Cách đây 10
thế kỷ, nước ta dưới thời nhà Lý, về phương diện chính
trị, đã giữ vững nền độc lập. Bắc chống Tống, Nam
bình Chiêm. Trong thời kỳ cai trị hơn 200 trăm năm (1010 - 1225),
ngoài những chiến công rực rỡ ấy, nhà Lý đã hoàn toàn
tổ chức lại nội bộ. Lý Thái Tổ, năm 1010 thiên đô từ
Hoa Lư ra La Thành và đổi tên gọi là Thăng Long kể từ đó.
Năm 1054, nhà Lý đặt quốc hiệu mới cho nước ta là Đại
Việt. (Năm 1164, nhà Tống phải công nhận nước ta là một
quốc gia riêng. Từ đấy, Trung quốc gọi nước ta là An Nam
quốc).
Từ đời nhà Lý trở
đi, cơ sở chính trị đã ổn cố, vững vàng và nhà Lý đã
đường hoàng thiết lập các triều nghi điển chế luật pháp.
Tuy nhiên nếu về phương
diện công pháp, vấn đề nghiên cứu nền cai trị nội bộ
ngày nay tương đối dễ dàng (vì còn nhiều tài liệu) thì
trái lại, sự nghiên cứu về nền tư pháp triều Lý gặp
rất nhiều khó khăn, nếu không trì chí thì khó mà vượt
qua được.
Theo sử, vua Lý Thái
Tông, năm Minh Đạo Nguyên Niên (1042), có ban bố một bộ Hình
Thư. Song khốn thay, sách ấy ngày nay không còn nữa! Theo bộ
Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (Văn Tịch
Chí) thì trong thời kỳ nhà Minh đô hộ nước ta vào đầu
thế kỷ thứ 15 (1407 - 1427), họ đã dã tâm tịch thu các sách
vở của ta đem về Kim Long, mục đích làm tiêu ma nền văn
hóa cổ truyền của dân Việt và do đó mưu giữ vững nền
thống trị của họ bằng chính sách cực kỳ thâm độc, là
ngu dân và đồng hóa. Ta hãy nghe một đoạn chỉ dụ của
vua Minh Thành Tổ gửi Trương Phụ ngày 21-8-1406: “Một khi
binh lính đã vào nước Nam... thì hết thảy sách vở văn tự,
cho đến các loại văn tự dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ...
một mãnh, một chữ phải đốt hết. Khắp trong nước, các
bia do An Nam dựng thì phải phá hủy tất cả, một chữ chớ
để sót lại”.
Chưa đủ. Chín tháng
sau đó, một lần nữa, Minh Thành Tổ lại gởi chỉ dụ thúc
giục:
“Nhiều lần đã bảo
cho các ngươi rằng phàm An Nam có sách vở văn tự gì, kể
cả các câu ca kỹ dân gian, các sách dạy trẻ và tất cả
các bia mà xứ ấy dựng lên, thì dù một mãnh, một chữ,
hễ trông thấy thì phá hủy ngay lập tức, chớ để sót lại”.
(Theo Minh Sử). Cũng theo Minh Sử thì, trong những năm này, chỉ
một viên quan hạng bét như Lưu Hiểu cũng lấy được 93 chiếc
trống đồng đem về Tàu!
Trong số các sách vở
đã bị thiêu hủy, bị tịch thu như vậy, có quyển Hình Thư
nói trên. Như vậy, ta đã mất một tài liệu quí báu nhất
để nghiên cứu rành rọt, chính xác về nền pháp luật triều
Lý.
Tuy, quyển Hình Thư
của Lý Thái Tông ngày nay đã thất lạc, song không phải vì
vậy mà mất hết hy vọng nghiên cứu luật pháp triều Lý.
Ta có thể căn cứ vào
những điều ghi chép trong Sử và trong những sách khác để
có được một ý niệm tổng quát nhưng cũng không đến nỗi
quá sơ lượt về thời đại ấy.
Như ta đã biết, luật
pháp của mỗi quốc gia phản chiếu trung thực (nếu không
tuyệt đối trung thực) tất cả các điều kiện xã hội (theo
nghĩa rộng), có nghĩa là các điều kiện chính trị, kinh tế,
văn hóa..., cũng như nguyện vọng của người dân sống trong
những điều kiện nói trên. Vì phải phản ánh hoàn cảnh
xã hội cũng như ý nguyện của nhân dân, nên nền pháp luật
của bất luận quốc gia nào cũng biến chuyển theo thời gian.
Như vậy, nền luật pháp của ta dưới thời nhà Lý đã có
những sắc thái nào? Có phát huy được tinh thần cố hữu
và bản sắc của dân tộc hay không? Đó là đối tượng và
tinh thần nghiên cứu của môn cổ luật, trong đó có: Luật
pháp triều Lý.
Đến như Đức Khổng
Phu Tử khi muốn xem lại các lễ chế nhà Hạ, nhà Ân, còn
phải than rằng những thứ còn lại ở nước Kỷ, nước Tống
là không đủ để khảo cứu (...Ta hồ ngô thánh nhân dục
quan Hạ, Ân chi đạo, nhi thán Kỷ, Tống nhi bất túc trưng...)
Huống hồ là chúng ta ngày nay, thì cũng đành hoan hỷ với
những gì mình đang còn và đang có trong tay vậy. Và, ta hãy
bắt đầu bằng cách căn cứ vào các bộ Sử, như: Lịch Triều
Hiến Chương Loại Chí (quyển 33) của Phan Huy Chú. Sau đó
đem đối chiếu sách ấy với các điều đã được ghi chép
trong các bộ khác, như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương
Mục, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do Lê Văn Hưu soạn dưới
đời Trần (cách thời Lý không quá 3 thế kỷ) và sau lại
được Ngô Sĩ Liên dưới đời Lê hiệu bổ. Gần đây, còn
có thêm sách Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn cũng giúp
ích nhiều chi tiết liên quan đến các hoạt động của dân
tộc ta dưới thời Lý, về phương diện tôn giáo (nhất là
về Phật giáo).
Nhờ vào các tài liệu
tản mác trong sử cũ, ngày nay ta cũng có thể có một quan
điểm tổng hợp về tinh thần đặc sắc của luật pháp triều
Lý; phản chiếu rõ rệt cá tính độc lập truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, những tài liệu ấy còn chứng
minh rằng trên lập trường thực tế, dân ta tuy bị vùi lấp
trong chính sách ngu dân non một ngàn năm, song chỉ cần một
thời gian độc lập không đầy một trăm năm cũng tiến đến
một trình độ pháp lý hết sức rực rỡ, khả quan. Như thế,
lịch sử đã hùng hồn minh chứng là, dân tộc Việt Nam có
đủ những khả năng tiến triển về phương diện tinh thần,
trí tuệ, nếu không hơn hẳn thì cũng không thua kém bất cứ
một dân tộc nào trên thế giới này.
TINH THẦN ĐẶC SẮC
CỦA PHÁP LUẬT TRIỀU LÝ
Như ta đã biết, nền
pháp luật triều Lý không phải chỉ gồm vỏn vẹn có bộ
Hình Thư của Lý Thái Tôn mà thôi. Các triều vua sau, cũng
có ban hành một số điều luật hiện còn ghi chép trong Sử.
Một đôi khi, những điều luật còn được phân tích rành
mạch và giúp ích nhiều cho sự nghiên cứu.
Ngoài ra, luật pháp
triều Lý cũng không thể nào không chịu ảnh hưởng của
luật Trung quốc, nhất là bộ luật nhà Đường (Đường Luật
Sớ Nghị). Đến triều Lý, ảnh hưởng của bộ luật này
vẫn còn.
Chứng cứ đầu tiên
là, đến những 500 năm sau, ảnh hưởng ấy vẫn chưa phai
lạt, đó là: một phần lớn của bộ Quốc Triều Hình Luật
của nhà Lê soạn về cuối thế kỷ thứ 15 vẫn còn phản
chiếu một phần nào các điều khoản của luật nhà Đường.
Ngay trong các điều
khoản luật pháp triều Lý (được ghi lại trong Sử) ta cũng
nhận thấy ảnh hưởng này. Trong luật nhà Lý chép rằng:
“Các người già cả hay trẻ con niên thiếu, phạm tội thì
được xử nhẹ”. Trường hợp giảm khinh này vốn mượn
trong luật nhà Đường. Các bộ Luật Hồng Đức (nhà Lê)
và Gia Long (nhà Nguyễn) sau này cũng có quy định tương tự
như vậy.
Chứng cớ thứ hai là,
theo Sử, bộ luật nhà Lý rất khoan hồng và cho phạm nhân
được chuộc tội bằng tiền (trừ khi phạm vào tội Thập
ác). Đây cũng là một điều khoản mượn ở luật nhà Đường
(quyển 1, điều 14). Điều đáng nhớ là điều khoản về
tội Thập ác này, các bộ Luật Hồng Đức và Hoàng Việt
Luật Lệ sau này cũng vẫn giữ.
Nếu muốn biết rõ,
thì trong luật nhà Đường, tội Thập ác gồm các trường
hợp như sau:
1. Mưu phản lật đổ
nền cai trị của nhà vua.
2. Mưu đại nghịch:
phá đền đài, lăng tẩm nhà vua.
3. Mưu bạn: phục vụ
nước địch
4. Ác nghịch: mưu giết
hay đánh ông bà, cha mẹ, tôn thuộc.
5. Bất đạo: vô cớ
giết ba (3) người cùng nhà.
6. Đại bất kính:
lấy trộm các đồ tế trong lăng tẩm, làm giả ấn vua.
7. Bất hiếu: cáo giác
hay chửi rủa ông bà, bố mẹ hay ông bà bố mẹ chồng. Không
phụng dưỡng bố mẹ, tự ý bỏ nhà phân chia tài sản, cưới
xin khi có tang cha mẹ, vui chơi trang sức trong khi tang chế,
được tin bố mẹ, ông bà chết không chịu tang hoặc phát
tang giả dối.
8. Bất mục: mưu giết
hay bán các thân thuộc (cho đến ngũ đại), đánh hoặc cáo
giác chồng hay các tôn thuộc (cho đến tam đại).
9. Bất nghĩa: giết
quan lại sở tại, hoặc thầy dạy, không để tang chồng,
ăn chơi và tái giá.
10. Nội loạn: tức
là tội loạn luân (thông dâm với thân thuộc hay với các
thiếp của bố hay của ông).
Cũng cần nói rõ thêm,
tội Thập ác ở Trung Hoa đặt ra dưới đời nhà Tề (479-502)
và đến đời nhà Tùy thì được bổ cứu. Song phải đến
đời nhà Đường, tội Thập ác này mới được quy định
rõ ràng lần đầu tiên trong bộ luật Hình. Như thế, đây
là một chứng cớ minh xác rằng luật triều Lý còn chịu
ảnh hưởng của luật nhà Đường.
Tuy nhiên, ta cần nhấn
mạnh rằng, ảnh hưởng của luật nhà Đường đối với
luật pháp triều Lý không có nghĩa là một sự bắt chước
triệt để (như trường hợp bộ luật Gia Long đối với bộ
luật nhà Thanh).
Một chứng cớ cụ
thể là: Bộ luật nhà Đường về hình thức gồm có 12 thiên.
Trái lại, luật nhà Lý (theo sách Đại Việt Thông Sử (Nghê
Văn Chí) của Lê Quý Đôn và sách Lịch Triều Hiến Chương
Loại Chí) thì chia ra làm ba quyển. Lẽ tự nhiên, sự dị
biệt trong cách bố cục phải đi đôi với một sự thay đổi
quan trọng về nội dung. Qua các tài liệu rất hiếm hoi mà
ngày nay còn tìm được, tỏ rõ tinh thần đặc sắc của nền
pháp luật triều Lý đã phát huy mạnh mẽ, đã biểu lộ một
trạng thái tân kỳ của dân Việt thời ấy, với một nền
độc lập mới được phục hồi. Ở một thời đại mà nền
văn hóa Trung Hoa đang thịnh vượng đến cực độ khiến các
nước trong khắp cõi Viễn Đông coi như một văn hóa khuôn
mẫu, mà nền pháp luật của triều Lý vẫn giữ được cá
tính đặc thù riêng biệt đó, thực là một sự kiện đáng
tự hào, cần được xiển dương, đề cao để tỏ rõ tinh
thần tự chủ của dân ta vốn đã sẵn có tự ngàn xưa:
“Quê hương ấy còn
vang lời ước thệ
Ai ngàn xưa non bể
hẹn hò nhau”
Đất nước và con người
đã kết hợp thật hài hòa qua cuộc “hẹn hò” tuyệt diệu
ấy. Ngày nay nếu muốn thấy, ta có thể tìm trong các pháp
luật của triều Lý về hai phương diện:
1. Pháp luật triều
Lý chịu ảnh hưởng của đạo Phật.
2. Pháp luật triều
Lý thích ứng với nhu cầu xã hội Việt Nam.
ẢNH HƯỞNG ĐẠO
PHẬT
Ở Trung Quốc, như ta
đã biết, về phương diện pháp luật, một tranh luận đã
diễn ra rất sôi nổi trên lập trường lý thuyết giữa hai
phái Nhân trị và Pháp trị chủ nghĩa.
1. Quan niệm Nhân trị
tin tưởng ở lòng thiện thiên nhiên của nhân loại, nhà cầm
quyền chỉ tài bồi cái tính thiện ấy, săn sóc vấn đề
tu dưỡng nhân cách thì mọi sự khó khăn trong xã hội sẽ
tiêu tan. Trọng ở Lễ khiến mọi người tu thân theo kịp
đức độ của người quân tử, chính sách nhân trị sẽ coi
luật pháp là thừa. Từ chỗ tu thân đến các vấn đề tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ, chỉ có một tiêu chuẩn và
một phương pháp duy nhất là dùng Lễ và Nhạc.
2. Trái với quan niệm
Nhân trị, chính sách Pháp trị rất bi quan về điểm tin tưởng
ở bản tính toàn thiện của con người. Để giữ trật tự
trong xã hội, cùng thúc buộc các xu hướng vị kỷ và hỗn
độn của cá nhân, nhà cầm quyền phải dùng đến pháp luật.
Luật pháp càng đầy đủ, càng nghiêm khắc và công minh, lòng
người càng sợ hãi và không dám làm điều càn rỡ. Hạnh
phúc của xã hội loài người không phải căn cứ ở Lễ,
mà căn cứ ở Luật.
Ở nước ta, trong hai
quan niệm Nhân trị và Pháp trị, quan niệm nào đã làm giềng
mối cho luật pháp nhà Lý?
Phần đông các nhà
khảo cứu, mãi phân tích cuộc tranh luật gay go và đầy hứng
thú giữa hai thuyết trên, đã quên rằng ngay từ đời Lý
cách đây cả ngàn năm, nước ta đã phát huy được một nền
pháp luật có một tinh thần tự chủ đặc sắc, không hẳn
là Nhân trị mà cũng không phải là Pháp trị.
Luật pháp triều Lý
đã chọn được một phương pháp chiết trung nhờ ảnh hưởng
của đạo Phật.
A. NGUYÊN NHÂN PHÁT
TRIỂN ĐẠO PHẬT
Khái quát, có hai nguyên
nhân:
a) Yếu tố thứ nhất
là chính sách ngu dân của người Tàu áp dụng tại nước
ta một cách triệt để trong 10 thế kỷ đô hộ. Vì thế đến
triều Lý, Nho học (của Tàu) vẫn còn ở thời kỳ rất phôi
thai mãi đến đời Lý Nhân Tông, năm Ất Mão (1075) mới có
kỳ thi Tam trường tuyển người văn học ra làm quan.
Kỳ thi đầu, chọn
được hơn 10 người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh.
Xem như vậy, quan niệm
của Nho giáo như Nhân trị và Pháp trị chưa thể có ảnh
hưởng gì rõ rệt và mạnh mẽ đối với pháp luật triều
Lý được.
Sau này, vào đời Trần
- Lê có sự phát triển của Nho học trên đất Việt, là một
sự kiện hoàn toàn do ở ý chí của dân Việt, chứ không
phải là kết quả trực tiếp của nền Bắc thuộc.
b) Yếu tố thứ hai
là Đạo Phật đã được truyền bá sang Việt Nam từ lâu,
trước cả ở Trung Quốc.
Sách Thiền Uyển Tập
Anh Ngữ Lục (viết đời nhà Trần), đã ghi chép một câu
chuyện giữa Thái hậu Linh Nhân (tức Ỷ Lan, vợ vua Lý Thánh
Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông) với một vị sư uyên bác là Tri
Không:
- Ngày rằm tháng hai
năm Hội phong thứ 5 (1096), Thái hậu đặt tiệc chay ở chùa
Khai Quốc, thết các Tăng và đàm luận về đạo Phật với
các vị sư già học rộng. Về nguyên lý của đạo Phật,
sư Tri Không trong cuộc luận đàm này đã cho ta biết là sự
truyền bá không phải do Trung Quốc mà do Ấn Độ trực tiếp
truyền sang nước ta.
Để chứng minh lời
nói trên, sư Tri Không đã viện lời của Pháp sư Đàm Thiện:
Vua Tề Văn Đế (479-483) vốn dĩ mộ đạo Phật; đã cho xây
dựng chùa chiền khắp trong nước Tề và ngỏ ý với sư Đàm
Thiện muốn đem đạo Phật sang truyền bá ở Giao Châu: “Xứ
Giao Châu tuy nội thuộc nhưng chỉ là một xứ giàng buộc
mà thôi. Vậy ta chọn các Sa môn có danh đức sang đó để
giảng hóa, may dân chúng sẽ được pháp Bồ Đề chăng?”
Nhân dịp ấy, Pháp sư Đàm Thiện đã ngỏ cho vua Tề biết
là Giao Châu đã được giáo hóa từ lâu, trước cả vùng
Sơn Đông (tức là nước Tề) nữa: “Giao Châu vốn tiện
đường thông với Thiên Trúc (Ấn ĐỘ) cho nên khi đạo Phật
chưa tới Giang Đông (tức là nước Tề) thì ở Luy Lâu (trụ
sở quận Giao Chỉ, nay thuộc địa phận làng Lũng Khê, phủ
Thuận Thành, Bắc Ninh) đã có xây hơn 20 ngôi chùa, chọn 500
vị Tăng và đã dịch 15 bộ kinh rồi, thế là xứ ấy theo
đạo Phật trước nước ta”. Vì đó, mà người ta cho rằng
Giao Châu đã theo đạo Phật trước Tề. Trong số các vị
sư tới Giao Châu hồi ấy có Ma-la-kê-vực (tên Phạn là Marajivaka),
Khương Tăng Hội, Chi-cương-lưu-chi (tên Phạn là Kataruci) và
Mâu Bác: Những vị sư này đều là những nhân vật có thật
trong sử.
- Mâu Bác, nguyên người
Thương Ngô, sang Giao Châu ở với mẹ năm 189. Thời ấy, Sĩ
Nhiếp coi quận Giao Châu. Bên Tàu có loạn, nên nhiều người
có học đã tản cư sang Giao Châu để tìm an ninh. Trong số
những người tị nạn có Mâu Bác, trước theo học Đạo Giáo,
nhưng vào khoảng năm 194-195, nghĩa là sau khi sang Giao Châu độ
5, 6 năm, lại theo Đạo Phật. Đó là chứng cớ đạo Phật
đã được truyền sang Việt Nam từ trước.
- Ma-la-kê-vực, Khương
Tăng Hội, Chi-cương-lưu-chi đều là người Ấn Độ hay Tây
Vực (xứ Sogdiane) ở phía bắc Ấn Độ. Các vị sư này, sau
khi ở Giao Châu lâu, có sang Trung Quốc giảng đạo. Chính sư
Đàm Thiện cũng là người Indo-Scythe (Trung Hoa dịch là Nhục
Chi) ở phía bắc Ấn Độ. Sở dĩ am hiểu tình hình Giao Châu,
chắc cũng vì đã lưu trú ít lâu bên ta, trước khi qua bên
Tàu. Một điều lý thú là, một trong những người được
sư Khương Tăng Hội truyền đạo (quy y) cho, đó là Ngô Tôn
Quyền. Có nhiều khả năng là từ Luy Lâu (Việt Nam hồi ấy)
Phật giáo đã truyền sang Bành Thành (thời Chiến quốc đã
là kinh đô của Sở Hoài Vương, nay là Từ Châu, thuộc Giang
Tô), rồi từ Bành Thành truyền đến Lạc Dương (là kinh đô
của nhà Đông Hán), nay thuộc Hà Nam (Trung quốc) từ đầu
công nguyên. Xem như vậy, từ lâu, đạo Phật đã có những
cội rễ rất sâu xa tại Việt Nam, và mỗi ngày một thêm
bành trướng...
Trong khi chính sách ngu
dân của Tàu làm tê liệt các khả năng tinh thần của dân
Việt, thì, riêng các nhà sư đã họp thành giai cấp trí thức
trong nước... Vì vậy, mà qua các triều Đinh, Lê, Lý, đã
bao nhiêu lần các nhà sư đã giữ một vai trò quan trọng trong
các cuộc giao thiệp với sứ Tàu.
Dưới triều lý, có
thể nói Phật giáo đã chiếm hẳn địa vị độc tôn (quốc
giáo) trong xã hội Việt Nam.
Do thâm nhập một cách
hòa bình, trọng đức hiếu sinh, chẳng những đối với con
người mà cả với muôn loài muôn vật, đến tận đất trời,
mây nước, cây cỏ, thiên nhiên nữa. Chính tinh thần từ bi
ấy đã thâm nhiễm và phổ biến bàng bạc khắp nơi nơi trong
từng hơi thở - ngay từ thời Bắc thuộc - Chỉ nội một
việc vua nhà Tiền Lý (Sử cũ còn gọi là Hậu Lý Nam Đế)
có tên là Lý Phật Tử (555-602) cũng cho thấy ảnh hưởng
của Phật giáo trong thời kỳ này như thế nào.
B. ẢNH HƯỞNG CỦA
ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT
Nhớ lại, năm Kỷ Dậu
(1009) sau khi Ngọa triều Lê Long Đỉnh mất, đại diện cho
giới quan lại là Đào Cam Mộc và đại diện cho giới trí
thức là Thiền sư Vạn Hạnh đã cùng nhau hợp lực tôn phù
Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ (chức quan đứng đầu
ngành võ, tương đương với chức Tổng Tham mưu trưởng quân
đội ngày nay) là Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế. Tháng 10
năm đó, người con hoang được nhà sư Lý Khánh Vân nhận
làm con nuôi lúc mới lên ba tại một ngôi chùa ở Bắc Ninh
đã lên ngôi Cửu ngũ, mở đầu một triều đại lớn, rực
rỡ, huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, đã để lại
dấu ấn sâu sắc nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cố
nhiên trong đó bao gồm cả pháp luật - mà sau này, về văn
hóa (nói chung), triều Lý được các nhà nghiên cứu ghép chung
với triều Trần và lấy tên chung: Văn hóa Lý-Trần, để
nói lên thời đại vàng son trong sử sách, kéo dài từ thế
kỷ thứ X đến hết thế kỷ thứ XV. 500 năm đó đã là niềm
kiêu hãnh, tự hào, đã là nguồn cảm hứng bất tuyệt của
nhân dân ta, được soi sáng bởi trí tuệ nhà Phật: Đạo
đã vào Đời; con người đã có một phần an vui, một chút
hạnh phúc... Chẳng những Lý Thái Tổ mà các Vua chúa, Thái
hậu, Vương công đại thần thảy đều rất sùng mộ đạo
Phật và tôn quý chư tăng. Sử chép rất kỹ các công việc
liên quan đến đạo Phật đã được thực hiện dưới các
triều vua đời nhà Lý (Trong sách Lý Thường Kiệt, trang 423-430,
của cố Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, có liệt kê các công việc
này thành một bản rất tường tận, từ đời Lý Thái Tổ
đến Lý Huệ Tông (1010-1225).
Trạng nguyên Lê Quát,
nhà Nho, học trò của Chu Văn An, trong bia chùa Thiên Phúc (dựng
đời Trần) đã phải mặc nhiên công nhận rằng: “Làng xóm
nào cũng có chùa mà không đâu thấy thờ Đức Khổng Thánh”
(Hoàng Xuân Hãn, sách Lý Thường Kiệt, tr 402).
Không biết nhà Nho Trạng
nguyên (Lê Quát) có “lấy làm khó chịu” lắm không khi ông
nói: “Phật chỉ lấy điều họa phúc mà động lòng người,
sao mà sâu xa và bền chắc đến như vậy? Trên từ Vương
công dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về việc
Phật, thì hết cả gia tài cũng không tiếc. Nếu hôm nay đem
tiền của để làm chùa, xây tháp thì hớn hở vui vẻ, như
trong tay đã cầm được cái biên lai để ngày sau đi nhận
số tiền trả báo lại. Cho nên, trong từ kinh thành, ngoài
đến châu phủ, đường cùng ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo,
chẳng thề mà tin, hễ chỗ nào có nhà ở thì có chùa Phật,
bỏ đi thì làm lại, hư đi thì sửa lại...”
Rất nhiều chùa tháp
có quy mô to lớn, kiến trúc độc đáo, đã được xây dựng
trong thời gian này, như: Chùa Phật Tích, chùa Đạm (chùa Đại
Lãm), chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), chùa Phổ Minh, chùa Quỳnh
Lâm, chùa Hương Lãng, chùa Linh Xứng, chùa Bối Khê, chùa Thái
Lạc, hệ thống chùa Yên Tử, tháp Bình Sơn... chỉ nói riêng
về chùa Phật Tích, còn có tên là Vạn Phúc Tự ở xã Phật
Tích, huyện Tiên Sơn (Bắc Ninh), được xây dựng vào năm
1057. Theo bia Vạn Phúc Đại Thiền tự bi, thì chùa có 100 tòa.
Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, trong điện tự nhiên
sáng như ngọc lưu ly, điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa
lại kín. Trên thềm bậc đằng trước có bày 10 con thú đá
(đến nay vẫn còn), phía sau có ao rộng, gác cao vẽ chim phượng
và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, đầu rồng và tay rồng
với tới trời cao. Trong khuôn viên chùa dạng cây tháp cao
ngàn trượng, trong tháp có pho tượng Phật mình vàng cao 6
thước (tượng Đức A-Di-Đà, = 2,5m).
Kể thêm một chùa
nữa: Chùa Đạm (ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Ninh) do Nguyên phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng năm 1086. Chùa lớn
đến mức, riêng việc đóng cửa hàng ngày phải cần đến
72 người, dân gian mới có câu: “Mười tám đóng cửa chùa
Đạm”, để thay thế cho câu “Mười tám rám đống trấu”.
Vua Trần Nhân Tông (tức Trúc Lâm Tam Tổ, Hương Vân Đại
Đầu Đà) trong bài Đại Lãm Thần Quang Tự, đã ca ngợi ngôi
chùa bằng những câu:
“Thập nhị lâu đài
khai hoa lục
Tam thiên thế giới
nhập thị mầu”.
(Tạm dịch: Mười
hai lâu đài mở ra như bức họa. Ba nghìn thế giới thu vào
tầm mắt rộng muôn trùng).
(Đến nay, còn lại
dấu tích khu nền chùa rộng 8000 mét vuông, bậc cấp chính
dẫn lên chùa rộng 16 mét, dài 120 mét).
Khâm phục những thành
tựu văn hóa Việt Nam thời Lý Trần, sách vở Trung Hoa đời
Minh truyền tụng nhiều về bốn công trình nghệ thuật lớn,
mà họ gọi là An Nam Tứ Đại Khí, gồm:
1. Tượng Phật chùa
Quỳnh Lâm
2. Tháp Báo Thiên
3. Chuông Quy Điền
4. Vạc Phổ Minh
Ngoài ra, nhiều đền
cũng được xây dựng dưới triều Lý, mà nay vẫn còn di tích
ở ngoài Bắc như: Đền Trấn Vũ, tục gọi là đền Quan Thánh
(1100), đền Hai Bà (1160)...
Tiếc không thể kể
hết mọi chi tiết! Nhưng đáng tiếc hơn cả, là tuyệt đại
bộ phận các thành tựu văn hóa Lý-Trần, đều đã bị quân
Minh tàn phá hết sức dã man, thì, một điều “nghịch lý”
là trước đó, sách vở Trung Hoa lại viết khá nhiều về
Phật giáo Giao Châu, nhiều sĩ phu Trung Hoa đã đến thăm thú
chùa chiền Việt Nam, đã có nhiều thi văn ca ngợi các nhà
sư ở đây. Các vua Đường đã từng nhiều lần mời các
cao tăng An Nam sang kinh đô Trung Hoa thuyết pháp, giảng kinh
và cũng tại đây, họ được các văn hào thi sĩ Trung Hoa hết
sức mến mộ và làm nhiều thơ tặng...
Một điều cũng hơi
“nghịch lý” nữa là, trong nước ta, tuy sau này nhà Lê tuyên
bố lấy Nho giáo làm quốc giáo, Phật giáo dần dần suy thoái,
nhưng Nho thần Lê Quát, quan Trạng nhà Lê, lại phản ảnh
một cách rất trung thực, chính xác (nếu không nói là hoàn
toàn chính xác) rằng: hầu hết dân ta thời Lý - Trần đã
theo Phật và đạo Phật thân thiết đến nỗi dường như
một người Việt Nam nếu không theo một tôn giáo nào khác
thì ắt là theo Phật, hoặc ít ra là có cảm tình với đạo
Phật.
Cũng lẽ tất nhiên,
trong bầu không khí thấm nhiễm sâu xa giáo lý Từ Bi của
đạo Phật như vậy, thì nền pháp luật tránh sao không chịu
ảnh hưởng ấy?
-Sách Lịch Triều Hiến
Chương của Phan Huy Chú (trong quyển 33) đã chép rõ nguyên
nhân thúc giục vua Lý Thái Tông ban hành quyển Hình Thư năm
1042.
- Trước các cuộc cải
cách quan trọng ở trong nước, các việc án tăng gấp bội,
vì vậy các quan xử kiện, áp dụng luật một cách quá nghiêm,
nhiều khi đã trở nên bất công và hà khắc[1]
Tình trạng đã khiến
vua Lý Thái Tông phải động lòng trắc ẩn và ra lịnh cho
viên Trung Thư san định luật Hình (các luật lệ hiện hành
được xét lại và chọn lọc, xếp thành loại và biên soạn
thành một bộ luật để tiện việc tra cứu...).
Lý Thái Tông là một
vị vua chịu ảnh hưởng sâu xa của đạo Phật nên rất giàu
từ tâm. Vua làm Luật là vì... thương dân. Chẳng những với
dân mà ngay với kẻ địch như Nùng Trí Cao, sau khi y bị bắt,
vua cũng đã tỏ độ lượng khoan hồng, không bắt tội chết.
Tấm lòng từ bi ấy
ta đã thấy rõ rệt qua lệnh vua truyền san định Bộ Hình
Thư. Lẽ tất nhiên các điều khoản trong luật Đường, nếu
có được dùng làm kiểu mẫu cho bộ Hình Thư triều Lý, thì
những hình phạt ấy cũng được thay đổi rất nhiều.
Trên đây ta đã có
dịp nhấn mạnh là theo Sử, luật nhà Lý có cho phạm nhân
được chuộc tội bằng tiền, trừ những tội Thập ác.
Tinh thần từ bi ấy
và ảnh hưởng của đạo Phật, ta cũng sẽ còn nhận thấy
dưới các triều vua khác.
Mùa đông năm 1055, trời
giá rét, Lý Thánh Tông nói với các quan rằng: “ta ở trong
cung kín, sưởi lò than, khoác áo bông mà còn rét như thế
này. Ta nghĩ đến tù nhân bị nhốt trong ngục thất chịu
trói buộc khổ sở, mà chưa biết phải trái ra sao. Ăn không
no bụng, áo không đủ che thân, vì rét mà bao nhiêu người
chết, không nơi nương tựa. Ta thật lấy làm thương”. Rồi
vua sai phát chăn chiếu cho tù nhân và cấp cho mỗi ngày hai
bữa cơm. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).
Lại nữa, mùa hạ năm
Chương Thánh Gia Khánh thứ 6 (1064), vua Lý Thánh Tông ngồi
xử kiện ở điện Thiên Khánh, có công chúa Động Thiên đứng
hầu bên cạnh. Vua chỉ công chúa nói với các quan coi việc
kiện tụng: “Lòng ta yêu dân như ruột thịt chẳng khác gì
con đẻ. Vì dân không hiểu luật nên mắc tội, ta rất xót
xa. Vậy từ rày về sau ta muốn rằng các tội dù nặng dù
nhẹ cũng được xử một cách khoan hồng”[2] .
Có lẽ vì chịu ảnh
hưởng Phật giáo sâu xa như vậy, cho nên đối với vua Chàm
là Chế Củ, sau khi thân chinh bắt được, vua Thánh Tông cũng
tha cho tội chết.
Ubisocietas ibi jus: Ở
đâu có xã hội thì ở đó có luật pháp. Đó là lẽ tất
nhiên, là chuyện đã đành rằng thế. Nhưng, trên lập trường
pháp lý, thì những chuyện kể trên cho ta rõ, giáo lý từ
bi của đạo Phật đã trực tiếp ảnh hưởng trên nền pháp
luật triều Lý một cách rất nhuần nhuyễn, rất tinh tế,
qua:
a) Sự tôn trọng Nhân
quyền:
Theo quan niệm cổ điển
của Trung Hoa, dù là quan niệm Nhân trị hay Pháp trị, thì
cá nhân sống trong khuôn khổ chế độ quân chủ chuyên chế
và dưới quyền người gia trưởng, hoàn toàn không được
pháp luật công nhận một quyền nào cả. Trái lại, ‘Lễ’
cũng như ‘Luật’ đã chồng chất lên vai họ không biết
bao nhiêu là nghĩa vụ: trong gia đình, nghĩa vụ đối với
chồng, với cha; ngoài xã hội nghĩa vụ đối với thầy, với
vua…
Trong các mối tương
quan cổ điển của xã hội, tuyệt nhiên không bao giờ người
ta nghĩ đến “Nhân quyền”, đến những tự do cá nhân mà
mọi phần tử xã hội phải được hưởng với tư cách làm
người. Quan niệm ấy đã đem lại biết bao đau thương, bất
công hà khắc, không hề được ai nghĩ tới.
Việc vua Lý Thánh Tông
xét tới cảnh khổ của các tù nhân đang bị giam cầm trong
khi tội trạng chưa xét rõ và truyền lệnh đối đãi tử
tế với họ quả thật là bước đầu tiên công nhận Nhân
quyền trong lịch sử nước nhà. Đó là một đặc điểm vinh
dự cho luật pháp triều Lý.
Do ảnh hưởng của
đạo Phật, phương pháp ấy đã vượt khỏi, vượt xa những
quan niệm thông thường của những nhà làm luật Trung Hoa.
Nếu đem so sánh những
ý tưởng ý tưởng cao thượng trong nền luật pháp ấy với
những nguyên tắc của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
do Liên hiệp quốc công bố ngày 10-12-1948, điều thứ 11, khoản
I về quyền của bị cáo, ta sẽ thấy: từ 1000 năm trước,
luật pháp của ta đã tiến tới một trình độ vinh quang sáng
chói về vấn đề này: “Toute personne accusée d’un acte délictueux
est présumée innocente jusqu’à ce que sa culpabilité ait été légalement
établie au cours d’un procès publie où toutes les garanties nécessaires
à sa défense lui auront été assurés.” (Phàm ai bị cáo buộc
một tội phạm gì đều được phỏng coi như vô tội cho đến
khi tội phạm ấy được chứng minh một cách rõ ràng hợp
pháp trong một vụ xử công khai có đủ mọi bảo đảm cần
thiết cho quyền bào chữa của bị cáo.)
Sự so sánh này sẽ
đưa ta đến kết luận rằng quan niệm cũ của pháp luật
Việt Nam không nhất thiết thoát thai từ quan niệm Nhân trị
hay Pháp trị của Trung Hoa. Nó có tinh thần đặc thù, riêng
biệt, và, ngay trong thời kỳ phôi thai ta ‘đã nhận thấy’
một sự tôn trọng nhân quyền mà ta chỉ ‘mới thấy’ phát
huy trong một vài nước Âu Mỹ vào cuối thế kỷ xviii! Và,
mãi giữa thế kỷ xx, tổ chức Liên hiệp quốc mới công
nhận.
b) Áp dụng chính sách
cải quá đối với tội nhân:
Chính sách nhân trị
trong Lễ, không dùng Hình đứng về phương diện lý thuyết
thuần túy, có tính chất rất cao siêu. Song có lẽ vì mục
đính quá cao siêu nên khó lòng thực hiện được hoàn toàn
trong xã hội loài người.
Chính sách pháp trị,
trái lại dưới “đôi mắt yếm thế” của phái Pháp gia
thì, loài người đối xử với nhau như bầy thú dữ; phải
có những hình pháp nghiêm ngặc mới hòng giữ được trật
tự cùng thuần phong mỹ tục trong xã hội.
Do quan niệm ấy, không
những luật phải dự trù những hình phạt nặng mà hơn nữa,
trong việc xét xử các phạm nhân, không thể có sự nhân nhượng
và cũng không hề có sự khoan hồng.
Luật triều Lý đã
không theo đuổi hẳn một phương pháp nào trên đây cả.
Chỉ thị của vua Lý
Thánh Tông về việc xét xử các tội nhân một cách khoan hồng,
không kể tội nặng nhẹ, là một ý niệm rất cao cả, là
một hình ảnh rất mới lạ của một chính sách về hình
sự (Politique criminelle) chưa hề thấy ở Trung Hoa: Chính sách
cải hóa tội nhân. Và chính sách này chỉ mới phát triển
ở Âu Mỹ vào thời cận đại.
Cũng cần nói rõ thêm,
theo chính sách ấy, các phạm nhân được coi như là nạn nhân
của xã hội. Đối với họ, không nên dùng những hình phạt
quá nghiêm khắc như muốn loại bỏ họ ra khỏi xã hội; đó
là một sự bất công. Mà trái lại, cần phải xét xử họ
như đối với một người có bệnh. Các sự trừng phạt phải
được cân nhắc và ấn định một cách hợp lý và nhân đạo
để, đối với họ sẽ biến thành một phương thuốc tinh
thần, đem lại cho họ lòng hối cải...
Sự khoan dung mà ta thấy
ở Vua Lý Thánh Tông là phản ánh của lòng Từ bi và sự Sám
hối được đề cao trong đạo Phật.
Sự khoan dung ấy phát
sinh ra một cuộc cải tổ quan trọng trong chính sách hình sự
mà ít người để ý tới.
Nếu khéo được tổ
chức, sự cải tổ trên có lẽ đã đưa nước ta đến chỗ
thực hiện một chính sách về hình sự có thể làm khuôn
mẫu cho cả thế giới, cho toàn nhân loại.
Nhưng dẫu sao, đó cũng
đã là một vinh dự thứ hai cho triều Lý là đã ý thức được
một quan niệm mới mẻ trong hình luật.
C) Phái Nho gia không
hiểu tinh thần luật pháp triều Lý:
Lẽ tự nhiên, tinh thần
đặc thù của sự cải tổ này (Cải quá tội nhân) phái Nho
gia không sao thấu hiểu được (vì thâm căn cố đế đã quá
thiên về các quan niệm nhân trị hoặc pháp trị), Bởi lẽ
đó, trong Sử cũ, luật pháp triều Lý thường bị phái Nho
gia chỉ trích như một hình luật nhu nhược, ủy mị.
Về những xét đóan
này, những lời phê bình của Ngô Thì Sỹ trong quyển Đại
Việt sử ký đã là một chứng cớ hùng biện về “thái
độ cố chấp” của phái Nho gia. Chỉ cần đơn cử một
thí dụ cũng rõ:
Năm Thiên Phù Duệ Vũ
thứ 6 (1125) một đạo luật được ban hành bắt phạt những
kẻ đã đánh chết người phải tội đồ làm khao giáp, 100
trượng và khắc vào mặt 50 chữ (Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư). Nhân đạo luật này, Ngô Thì Sỹ đã phê bình như sau:
Bắt kẻ giết người chịu tội tử, đó là luật cũ, cớ
sao chỉ phạt những kẻ đánh chết người một hình phạt
nhẹ như tội đồ và tội trượng? Nhân đây, những kẻ càn
rở có thể tự ý phóng tâm trả các mối tư thù, không coi
trọng nhân mạng nữa, các kẻ tiểu nhân rất dễ không tôn
trọng luật pháp, mà người quân tử hiền lành thì phải
chịu các sự bất công của chúng! Đó là một điều lầm
rất lớn trong sự quy định luật pháp!”(Đại Việt Sử
Ký). Để kết luận, nhà sử học danh tiếng họ Ngô đã tiếc
rằng các nhà hữu trách triều Lý, trong khi cai trị dân đã
không noi theo lời của Tử Kiều, Thôi Thục!
Tử Kiều, biệt hiệu
là Tử Sản hay Tử Mỹ, là một luật gia danh tiếng tại nước
Trịnh vào thế kỷ thứ VI trước TL (581-522) và cũng là một
đại biểu lỗi lạc của phái pháp gia. Sinh thời, ông giữ
chức tể tướng ở nước Trịnh, ông đã đúc vạc đồng
khắc rõ các hình luật cho dân gian biết, như một bộ Luật
hình đầy đủ. Chính sách thị uy ấy có thể tóm tắt trong
lời sau đây của Tử Sản: “Thấy lửa cháy dân sợ hãi
đứng nhìn cho nên ít người chết vì lửa. Trái lại nước
dịu mát nên khiến dân khinh thị, chơi đùa, vì vậy nhiều
người chết vì nước. Trong sự cai trị cũng vậy, khó mà
cai trị bằng sự hiền từ”.
Ý khiến ấy, cũng là
ý kiến của Thôi Thục đã viết trong sách Chính Luận: “Đối
với những người không có tư cách siêu việt, nếu ta nghiêm
khắc họ sẽ phải ở theo đạo, nếu ta khoan dung họ sẽ
làm loạn.”
Những lý tưởng cố
chấp của phái Nho gia không vượt khỏi giới hạn cổ điển
của hai quan niệm Nhân trị và pháp trị, lại làm tăng thêm
vẻ đặc sắc của tinh thần luật pháp triều Lý. Song ngoài
sự phát huy bản sắc dân tộc, luật pháp ấy còn có một
phương diện tân kỳ khác nữa, đó là tính cách thực tế
và thích ứng với nhu cầu xã hội đương thời. (còn tiếp)
L.V.K.
[1] Luật
La Mã: summum jus summa injuria (Summum, summa: ở trên, đỉnh cao
hơn hết. Jur: Luật pháp, Injuria: sự bất công) áp dụng luật
một cách cứng rắn quá sẽ gây ra bất công.
[2] “Các
tội dù nặng dù nhẹ cũng được xử một cách khoan hồng”,
từ bi, bác ái, nhân đạo quá và cảm động quá! Nếu so sánh
với luật La Mã: odia restringi et favgres couvenit ambliari những
điều luật trừng trị thì thâu hẹp lại, những điều luật
khoan hồng thì nới rộng ra, thì đã vượt quá xa...