TIẾT
3 : ĐẶC TÍNH SAI BIỆT CỦA CÁC PHÁP
A.
TỤNG VĂN.
Hán
văn.
一
有 見 謂 色 十 有 色 有 對
此
除 色 聲 八 無 記 餘 三 種
欲
界 繋 十 八 色 界 繋 十 四
除
香 味 二 識 無 色 繋 後 三
意
法 意 識 通 所 餘 唯 有 漏
五
識 唯 尋 伺 後 三 三 餘 無
說
五 無 分 別 由 計 度 隨 念
以
意 地 散 慧 意 諸 念 為 體
七
心 法 界 半 有 所 緣 餘 無
前
八 界 及 聲 無 執 受 餘 二
觸
界 中 有 二 餘 九 色 所 造
法
一 分 亦 然 十 色 可 積 集
謂
唯 外 四 界 能 斫 及 所 斫
亦
所 燒 能 稱 能 燒 所 稱 諍
內
五 有 熟 養 聲 無 異 熟 生
八
無 礙 等 流 亦 異 熟 生 性
餘
三 實 唯 法 殺 那 唯 後 三
眼
與 眼 識 界 獨 俱 得 非 等
Phiên
âm.
Nhất
hữu kiến vị sắc Thập hữu sắc hữu đối
Thử
trừ sắc thanh bát Vô ký dư tam chủng
Dục
giới hệ thập bát Sắc giới hệ thập tứ
Trừ
hương vị nhị thức Vô sắc hệ hậu tam
Ý
pháp ý thức thông Sở dư duy hữu lậu
Ngũ
thức duy tầm tứ Hậu tam tam dư vô
Thuyết
ngũ vô phân biệt Do kế đạt tuỳ niệm
Dĩ
ý địa tán huệ Ý chư niệm vi thể
Thất
tâm pháp giới bán Hữu sở duyên dư vô
Tiền
bát giới cập thanh Vô chấp thọ dư nhị
Xúc
giới trung hữu nhị Dư cửu sắc sở tạo
Pháp
nhất phần diệc nhiên Thập sắc khả tích tập
Vị
duy ngoại tứ giới Năng chước cập sở chước
Diệc
sở thiêu năng xưng Năng thiêu sở xưng tránh
Nội
ngũ hữu thục dưỡng Thanh vô dị thục sanh
Bát
vô ngại đẳng lưu Diệc dị thục sanh tánh
Dư
tam thật duy pháp Sát na duy hậu tam
Nhãn
dữ nhãn thức giới Độc câu đắc phi đẳng
Việt
dịch.
Một
hữu kiến là sắc Mười sắc là hữu đối
Trừ
sắc thanh còn tám vô ký; còn lại ba /29/
Mười
tám thuộc Dục giới. Mười bốn thuộc Sắc giới,
Trừ
hương vị, hai thức. Ba sau thuộc Vô sắc /30/
Ý,
pháp, ý thức thông Còn lại là hữu lậu
Năm
thức có tầm tứ. Ba sau ba. Còn không /31/
Năm
thức không phân biệt Do kế đạt tuỳ niệm
Vì
ý địa tán huệ Ý, các niệm là thể /32/
Bảy
tâm, phần pháp giới hữu sở duyên; còn không.
Tám
giới trước và thanh vô chấp thọ. Còn hai. /33/
Trong
xúc giới có hai chín sắc kia sở tạo.
Pháp,
một phần cũng vậy. Mười sắc thuộc tích tập./34/
Chỉ
có bốn giới ngoài là năng chước, sở chước;
Là
sở thiêu, năng xưng. Năng thiêu, sở xưng tránh./35/
Năm
trong là thục, dưỡng. Thanh không thuộc dị thục.
Tám
vô ngại, đẳng lưu cũng là dị thục sanh./36/
Còn
lại thông cả ba. Thật, pháp. Sát na ba loại sau.
Nhãn
và nhãn thức giới độc câu đắc phi đẳng./37/
B.
LUẬN THÍCH.
1.
KIẾN – VÔ KIẾN
Lại
nữa, trong 18 giới được nói ở trước,
-
Bao nhiêu giới thuộc hữu kiến , bao nhiêu giới thuộc vô
kiến ?
/29a/
Một, hữu kiến là sắc.
Trong
18 giới, chỉ riêng sắc giới thuộc hữu kiến vì nó có thể
hiển thị nơi nầy hoặc nơi kia khác nhau. Căn cứ vào nghĩa
nầy mà nói về vô kiến. Như vậy, hữu kiến và vô kiến
chỉ nhiếp thuộc sắc uẩn.
2.
HỮU ĐỐI – VÔ ĐỐI.
-
Bao nhiêu giới thuộc hữu đối [3] , bao nhiêu giới thuộc
vô đối [4]?
/29b/
Mười sắc [5] là hữu đối.
Đối
[6] có nghĩa là cản trở [7]; được chia làm ba loại: cản
trở bằng sự ngăn che, cản trở bởi hoạt trường và cản
trở bởi đối tượng.
a.
Cản trở bằng sự ngăn che [8] : nghĩa là trong 10 sắc giới,
mỗi một giới bị cản trở, không thể sanh khởi ở nơi
giới khác [9] được. Như cánh tay bị cản trở bởi cánh
tay, hòn đá bị cản trở bởi hòn đá, hoặc cả hai thứ
cản trở lẫn nhau.
b.
Cản trở bởi hoạt trường [10] : nghĩa là 12 giới và một
phần pháp giới, các pháp hữu cảnh nầy, bị cản trở tức
bị giới hạn trong hoạt trường sắc, thanh v.v...
của nó. Do đó, luận Thi Thiết nói rằng, có loại mắt
bị giới hạn ở trong nước chứ không phải trên đất, như
mắt cá chẳng hạn; có loại mắt bị giới hạn ở trên đất
chứ không phải trong nước; đây chỉ cho hầu hết các loại
mắt, như mắt người v.v... ; có loại mắt bị giới hạn
ở cả hai nơi, như mắt của loài quỷ ăn huyết nhục [12],
mắt cá sấu [13], mắt người bắt cá, mắt ểnh ương v.v...
; có loại mắt không bị giới hạn ở cả hai nơi ấy, đó
là trừ các loại mắt đã nêu trên. Lại có loại mắt bị
giới hạn vào ban đêm, chứ không phải ban ngày, như các loại
mắt dơi, mắt cú mèo v.v... ; có loại mắt bị giới vào ban
ngày, chẳng phải ban đêm, đó là đa số các loại mắt, như
mắt người v.v... ; có loại mắt bị giới hạn bởi cả hai,
như các loại mắt chó, dã can, ngựa, báo, sài lang, miêu ly
v.v... ; có loại mắt không bị giới hạn bởi cả hai, đó
là trừ các loại mắt đã nêu trên. Tất cả đều gọi là
cản trở bởi hoạt trường.
c.
Cản trở bởi đối tượng [14] : nghĩa là các Tâm, Tâm sở
bị cản trở, trói buộc bởi chính sở duyên của nó.
Lại
nữa, sự khác biệt giữa hoạt trường (viṣaya) và đối
tượng (ālambana) như thế nào? -Đối với một pháp, pháp
nầy có công năng thì nói rằng, pháp kia là hoạt trường
của pháp nầy. Tâm, tâm sở duyên vào các trần cảnh
mà hiện khởi; do vậy, trần cảnh được gọi là đối tượng
của tâm, tâm sở.
Nhãn
thức giới v.v... , khi vận hành trong hoạt trường cũng như
khi bám vào đối tượng của nó mà bị cản trở là thế
nào?. Nghĩa là ra ngoài phạm vi của nó, đến một hoạt trường
hoặc đối tượng khác, nó không hoạt động được. Hoặc,
cản trở có nghĩa hoà hội [15], nghĩa là các pháp nhãn v.v...
chỉ hoà hiệp vận hành trong hoạt trường và đối tượng
của nó mà thôi.
Nên
biết rằng, ở đây, căn cứ vào sự cản trở bằng ngăn
che, do vậy, nói 10 sắc hữu đối ngăn che lẩn nhau. Dựa vào
nghĩa hữu đối nầy để nói về nghĩa vô đối.
Những
pháp cản trở bởi hoạt trường đồng thời cũng là pháp
cản trở bởi sự ngăn che? Có bốn trường hợp phân biệt.
Thứ nhất [16], thất tâm giới, một phần pháp giới tức
những gì tương ưng với tâm. Thứ hai [17], năm cảnh vực,
sắc v.v... . Thứ ba [18], năm căn nhãn v.v... . Thứ tư [19],
một phần pháp giới tức những gì không tương ưng với tâm.
Những
pháp cản trở bởi hoạt trường đồng thời là pháp cản
trở bởi đối tượng chăng? Đó là trường hợp sau. Nghĩa
là, pháp cản trở bởi đối tượng cũng chính là pháp cản
trở bởi hoạt trường. Cũng có trường hợp, pháp cản trở
bởi hoạt trường không phải là pháp cản trở bởi đối
tượng. Đó là năm căn nhãn v.v... .
Đại
đức Cưu ma la đa [20] nói: “Ở nơi pháp nào tâm muốn khởi,
nhưng bị cản trở bởi pháp khác không khởi lên được,
nên biết, đó là pháp hữu đối. Vô đối, thì ngược lại.”
Như
vậy, đã nói xong về hữu đối, vô đối.
3.
Thiện-Bất thiện-Vô ký.
-
Bao nhiêu giới thiện (kuśala), bao nhiêu giới bất thiện (akuśala)
và bao nhiêu giới vô ký (avyākṛta) ?
a.
Vô ký.
/29c-d/
Trừ sắc, thanh, còn tám (là) vô ký.
Trong
10 sắc giới nầy, trừ hai giới sắc và thanh, tám giới còn
lại thuộc vô ký. Đó là năm sắc căn và ba trần cảnh hương,
vị, xúc. Tám giới nầy không xác định được thiện hay
bất thiện nên gọi là vô ký. Thuyết khác nói, không xác
định được quả dị thục nên gọi là vô ký. (Phản nạn)
Nếu vậy thì, trong vô lậu chỉ là vô ký?
b.
Thông cả ba.
/29d/
Còn lại ba.
Mười
giới còn lại thông cả ba tánh thiện v.v... . Đó là, bảy
tâm giới (tâm giới, cittadhātavaḥ), khi tương ưng với vô
tham v.v [21]... , là thiện; khi tương ưng với tham v.v... , là
bất thiện; ngoài ra là vô ký.
Pháp
giới, nếu nguyên khởi tương ưng với tự tính vô tham v.v...
, với trạch diệt là thiện; nguyên khởi tương ưng với tự
tính tham, v.v... , là bất thiện; ngoài ra là vô ký.
Hai
giới sắc, thanh, khi kết hợp với thân biểu và ngữ biểu,
có nguyên khởi từ tâm thiện hoặc bất thiện thì chúng sẽ
là thiện hoặc bất thiện; ngoài ra là vô ký.
4.
GIỚI HỆ.
Trong mười tám giới, bao nhiêu giới hệ thuộc Dục giới;
bao nhiêu giới hệ thuộc Sắc giới; và bao nhiêu giới hệ
thuộc Vô sắc giới ?
a.
Dục giới (kāmadhātu).
/30a/
Mười tám thuộc Dục giới.
Hệ
là hệ thuộc, có nghĩa bị trói buộc. Hệ thuộc Dục giới
có cả mười tám giới.
b.
Sắc giới (rūpadhātu).
/30b-c/
Mười bốn thuộc Sắc giới, trừ hương, vi, hai thức.
Hệ
thuộc Sắc giới, có mười bốn giới.
Trong
Sắc giới, không có hai cảnh hương, vị và hai thức tỷ,
thiệt. Không có hai cảnh hương vị vì chúng thuộc loại đoạn
thực [22], trong khi sanh về cõi nầy chỉ những ai đã xa lìa
loại thực phẩm đoạn thực. Trừ hai thức tỷ, thiệt bởi
lẽ chúng không còn có đối tượng.
Phản
nạn, như vậy trong cõi nầy, xúc giới cũng không tồn tại
như hai trần cảnh hương vị, vì cũng thuộc loại đoạn thực
?
(Không
phải vậy) ở cõi Sắc, có loại xúc không có tánh đoạn
thực.
Phản
nạn, nếu vậy hương vị cũng như thế ?
(Không
phải như thế) hương và vị, ngoài tính cách làm thức ăn,
không còn có công dụng nào khác; trong khi Xúc còn có công
dụng làm sở y của căn, duy trì sinh mạng và y phục.
Ở cõi kia không còn nhu cầu thực phẩm đoạn thực nên hương
vị không có; vẫn còn căn và y phục nên xúc không thể không.
Luận
sư khác [23] nói, ở Dục giới, tu tập các thiền (dhyāna)
và định (samāpatti) của Sắc giới có thể thấy sắc, nghe
thanh và xúc đặc biệt lợi ích cho thân cùng khởi lên với
khinh an (praśrabdhi). Do vậy, ba giới sắc, thanh và xúc theo
nhau phát sanh với sự sanh khởi của thiền. Hương vị thì
không, cho nên không có ở cõi kia.
Phản
nạn, nếu vậy ở cõi kia, hai căn tỷ, thiệt cũng không nên
có như hai trần cảnh hương vị, vì chúng không có công dụng
?
(Không
phải vậy) Hai căn tỷ thiệt ở cõi kia vẫn có công dụng.
Đó là phát khởi ngôn thuyết và trang nghiêm thân thể.
Nếu
với công dụng phát khởi ngôn thuyết và trang nghiêm thân
thể, chỉ cần y xứ (adhiṣṭhāna); cần gì đến hai căn
?
Không
có nam căn thì y xứ cũng không; cũng vậy không có hai căn
nầy thì y xứ của chúng cũng không. Ở Sắc giới, không có
y xứ của nam căn vì không có công dụng. Y xứ của tỷ thiệt
có công dụng nên không căn nó vẫn có.
Mặc
dù [24] không có công dụng, căn vẫn sinh khởi; như đối với
những cái chết nhất định trong bào thai. Có tuy vô dụng
nhưng không phải không có nguyên nhơn. Vậy, từ nguyên nhơn
nào mà căn sinh khởi ? Nghiệp đặc biệt do khát ái liên hệ
đến căn nầy. Nếu lìa khát ái đối với cảnh thời nhất
định cũng chấm dứt khát ái đối với căn.
Ở
Sắc giới, ly dục đối với cảnh nên hai căn tỷ thiệt
lẽ ra không phát sinh.
Hoặc,
nơi đó nam căn cũng sinh khởi [25]. Nếu bảo rằng, không sinh
do vì xấu xí thì sự ẩn kín của âm mã tàng [26] có gì là
xấu [27]. Vã lại, sự sinh khởi của căn không chỉ vì có
công dụng; nếu có năng lực của tác nhân thì không có công
dụng, căn vẫn sinh khởi. Nam căn, ở cõi kia tuy xấu xí nhưng
nếu có nguyên nhân thì có sự sinh khởi. Nam căn đã không
có, tỷ thiệt cũng nên không.
Nếu
vậy, ắt trái ngược với những gì Khế kinh [28] đã nói,
ở cõi kia, các chi không khuyết, các căn không thiểu giảm.
Tuỳ (các tầng trời ở) cõi đó mà các căn hiện hữu đầy
đủ nên nói là không thiểu giảm; có gì trái nhau. Nếu không
chấp nhận như vậy thì nam căn cũng phải có.
Nhưng
Kinh ấy nói như vậy [29]. Ở cõi kia, hai căn tỷ thiệt hiện
hữu, chỉ không tồn tại hai giới hương vị. Do vì, do thông
qua tự thể nội thân (ātmabhāva), chứ không phải thông qua
cảnh vực, mà khát ái phát sinh nơi sáu xứ (āyatana). Trong
khi đó, thông qua xúc dâm dục (maithunasparśa), ái phát sinh
nơi căn. Ở cõi đó, dâm xúc không có nên năm căn cũng không.
Do vậy, hệ thuộc Sắc giới, chỉ có 14 giới.
c.
Vô sắc giới (arūpadhātu).
/30d/
Ba sau thuộc Vô sắc
Hệ
thuộc Vô sắc giới chỉ có ba giới sau cùng. Đó là ý giới,
pháp giới và ý thức giới. Cần phải xa lìa sắc dục mới
sanh Vô sắc giới. Do vậy, ở cõi nầy không có 10 sắc giới;
và vì duyên sở y không có nên năm thức cũng không.
5.
Hữu lậu – Vô lậu.
Trong
18 giới, có bao nhiêu giới thuộc hữu lậu (sāsrava), bao nhiêu
giới thuộc vô lậu (anāsrava) ?
a.
Cả hai.
/31a/
Ý pháp ý thức thông
Ý
và ý thức giới nhiếp thuộc đạo đế (mārgasatya) gọi
là vô lậu; ngoài ra là hữu lậu. Pháp giới nếu nhiếp thuộc
đạo đế, vô vi (asaṃskṛta) gọi là vô lậu. Ngoài ra là
hữu lậu.
b.
Hữu lậu.
/31b/
Còn lại là hữu lậu.
Mười
lăm giới còn lại thuộc hữu lậu.
6.
Tầm -Tứ.
Trong
18 giới, có bao nhiêu giới có tầm (savitarka) có tứ [30] (savicāra)
? bao nhiêu giới không tầm chỉ có tứ ? bao nhiêu giới không
tầm không tứ ?
a.
Năm thức thân
/31c/
Năm thức có tầm tứ
Năm
thức nhãn nhĩ v.v... có tầm, có tứ do bởi luôn luôn tương
ưng với chúng; lại nữa, do hành tướng thô và hoạt động
hướng ra bên ngoài. Để diễn tả nghĩa quyết định nên
dùng chữ “duy, (hi) [31]”.
b.
Ba giới cuối.
/31d/
Ba sau ba.
Ba
giới sau cùng chỉ cho ý giới, pháp giới và ý thức giới;
trong căn, cảnh, thức, các giới nầy đều nằm sau cùng. Chúng
có đủ cả ba trạng thái (prakāra) [32].
Ý
giới, ý thức giới và phần pháp giới tương ưng với tâm
(saṃprayukta) trừ tầm và tứ,
ở
Dục giới, Sơ thiền, có tầm có tứ.
Ở
Thiền trung gian (dhyānāntara), không có tầm, chỉ có tứ.
Từ
Nhị thiền lên đến Hữu đảnh (bhāvagra), không có tầm,
không có tứ. Phần pháp giới không tương ưng với tầm và
tứ trong Thiền trung gian, cũng như vậy.
Lại
nữa, tầm luôn luôn không có tầm mà chỉ có tứ vì
không có hai tầm cùng một lúc. Ở Dục giới và Sơ thiền,
tứ không có ba trạng thái nầy thì nên gọi là gì ? Nói rằng,
không có tứ, chỉ có tầm vì không có hai tứ cùng một lúc.
Do đó nói rằng, trong các địa (bhūmi) có tầm có tứ, các
pháp có bốn trạng thái –1.Có tầm có tứ; đó là các pháp
tương ưng với tâm trừ tầm và tứ. 2.Không có tầm, chỉ
có tứ; đó là tầm. 3.Không có tầm, không có tứ; đó là
các pháp không tương ưng với tâm. 4.Không có tứ, chỉ có
tầm ; đó là tứ.
c.
Các giới còn lại.
/31d/
Còn không
Mười
sắc giới còn lại, không có tầm và tứ vì không tương ưng
với tầm tứ.
Năm
thức thân (vijñānakāya) có tầm có tứ, tại sao lại nói
là không có tính phân biệt (avikalpa) ?
/32a-b/
Năm thức không phân biệt / do thẩm sát, hồi ức.
Truyền
thuyết [33], phân biệt có ba loại -phân biệt do tự tánh [34],
phân biệt bằng thẩm sát [35] và phân biệt bằng hồi ức
[36]. Năm thức thân tuy có tự tánh phân biệt nhưng không có
hai loại phân biệt kia, nên nói là không có tính phân biệt.
Cũng như, con ngựa một chân thì gọi là ngựa không chân vậy.
Thể của phân biệt do tự tánh là tầm; điều nầy sẽ được
đề cập đến trong phần tâm sở ở sau.
d.
Ý phân biệt
Tự
tánh của hai loại phần biệt kia là gì ? Nói theo thứ tự,
/32c-d/
Do ý địa tán huệ Ý, các niệm là thể.
Ý
địa [37] tương ưng với huệ không tập trung và với các
niệm là thể.Tán là không tập trung; ý thức tương ưng với
huệ không tập trung gọi là phân biệt bằng thẩm sát. Ý
thức tương ưng với các niệm, hoặc trong trạng thái tập
trung hay trong trạng thái không tập trung gọi là phân biệt
bằng hồi ức.
Như
vậy là đã nói xong về việc có tầm, có tứ.
7.
SỞ DUYÊN
Trong
18 giới, bao nhiêu giới có đối tượng [38], bao nhiêu giới
không có đối tượng ?
a.
Bảy tâm giới.
/33a-b/
Bảy tâm, phần pháp giới có đối tượng;
Sáu
thức, ý giới và một phần pháp giới tương ưng với tâm
có đối tượng vì chúng có công năng nắm bắt cảnh vực.
b.
Các giới khác.
/33b/
còn không.
Mười
sắc giới còn lại và phần pháp giới không tương ưng với
tâm là không có đối tượng.
8.
CHẤP THỌ.
Trong
18 giới, bao nhiêu giới được chấp thọ [39], bao nhiêu giới
không được chấp thọ ?
a.
Không chấp thọ
/33c-d/
Tám giới trước và thanh không chấp thọ.
Có
chín giới không được chấp thọ; đó là bảy tâm giới,
toàn bộ pháp giới ; tám giới nầy cùng với thanh giới không
được chấp thọ.
b.
Cả hai.
/33d/
Còn hai.
Chín
giới còn lại vừa là chấp thọ vừa không chấp thọ. Năm
căn nhãn v.v.. , ở trong hiện tại là chấp thọ; trong vị
lai, quá khứ là không được chấp thọ. Hương, vị, xúc,
ở trong hiện tại, không lìa năm căn, là được chấp thọ;
nếu trong hiện tại lìa năm căn, hoặc ở vị lai hay quá khứ
là không được chấp thọ. Chẳng hạn như, trong thân, trừ
các thứ hiệp với căn, còn lại tóc lông, móng tay, răng,
đại tiểu tiện lợi, mũi, đàm, huyết v.v... và các thứ
ngoài thân như sở tạo sắc -sắc, hương, vị, xúc, tuy ở
trong hiện tại nhưng không được chấp thọ.
Chấp
thọ ở đây nói theo nghĩa nào ? –Pháp mà tâm, tâm sở đều
cùng nắm bắt, đều lấy làm chỗ nương tựa và sự lợi
ích hay tổn hại của chúng xoay vần tuỳ thuộc lẩn nhau được
gọi là chấp thọ. Đó là điều mà thế gian nói là có cảm
giác [40]; các cảm giác vui buồn do tiếp xúc với các duyên
vậy.
Ngược
lại với chấp thọ là không chấp thọ.
9.
ĐẠI CHỦNG.
Trong
18 giới, bao nhiêu giới có tự tính là đại chủng [41], bao
nhiêu giới có tự tính là sở tạo [42] ?
/34a/
Trong xúc giới có hai.
Xúc
giới có cả hai tính chất -đại chủng và đại chủng sở
tạo. Đại chủng có 4 loại : tánh cứng v.v... . đại chủng
sở tạo có 7 loại : tánh trơn v.v... ; từ đại chủng sinh
ra gọi là đại chủng sở tạo.
/34b/
Chín sắc kia sở tạo.
Chín
sắc giới còn lại chỉ là đại chủng sở tạo. Chín sắc
giới đó là năm sắc căn và bốn cảnh vực (viṣaya) -sắc
v.v...
/34c/
Pháp, một phần cũng vậy.
Vô
biểu sắc tức một phần của pháp giới, cũng chỉ là đại
chủng sở tạo.
Còn
lại bảy tâm giới và một phần pháp giới trừ vô biểu
sắc đều không thuộc cả hai.
i.Tôn
giả Giác Thiên (Budhadeva) nói : “Mười loại sắc xứ chỉ
là đại chủng”. Điều đó không đúng, vì trong Kinh nói,
bốn tính chất cứng, mềm, ấm, động là đại chủng. Bốn
đại chủng nầy nhiếp thuộc xúc giới. Chúng không phải
là đối tượng được nắm bắt bởi con mắt .v.v... ;
ngược lại, sắc, thanh v.v... không phải là đối tượng được
xúc giác bởi thân căn. Do vậy, điều mà Tôn giả nói là
không hợp lý.
Khế
Kinh lại nói, con mắt là nội xứ, tịnh thể của bốn đại
chủng sở tạo, là cái có sắc, là cái không thể thấy, là
cái có tính chất cản ngại. Cho đến thân xứ, cũng nói như
vậy. Bí sô nên biết, sắc là ngoại xứ, do bốn đại chủng
tạo nên, là cái có sắc, có thể thấy được, có tính chất
cản ngại. Thanh là ngoại xứ, do bốn đại chủng tạo nên,
là cái có sắc, không thể thấy được, có tính chất cản
ngại. Hai xứ hương, vị cũng nói như vậy. Xúc là ngoại
xứ, là bốn đại chủng đồng thời được tạo nên bởi
bốn đại chủng sở tạo, là cái có sắc, không thể thấy
được, có tính chất cản ngại. Như vậy rõ ràng [43], trong
Kinh chỉ nói, xúc xứ nhiếp thâu bốn đại chủng.Các sắc
xứ còn lại đều chẳng phải là đại chủng.
ii.Nếu
vậy, tại sao Kinh lại nói rằng trong con mắt, trong khối thịt
đều có tính cứng [44], thuộc loại thể rắn [45] v.v... Cho
đến nói rộng ra. Kinh ấy nói , không thể lìa con mắt mà
khối thịt có tính cứng .v.v... được; điều đó không có
gì trái nhau.
Trong
Kinh Nhập thai [46] nói, sáu giới là con người [47]; ý nghĩa
là nêu rõ thực thể căn bản [48] tạo nên con người, chẳng
phải sáu giới là con người. Lại nữa, Kinh cũng nói, có
sáu xúc xứ. Vả lại, tâm sở lẽ ra nên không có; cũng không
nên chấp tâm sở cũng chính là tâm vì Khế Kinh nói rằng,
các pháp tâm sở như thọ, tưởng v.v... đều y chỉ vào tâm
vậy. Cũng như Kinh nói tâm có tham [49] v.v... vậy. Do đó, như
trước đã nói, các giới là đại chủng, do đại chủng tạo
nên khác nhau đã được thành lập.
10.
KHẢ TÍCH TẬP.
Trong
18 giới, có bao nhiêu giới là khả tích tập [50], bao nhiêu
giới là phi tích tập ?
/34d/
Mười sắc thuộc tích tập.
Mười
sắc giới gồm năm căn và năm cảnh là khả tích tập vì
chúng do cực vi tạo nên. Căn cứ vào nghĩa nầy, tám giới
còn lại là phi tích tập vì không phải do cực vi tạo nên.
11.
NĂNG CHƯỚC.
Trong
18 giới, có bao nhiêu giới là năng chước [51], bao nhiêu giới
là sở chước ?
/35a-b/
Chỉ có bốn giới ngoài / là năng chước, sở chước.
Sắc,
hương, vị và xúc khi trở thành hoặc búa hoặc củi thì
gọi là năng chước, sở chước.
Pháp
gì gọi là chước ? –Các tụ sắc như củi v.v... khi bị
tương bức vẫn tiếp tục tồn tại; khi bị búa, rìu cắt
đứt chúng vẫn tiếp tục tồn tại riêng biệt. Những
pháp đó gọi là chước. Các sắc căn như thân không thể
gọi là sở chước vì khi bị cắt lìa không thể tồn tại
thành hai phần riêng biệt. Thân căn v.v.. không thể thành hai
phần vì các chi phần khi bị cắt đứt khỏi thân thì không
thể tồn tại như căn được. Thân căn v.v.. cũng không thể
là năng chước; vì trong suốt [52] như ánh sáng của minh châu.
12.
TRỌNG LỰC.
Trong
18 giới, bao nhiêu là năng thiêu [53], bao nhiêu là sở thiêu
?
/35c-d/
Là sở thiêu, năng xứng / Năng thiêu, sở xưng tránh.
Cũng
như năng chước, sở chước, thể của sở thiêu, năng xưng
[54] là bốn giới bên ngoài; nghĩa là bốn giới bên ngoài
gọi là sở thiêu, năng xưng. Các sắc căn như thân v.v... cũng
chẳng phải là hai loại đó; vì trong suốt như ánh sáng của
minh châu. Thanh giới hoàn toàn không phải là chước, thiêu
và xưng; vì nó không có tính chất gián đoạn.
Với
năng thiêu, sở xưng còn có những quan điểm khác nhau – có
quan điểm cho rằng, thể của sở thiêu, năng xưng cũng giống
như trước đã nói;đó là bốn giới bên ngoài. Có quan điểm
cho rằng, hoả giới mới gọi là năng thiêu; và trọng lực
mới gọi là sở xưng.
13.
HẬU QUẢ - PHÁT TRIỂN.
Trong
18 giới, có bao nhiêu giới là Dị thục sanh [55], bao nhiêu
giới là Sở trưởng dưỡng [56] và bao nhiêu giới là Đẳng
lưu tánh ?
/36a/
Năm trong là thục, dưỡng.
Năm
trong tức là năm giới nhãn, v.v... thuộc dị thục sanh và
sở trưởng dưỡng. Chúng không thuộc Đẳng lưu vì lìa dị
thục và sở trưởng dưỡng, chúng không còn có một tính
chất nào khác. Từ dị thục nhơn sinh ra nên gọi là dị thục
sanh. Như chiếc xe được kéo bởi con bò nên nói là xe bò.
Do lược bỏ mầy chữ ở giữa ( sở giá) nên nói như vậy.
Hoặc gọi là dị thục khi nghiệp sở tạo đã dẫn đến
kết quả. Tức là, nghiệp đã được nấu chín. Quả từ
đó sanh ra nên gọi là dị thục sanh. Quả với nhơn là khác
loại nhưng đã chín muồi từ nhơn nên gọi là dị thục.
Hoặc trong nhơn của quả, giả thuyết là quả; hoặc trong
quả giả thuyết là nhơn. Kinh nói “ Sáu xúc xứ trong hiện
tại, nên biết, đó chính là nghiệp đã tạo trong quá khứ.”
Sở
trưởng dưỡng là những cái được tích luỹ từ thực phẩm,
từ sự trang sức, từ ngủ nghỉ và từ định. Có vị nói,
phạm hạnh cũng có khả năng trưởng dưỡng. Thật ra, phạm
hạnh chỉ không gây nên tổn hại chứ không có một lợi
ích nào khác. Tính liên tục [57] của sở trưởng dưỡng bảo
vệ tính liên tục của dị thục. Giống như ngoại quách giữ
gìn bảo vệ nội thành vậy.
/37b/
Thanh không thuộc dị thục.
Thanh
giới thuộc đẳng lưu, sở trưởng dưỡng [58], không thuộc
dị thục. Vì sao ? bởi vì nó hoạt động theo ý muốn [59].
Nếu vậy, lẽ ra luận Thi thiết (Prajñapti) không nên nói,
âm thanh tướng của đại nhân thành tựu từ sự tu tập,
tránh xa lời nói thô ác [60]. Các vị khác nói, tuy do nghiệp
sanh nhưng chẳng phải là dị thục bởi vì Thanh khởi sinh
từ khâu thứ ba [61]. Đó là, từ nghiệp sanh đại chủng;
từ đại chủng sanh thanh. Hoặc các vị khác lại nói, tuy
do nghiệp sanh nhưng chẳng phải là dị thục bởi vì Thanh
khởi sinh từ khâu thứ năm [62]. Đó là, từ nghiệp sanh dị
thục đại chủng; từ dị thục đại chủng sanh trưởng dưỡng
đại chủng; từ trưởng dưỡng đại chủng sanh đẳng lưu
đại chủng; từ đẳng lưu đại chủng sanh thanh. Như vậy
thì, cảm thọ nơi thân vốn phát sinh từ đại chủng do nghiệp
sanh, không thể là dị thục. Nếu nói thọ giống như thanh
[63] thì không phù hợp với luận Chánh lý.
14.
ĐẲNG LƯU.
/37c-d/
Tám vô ngại, đẳng lưu cũng là dị thục sanh.
Tám
vô ngại là bảy tâm giới và pháp giới. Tám giới nầy có
tính chất đẳng lưu [64] và dị thục. Được sinh ra từ đồng
loại biến hành nhơn [65] là đẳng lưu tánh. Các pháp vô ngại
không do tích tập nên không phải là sở trưởng dưỡng. Được
sinh ra từ nhơn dị thục gọi là dị thục sanh.
/38a/
Còn lại thông cả ba.
Chữ
còn lại chỉ cho bốn giới -sắc, hương, vị, xúc. Bốn giới
nầy có cả ba tính chất là dị thục sanh, sở trưởng dưỡng
và đẳng lưu tánh.
15.
THỰC CHẤT.
/38a-b/
Thật, pháp.
Pháp
có thực chất [66] duy chỉ pháp giới. Ở đây, thật là vô
vi vì nó có tính kiên thật. Do vậy, trong 18 giới, chỉ có
pháp giới là thật hữu.
16.
SÁT NA.
/37b/
Sát na, ba loại sau.
Ý
giới, ý thức giới và pháp giới là ba loại sau. Ba giới
nầy, trong ba cụm sáu ( sáu căn, sáu trần và sáu thức), đều
được xếp ở sau cùng vậy. Chỉ có ba giới nầy là nhất
sát na bởi vì chúng ở trong phẩm loại vô lậu tối sơ [67]
của khổ pháp trí nhẫn chứ không ở trong đẳng lưu [68].
Ở đây, nói cứu cánh chẳng phải là đẳng lưu. Nên nhớ
rằng, ngoài ra, không có pháp hữu vi nào (đã sinh khởi) mà
không phải đẳng lưu. Tâm tương ưng với khổ pháp nhẫn
là ý giới và ý thức giới. Những pháp còn lại cùng khởi
lên với tâm nầy là pháp giới.
Như
vậy, đã nói xong về Dị thục sanh v.v...
Tiếp
đến, cần nghiệm xét vấn đề - Hoặc khi thành tựu nhãn
giới mà trước đây vốn chưa thành tựu [69], có thành
tựu nhãn thức giới không? Hoặc khi thành tựu nhãn thức
giới trước đây vốn chưa thành tựu, có thành tựu
nhãn giới không ?
17.
THÀNH TỰU.
(37c-d)Nhãn
và nhãn thức giới độc câu đắc phi đẳng
Độc:
độc đắc, ý nghĩa thế nào? –Đó là, (a).Hoặc chỉ thành
tựu nhãn giới vốn chưa thành tựu, không thành tựu nhãn
thức giới. Trường hợp, nhãn căn dần dần thành tựu ở
Dục giới; và khi ở Vô sắc, chết, tái sanh vào các cõi thiền
thứ hai, ba, tư [70]. (b).Hoặc chỉ thành tựu nhãn thức giới
vốn chưa thành tựu, không thành tựu nhãn giới. Trường hợp,
nhãn thức giới hiện khởi [71] khi sanh vào các cõi thiền
thứ hai, ba, bốn; hoặc từ đó chết, tái sanh vào các cõi
dưới.
Câu
đắc: Hoặc thành tựu cả hai giới (nhãn giới và nhãn thức
giới), trước đây vốn chưa thành tựu. Trường hợp, từ
Vô sắc chết, sanh vào Dục giới và Phạm thế.
Phi:
câu phi (cả hai giới đều không thành tựu). Đó là trừ các
tướng (trường hợp) ở trước.
Đẳng:
đó là, hoặc thành tựu nhãn giới, đồng thời thành tựu
nhãn thức giới chăng? Có bốn trường hợp:
Thứ
nhất, sanh vào các cõi thiền thứ hai, ba, bốn, khi nhãn thức
không hiện khởi..
Thứ
hai, sanh vào Dục giới, khi nhãn căn chưa thành tựu, hoặc
đã thành tựu rồi mà bị mất.
Thứ
ba, sanh vào Dục giới, khi nhãn căn đã thành tựu, không mất;
hoặc sanh vào Phạm thế, hoặc sanh các cõi thiền thứ hai,
ba, bốn, khi đang thấy sắc.
Thứ
tư, trừ các trường hợp trên.
Cũng
như vậy, sở đắc và thành tựu nhãn giới và sắc giới;
nhãn thức giới và sắc giới ... cứ theo lý đó mà suy ra.
Chữ
“đẳng” trong bài tụng nầy được dùng để chỉ cho những
trường hợp chưa được đề cập đến. (Đó là, xả, bất
thành tựu.). □
(còn
tiếp)
T.P.V.
1.Ht.Hữu kiến 有 見; Cđ. hữu hiển
有 顯 , theo luận Chánh lý q.4, tr.348a, có 3 thuyết : 1.Nhãn
thấy gọi là kiến: Sắc và kiến luôn luôn cùng có mặt với
nhau; do sắc và nhãn cùng khởi lên một lúc, nên gọi
là hữu kiến. 2.Ngôn thuyết gọi là kiến: sắc có thể được
chỉ cho thấy ở chỗ nầy chỗ kia khác nhau nên gọi là hữu
kiến. 3.Ảnh tượng gọi là kiến: sắc có thể hiển hiện
ảnh tượng ở trong gương v.v... nên gọi là hữu kiến. Luận
Tỳ bà sa q.75, tr.390b13 và q.128, tr.666a18 cũng nêu ba thuyết
giống luận Chánh lý. Skt.sanidarśana, (có tính chất) được
chỉ cho thấy, thuộc hữu hình. Sphuṭ.,(b.d. T.Tuệ Sỹ) “vật
thể nào có thể được chỉ cho thấy một cách thích đáng
với sự đặc thù, cái ấy được nói là cái được chỉ
cho thấy”.
2.Ht.Vô kiến 無 見 ; Cđ. vô hiển 無 顯 . Skt.anidarśana, (có
tính chất) không được chỉ cho thấy, vô hình.
3.Ht.Hữu đối 有 對; Cđ.hữu ngại 有 礙. Quang ký q2. tr.34c9:
Đối có nghĩa là cản trở. Cản trở có hai loại, một là
che chắn; hai là níu kéo, ràng buộc. Cản trở bằng sự ngăn
che chính là sự cản trở bởi che chắn. Cản trở bởi hoạt
trường, bởi đối tượng thuộc sự cản trở níu kéo, ràng
buộc. Skt.sapratigha, (có tính chất) phương hại, gây trở ngại.
4.Ht.Vô đối 無 對; Cđ.vô ngại 無 礙 . Skt. apratigha, (không
có tính) phương hại, gây trở ngại.
5.Ht.Sắc 色; Cđ. hữu sắc 有 色. Skt. rūpiṇa, Sphut (b.d. T.Tuệ
Sỹ), có tính biến hoại; cái nào có tính chất nầy, cái
đó gọi là sắc.
6.Ht.Đối 對; Cđ. ngại 礙. Skt. pratigha, sự cản trở, gây
trở ngại, sự đề kháng.
7.Ht.Ngại 礙; Cđ. tương chướng 相 障. Skt. pratighāta
8.Ht.chướng ngại hữu đối 障 礙 有 對; Cđ. chướng ngại
障 礙. Skt.āvaraṇa-pratighāta trong đó, āvaraṇa có nghĩa là
sự chống lại,vật chướng ngại, sự che, đóng chặt, khoá
lại.
9.Sphuṭ. (b.d. T.Tuệ Sỹ), nơi nào có một vật thể hữu đối,
nơi đó không tồn tại vật thể thứ hai.
10.Ht.Cảnh giới hữu đối 境 界 有 對 ; Cđ.trần ngại 塵
礙. Skt. viṣaya-pratighāta, trong đó vish-aya có nghĩa là môi
trường, phạm vi, lãnh vực hoạt động.
11.Cf. Thi thiết luận (Prajñapti), q.5, tr.524 a2 : “Hỏi-do nguyên
nhân gì mà cá ở trong nước thì thấy, nhưng trên đất liền
thì không thấy ...”.
12.Ht.Tất xá già 畢 舍 遮 ; Cđ. 鬼 một loài quỷ ăn máu
thịt người. Skt. piśāca,quỷ.
13.Ht. phiên âm - thất thú ma la 室 獸 摩 羅; Cđ. ngạc 鱷
. Skt. śiśumāra , cá sấu
14.Ht. sở duyên hữu đối 所 緣 有 對; Cđ. duyên duyên ngại
緣 緣 礙. Skt. Ālambana-pratighāta, trong đó, Ālambana có nghĩa
là chỗ tiếp xúc, va chạm; nơi nương tựa, đối tượng nắm
bắt.
15.Ht.Hoà hội 和 會; Cđ. dĩ đáo 以 到. Skt.nipāta, sự rơi
xuống, sự xông vào (tấn công).
16.Trường hợp, cản trở bởi hoạt trường, mà không phải
là cản trở bởi ngăn che.
17.Trường hợp, cản trở bởi ngăn che mà không phải cản
trở bởi hoạt trường.
18.Trường hợp, vừa cản trở bởi hoạt trường vừa cản
trở bởi ngăn che.
19.Trường hợp, không cản trở bởi hoạt trường cũng không
cản trở bởi ngăn che.
20.Cưu ma la đa là tiếng phiên âm của chữ Kumāralāta trong
Sanskrit. Hán dịch, Hào đồng; Tổ sư của Kinh lượng bộ,
đã viết những tác phẩm như Dụ man luận, Si man luận,Hiển
liểu luận v.v... .
21.Vô tham, v.v... tức là ba thiện căn (trīṇi kuśalamūlāni)
: vô tham (alobhaḥ), vô sân (adveṣaḥ), vô si (amohaḥ).
22.Đoạn thực 段 食; đoàn thực 摶 食. Skt., kavaḍīkārāhāra
: thức ăn được vo thành miếng, thành mẫu
23.Luận sư khác, ở đây chỉ Đại Đức Śrīlāta.
24.Thêm một giải thích khác của Vaibhāṣika.
25.Sphut., Luận chủ nêu vấn đề.
26.Ht. Âm tàng ẩn mật 陰 藏 隱 密; Cđ., Tượng vương âm,
象 王 陰. Skt., kośagatavastiguhya.
27.ibid., Ý kiến Luận chủ.
28.ibid., Vaibhāṣika dẫn chứng Kinh.
29.ibid., kết luận của Vaibhāṣika.
30.Ht. Hữu tầm hữu tứ 有 尋 有 伺; Cđ., Hữu giác hữu
quán 有 覺 有 觀.
31.Ht. duy 唯; Cđ., định 定. Skt., hi: chắc chắn, thật vậy.
32.Tam phẩm 三 品. Ba trường hợp được nêu thành ba vấn
đề. Skt., triprakāra.
33.Ht Truyền thuyết 傳 說; Cđ. bỉ thuyết 彼 說 . Sphut.,Kila.
nêu rõ, đây là ý kiến của người khác.
34.Ht.Tự tánh phân biệt 自 性 分 別. Skt., svabhāva-vikalpa.
35.Ht.Kế đạt phân biệt 計 達 分 別; Cđ. nhị hiển thị
phân biệt 二 顯 是 分 別. Skt., abhinirūpaṇa-vikalpa.
36.Ht.Tuỳ niệm phân biệt 隨 念 分 別; Cđ. ức niệm phân
biệt 憶 念 分 別. Skt., anusmaraṇa-vikalpa.
37.Ht.Ý địa 意 地; Cđ. Tâm địa 心 地.
38.Ht.Hữu sở duyên 有 所 緣; Cđ. Hữu duyên duyên 有 緣 緣.
Skt. Sālambana, hình dung từ, chỉ tính chất sở hữu đối
tượng, tồn tại trong liên hệ đối tượng.
39.Ht.Chấp thọ 執 受; Cđ. Hữu chấp 有 執. Skt. upātta, được
tiếp thu, tính chất gần với khái niệm vật hữu cơ.
40.Ht. Hữu xúc giác 有 觸 覺; Cđ. Hữu giác 有 覺. Skt. sacetana,
có tính nhạy cảm.
41.Ht.Đại chủng 大 種, tứ đại chủng 四 大 種. Skt. bhūtasvabhāva.
42.Ht.Sở tạo所 造, đại chủng sở tạo 大 種 所 造. Skt.
bhautika
43.Ht.Như thị Kinh trung ... 如 是 經 中 ... , là kết luận
của Luận chủ.
44.Ht.Kiên tính 堅 性,là tính chất cứng của vật thể .
Skt. kakkhaṭa.
45.Ht.Kiên loại 堅 類, là thể loại có tính cứng, vật thể
rắn. Skt.kharagata.
46.Ht.Nhập thai kinh 入 胎 經; Cđ. cũng là Nhập thai kinh 入
胎 經. Skt. Garbhavikranta. Ở đây, dẫn Kinh để chứng minh
bốn đại chủng cũng là tự thể của nhãn căn v.v... .
47.Ht.Đại phu 大 夫. Skt. puruṣa, con người.
48.Ht.Bản sự 本 事; Cđ. chúng sanh căn bản 眾 生 根 本.
Sphut.,(b.d.T.Tuệ Sỹ), nêu hai giải thích: “hoặc bốn giới
đầu (bốn đại) là thực thể căn bản (mūlasattva) vì năm
xúc xứ (sparśāyatana) của con mắt từ đó mà phát sinh. Ý
giới (manodhātu) cũng là thực thể căn bản, vì ý xúc xứ
(manaḥsparśāyatana) từ đó mà sinh ra. Hoặc bốn giới đầu,
vì là sở y của sắc phái sinh; và ý giới, vì là sở y của
tâm sở; nên chúng là thực thể căn bản.” Nghĩa là, theo
ý Kinh, thực thể căn bản, chứ không phải là tự thể.
49.Sphut. (b.d. T.Tuệ Sỹ), sarāgaṃ cittam iti cittarāgayoḥ parasparato
arthāntaratvam, tâm có tham, tâm và tham khác nhau.
50.Ht.Khả tích tập có thể nhóm chứa lại, là một hợp thể.
Skt. saṃcita.
51.Ht.Năng chước 能 斫. Skt. cheda; động từ căn: chid, cắt,
chặt, chẻ, làm gián đoạn. Thể năng động: chinatti, chitte,
chặt, nó chặt. Thụ động: chidyte, bị chặt, nó bị chặt.
52.Ht.Tịnh diệu 淨 妙. Cđ. thanh tịnh 清 淨. Skt. accha.
53.Ht.Năng thiêu 能 燒. Skt. động từ căn “dah”, thiêu, đốt
cháy.Năng động-dahati/dahate, đốt, nó đốt. thụ động-dahyate,
bị đốt, cái bị đốt, vật bị đốt (sở thiêu 所
燒).
54.Ht.Năng xưng 能 稱. Skt. động từ căn “tul”, cân. Thể
năng động -tolayati/tulayati, cân, nó cân. Thể thụ động –tolyate,
bị cân, được cân, cái bị cân, vật được cân (sở xưng
所 稱).
55.Ht.Dị thục sanh 異 熟 生; Cđ. quả báo sinh 果 報 生. Skt.
Vipākaja , được sinh ra như là sự chín muồi của nghiệp
quá khứ.
56.Ht.Sở trưởng dưỡng 所 長 養; Cđ.Tăng trưởng sinh 增
長 生. Skt. Aupcayika, cái được tích luỹ, vật được phát
triển thêm lên.
57.Ht.Tương tục 相 續. Skt. santāna: sự kết nối thành một
quá trình liên tục.
58.Ht.Thanh hữu .. sở trưởng dưỡng, 聲 有 ... 所 長
養. Sphut. (b.d.T,Tuệ Sỹ), anupacitakāyasya śabdasauṣṭhavādarśanāt,
“bởi vì, đối với thân không khoẻ mạnh (không được
phát triển) thì thanh không tỏ ra vi diệu.”
59.Ht.Tuỳ dục chuyển 隨 欲 轉. Sphut. (b.d. T.Tuệ Sỹ), yat
tu vipākajaṃ na tasyecchayā pravṛttiḥ “cái gì như là kết
quả của quá khứ, cái đó không hoạt động theo ý muốn”
60.Câu nầy có ý khẳng định rằng, Thanh cũng là dị thục
sanh.
61.Ht.Thanh thuộc đệ tam truyền 聲 屬 第 三 傳, quá trình
chuyển khởi qua ba giai đoạn. Nghiệp (Karma) – các đại chủng
(bhūtāni) – thanh (śabda).
62.Ht.(có vị lại nói) Thanh thuộc đệ ngũ truyền 聲 屬 第
五 傳; đây là quá trình chuyển khởi qua năm giai đoạn :
Nghiệp (Karma ) - Dị thục đại chủng (vipāka-ja – bhūtāni)
- Trưởng dưỡng đại chủng (Aupacayika-bhūtāni) - Đẳng lưu
đại chủng (Naiṣyandika-bhūtāni) – Thanh (śabda).
63.Câu nầy, ý nói –Thanh hoạt động theo ý muốn; Thọ không
hoạt động theo ý muốn, khác nhau, không thể nói giống nhau
được.
64.Ht.Đẳng lưu 等 流. Skt., naiṣyandika <ni-syad: sự tuôn
chảy, giòng chảy.
65.Ht.Đồng loại biến hành nhơn 同 類 遍 行 因. Skt., Sabhāgasarvatraga-hetu;
tức là Biến hành nhơn (sabhāga-hetu) và Đồng loại nhơn (sarvatraga-hetu
).
66.Ht.Thật 實, hữu thật sự 有 實 事 , hữu thật vật 有
實 物. Skt. dravyavant (<dravya, thực chất, thực thể, thực
vật)
67.Ht.Vô lậu tối sơ 無 漏 最 初. Skt., Prathamānāsrave, chỉ
sát na đầu tiên khi chứng dự lưu hướng.
68.Ht.Phi đẳng lưu 非 等 流. Vì ba giới ấy trong sát na đầu
tiên nầy không do nhân đồng loại tạo nên, nên không phải
là quả đẳng lưu. Sphut., (b.d. T.Tuệ Sỹ) pūrvakṣaṇasravābhāvāt,
“vì vô lậu chưa có trong sát na trước đó”.
69.Ht.Đắc 得, thành tựu 成 就。Quang ký, Đ.T tập41, tr.44a12
, pháp khi mới sanh khởi gọi là đắc (pratilambha); kéo dài
đến hiện tại gọi là thành tựu (samānvagata).
70.Quang ký, Đ.T.,tập 41, tr.44b22, từ Vô sắc giới, chết,
tái sanh trong ba cõi thiền trên (hai,ba, bốn), với sơ tâm của
thân trung ấm, chỉ mới có được nhãn căn cho nên gọi là
đắc nhãn; thức chưa hiện khởi.
71.Quang ký, nt. tr44b24, khi thức hiện khởi gọi là đắc thức;
.... khi đó, nhãn căn thuộc cái đã thành tựu trước nên
không gọi là Đắc.