sỹ.
[36] Ht.
境 合 cảnh hợp .Cđ. 至 境 chí cảnh. Skt. prāpta-viṣaya.
[37] Bảo
sớ q.2, tr 507d19 “如 人 依 床 人 有 言 聲 而 說 床 座,
như người ngồi trên ghế giường nói, (người ta) lại
nói tiếng ghế giường”.
[38] Ht.
“豈 容 經 說 以 眼 為 見 唯 為 見 色” . Cđ. “若 眼
成 見 為 見 諸 色 是 義 不 然” Quang ký q.2, trang 50a04
giải thích “豈 容 被 經 重 說 見 言” . Cả ba câu
đều nói lên ý rằng, không có chuyện như vậy (cửa là sự
thấy). Theo T.T.Sỹ, thì “kim idam ākāśaṃ khādyate, tại sao
nhai nghiến hư không ? ‘
[39] Ht.
少 分 慧 thiểu phần huệ .Cđ. 有 解 脫 hữu giải thoát.
Quang ký q.2,tr.50a09 “有 慧 非 見 故 言 少 分 慧, có huệ
chẳng phải là kiến cho nên nói là thiểu phần huệ”.
[40] Ht.
少 分 識 thiểu phần thức. Quang ký q.2,tr50a09 “有 識 非
見 如 耳 識 等 故 言 少 分 識,có thức chẳng phải là kiến,
như nhĩ thức, v.v.. nên gọi là thiểu phần thức”.
Sphut., nói là kiến (một phần nào đó), vì không phải tất
cả thức đều thấy. T.T.Sỹ.
[41]. Bảo
sớ q.2,tr.508a05 “太 法 師 Thái pháp sư nói đó là vấn nạn
của 犢 子 部 Độc tử bộ . Skt. Vātsīputrīya.
[42] Bảo
sớ q.2, tr.508a07 “太 法 師 Thái pháp sư nói 曇 摩 多 羅
部 Đàm ma đa la bộ” dẫn lại Kinh trước nói rằng,
Nhãn năng kiến sắc, (là như vậy)”. Quang ký q.2, tr.50a18
“Đây là ý kiến của một số vị Sư khác thuộc Thức kiến,
lại dẫn Kinh để chứng minh”
[43] Tỳ
Ba Sa quyển 95.
[44] Ht.
日 能 作 晝 nhật năng tác trú: tức mặt trời tạo ra ngày,
mặt trời là ngày, một tên từ khác để chỉ mặt trời.
Skt. Diva sakara.
[45] Ht.
如 何 共 聚 楂 掣 虛 空 Như hà cọng tụ tra chế hư
không. Quang ký q.2,tr.50b25 giải thích “上 來 諍 見 兩 說
不 同 今 經 部 師 傍 觀 德 失 俱 破 兩 家 經 部 諸 師
有 作 是 說 見 用 本 無 如 何 浪 執, 或 說 眼 見, 或 說
識 見 由 如 共 聚 楂 掣 虛 空 。 。 。 từ đầu cho đến
bây giờ, có những tranh luận về Kiến. Bây giờ, các luận
sư Kinh bộ, sau khi bên ngoài thấy sự hay dở, quyết định
bác bỏ cả hai quan điểm trước, nói rằng, kiến dụng vốn
là không sao lại cứ khư khư chấp chặt như thế; hoặc nói
mắt thấy hoặc nói thức của con mắt thấy cũng chẳng khác
nào dã tràng xe cát”.
[46] Ht.
如 世 尊 說 方 域 言 詞 不 應 堅 執 世 俗 名 想 不 應
故 求, như Thế tôn thuyết phương vức ngôn từ bất ưng
kiên chấp, thế tục danh tưởng bất ưng cố cầu”. Cđ.
‘ 佛 世 尊 說 汝 等 莫 執 著 方 言 莫 隨 逐 世 間 所
立 文 字, Phật Thế tôn thuyết nhữ đẳng mạc chấp trước
phương ngôn, mạc tuỳ trục thế gian sở lập danh tự”
[47] Ht.
“又 開 一 眼 觸 一 眼 時 便 於 現 前 見 二 月 等,
閉 一 觸 一 是 事 則 無, hựu khai nhất nhãn xúc nhất
nhãn thời tiện ư hiện tiền kiến nhị nguyệt đẳng; bế
nhất xúc nhất thị sự tắc vô” Cđ. “若
開 一 眼 半 閉 一 眼 則 見 二 月 由 隨 一 遍 異 見
則 不 明, nhược khai nhất nhãn bán bế nhất nhãn tắc kiến
nhị nguyệt do tuỳ nhất biến dị kiến tắc bất minh.”
[48] Ht.
不 至 境 bất chí cảnh, 非 至 境 phi chí cảnh . Cđ.
不 至 塵 bất chí trần. T.T.Sỹ, (a)prāptviṣaya, đối tượng
vươn đến để kết hợp với chủ thể phát sinh nhận thức.
[49] Ht.
藥 等 dược đẳng . Cđ. 藥 塗 dược đồ
[50] Quang
ký q.2, tr. 51a26 “ 六 根 皆 取 至 境 即 是 勝 論 師
義, Thắng luận sư (Vaiśeṣika) chủ trương sáu
căn đều thủ đắc đối tượng tiếp hợp”, do vậy đã
nêu vấn nạn trên.
[51] Ht.
無 間 生, vô gián sanh. T.T.Sỹ, nirantarotpattiḥ, không
có khoảng cách giữa căn và cảnh.
[52] Ht.
極 微 cực vi .Cđ. 鄰 虛 lân hư。 Skt. paramānu
[53] Ht.
hữu phần .Cđ. hữu phương phần. Skt. sāvayava. Sai lầm, vì
như vậy cực vi còn có những phần tử nhỏ hơn.
[54] Ht.
若 爾 何 故 將 擊 發 聲 nhược nhĩ hà cố tương kích phát
thanh? Cđ. 若 爾 云 何 發 聲 nhược nhĩ vân hà phát thanh
? Sphut., “nếu chúng không tiếp xúc, khi không có sự
đánh gõ, âm thanh không thể phát ra” T.T.Sỹ.
[55] Ht.
若 許 相 觸 擊 石 拊 手 體 應 相 糅, nhược hứa tương
xúc kích thạch phủ thủ thể ưng tương nhữu. Cđ. 若 言
相 觸 二 手 相 榼 則 應 相 著; 石 投 石 亦 爾 nhược
ngôn tương xúc, nhị thủ tương khạp tắc ưng tương trước;
thạch đầu thạch diệc nhĩ (nếu chúng xúc nhau, khi tay vỗ
tay, khi đá ném đá, chúng sẽ dính lại).
[56] Ht.
和 合 色 hoà hợp sắc . Cđ. 微 聚 物 vi tụ vật. . Skt. S
ghātha
[57] Ht.
和 合 物 正 離 散 時, hoà hợp vật chánh ly tán thời.
Cđ. 物 分 散 ly tán vật .Skt. Viśīryate .Sphut.,
tadyathā śuṣkā mṛccūrṇīkriyamāṇā, như bột cục bị
sấy khô. Quang ký “như đám bột rải trong không”. T.T.Sỹ.
[58] Ht.
離 散 物 正 和 合 時, ly tán vật chánh hoà hợp thời .
Cđ. 物 增 長 vật tăng trưởng .Skt. cayaṃgacchati
[59] Ht.
和 合 物 復 和 合 時, hoà hợp vật phục hoà hợp thời.
Cđ. 聚 與 聚 共 合 tụ dữ tụ cọng hợp . Skt. cayavattāṃ
cayaḥ
[60] Ht.
向 遊 塵 同 類 相 續, hướng du trần đồng loại tương
tục. Cđ. 隙 中 微 塵 khích du trần . Skt. vātāyanaraja
[61] Ht.
大 山 đại sơn. Sphut. “tại sao sự tiếp nhận các đối
tượng lớn, như núi non, được đặc trưng bởi một lần,
mà không phải theo thứ tự ?” T.T. Sỹ
[62] Ht.
旋 火 輪 triền hoả luân . Sphut. “...với tộc độ rất
nhanh ... như tiếp thu vòng lửa đang quay diễn theo thứ tự,
nhưng được đặc trưng như là một lần.” T.T.Sỹ
[63] Ht.
等 不 等 đẳng bất đẳng . Sphut. “Con mắt có đối tượng
tương xứng khi nhìn quả nho; không tương xứng khi nhìn đầu
sợi tóc hay nhìn ngọn núi.”
[64] Ht.
安 布 差 別,an bố sai biệt .Cđ. 鄰 虛 形 相 lân hư hình
tướng . Skt. sanniveśa.
[65] Ht.
倦 花 皮 quyện hoa bì. Cđ. 浮 休 闍 皮 phù hưu xà bì.
[66] Quang
ký : “theo sự tương truyền của các cổ đức Phương Tây,
Y phương gia cho rằng trong thiệt căn có một điểm nhỏ bằng
đầu sợi lông; chỗ không có thiệt căn là điểm mạt –
ma (marman, tử huyệt). Lấy kim chích vào đó, người kia chết
ngay.
[67] Quang
ký : chỉ cho quan điểm truyền thống của Hữu Bộ.
[68] .Ht.
無 間 滅 意,vô gián diệt ý . Cđ. 無 瞷 滅 識 vô gián diệt
thức. Skt. samanantaraniruddha mans.
[69] Quang
ký q.2, tr.54a02 “ 若 依 經 部 五 識 唯 緣 過 去, nếu căn
cứ vào Kinh Bộ thì năm thức chỉ duyên với quá khứ.”
[70] Quang
ký q.2, tr.54a04 “問 此 宗 十 八 界 皆 通 三 世 如
何 說 意 唯 過 去 耶 。 解 雲 若 踞 意 體 實 通 三 世
約 世 據 用 就 顯 以 論 故 唯 過 去 故 論 云
過 去 名 意 謂 來 名 心 現 在 名 識, hỏi : Hữu Bộ cho
rằng, 18 giới thông cả ba đời, thế thì tại sao ý giới
chỉ có ở quá khứ ? -Giải thích: nếu căn cứ vào ý thể
thật sự thông cả ba đời; nếu đứng về thời gian,
căn cứ trên tác dụng rõ ràng để luận duy chỉ có quá khứ
. Cho nên Luận nói rằng, quá khứ gọi là ý, vị lại gọi
là tâm, hiện tại gọi là thức.”
[71] Ht.
等 無 間 緣 đằng vô gián duyên . Cđ. 次 第 緣 thứ
đệ duyên. Skt. samanantara-pratyaya.
[72] Ht.
心 所 法 界,tâm sở pháp giới. Cđ. 心 法 法 界, tâm pháp
pháp giới. Skt. Caitasika .
[73] Ht.
不 共 因 Skt. asādhāratva.
[74] Sphut.,
“Cũng như trong đời, người ta nói tiếng trống, mầm lúa
chứ không nói tiếng dùi, mầm ruộng.” T.T.Sỹ
[75] Ht.
“隨 身 所 住 眼 見 色 時 身 眼 色 識 地 為 同 否,
tuỳ thân sở tại, nhãn kiến sắc thời, thân nhãn sắc thức,
địa vi đồng phủ?”. Cđ. “ 若 人 在 此
身 中 由 眼 見 色 是 身 眼 色 識 為 是 一 地 為 是 別
地, nếu một người ở trong thân nầy, khi mắt nhìn thấy
sắc, thân nhãn sắc thức cùng một cõi hay khác cõi?”
[76] Tự
địa ở đây chỉ cho cõi Dục (Kāmadhātu).
[77] Ht.
決 定 相 quyết định tướng .Cđ. 決 判 quyết phán.
[78] Ht.
各 一 所 識 (các nhứt) sở thức. T.T.Sỹ dịch, được lãnh
thọ, anubhūta。
[79] Ht.
意 識 所 識 ý thức sở thức . T.T Sỹ dịch, được thức
biệt, vijñāyante
[80] Ht.
無 常 法 餘 餘 界 vô thường pháp dư dư giới . Bảo sớ
q.2, tr.512a02 giải thích “pháp dư : trong pháp giới, trừ ba
vô vi, còn các giới còn lại; dư giới : trừ pháp giới,
còn lại mười bảy giới”. Cđ. 餘 界 皆 是 無 常 dư giới
giai thị vô thường.
[81] Sphut.,
Kinh được Phật nói cho Jātiśroṇa brahmaṇa ( Sinh văn Bà
la môn ) Cf.Pali, Vbh122sq; Vism 491 sq. T.T.Sỹ