Cuộc
sống là một chuỗi dài hạnh phúc và khổ đau, là một cuốn
phim được gom nhặt từ những thước phim ngắn đời người.
Rất ít ai có đủ thời gian để xem lại những hình ảnh
của mình đã được ghi lại trong quá khứ. Và có lẽ cũng
rất ít người đặt câu hỏi cho những gì xảy ra, và những
gì mình nói, làm trong đời mình. Đó là một điều dễ hiểu
bởi lẽ, con người vốn mang sẵn trong mình những cái bất
toàn hảo, và cũng vì người ta sợ phải đối diện với
chính bản thân mình.
Trong
Phật giáo, con người là một trong sáu loài [1] . Con người
là loài mà sự hiểu biết còn nhiều hạn hẹp và thụ động.
Trừ khi nào con người cởi bỏ lớp áo phàm tục, thì con
người mới có thể thăng tiến lên các cảnh giới cao hơn
và tự làm chủ được chính mình. Hễ còn bị điều khiển
bởi những ham muốn tầm thường của ngũ dục [2] thì
con người khó có được cơ hội để hưởng hạnh phúc và
bình an. Chúng ta thử nhìn xem, có được lợi lộc gì bao lăm
khi chú Titô dễ thương say sưa gặm nhấm miếng xương khô;
lũ ruồi lấn chen vây quanh chút mật ngọt; bầy kiến hăm
hở bò quanh miệng chén có dính chút đường.
Con
người cũng thế, sự ham muốn tiền tài, sự ham muốn sắc
đẹp, sự ham muốn danh vọng địa vị, sự ham muốn các vị
ngọt của thức ăn, hay sự ham muốn ngủ nghỉ là những gì
mà con người mong mỏi và cố công tìm kiếm; hễ một khi
con người vướng vào một trong năm thị dục đó thì khó
mà thoát ra được, huống nữa là đắm vào cả năm thị dục
ấy. Con người chỉ hơn loài vật là biết nhận thức và
nhận thức cao hơn. Nhưng đôi khi cái nhận thức của con người
không có khả năng vượt thoát sự cám dỗ của bản năng
dục vọng của chính mình; có khi con người cũng ý thức được
những cay đắng và thất vọng do năm thị dục mang lại, nhưng
con người vẫn không thoát khỏi cạm bẫy hấp dẫn của chúng.
Cho nên, trong cuộc sống đôi khi có những cái biết nhưng
chúng không thắng lướt được những cám dỗ của bản năng
dục tính. Đó là một yếu kém gây nhiều đau khổ cho con
người.
Trong
kinh “Bát Đại nhân giác” có đoạn nói rằng:
“Tâm
vô yếm ly
Duy
đắc đa cầu
Tăng
trưởng tội ác.
Bồ
tát bất nhĩ,
Thường
niệm tri túc
An
bần thủ đạo
Duy
tuệ thị nghiệp”[3]
Nghĩa
là: Tâm lý chúng sanh tham cầu nhiều thứ mà không biết mỏi
mệt, nên càng tạo ra nhiều tội lỗi. Hàng Bồ tát thì không
phải vậy, thường nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống
đời đạm bạc và xem sự nghiệp duy nhất của mình là thực
hiện trí tuệ giác ngộ.
Điều
đó nói lên rằng; tâm lý phàm phu khác hẳn với tâm của
Thánh giả, Bồ Tát. Phàm phu thì u mê si ám chỉ biết cái
lợi trước mắt, chỉ biết hạnh phúc tạm thời, hư huyễn
mà không biết lợi ích lâu dài và hạnh phúc cao thượng hằng
cửu. Nên hàng phàm phu mãi là kẻ lữ khách ruổi rong tìm
kiếm. Có người lang thang tìm kiếm cho đến khi bạc đầu
vẫn là kẻ đuổi bắt sóng nắng giữa xa lộ. Lại có kẻ
lang thang tìm kiếm ngũ dục đến hết kiếp người mà vẫn
chẳng tìm thấy bến bờ để dừng lại, vẫn một mình cô
liêu dưới bóng chiều buông xuống.
Nếu
đi cho hết cuộc đời, đi cho hết kiếp người cô đơn thì
sự đi ấy thật buồn bã, lắm lo âu và sợ hãi, nên thi sĩ
Tuệ Nguyên đã có lần nói rằng:
Lênh
đênh cho hết kiếp người
Thì
bao giờ hết kiếp người lênh đênh.
(Cõi huyền)
Một
trăm năm trong cõi thế phù sinh, khúc quanh của cuộc đời,
trái đắng của tình người, ... là tất cả những gì ấn
sâu vào tâm thức ta. Nó sẽ tạo nên những đợt sóng âm
ỉ, rì rào trong tâm thức một cách âm thầm, dữ dội. Chúng
ta đã từng là kẻ đuổi bắt ảo tưởng, và đã từng là
kẻ ruổi rong ngoài phố thị để đuổi bắt những cuộc
tình ủy mị phù hư, đã từng đuổi bắt những danh lợi
hơn thua nghiệt ngã. Chúng ta cũng đã từng nếm mùi ngọt,
chát, chua, cay trong cuộc đời; cũng có kẻ đã nằm chết
quạnh hiu trên cánh sa mạc già cô độc. Và cũng có người
dừng lại giữa chừng trong cuộc tìm kiếm ấy, nhưng những
gì đã đi qua trong đời chúng ta, ấn sâu trong tâm thức chúng
ta vẫn còn đó; giờ lại dâng trào lên như sóng biển rì
rào và đôi khi chúng ta cảm thấy tiếc nuối cho một thời
quên lãng, một thời rong ruổi đi hoang:
....
Khi dừng lại,
ký
ức tuôn trào như sóng vỗ liên hồi
giận
dữ
em
tiếc nuối
một
thời quên lãng,
khi
nhận ra, mặn chát bờ môi.
(Lời
nhắn cho em - Nhuận Phong Vân)
Cuộc
đời vốn không phải là trái đắng mà chính chúng ta đã
làm nên trái đắng của cuộc đời. Chính con người là kẻ
thù của cuộc đời vì đã vẽ lên bức tranh cuộc đời bằng
những nét sẫm tối và ngoằn ngoèo. Với tính tự kiêu, bạo
động, ích kỷ, ... con người đã dẫm đạp lên cuộc đời
và cũng đã dẫm đạp lên bản thân con người. Và khi con
người không lối thoát thì chính con người lại là kẻ than
trách cuộc đời. Đó là một biện minh cho sự ích kỷ của
con người. Và rồi con người bắt đầu đi tìm hạnh phúc
xa vời, hiến cuộc đời vào cõi xa xăm :
Hãy
cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một
vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để
nơi ấy tháng ngày tôi lẩn thẫn
Những
ưu sầu đau khổ với buồn lo.
(Chế
Lan Viên)
Phàm
phu là thế, sống thả buông theo bản năng con người, không
như đời sống của các bậc thánh giả, các hàng Bồ Tát.
Các Ngài thấu được lẽ đời, chấp nhận đời sống giản
dị, an vui sống đời đạm bạc, thanh thoát. Họ không còn
ruổi rong tìm kiếm nữa, vì biết rằng:
Ruổi
rong cho mỏi hình hài
Thì
đôi tay trắng vẫn hoàn trắng tay.
(Cõi huyền - Tuệ Nguyên)
Đúng
thế, cuộc đến - đi của hàng phàm phu trong cõi đời này
là theo nghiệp duyên thiện ác, nên cuộc đến đi của họ
đầy chất liệu lo âu, sợ hãi và bất an; bởi họ không
làm chủ được bản thân mình mà bị nghiệp lực làm chủ.
Còn các bậc thánh giả, họ đến và đi bằng nguyện lực,
nên cuộc đến - đi ấy nhẹ như cánh nhạn giữa trời không,
chẳng vương dấu tích, ảnh, hình [*]¯; đến chẳng lưu dấu,
đi chẳng lưu hình, chẳng lệ thuộc bởi “có” và “không”:
Đi
không lưu một dấu hài
Ngày
về cũng vượt ra ngoài có - không.
(Đi
về - Tuệ Nguyên)
Đời
sống của một vị Thánh giả hay một vị Bồ Tát là đời
sống nhẹ nhàng thanh thoát, chẳng khác nào áng mây chiều
nhẹ nhàng trôi giữa biển đời sinh diệt. Họ mỉm cười
khi đất trời biến động. Bởi vì họ biết được hạnh
phúc không nằm trong sự ruỗi rong tìm kiếm ấy, họ biết
rằng cuộc đời là những bông hoa mầu nhiệm hiện hữu vô
ngôn. Chỉ cần mở đôi mắt và trái tim thì hạnh phúc và
bình an sẽ hiện hữu. Họ ý thức được, mỗi phút mỗi
giây là mỗi viên ngọc quý, không mơ mộng, ảo tưởng về
một thế giới xa xăm, mờ ảo. Biết vui với niềm vui hoa
cỏ, biết cười với trăng gió thênh thang:
Biết
vui am lá hoá thơ
Cõi
này cũng đẹp còn mơ cõi nào.
Cõi
này cũng có trăng sao
Có
ngàn vạn lối để vào như nhiên.
(Cõi
huyền - Tuệ Nguyên)
và
chính cái đó là cái đẹp, cái cao quý, là cuốn phim hay hiến
tặng cho cuộc đời... □
Hạ,
2546
V.P.
1.Sáu
loài, Hán gọi là lục thú: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh,
nhân (con người), thiên, a tu la.
2.Ngũ
dục: năm món ham muốn của người đời: Tài (tiền tài),
sắc (sắc dục), danh (danh vọng, địa vị), thực (ăn uống)
và thuỵ (ngủ nghỉ)
3
Đây là Điều giác ngộ thứ ba trong tám điều giác ngộ của
các bậc đại nhân (Kinh Bát Đại nhân giác)
*
ý thơ của Thiền Sư Không Lộ: Nhạn quá trường không, Ảnh
trầm hàn thủy, Nhạn vô di tích chi ý, Thủy vô lưu ảnh chi
tâm. Dịch: Nhạn bay ngang trời, Bóng chìm đầm lạnh, Nhạn
không có ý để lại dấu tích, Nước không có ý lưu giữ
bóng hình. (Nguyễn Lang dịch - VNPGSL II, nhà xb VH, 1992, tr 175)