LTS.
- Gần đây Tập san NCPH nhận được một số bài viết cộng
tác của quý độc giả. Trong tinh thần khuyến khích việc
biên khảo, nghiên cứu và sáng tác, cũng như mở rộng đối
thoại về các vấn đề Phật học, BBT xin giới thiệu bài
viết sau đây của Thầy Hải An. Các bài được chọn đăng
không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tập san.
Lịch
sử Việt nam đã không ít lần ghi lại những sự kiện quan
trọng của quá trình dựng nước và giữ nước. Cho đến
ngày nay, trải qua bao thăng trầm, Việt nam một đất nước
độc lập, có nền văn hoá lâu đời mang đậm bản sắc Phật
giáo. Cùng với thời gian, trải qua bao khó khăn dân tộc Việt
nam đã dần dần chọn cho mình một ngôn ngữ và chữ viết
riêng nhằm loại bỏ sự lệ thuộc ngôn ngữ mà những thế
hệ tiền bối đã nỗ lực cố công trong suốt 1000 năm Bắc
thuộc.
Ngày
nay, người Việt nam nói chung và những người Việt nam
theo Phật giáo nói riêng học hỏi, tu tập, tụng niệm, thực
hiện các nghi lễ, giảng dạy Phật pháp… tất cả đều
đã sử dụng tiếng Việt, chữ Việt là một điều hợp lẽ.
Tuy vậy, trong lịch sử thực tế gần 2000 năm đạo Phật
đã truyền bá và phát triển trên đất nước ta, bên cạnh
sự chuyển biến của chữ viết Việt nam, chữ viết dùng
để ghi chép kinh điển Phật giáo ở nước ta chuyển biến
không đơn giản. Do hoàn cảnh lịch sử, hầu hết kinh sách
Phật giáo truyền tới ta từ trước đến nay đều thuộc
dòng bắc truyền Hán tạng do người Trung hoa phiên dịch từ
chữ Phạn sang chữ Hán. Người Việt xưa chịu ảnh hưởng
ngàn năm Bắc thuộc cũng quen dùng chữ Hán diễn đạt tư
tưởng mình nên các Tăng Ni và Nho sĩ đọc kinh sách chữ Hán
không gặp trở ngại nào đáng kể. Thế nhưng, cũng như công
cuộc truyền bá tư tưởng nào, sự nghiệp xiển dương Phật
pháp ở nước ta từ xưa đến nay đều vấp phải một trở
ngại lớn lao và cơ bản. Đó chính là hàng rào ngôn ngữ.
Điều này có thể nói là kết quả của một quá trình nhiều
thế kỷ dân tộc đã trải qua. Những tư tưởng cao siêu trong
kinh sách Phật giáo khó có thể thấm sâu trong quảng đại
quần chúng Phật tử bình dân do hàng rào ngôn ngữ này. Đó
chính là kẽ hở để mê tín dị đoan có thể xen vào làm
méo mó hình ảnh, phong trào Phật giáo nước ta.
Lại
nữa, từ khi người Việt nam có được chữ viết theo bộ
chữ cái La-tinh (chữ quốc ngữ). Cho đến vào những thập
niên đầu của thế kỷ 20, một trong số biến chuyển có
liên quan đến chữ viết ở nước ta là sự định hình chữ
quốc ngữ, chứng tỏ khả năng có thể dùng để sáng tác
cũng như diễn đạt trong mọi lĩnh vực học thuật, tư tưởng
của nó… “Ngày nay đất nước Việt nam hoàn toàn độc
lập… nguời Việt nam đã có một thứ chữ riêng, đủ sức
diễn đạt tư tưởng của dân tộc ta. Chữ quốc ngữ có
khả năng phiên dịch các loại sách văn hoá, khoa học, triết
học, tôn giáo… của nước ngoài. Đây là một vinh hạnh
lớn lao cho xứ sở mình mà tổ tiên ta chưa từng có.” (diễn
văn khai mạc lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm, Đà lạt,
của HT Thích Thanh Từ.) Cùng với việc chữ Hán không còn
thông dụng trong sinh hoạt xã hội, thì đối với cửa Thiền
dấy lên làn gió mới chấn hưng Phật giáo của các nhà hoạt
động Phật giáo Việt nam mà tiêu biểu là sự cố gắng dịch
thuật kinh điển từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ. Đây là
bước phát triển với những gương mặt tiên phong đáng kính
như: BS Tâm Minh-Lê Đình Thám, cụ Tuệ Nhuận-Mai Quang Thùy,
cụ Thiều Chửu… đã in một dấu son trong lịch sử Phật
giáo Việt nam cận đại.
Tuy
nhiên, đối với công tác dịch thuật, trước tác đòi hỏi
trải qua nhiều thời gian và không ít khó khăn. Bởi như trên
đã nói, tuy nguồn gốc kinh luận là từ Ấn độ, viết bằng
chữ Phạn, nhưng phần lớn có mặt ở nước ta lại là kinh
bản Hán tạng. Mà ngôn ngữ Hoa Hán là rất hàm súc, nhưng
ngữ pháp thiếu chặt chẽ, vắng mặt các dấu ngắt câu nên
dễ gây nhầm lẫn cho người đọc.
Vì
chỉ là bước sơ khởi nên không tránh khỏi những hạn chế
trong công tác Việt hoá kinh điển (từ chữ Hán). Nhận xét
về công việc dịch thuật trong giai đoạn này, tác giả Huyền
Cương-Lê Trọng Cường đã viết: “Bước đi ban đầu trong
sự nghiệp dịch thuật kinh sách ra tiếng Việt khó tránh khỏi
những hạn chế của nó. Hầu hết các bản dịch kinh luận
thời ấy tồn tại một tỷ lệ lớn các từ Hán-Việt, và
nhất là phong cách biểu đạt còn chưa thoát khỏi ảnh hưởng
của cấu trúc ngôn ngữ Hoa-Hán. Vì vậy, nhìn chung chúng ta
còn khá xa vời với tiếng Việt phổ thông hiện đại.”
Như
đã thấy, những tư tưởng thâm sâu trong kinh sách Phật giáo
đã bị hạn chế ở ngôn ngữ Trung hoa. Và khi đã được
dịch ra tiếng Việt, thì đó là một điều đáng mừng cho
những tín đồ Phật giáo và cả những ai không thuộc Phật
giáo muốn tìm hiểu. Nhưng oái oăm thay, cái tư tưởng ngần
ngại khi phải thay đổi một thói quen huân tập bao đời,
‘sính dùng kinh chữ Hán’, đã hạn chế sự nghiệp xiển
dương Phật giáo nước nhà. Không phải tất cả, song phần
lớn Tăng Ni Phật tử tu tập đọc tụng kinh điển hàng ngày,
nhiều người đã có thể thuộc hay cố gắng học nằm lòng
các bản kinh dài phiên âm Hán Việt hoặc những câu, những
bài chú bằng tiếng Phạn, tiếng Pāli, mà trong đó có mấy
ai hiểu được nội dung nói gì, nếu không muốn nói là đôi
lúc sự hiểu biết đó còn sai lệch. Đối với họ việc
tụng, đọc kinh văn bằng âm chữ Hán là một sở thích và
sở trường mà khó khăn lắm mới đạt được. Học và tụng
kinh bằng âm Hán Việt thật khó và quá nhiều công phu. Tuy
nhiên, nếu tất cả các kinh đều chưa được dịch ra tiếng
Việt, thì không có lựa chọn nào khác hơn là phải học và
tụng kinh điển qua âm Hán Việt. Trong khi đó bỏ thời gian
để học thuộc một bài kinh bằng phiên âm Hán Việt mà chưa
hiểu nghĩa của nó, chi bằng cùng một thời gian đó có thể
học, tụng được nhiều kinh bằng chữ Việt và tất nhiên
là hiểu rõ nội dung của những kinh đó huấn thị điều
gì.
Đành
rằng, việc học chữ Hán hay một ngoại ngữ nào đó thông
qua một bản kinh hoặc bài tụng là một điều hữu ích và
đáng làm, nhưng học chữ Hán để đọc, tụng và đặc biệt
là hiểu được nghĩa kinh là một việc làm tốn nhiều công
phu và kém hiệu quả khi các bản kinh đã được dịch ra tiếng
Việt.
Cho
đến nay Phật giáo Việt nam sắp hoàn thành Đại tạng Kinh
bằng tiếng Việt. Một số tổ đình, Thiền viện ở Việt
nam đang tiên phong trong nỗ lực tiến hành sự nghiệp Việt
hoá kinh luận bằng cách áp dụng các thời khoá tu tập tụng
niệm kinh văn chữ Việt như Nghi thức tụng kinh hai thời:
buổi trưa (Tâm kinh Bát nhã) và buổi tối (Nghi thức Sám hối
– vua Trần Nhân Tông) được thực hành tại Thiền viện
Trúc Lâm, Đà lạt. Cũng như những bản kinh Gươm báu chặt
đứt phiền não, Người biết sống một mình, Kinh A-di-đà
và kinh Tuổi trẻ và Hạnh phúc… hay cuốn Thiền môn nhật
tụng năm 2000 do Đạo tràng Mai thôn biên tập được áp dụng
cùng với các buổi Thiền tập hàng ngày tại tổ đình Từ
Hiếu, Huế.
Bước
đầu còn nhiều khó khăn nên không thể cầu toàn, dù chưa
thực hoàn hảo. Và, trong sự thay đổi ban đầu tuy không tránh
khỏi chói tai nguời nghe (vì chưa quen, nhất là những bài
kinh đã áp dụng trì tụng hàng ngày bằng âm Hán Việt) và
còn nhiều thiếu sót, nhưng có mặt của kinh luận tiếng Việt
cũng là điều đáng khích lệ lắm vậy.
Hơn
bao giờ hết, việc thay đổi một thói quen đã huân tập bao
đời bằng việc đọc tụng kinh tiếng Việt đã khó, việc
dịch thuật kinh luận Phật giáo lại càng khó hơn. Nhưng để
đi đến hiện đại hoá Phật giáo, nhằm đưa đạo Phật
ngày càng phát triển hơn ở thế kỷ mới, đòi hỏi phải
thực hiện cho được sự nghiệp cao cả là phiên dịch kinh
tạng.
Dịch
thuật kinh luận Phật giáo quả là một công việc thầm lặng
và đầy khó khăn, đòi hỏi người dịch ngoài tri thức uyên
áo về Phật học, kỹ năng nhuần nhuyễn trong biểu đạt
ngôn ngữ và có nhiều tài liệu tham khảo, còn cần một tinh
thần làm việc tự giác giác tha cao cả. Với tinh thần đó
dịch thuật kinh luận cũng là tiến hành một cuộc cách mạng
lớn lao và bức thiết đối với công cuộc hoằng pháp; nhằm
cập nhật hoá ngôn ngữ Phật giáo trong kinh luận, tạo ra
công cụ sắc bén để phổ biến Chánh pháp, tránh được
những hiểu sai lầm cho người tu, hạn chế những mê tín
dị đoan đáng tiếc.
Đức
Phật đã từng dạy: “Sau khi Như Lai diệt độ, người nào
có thể biên chép, giữ nhận, đọc tụng, cúng dường, giải
kinh cho người khác thì người đó được Như Lai lấy áo
trùm lên mình…” Qua đó chúng ta có thể biết được điều
mà đức Phật muốn nhắm đến, đồng thời được đánh
giá cao, không gì khác ngoài sự nghiệp hoằng dương Chánh
pháp. Và đối với Phật giáo Việt nam, có lẽ cần bỏ lại
phía sau mình những thói quen, sức ỳ và khuôn mẫu đã lỗi
thời, với tinh thần Bi, Trí, Dũng quyết tâm thực hiện Việt
hoá việc tụng, giảng và tiến hành nghi lễ Phật giáo để
đưa Phật giáo Việt nam tiến kịp thời đại. □
H.A.