TIẾT
MỘT: DẪN KHỞI.
Trên
đại thể, toàn bộ hệ thống Phật học được phân chia
dưới ba bộ loại lớn: Giới, Định và Huệ. Trong đó, Giới
học chỉ giới hạn trong các sinh hoạt của Tăng lữ. Vì vậy,
giản ước đến kỳ cùng, người ta thấy rõ tư tưởng của
Phật học phát triển y cứ trên hai điểm cốt yếu: Định
và Huệ; hay nói theo các dụng ngữ thịnh hành tại Trung Hoa,
và cả Việt Nam, đó là: Giáo và Quán.
Phật
giáo tại Ấn độ là sự phát triển đồng hành của cả
ba bộ loại lớn: Giới, Định và Huệ. Nhưng đối với Phật
giáo Trung hoa, sự phát triển đó nhất định bắt nguồn từ
hai phạm vi riêng biệt, và bổ túc lẫn nhau: Giáo và Quán.
Riêng
tại Việt Nam, chỉ cần nhìn vào các hoạt động thực tế
của các Thiền sư kể từ thời nội thuộc nhà Đường cho
đến ngày nay, nhất là nhìn vào khả năng sáng tác của họ
với số lượng hiếm hoi, người ta cũng có thể thấy rõ
chiều hướng phát triển của đạo Phật tại đây. Sự phát
triển này, một cách nào đó, chỉ thuần là sự khai triển
về mặt Quán. Vậy, nói đến Phật giáo Việt Nam, chỉ có
thể nói đến khía cạnh thực hành của nó, nghĩa là những
sinh hoạt của nó đã diễn ra như thế nào theo đà phát triển
của lịch sử và xã hội Việt Nam. Và rồi, nói đến Thiền
tông Việt Nam, người ta cũng không thể nói gì hơn là những
nổ lực của nó cho một lề lối sinh hoạt Thiền; tức là
các phương pháp hành Thiền, được sáng tạo và được thích
ứng như thế nào để phù hợp với đời sống thường nhật
của một nhà sư trong xã hội Việt Nam, qua các biến chuyển
của lịch sử.
Tuy
nhiên, người ta cũng thấy rõ rằng, mặc dầu nổ lực cho
một phương pháp Thiền học khả dĩ thích ứng với điều
kiện của lịch sử và xã hội Việt Nam, Thiền học Vệt
Nam thực sự đã chịu ảnh hưởng của Thiền Trung Hoa rất
lớn về mặt thuyết lý. Do đó, trước khi nói thẳng vào
phương pháp Thiền học được thực hành tại đây, chúng
ta sẽ lược qua một vài điểm cốt yếu về Thiền như đã
từng được thiết định tại Trung Hoa.
I.
TÔNG CHỈ CỦA THIỀN TRUNG HOA [1]
Tại
Trung Hoa, người ta có thể ghi dấu hai giai đoạn phát triển
của Thiền tông. Giai đoạn thứ nhất, tất cả tinh yếu của
Thiền, theo truyền tụng của lịch sử Thiền tông, được
y cứ trên kinh Lăng già, một bản kinh được nói là do Bồ-đề
Đạt-ma trao lại cho Huệ Khả. Giai đoạn thứ hai, khởi đầu
từ Huệ Năng, mà kinh Kim cương nghiễm nhiên trở thành địa
vị then chốt.
Tư
tưởng chính yếu trong kinh Lăng già là nói về Thánh trí tự
chứng, tức là sự chứng ngộ nội tại của Phật. Vì sự
chứng ngộ đó vốn là siêu việt, nên trong chương mở đầu
của bản Hán dịch của Lăng già bốn quyển kê khai 108 cú,
nghĩa là tất cả những song quan luận, những mâu thuẫn nội
tại của tư tưởng và ngôn ngữ; kết quả làm nổi bật
sự bất lực của ngôn ngữ trước thực tại siêu việt.
Chứng ngộ của Thiền, mà các ký sự và các ngữ lục của
các Thiền sư, cũng tương tự như thế. Nhưng họ diễn tả
một cách cụ thể hơn, chẳng hạn nói, ai ăn thì biết no,
ai uống thì tự mình biết đã khát.
Tư
tưởng của kinh Kim cương, dưới con mắt của Thiền tông,
qua cơ duyên ngộ đạo của Lục tổ Huệ Năng, được qui
kết trong một câu thời danh của kinh: Ưng vô sở trụ nhi
sinh kỳ tâm 應無所住而生其心. Nói cách khác, đó là tư
tưởng vô trụ xứ trong nền triết học Bát-nhã. Vô trụ
xứ có thể được hiểu trên hai phương diện. Về mặt trí
tuệ, đó là cái thấy về bản tính không sinh không diệt
của vạn hữu. Về mặt sinh hoạt thực tế, đó là lý tưởng
Bồ tát đạo, không trụ sinh tử và không trụ Niết Bàn.
Tại
Việt Nam, nếu chúng ta căn cứ trên tính cách truyền thừa
của hai dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, cùng
với sự liên hệ của chúng với Thiền Trung Hoa, thì có thể
cho rằng Thiền của Tì-ni-đa-lưu-chi vốn trực tiếp chịu
ảnh hưởng của kinh Lăng già. Sự kiện này không được
ghi chép rõ trong các tài liệu của Việt Nam và của Trung Hoa.
Nhưng chúng ta suy luận từ chỗ ngài Tì-ni-đa-lưu-chi được
truyền thừa từ Tổ Tăng Xán, lúc mà Thiền tông Trung Hoa
chưa chuyển hướng sang trọng điểm vô trụ xứ của kinh
Kim cương. Đằng khác, căn cứ trên lối điểm đạo giữa
Tăng Xán và Tì-ni-đa-lưu-chi cũng có thể chứng tỏ điều
đó.
Dòng
Vô Ngôn Thông được truyền thừa từ Bách Trượng tức là
sau Huệ Năng, và đó là lúc Thiền Trung Hoa đã lấy kinh Kim
cương làm nền tảng.
Sau
này chúng ta sẽ thấy cả hai dòng Thiền tại Việt Nam đã
lần hồi tự tìm ra những phương pháp hành Thiền riêng biệt,
trong liên hệ như thế nào giữa hai kinh điển Lăng già và
Kim cương.
Khởi
thủy, tông chỉ của Thiền Trung Hoa được ghi nhận với chủ
trương trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật 直指人心見性成佛.
Để phân biệt với Thiền được phát triển từ Huệ Năng
về sau, người ta gọi giai đoạn sơ khởi này là Thiền trực
chỉ. Tuy nhiên, nói chung, trước hay sau Huệ Năng, Thiền vẫn
là trực chỉ. Nhưng nếu căn cứ trên kinh Lăng già mà phô
diễn, thì trực chỉ đó mang tính chất tiệm nhiều hơn đốn
nổi bật rõ rệt. Đằng khác, trước Huệ Năng, tông chỉ
của Thiền vẫn chỉ là hệ luận rút ra từ các kinh điển
Đại thừa. Nhưng từ Huệ Năng về sau, người ta mới thấy
có sự tự lập, với một tông chỉ độc đáo không cần
đến các quan điểm triết lý căn bản của Đại thừa. Do
đó, Thiền tông từ bấy giờ đã không sử dụng các thuật
ngữ của Đại thừa đúng theo quán lệ của chúng. Đây là
điều có thể thấy rõ nơi các ngữ lục của Thần Hội.
Thần
Hội là một đệ tử của Huệ Năng, nhưng hình như chưa được
chứng ngộ khi Huệ Năng còn tại thế. Dù vậy, trong việc
thiết lập cho Thiền một tông chỉ đứng hẵn ngoài Đại
thừa cố hữu, phải nói là do công trình vận động của
Thần Hội. Nói là vận động, vì sau khi Huệ Năng mất, chủ
trương đốn ngộ không được phổ biến. Quả thực Huệ
Năng được thầy truyền y bát, nhưng uy tín không đương nổi
với Thần Tú chủ trương tiệm ngộ. Với đại danh “Lưỡng
kinh pháp chủ, tam đế quốc sư,” người ta có thể thấy
địa vị lớn của Thần Tú cho đến cả sau khi Huệ Năng
đã tịch. Phải đợi khi Thần Hội mở các cuộc tranh luận
công khai với các môn đệ tiệm ngộ của Thần Tú và khuất
phục họ, bấy giờ tông chỉ Thiền đốn ngộ của Huệ Năng
mới bắt đầu hưng thịnh.[ 2]
Căn
cứ vào những diễn biến đó, chúng ta có thể thấy thêm
một ít điểm khác nhau giữa hai dòng Thiền của Việt Nam.
II.
PHƯƠNG PHÁP THIỀN HỌC TRUNG HOA.
Khảo
sát về diễn tiến lịch sử của các phương pháp Thiền học
Trung Hoa sẽ giúp ích chúng ta rất nhiều, khi muốn định rõ
bản chất của Thiền học Việt Nam.
Tại
Trung Hoa, trước thời Huệ Năng, và cả đến sau Huệ Năng
một thời gian, con đường dẫn tới ngộ Thiền căn cứ trực
tiếp trên các đối thoại giữa Thiền sư và môn đệ. Người
học Thiền luôn luôn đặt dưới sự cảnh giác của một
minh sư, mặc dù phải dốc hết tự lực.
Hệ
thống công án chỉ được phát triển khi Thiền đã quảng
bá trong nhân gian. Bấy giờ, sự thực hành đòi hỏi nổ lực
riêng của người học Thiền rất lớn, minh sư chỉ giữ vai
trò ấn chứng sở ngộ, khi mà sự thực hành đã đi đến
giai đoạn chín mùi. [1]
Trong
các ký lục của các Thiền sư đời Tống, nhất là của Đại
Huệ4, người ta thấy sự thực hành công án được chia hai
giai đoạn rõ rệt, có thể mệnh danh là hai giai đoạn chứng
ngộ: ngộ chết và ngộ sống. Ngộ chết tức là người học
Thiền đã tự mình khám phá ý nghĩa cùng tận của công án.
Nhưng sở ngộ đó chưa đủ giải quyết tất cả các công
án khác. Do đó, sau khi đạt tới chỗ ngộ chết, tức là
sở ngộ chỉ giới hạn trong việc giải quyết một công án
riêng biệt mà người học Thiền đã chọn lựa để tự mình
tham cứu, người học Thiền còn phải nổ lực đi tới giai
đoạn quyết định, và lúc này rất cần thiết sự chỉ điểm
của một minh sư, để người học Thiền ngộ được tất
cả những công án mà mình không hề tham cứu; vì rằng, Thiền
chủ trương, ngộ một cái là ngộ tất cả mọi cái.
Dần
dần Thiền càng được quảng bá sâu rộng trong nhân gian,
và theo đó phương pháp hành Thiền cũng càng được mở rộng
cho tất cả mọi trình độ. Tức là, nó không chỉ giới hạn
trong các hàng thượng căn, trong các phần tử thượng lưu
trí thức. Như vậy, cho đến đời nhà Minh, phương pháp niệm
Phật đã được đưa vào Thiền để hổ trợ cho các lối
tu tập công án. Bên ngoài là niệm Phật, nhưng thực chất
vẫn là hành trì công án. Tức là, thay vì tham cứu các công
án hiểm hóc của Thiền tông chính hiệu, bấy giờ người
học Thiền có thể lấy một danh hiệu Phật làm câu thoại
đầu. Niệm liên tục cho tới khi người niệm, danh hiệu niệm
và Phật được niệm, tất cả được nhồi thành một khối
vô phân biệt. Đó là chỗ cứu cánh mà các lối tu tập công
án chính hiệu cũng nhắm đạt tới.[5]
Nới
rộng hơn nữa, phương pháp hành Thiền không còn giới hạn
trong tham cứu công án niệm Phật, mà vẫn có thể thực hành
các lối trì tụng chân ngôn để hỗ trợ. Tụng các câu chú
phiên âm thẳng từ tiếng Phạn, người tụng không hiểu ý
nghĩa gì trong đó, tụng một cách vô ý thức và vô nghĩa,
lối tụng đó mang bản chất y hệt của thực hành công án.
Theo
đó, thì nếu phát biểu đến một lúc nào đó, Thiền có
thể vay mượn tất cả pháp môn của bất cứ tông phái nào,
miễn là bản chất vẫn y nhiên là thực hành công án. Dĩ
nhiên, mức độ căng thẳng tâm lý sẽ giảm thiểu, so với
việc tu tập công án chính hiệu. Càng giảm bớt những căng
thẳng tâm lý trong việc thực hành, Thiền càng dễ quảng
bá trong quần chúng, và bất cứ ai với bất cứ trình độ
trí thức nào tình cảm nào đều cũng có thể tu theo đạo
Thiền được cả.
Đó
là tất cả chiều hướng phát triển tất nhiên của Thiền
tông Trung Hoa. Tại Việt Nam, chúng sẽ thấy cùng một chiều
hướng phát triển đó. Dĩ nhiên, có những sáng tạo riêng
của nó. Chúng ta sẽ thấy trong tiết sau.
TIẾT
HAI: PHƯƠNG PHÁP THIỀN VIỆT NAM:
TỪ
CÔNG ÁN ĐẾN BÁI SÁM.
Trước
thời nhà Lý, sự phát triển hai dòng Thiền tại Việt Nam
như cuộc ghi chép trong tài liệu duy nhất hiện còn là Thiền
uyển tập anh , hầu như chỉ phát triển trên các hoạt động
xã hội và chánh trị ít có liên hệ đến tư tưởng triết
lý hay văn học. Các Thiền sư, kể từ thời sư Định Không,
thế kỷ IX trở xuống, trước khi thị tịch, thay vì để
lại các bài kệ phó pháp, các ngài hầu hết để lại những
sấm ngôn liên quan đến tương lai chính trị của Việt Nam.
Xem thế thì, Phật giáo tại Việt Nam đã bắt đầu bằng
những hoạt động chánh trị và xã hội hơn là các vấn đề
tinh thần khác. Thiền tông cũng nằm trong chiều hướng phát
triển đó.
Nói
là hoạt động chánh trị và xã hội, ở đây không có nghĩa
là bỏ rơi các hoạt động tôn giáo. Vì tất cả phải dựa
trên yếu tố tôn giáo mới có thể thực hiện được những
mục tiêu đó trong các sinh hoạt thường nhật của quần chúng.
Chính do các hoạt động này, chúng ta sẽ thấy yếu tố tín
ngưỡng tôn giáo nổi bật nhất trong các hoạt động của
đạo Phật của Việt Nam, và Thiền tông cũng không có ngoại
lệ. Người ta thấy, các Thiền sư trước thời Lý, thuộc
dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi, đa số đều hành Thiền bằng
các phương pháp trì tụng chân ngôn. Tức là Thiền chịu phát
triển theo chiều tín ngưỡng tôn giáo một cách rõ rệt. Đây
là điểm hết sức hệ trọng, phải dành một chương riêng
mới có thể nói hết. Chương sau sẽ bàn kỹ hơn.
Ở
đây, chúng ta bắt đầu, từ chỗ thuần túy của Thiền đến
sự phát triển phức tạp của nó, tức là sự phát triển
từ Thiền Công án đến Thiền Bái sám. Và có thể nói đó
chính là tất cả chiều hướng phát triển của Thiền tông
Việt Nam từ khởi thủy cho đến khi phái Trúc Lâm xuất hiện.
I.
THIỀN CÔNG ÁN.
Hình
như phải đợi đến sư Viên Chiếu đời Lý người ta mới
thấy hệ thống công án được truyền vào các dòng Thiền
Việt Nam. Như thế trước đó thì sao?
Vấn
đề tạm thời có thể giải thích như thế này. Trong giai
đoạn đầu, nổ lực chính của các Thiền sư là vận động
cho một ý nghĩa chính trị nào đó. Cho tới ngài Vạn Hạnh,
thì mục tiêu này đã được thành tựu đúng như sở vọng.
Những hoạt động tôn giáo, để làm đà cho các vận động
chính trị và xã hội trước kia, kể từ đây về sau sẽ
nhường lại cho một cuộc vận động khác, mà chúng ta có
thể nói ngay đó là các hoạt động văn học. Những hoạt
động này, sẽ tạo cho Thiền tông Việt Nam, một phần chịu
ảnh hưởng các trào lưu văn học Phật giáo Trung Hoa đã phát
triển toàn bích, một đàng thích ứng nó với truyền thống
cố hữu mà các tiền bối đã dựng xong nền tảng. Nhưng
lý do thiết yếu hơn, kể từ khi nhà Lý được thiết lập,
dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của Trung Hoa;
bấy giờ với một cơ chế chính trị và xã hội độc lập,
tự chủ, là lúc đủ điều kiện tốt đẹp cho những nổ
lực về tinh thần, nói chung và những hoạt động về văn
học, nói riêng.
Nhưng
vì, trải qua thời gian nội thuộc với các triều đại Trung
Hoa quá dài, trong một sớm một chiều, những nổ lực hoạt
động này chưa thể tạo nên những kích thước riêng cho quốc
gia và dân tộc. Và vì thế phải phần nào mô phỏng theo Trung
Hoa. Từ đấy cho mãi đến cận đại, sự mô phỏng vẫn chưa
bao giờ chấm dứt. Nhìn ngay vào tình trạng đó, chúng ta mới
thấy nổ lực không cùng của Thiền học Việt Nam. Trong đó,
các đường lối hành trì của các Thiền sư là điểm đáng
kể nhất.
Ở
đây, cũng nên ghi lại hai trường hợp truyền tâm ấn đầu
tiên của hai phái Thiền Việt Nam. Sau đó, sẽ thảo luận
một vài chi tiết trong các vấn đáp của Viên Chiếu. Căn
cứ theo đó, chúng ta giả thiết một chiều hướng đã có
thể có cho hệ thống công án tại Việt Nam. Cuối cùng, căn
cứ Thượng sĩ Ngữ Lục chúng ta có thể xác định mức phát
triển cao độ có thể của hệ thống công án này.
Tì-ni-đa-lưu-chi
và Pháp Hiền. Mẫu đối thoại giữa hai Thiền sư này trở
thành hai giai thoại lịch sử khá hào hứng trong giới học
giả Việt Nam ngày nay. Khi mới sang Việt Nam, Tì-ni-đa-lưu-chi
gặp Pháp Hiền tại chùa Chúng thiện, hỏi:
-
Chú họ gì?
Pháp
Hiền trả lời:
-
Đố Hòa thượng biết?
Tì-ni:
-
Chú không có họ ư?
Pháp
Hiền:
-
Họ (tánh) tức chẳng phải không, nhưng Hòa thượng làm sao
hiểu?
Tì-ni
quở:
-
Hiểu để làm gì? … [2]
Câu
chuyện ngắn, nhưng cả về phương diện tư tưởng và lịch
sử của nó hàm tàng nhiều nghi vấn. Chúng ta không cần giải
quyết những nghi vấn này ở đây, nhưng cũng có thể ghi một
vài nhận xét, trong liên hệ của chúng ta.
Điểm
then chốt của mẫu đối thoại là câu trả lời của Pháp
Hiền: Tánh tức bất vô. Hiển nhiên là một trường hợp
chơi chữ giữa hai chữ tánh: Tánh 姓 là họ và tánh 性 là
bản tánh hay tự tánh. Tánh tức bất vô chắc chắn đề cập
tới một yếu lý của tư tưởng Bát nhã: Vô tự tánh tánh,
nghĩa là tự tánh của vạn pháp là không tự tánh. Các kinh
Bát nhã thường diễn giải ý nghĩa đó trong một câu như
thế này: Dĩ vô tự tánh vô tánh cố: Vì lấy cái không tự
tánh mà làm tự tánh vậy. Nói cách khác, vô tự tánh tức
là tự tánh, đúng như câu trả lời của Pháp Hiền: Tánh
tức bất vô.
Sau
nữa, câu trả lời của Pháp Hiền đặt lại một nghi vấn
lịch sử. Theo mẫu chuyện như thế, chúng ta biết rằng Pháp
Hiền như đã tinh thông trong một giới hạn nào đó về tư
tưởng Bát-nhã. Vậy, hoạt động của các nhà Tam luận tông,
mà đặc biệt là Cát Tạng đã ảnh hưởng đến Việt nam
sớm hơn cả Thiền.
Sau
cuộc hội kiến vừa đơn cử, người ta không thấy Pháp Hiền
hành Thiền theo chiều hướng công án. TUTA nói, sau khi Tì-ni-đa-lưu-chi
tịch rồi, Pháp Hiền “Kinh nhập Từ sơn tập định; hình
như kiều mộc, vật ngã cu vong, phi điểu tựu tuần, dã thú
tương hiệp 經入慈山習定形如橋木物我俱亡飛鳥 就馴
野 獸相狎 ...” [3] (Vào trong núi Từ sơn tu tập thiền định;
hình như cây ngay, vật ta đều quên, chim bay đến chầu, thú
rừng đến làm bạn).
Thế
thì, hình như hệ thống công án chưa trở thành là phương
pháp bắt buộc phải có trong lối hành Thiền vào lúc này.
Nhưng đối thoại như là cánh cửa dẫn vào Thiền, đó là
đường lối truyền tâm đặc sắc của Thiền Trung Hoa trước
thời Huệ Năng.
Vô
Ngôn Thông và Cảm Thành. Truyền đăng Lục cũng như TUTA đều
cho biết Vô Ngôn Thông nhân nghe Bách Trượng giảng đến câu:
Tâm địa nhược thông, tuệ nhật tự chiếu 心地若空慧日自照
mà ngộ đạo. [4] Cũng theo các sách đó ghi, trước khi
tìm sư học Thiền, Vô Ngôn Thông vì ngơ ngác trước một
câu hỏi mà bỏ hết những sở học và sở hành của mình
từ trước. Sau đó, khi đã đắc đạo, Vô Ngôn Thông nói
cho Ngưỡng sơn Huệ Tịch, người sáng lập dòng Thiền Qui
ngưỡng tại Trung Hoa, một pháp ngữ mang nội dung như một
công án. Đấy là một ít dữ kiện cho chúng ta biết bấy
giờ dấu hiệu tu tập công án đã chớm nở trong Thiền tông
Trung Hoa. Trong lối thực hành công án điểm hệ trọng là
nghi tình. Nêú dẫn khởi được nghi tình trong tâm tức sẽ
có cơ chứng ngộ. Thiền chủ trương: "Đại nghi đại ngộ"
là vậy.
Trước
khi gặp Vô Ngôn Thông, Cảm Thành chuyên tụng kinh, lấy đó
làm phương tiện đạt đạo. Khi gặp Vô Ngôn Thông, Cảm Thành
trải qua nhiều năm hầu hạ, do sự thành khẩn đó mà có
biệt danh như chúng ta biết. Hầu hạ trong nhiều năm, nhưng
làm những gì trong thời gian đó, không thấy nói. Nghĩa là,
chúng ta không biết trong khoảng này, Cảm Thành được hướng
dẫn theo pháp môn nào của đạo Phật. Phải chăng sự hầu
hạ đó cũng là dấu hiệu của một lối thực hành công án?
Vì công án không chọn đề mục nhất định nào đó bắt
buộc phải rút ra từ kinh điển. Người hành Thiền có thể
thực hành bất cứ lúc nào, trong tất cả mọi công tác thường
nhật. Hiệu nghiệm công án là chỗ đó, vì luôn luôn hành
giả được đặt dưới sự cảnh giác của minh sư. Nói một
cách tổng quát, có lẽ hệ thống công án tại Việt Nam đã
được báo hiệu với sự truyền nhập của Vô Ngôn Thông.
Nhưng, chắc chắn, bấy giờ chưa thành hình như một hệ thống
có qui cũ.
Cứ
theo hai trường hợp trên, nếu khảo sát những đối thoại
của Viên Chiếu, như được ghi trong TUTA, chúng ta có thể
biết mức độ thành tựu của hệ thống công án tại Việt
Nam. Ở đây, chúng ta chưa nói mức thành tựu cuối cùng của
nó, nhưng nói theo nghĩa rằng, hệ thống công án như đã được
thiết lập có qui cũ, dù chỉ là trên phương diện thuần
túy học thuật.
TUTA
có ghi các sáng tác của Viên Chiếu, trong đó chúng ta để
ý đến Tam đồ hiển khuyết. Sáng tác này thất truyền, nhưng
chúng ta có thể tin rằng các đối thoại được ghi trong TUTA
là tiết lược của nó.
Viên
Chiếu chuyên tụng kinh Viên giác, và thực hành các phép tam
quán của kinh này, nhờ đó mà tỏ ngộ. Vậy chưa chắc sư
đã thực hành công án. Nhưng đối thoại của sư nhất định
là những trường hợp điển hình của công án. Chúng ta trích
và bàn về một vài mẫu để làm luận cứ.
Có
thầy Tăng hỏi:
-
Phật và Thánh, ý nghĩa như thế nào?
Sư
đáp:
-
Ly hạ trùng dương cúc, chi đầu thục khí oanh 籬下重陽菊枝頭
淑 氣鶯. [5]
Câu
hỏi của thầy tăng nào đó nêu ra, không phải là của riêng
thầy. Nó là một câu hỏi mà người ta thường gặp nơi các
Thiền sư Trung Hoa, khi họ chưa tỏ ngộ và đi tham học đạo
Thiền. Ý nghĩa thông thường của họ là muốn biết đạo
Phật và đạo Nho có những sai khác nào hay không. Phật trong
câu hỏi là chỉ đức Thích-ca. Thánh, là đức Khổng Tử.
Theo các Thiền sư Trung Hoa, tại Ấn thì người ta gọi là
Phật, mà tại Trung Hoa thì người ta gọi là Thánh. Vậy Phật
và Thánh khác nhau trong tên gọi vì truyền thống và lịch
sử riêng biệt của mỗi dân tộc. Giải thích đó, người
ta có thể bắt gặp nhan nhản trong kinh điển, tại sao vị
tăng đó không chịu đọc, mà phải hỏi? Đó là đặc tính
của công án. Kinh hay sách có nói, và nói như thế nào, đó
là việc của trí óc, của học thuật. Người học Thiền
muốn giải quyết vấn đề bằng thực tế đương trường.
Do đó, câu hỏi không chỉ hỏi riêng cái nghĩa Phật hay Thánh,
mà hỏi đến căn do của thể tánh mình, hỏi để dò cho ra
bản lai diện mục của mình. Nếu không đối diện thẳng
với một minh sư, mà tự mình tìm sách vở đọc dể hiểu
lấy, cái đó không phải là tham cứu công án để ngộ Thiền.
Nói tóm lại, lối đặt câu hỏi như vừa đơn cử, khoan nói
tới tính cách thực hành hay học thuật của nó, bằng cách
nào đi nữa, vẫn là một câu hỏi dựng lên theo bản chất
một công án. Vậy, giải quyết câu hỏi cũng phải diễn ra
theo bản chất của công án:
Ly
hạ trùng dương cúc
Chi
đầu thục khí oanh
Cúc
trùng dương dưới dậu
Oanh
sưởi ấm đầu cành
Hoa
cúc tháng chín, tiết trùng dương, nở bên bờ dậu, và con
hoàng oanh đang sưởi ấm trên cành: Câu trả lời không đả
động đến vấn đề được đặt ra. Tùy căn cơ, người
ta sẽ thấy được mối liên hệ giữa những hiện tượng
thường nhật đó, với Phật và Thánh.
Tuy
nhiên, chúng ta nên biết rằng, câu trả lời đó chỉ lặp
lại một pháp ngữ thường xuất hiện trong các Ngữ lục
của các Thiền sư Trung Hoa. Nó được dùng để trả lời
trong nhiều trường hợp khác nhau. Do đó, chúng ta đọc xuống
đoạn dưới trong tiểu sử Viên Chiếu:
Thầy
Tăng lại hỏi:
-
Thế nào tức bất dị kim thời?
Sư
đáp:
-
Ly hạ trùng dương cúc, chi đầu thục khí oanh."
Bất
dị kim thời 不異今時 là mô tả tình trạng đã chứng ngộ
của Thiền không khác với khi chưa chứng ngộ. Ý nghĩa của
nó, mặt ngoài, như khác hẵn với ý nghĩa đồng hay dị giữa
Phật và Thánh. Nhưng cũng được trả lời bằng một câu
như nhau. Chỉ có người trong cuộc mới thấu triệt sự liên
hệ của chúng. Đó chính là điểm đặc sắc của công án.
Dưới
đây, chúng ta sẽ cử thêm một vài trường hợp về lối
truyền thọ công án như thế.
Thiền
sư Ngộ Ấn (1020-1088), có thầy tăng hỏi:
-
Thế nào là Đại đạo?
Sư
đáp: Đại lộ.
Thầy
tăng:
-
Tôi hỏi Đại đạo, ngài đáp Đại lộ; thế thì chưa rõ
bao giờ mới đạt tới Đại đạo.
Sư
:
-
Mèo con chưa biết bắt chuột.
Thầy
tăng:
-
Con mèo có Phật tánh không?
Sư:
-
Không (vô).
Tăng:
-
Hết thảy hàm linh (chúng sinh) đều có Phật tánh, sao chỉ
một mình Hòa thượng nói là không?
Sư:
-
Ta không phải là hàm linh.
Tăng:
-
Nếu đã không phải là chúng sinh, vậy là Phật ư?
Sư:
-
Ta không phải là Phật, không phải là chúng sinh. [6]
Mẫu
đối thoại trên cho chúng ta hai điểm đáng nói. Thứ nhất,
trong Hán ngữ, Đại đạo hay Đại lộ, nếu nghĩa cụ thể,
thì chúng cùng một nghĩa. Nhưng nếu là nghĩa trừu tượng,
thì cả hai không giống nhau. Vậy, Ngộ Ấn và thầy tăng nào
đó nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Tàu. Nếu
nói bằng tiếng Việt, họ không thể chơi chữ một cách đương
trường như vậy. Đến điểm thứ hai, chúng ta cũng gặp trường
hợp tương tợ. Cả câu hỏi và câu trả lời đều sao nguyên
bản đối thoại của Triệu Châu. Nhưng các Thiền sư Trung
Hoa [7]đều cho rằng chữ vô của Triệu Châu không can
hệ gì đến ý nghĩa vô hay hữu, nó như hơi thở hắt ra:
Wu (vô). Khi mẫu đối thoại của Triệu Châu xảy ra giữa
hai người Việt, tiếng vô phải nói như thế nào cho lột
hết ý nghĩa của Triệu Châu? Không trong tiếng Việt và vô
trong tiếng Tàu, nghĩa thì đồng, nhưng âm thì khác. Mà công
án được mệnh danh "Triệu Châu cẩu tử" đó nhấn mạnh
trên chữ vô, như một cử chỉ phát âm thuần túy, không chứa
được nội dung ý nghĩa gì cả.
Cả
hai điểm thắc mắc được nêu lên đó cho chúng ta thấy hình
như công án chỉ diễn ra trên mặt văn tự, chứ chưa đi vào
thực tế. Đó là giai đoạn phôi thai của công án.
Thiền
sư Minh Trí (? -1196) [8] một hôm đang cắt cỏ, có thầy tăng
khoanh tay đứng bên trái. Sư liệng cái liềm tới trước mặt
thầy tăng, đứt một cọng cỏ. Thầy tăng hỏi:
-
Người xưa nói, “Hoà thượng chỉ cắt được cái này.”
Sư
lượm cái liềm đưa lên. Thầy tăng đón được, làm ra dáng
đang cắt. Sư nói:
-
Có nhớ câu sau không? “Ông chỉ cắt được cái đó, không
cắt được cái này.” [9]
Thầy
Tăng bỏ đi.
Câu
chuyện trên gần như sao y nguyên bản Truyền đăng lục về
mẫu đối thoại giữa Đặng Ẩn Phong và Thạch Đầu Hi Thiên.
Mặc dù có một vài chi tiết thay đổi, để chứng tỏ sự
việc đang xảy ra thực, chứ không mô phỏng. Thí dụ, thầy
tăng nhại lại một nửa câu hỏi của Đặng Ẩn Phong: "Hòa
thượng chỉ cắt được cái này." Sau đó, động tác của
hai người cũng diễn ra y như Ẩn Phong và Thạch Đầu. Cuối
cùng, Minh Trí hỏi thầy tăng có nhớ câu kế tiếp của Ẩn
Phong hay không, và tự nhắc lại: "Hòa thượng cắt được
cái này, chứ không cắt được cái kia." Trong trường hợp
này, thầy tăng và Minh Trí cũng có vẻ đang trình bày công
án rút ra từ giai thoại cắt cỏ của Thạch Đầu và Đặng
Ẩn Phong. Tuy nhiên, họ diễn y như hát kịch cho nên chúng
ta rất hoài nghi về giá trị sống động của nó.
Cả
ba trường hợp vừa kể cho chúng ta thấy công án đã thịnh
hành dưới triều Lý, nhưng thực sự chỉ là công án của
lý thuyết. Các Thiền sư chúng ta đọc ngữ lục của Trung
Hoa, rồi mô phỏng theo, muốn đưa nó vào đời sống hành
Thiền của mình, nhưng chất học thuật của kiến thức còn
nặng.
Chúng
ta đã phác họa những nét đại cương về ảnh hưởng của
Thiền công án đã được thực hiện như thế nào tại Việt
Nam dưới đời nhà Lý. Sang đời Trần, Thiền công án vẫn
có ảnh hưởng lớn. Chúng ra lấy Thượng Sỹ ngữ lục làm
trường hợp điển hình.
Một
hôm, Tuệ Trung Thượng sĩ rảnh rang, đệ tử đứng hầu,
có thầy tăng bước ra hỏi:
-
Khải bạch Thượng sĩ, tôi vì sinh tử là việc lớn, luật
vô thường chóng vánh, song chưa rõ thân này, sinh ra thì từ
đâu đến, chết rồi đi về đâu? [10]
Câu
hỏi đi thẳng vào trọng tâm của mục đích học Phật, cũng
như học Thiền. Bất cứ ai, theo Phật hay theo Thiền đều
phải đặt ra. Dĩ nhiên nó đã được hỏi nhiều từ trước,
bởi các người theo đạo Thiền hay bất cứ theo tông phái
nào của đạo Phật. Nhưng lối trình bày của Ngữ lục hình
như đã có mang lại cho câu hỏi một ý nghĩa sống động.
Đến
lượt Thượng Sĩ trả lời thầy tăng:
長空縱使雙飛穀
巨海何妨一點漚
Trường
không túng sử song phi cốc
Cự
hải hà phương nhất điểm âu.
Ngại
gì bọt nước trôi ngoài biển
Phỏng
có vành xe liệng giữa trời.
(Mật Thể dịch)
Trả
lời theo điệu văn chương, như là kiểu cách thông thường
của các Thiền sư, nhưng ý nghĩa thật rõ: Chuyện sống chết
cũng tự nhiên như bọt nước ngoài biển cả, và như mặt
trăng và mặt trời tự do qua lại giữa bầu trời.
Thầy
tăng lại hỏi:
-
Thế nào là đạo?
Đây
cũng là một câu hỏi thường gặp trong các Ngữ lục của
các Thiền sư Trung Hoa. Câu trả lời lừng danh nhất là của
Triệu Châu: "Bình thường tâm thị đạo." Tâm bình thường,
tâm hoạt dụng hằng ngày, đó là đạo. Còn Thượng Sĩ chỉ
trả lời như sau:
"Đạo
bất tại vấn, vấn bất tại đạo." Đạo không ở nơi câu
hỏi, câu hỏi không ở nơi đạo. Đó cũng là một câu trả
lời thẳng, không ẩn ý quanh co.
Thầy
tăng lại hỏi tiếp:
-
Cổ đức có nói: “vô tâm thị đạo.” Có đúng như vậy
chăng?
Thượng
Sĩ đáp:
-
Vô tâm không phải là đạo. Không có đạo cũng không có tâm.
Và
Thượng Sĩ giải thích thêm:
-
Nếu họ nói vô tâm là đạo, tức hết thảy cây cỏ đều
là đạo. Nếu lại nói vô tâm không phải là đạo, thì cần
gì phải nói có hay không? Rồi ngài đọc bài kệ:
本無心無道
Bổn vô tâm vô đạo
有道不無心
Hữu đạo bất vô tâm
心道元虛寂
Tâm đạo nguyên hư tịch
何處更追尋
Hà xứ cánh truy tầm.
Vốn
không tâm không đạo
Có
đạo chẳng không tâm
Tâm
đạo vốn hư tịch
Chỗ
nào đâu đuổi tâm.
(Trúc
Thiên dịch)
Thầy
tăng hốt nhiên đại ngộ, làm lễ rồi lui ra.
Một
dịp khác, có thầy tăng hỏi Thượng Sĩ:
-
Dám bạch Thượng Sĩ, “Thanh thanh thúy trúc tổng thị pháp
thân 青青翠竹總是法身.” Có phải vậy chăng?"
Thượng
Sĩ đáp:
沙彌昨日餐溪笋
莫是如今汝法身
Sa
di tạc nhật xan khê duẩn
Mạc
thị như kim nhữ pháp thân
Sa
di ngày trước ăn măng suối
Chẳng
phải như nay pháp thân người.
Thầy
tăng lại hỏi:
-
“Uất uất hoàng hoa vô phi Bát nhã 鬱鬱黃花無非般若.”
Đó là ý gì?
Thượng
Sĩ đáp:
桃花不是菩提樹
何事靈雲入道場
Đào
hoa bất thị Bồ đề thọ
Hà
sự Linh vân nhập đạo tràng.
Hoa
đào không phải cội bồ đề
Bởi
đâu Linh Vân vào được đạo tràng?
Trên
đây là hai câu kệ đi liền nhau của Đại Châu Huệ Hải
[11] đời Đường bên Tàu, khi thảo luận với một giảng
sư Hoa nghiêm kinh:
Thanh
thanh thúy trúc tổng thị pháp thân
Uất
uất hoàng hoa vô phi Bát nhã.
Hai
câu này cũng được chính Huệ Hải giải thích:
法身無象應翠竹以成形
般若無知對黃華而顯相
Pháp
thân vô tượng ứng thuý trúc dĩ thành hình
Bát
nhã vô tri đối hoàng hoa nhi hiển tướng.
Đại
ý, pháp thân nguyên lai vô tượng, nhưng vẫn thị hiện cùng
khắp trong trúc biếc, tre xanh, hay trong bất cứ vạn vật hữu
tình nào khác. Bát nhã nguyên là vô tri, vì vô phân biệt,
không đối đãi, nhưng hiện hoạt dụng của nó nơi hoa vàng,
hay khắp nơi vạn hữu.
Giải
thích của Thượng Sĩ cũng có thể hiểu được. Đối với
câu thứ nhất, mặc dù pháp thân thị hiện cùng khắp trong
vô tượng, nhưng khi đã thị hiện trong mọi hiện tượng,
thì Pháp thân cũng chịu luật vô thường biến dịch. Cho nên,
chú tiểu ngày trước ăn măng nơi bờ suối, thì Pháp thân
đó không là một với Pháp thân ngày sau lúc trở thành Thiền
sư trong một cõi. Đối với câu thứ hai, trong hiện tượng
giới, hoa đào và cây Bồ đề, là hai sự tướng riêng biệt,
mặc dù trong Bát nhã chính là vô phân biệt. Do đó, câu “Bồ
đề bổn vô thọ” của ngài Huệ Năng và cành hoa đào trôi
trên sông mà Linh Vân Chí Nhàn đã tình cờ thấy và nhờ đó
tỏ ngộ, cả hai không là một. Không là một, nhưng cùng đồng
là cảnh giới của chứng ngộ như nhau. Thế thì, Bát nhã
là vô phân biệt trong tự tánh, nhưng là hữu phân biệt trong
hoạt dụng.
Hai
trường hợp được cử làm thí dụ trên đây chỉ cho phương
cách giải thích vấn đề trực tiếp đương tường của một
Thiền sư. Thông thường, phong cách đó tạo dựng nên một
phái Thiền, Phái Lâm tế thường giải quyết bằng lối HÉT.
Phái Vân Môn giải quyết bằng lối GẬY. Người ta không đòi
hỏi phương pháp giải quyết có hiệu quả tức khắc. Có
thể sau tiếng hét, hay sau cái nhá gậy, người học Thiền
chứng ngộ ngay. Nhưng cũng có thể phải trải qua một thời
gian nữa. Thế nhưng dù chưa ngộ trực tiếp, hét hay gậy
hay bất cứ phương cách nào khác mà Thiền sư thấy là ứng
dụng thích hợp, tất cả đều có công dụng là gợi lên
nơi người học một lối nghi tình mãnh liệt nào đó, và
đó là công án mà y phải cố tự giải quyết lấy. Chẳng
hạn, trường hợp Động sơn Thủ Sơ. [12] Sư là đệ tử
đắc pháp của Vân môn Văn Yển, người sáng lập Vân môn
tông, với lối điểm đạo lừng danh bằng gậy. Khi Thủ Sơ
mới đến, Văn Yển hỏi:
-
Ông từ đâu đến?
Thủ
Sơ đáp:
-
Từ Báo từ đến.
Yển
hỏi:
-
Mùa hạ rồi, ông an cư ở đâu?
Thủ
Sơ đáp:
-
Ở Tra độ.
Văn
yển nói:
-
Tha cho ông ba chục gậy.
Ở
đây, tha hay đánh, vấn đề vẫn trầm trọng như nhau. Vậy
ba chục gậy đó có nghĩa như thế nào? Câu hỏi gây thắc
mắc cùng độ cho Thủ Sơ. Suốt đêm sư trằn trọc không
ngủ. Sáng hôm sau đến ngay Văn Yển để hỏi duyên cớ nào
đáng bị ba chục hèo và lại được tha. Văn Yển nói:
-
Hởi ôi, cái gã túi cơm vì vậy mà ông đi khắp chốn Giang
Tây và Hồ Nam chăng?
Nhờ
đó Thủ Sơ tỏ ngộ.
Các
trường hợp của chúng ta ở đây cũng vậy. Những giải đáp
của Thượng Sỹ thực tình là rõ ràng, không cần gây thắc
mắc nào nữa. Thực sự, xét trên bản chất của công án,
thì đây không phải là lối giải quyết công án Thiền, nhưng
là những giải quyết các khúc mắc trong Phật học, chỉ có
điều chúng được giải quyết theo lối một Thiền sư.
Ngoài
ra, còn một lề lối giải quyết công án khác, mà chúng ta
không thể không nhắc tới. Đây là đường lối có tính cách
văn học thuần túy, không như đối thoại trực tiếp trên
kia. Công án được chính Thiền sư đặt ra và tự giải quyết
lấy. Những giải quyết này sẽ là chỉ nam cho các đệ tử
học Thiền đời sau của ngài, dĩ nhiên trong môn phái ngài.
Đó là trường hợp cử công án nơi phần hai của Thượng
sỹ ngữ lục. Ở đây, chúng ta cũng dẫn một vài điển hình.
Cử
(Công án): Một thầy Tăng hỏi Trường Sa Cảnh Sầm: [13]
-
Con giun bị chặt đứt làm hai phần, phần nào cũng động.
Vậy Phật tánh ở phần nào?
Trường
Sa đáp:
-
Động và bất động, đó là cảnh giới nào?
Thượng
Sĩ (bình): “Hai bên không phải động. Động ở phía ông.”
Tụng
(bình bằng thơ):
蚯蚓斬為兩段時
Khâu dẫn trảm vi lưỡng đoạn thì
兩頭俱動有誰知
Lưỡng đầu cu động hữu thùy tri
問來佛性全難得
Vấn lai Phật tánh toàn nan đắc
辜負刳腸藏六龜
Cô phụ khô trường tạng lục qui.
Con
giun khi bị chặt làm hai
Hai
đầu đều động mấy ai hay
Hỏi
ra Phật tánh không sao được
Uổng
công mổ ruột con rùa thun.11[11]
Ngay
công án đã gây một thắc mắc, và làm sao giải quyết thắc
mắc đó? Câu trả lời của Trường Sa không nói thẳng. Nếu
ai hiểu nổi cảnh giới động và bất động, tức hiểu được
vấn đề. Giải quyết không nhắm riêng câu hỏi, nhưng phải
luôn cả câu trả lời. Do đó, lời bình của Thượng Sỹ
gián tiếp trả lời câu hỏi và cũng trực tiếp chỉ thẳng
vào câu trả lời của Trường Sa. Tức chỉ vào chữ động
và cho đó là mấu chốt của vấn đề. Người tham cứu công
án sẽ vin vào đó mà thực hành, nghi tình sẽ được gợi
lên từ chữ động.
Kế
đến, bài tụng chỉ vào một mặt khác của vấn đề. Con
rùa rút tất cả sáu bộ phận của nó vào trong cái mai, làm
sao người ta có thể mổ ruột nó được? Vậy, người
tham cứu công án phải nổ lực cho đạt tới chỗ tác dụng
của cái bất động trong cái động. Lần theo lối chỉ dẫn
đó, sẽ tới lúc nghi tình bộc phát. Nhiệm vụ hướng dẫn
của Thiền sư đến đó tùy trường hợp của hành giả tùy
điều kiện tâm lý, sinh lý, hay kiến thức, nghĩa là tùy tất
cả điều kiện sở hữu của y.
Cử
(công án): Trần Tôn Túc hỏi một thầy tăng từ đâu đến.
Thầy tăng trừng mắt nhìn sư. [14]
Thượng
Sĩ (bình): “Cái gã đầu lừa đít ngựa, nói thử một câu
xem sao.”
Thầy
tăng không nói.
Tụng
(bình bằng thơ):
驢前馬後莫橫衡
Lư tiền mã hậu mạc hoành hành
馬踏驢蹄作么生
Mã đạp lư đề tạc ma sinh
昨夜夢中人訊語
Tạc dạ mộng trung nhân tấn ngữ
兩尸埋下一長坑
Lưỡng thi mai hạ nhất trường khanh.
Ngựa
trước lừa sau đứng nghinh ngang
Ngựa
dẫm chân lừa tại sao thế?
Đêm
qua trong mộng người ướm hỏi.
Hai
thây chôn dưới một hố dài.
Thoạt
tiên, người đọc công án chỉ thắc mắc tại sao thầy Tăng
vô phép dám trừng mắt nhìn Trần Tôn Giả, một Thiền sư
trọng vọng. Hoặc người đọc có thể có bất cứ ý tưởng
nào khác. Nhưng, trong công án, cả hai nhân vật đều không
nói nhau một lời. Thượng Sĩ khuyến cáo, và lời khuyến
cáo bất nhã của Thượng Sỹ trỏ vào ai? Thiền sư Trần
Tôn Giả hay thầy tăng?
Qua
những trình bày kể trên, chúng ta thấy rằng, khác với thời
Lý trước kia, hình như đời Trần đã có những nổ lực
giải quyết công án và có nổ lực thực sự với những đường
lối làm dậy nghi tình để đạt tới chỗ giải quyết công
án trọn vẹn. Hệ thống công án đến đây coi như là đã
được thiết lập có cơ sở vững chắc rồi. Lẽ cố nhiên,
đường lối thực hành công án như thế chỉ có thể dành
cho hạng thượng lưu trí thức, hay nói theo thuật ngữ: Hàng
thượng căn thượng trí. Do đó, chúng ta thấy song song với
một nỗ lực dựng một hệ thống công án, còn có những
nổ lực cho các pháp môn tu Phật ứng dụng phổ thông trong
nhân gian. Các trang dưới đây sẽ đề cập về nỗ lực đó.
II.
THIỀN BÁI SÁM.
Bái
sám là hình thức cầu nguyện theo nghi lễ tôn giáo. Thiền
bái sám tức là thứ Thiền cầu nguyện năng lực siêu nhiên,
cầu nguyện "tha lực", nói theo thuật ngữ Phật giáo, cho sự
thành tựu chung quyết của mình. Đó là giải thích theo nghĩa
thông dụng của chữ bái sám.
Cầu
nguyện thường có hai mục đích chính. Mục đích thứ nhất,
nhắm vào những hành vi quá khứ. Tức là cầu nguyện để
giải trừ những tội lỗi mà người ta phạm phải trong các
đời trước. Mục đích thứ hai, nhắm vào những kết quả
tương lai, tức cầu nguyện để được hổ trợ cho những
hành vi sẽ được thực hiện mà tự lượng sức người không
làm nổi. Xét như vậy, cầu nguyện bắt rễ sâu xa trong tín
ngưỡng tôn giáo bình dân. Sự kiện đó có liên hệ như thế
nào với Thiền, nói chung?
Thiền
căn cứ trên khả năng của chính mình, và rất tin tưởng
vào khả năng đó. Kết quả mà Thiền đạt tới phải là
trong đời sống này, và nếu có thể, phải ngay trong giờ
phút hiện tiền. Thêm vào đó, người ta không thể chối cãi
bản chất thượng lưu trí thức nơi Thiền. Những thắc mắc
về đời sống, nhân sinh quan hay vũ trụ quan của Thiền, thường
không hề ẩn dấu một đặc tính nào của tín ngưỡng tôn
giáo bình dân là một điều kỳ dị. Nhưng không phải vì
kỳ dị mà nó đã không thể không xảy ra trong lịch sử của
Thiền Tông Việt Nam.
Trong
số các tác giả và tác phẩm gần như đầu tiên, của Thiền
Tông Việt Nam, mà TUTA cho biết, ta thấy có sư Đỗ Pháp Thuận
(915-991) với tác phẩm Bồ Tát hiệu sám hối văn. Chúng ta
không đọc được tác phẩm này, nhưng chắc chắn đây chỉ
là một bài văn ngắn, liệt kê danh hiệu các Bồ tát, và
có thể có thêm một đoạn nói những lời cầu nguyện.
Cũng
đồng thời với Pháp Thuận, khi ngài Ngô Chân Lưu làm Tăng
Thống dưới triều nhà Đinh, Đinh Tiên Hoàng đã cho đúc những
trụ đá khắc thần chú Phật Đỉnh Tôn Thắng .[15] Thần
chú đó không phải là một hình thức của bái sám, nhưng
là những lời cầu nguyện, và đặc biệt trong lịch sử Mật
giáo Trung Hoa, nó chỉ được cầu nguyện cho vua chúa.
Cả
Khuông Việt và Pháp Thuận đều là những Thiền sư làm tông
tượng cho một thời, về truyền thừa thì mỗi người theo
một dòng Thiền khác nhau, nhưng người ta thấy họ như cùng
có những hoạt động mang tính cách tôn giáo giống nhau. Như
vậy, các hoạt động của Thiền Tông có khuynh hướng tôn
giáo tại Việt Nam đã có lịch sử khá sớm. Chúng có trước
khi hệ thống công án được thiết lập vững như chúng ta
đã thấy.
Sang
đến thời Lý, có Thiền sư Viên Chiếu, mà chúng ta đã biết
về Thiền công án của Sư ở trên. Bên cạnh đó, TUTA còn
ghi lại một số sáng tác của sư, chúng ta có thể kể đến
Thập nhị Bồ Tát hạnh tu chứng đạo tràng, và Dược Sư
thập nhị nguyện văn được nói là có giá trị cho đến
Cao Tòa Pháp sư bên Tàu khi xem xong phải chấp tay bảo: Phương
Nam có nhục thân đại sĩ ra đời, rất khéo nói kinh pháp,
xin sao lại một bản. Cả hai sáng tác này đều liên hệ mật
thiết với các hoạt động của tín ngưỡng tôn giáo.
Trước
hết, về Kinh Dược Sư, hình như bản dịch Hán đầu tiên
xuất hiện dưới đời nhà Tùy, do Đạt-ma-cấp-đa, người
đồng thời với Tì-ni-đa-lưu-chi. Đến nhà Đường, còn xuất
hiện thêm hai bản Hán dịch của hai nhà dịch kinh rất nổi
tiếng: Huyền Trang và Nghĩa Tịnh. Nội dung của kinh là diễn
giải 12 hạnh nguyện của Phật Dược Sư. Đại khái 12 lời
nguyện như sau:
1.
Quang minh phổ chiếu. 光明普照
2.
Tùy ý thành biện. 隨意成辨
3.
Thí vật Vô tận. 施物無盡
4.
An lập Đại thừa. 安立大乘
5.
Cụ giới thanh tịnh. 具戒清淨
6.
Chư căn cụ túc. 諸根具足
7.
Trừ bịnh an lạc. 除病安樂
8.
Chuyển nữ đắc Phật. 轉女得佛
9.
An lập chính kiến. 安立正見
10.Khổ
não giải thoát. 苦惱解脫
11.Bảo
thực an lạc. 飽食安樂
12.Mỹ
ý mãn túc. 美意滿足
Chúng
ta thấy 12 lời nguyện gồm đủ hai khía cạnh triết lý và
tôn giáo của Đại thừa. Nhưng, chính các nguyện 2, 3, 7, 10
và 11, có tác dụng tôn giáo nhất. Rồi trong số các nguyện
này, nguyện thứ bảy lại được coi trọng hơn hết, vì danh
hiệu Phật là Dược sư.
Sau
nữa, Thập nhị Bồ Tát hạnh tu chứng đạo tràng chừng như
là nghi thức thiết lập đàn tràng trì tụng Dược sư. Trong
đó phối trí 12 Dạ xoa thần tướng mà kinh nói là sẽ hiện
bất cứ nơi nào kinh được tụng để thực hiện linh nguyện
của các lời nguyện.
Dựa
theo một ít dữ kiện được nêu ở trên, chúng ta có thể
nói, từ khởi thủy, Thiền tông Việt Nam đã chỉ hai mặt,
hai lãnh vực hoạt động riêng. Một mặt, hướng tới tầng
lớp thượng lưu trí thức bằng triết lý đích thực của
Thiền tông, hay triết lý Đại thừa nói chung. Mặt khác, hướng
hoạt động tới lớp quần chúng bình dân bằng tín ngưỡng
tôn giáo. Sở học và sở hành của Thiền sư theo đó phải
đáp ứng thỏa mãn cả hai mặt. Cho nên, chúng ta mới thấy,
ngay trong thời nhà Lý, các Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vừa
là một nhà tư tưởng văn học lỗi lạc của Thiền tông,
vừa là một tay phù thủy có hạng. Từ chỗ đó, nghĩa là
do yêu sách đó, Thiền tông Việt Nam cố nhiên phải nỗ lực
cho một phương pháp hành thiền thích ứng. Thiền Trúc Lâm
gần như đã đạt tới cao độ của nỗ lực nầy.
Khóa
hư Lục của Trần Thái Tông sẽ là bản văn chính cho chúng
ta khảo sát về Thiền bái sám ở đây.
Trước
hết, xin trình bày những nét chính, trong liên hệ với tiết
mục ở đây. Sau đó sẽ dẫn giải một vài điểm để đi
tới một kết luận có thể có nào đó.
Khóa
hư lục không phải là một tập sách luận giải về triết
lý Thiền tông hay triết lý Đại thừa. Một vài tư tưởng
được bày tỏ trong đó nhất định không gây ngạc nhiên
cho những ai đã từng có kiến thức khá vững về Phật giáo
Đại thừa. Điểm chính của sách, và điểm gây những ngạc
nhiên lý thú nhất, là sách đặt trọng tâm trên bái sám.
Chúng ta sẽ thấy những gì đáng gọi ngạc nhiên lý thú sau.
Về
nghĩa của hai chữ Khóa hư 課虛, có thể nói một cách vắn
tắt như thế này: "Công khóa khả hư, thời bất khả đãi
功課可虛時不可待."13 [13]
Công
khóa khả hư, thời bất khả đãi: Đó là lời cảnh giác
thông thường dành cho những người tu Phật. Ở đây, cảnh
giác được đặt trên căn bản triết lý của Thiền tông.
Nếu chúng ta biết đến truyền kỳ của lịch sử Thiền Tông
Trung Hoa, khi sơ Tổ Đạt-ma vừa đến, sẽ rõ ý nghĩa của
hai chữ Khóa hư hơn.
Truyền
kỳ kể rằng, khi Bồ-đề Đạt-ma vừa đến Trung Hoa, Lương
Vũ Đế nghe tiếng cho thỉnh ngài vào kinh. Lương Vũ Đế thường
được các sử gia Phật giáo Trung Hoa sánh ngang với A-dục
Vương của Ấn Độ, trong những công trình dành cho sự truyền
bá của đạo Phật. Vừa gặp Đạt-ma, Vũ Đế hỏi ngay về
giá trị những việc làm của mình đối với đạo Phật.
Đạt-ma phủ nhận hết: “Không có công gì cả.” Vua hỏi
tới: “Thánh đế đệ nhất là gì?” Tức hỏi chân lý tối
hậu, tuyệt đối là gì. Đạt-ma cũng phủ nhận luôn: “Quách
nhiên vô thánh.” Vũ Đế không hài lòng. Cái làm và cái biết
của nhà vua, ngài khước từ hết, không có giá trị nào cả.
Cho nên, Đạt-ma lên Thiếu lâm, chín năm ngồi nhìn vách đá.
Chúng
ta cũng nên biết thêm rằng Lương Vũ Đế còn cho soạn rất
nhiều nghi thức lễ sám. Còn truyền tụng đến nay, và rất
thịnh hành, là Lương hoàng sám. [16]
Trong
con mắt của Thiền, mọi công trình đồ sộ của nhà vua chỉ
có ý nghĩa và có giá trị cho thế tục. Không thể lấy đó
mà bước vào cảnh giới thâm diệu của Đại thừa: Công
khóa khả hư là chỗ đó. Tuy nhiên, thời gian vẫn không ngừng
thúc bách mệnh sống con người, thì công khóa dù là hư nhưng
có thể lấy đó mà dẫn tới chỗ thực của chứng ngộ.
Bài kệ "Tứ sơn" của Khóa hư lục cũng nói tới ý nghĩa
đó:
四山峭壁萬青叢
Tứ sơn tiêu bích vạn thanh tòng
了悟都無萬物空
Liễu ngộ đô vô vạn vật không
喜得驢兒三腳在
Hỉ đắc lư nhi tam cước tại
驀騎打趁上高峰
Mạch kị đả sấn thượng cao phong.
Bốn
ngọn núi sinh lão bịnh tử vây phủ đời sống con người.
Những ngọn núi cao vòi vọi, xanh um với hàng vạn cây thông.
Lúc đã chứng ngộ, thật ra tất cả đều là hư huyển, là
không. Nhưng, cũng như Úc Đồ lăng15[15], cưỡi con lừa què,
dù chỉ còn ba chân, nhưng vẫn có thể leo lên tới chỗ cao
diệu của chứng ngộ thượng thừa.
Đó
là nói đại cương về yếu chỉ của Khóa hư lục.
Nội
dung của Khóa hư lục không căn cứ trên quan điểm tuyệt
đối của Đại thừa. Mặc dù, trong bài "Khuyến phát Bồ
đề tâm" có những câu có liên hệ đến quan điểm đó. Đại
khái như: Dụng thời tắc vạn cảnh toàn chương, phóng hạ
tắc nhất trần bất lập 用時則萬境全彰放下則一塵不立.
Khi
hoạt dụng thì toàn thể vũ trụ đều phơi bày ra cả; khi
buông bỏ thì ngay cả đến một hạt bụi cũng không cho là
có. Tuy nhiên, trọng tâm của nó hoàn toàn đặt trên hiệu
lực của bái sám. Nghĩa là, công phu thực hành nhất định
phải gây một hiệu quả tâm lý nào đó. Khi thành tựu được
hiệu quả tâm lý này, đối với chiều hướng thượng, nó
sẽ như hành trang đủ cho người tiến bước tới những sở
chứng ảo diệu của Đại thừa. Đối với chiều thế tục,
nó có thể hướng dẫn hành động chân chính trong nhân quần,
xã hội. Như thế, vừa giữ vững được lý tưởng giác ngộ,
vừa có thể phụng sự cho quốc gia. Cả hai mục đích đều
nằm trong lý tưởng quốc gia và Phật đạo của Thiền Trúc
lâm mà chúng ta đã nói ở chương trước.
Nếu
chúng ta xét tới diễn tiến tu chứng theo truyền thống cố
hữu của Phật giáo, kể chung cả Ấn độ và Trung Hoa trừ
Thiền tông, thì pháp môn bái sám mà Khóa hư đề ra căn cứ
trên tương quan của Khổ đế và Tập đế trong Tứ Diệu
đế. Bái sám như là một phương pháp đắc lực nhất để
từ đó có thể thực hành các pháp môn trong Đạo đế của
Tiểu thừa hay các Ba-la-mật của Đại thừa. Xét như thế,
Khóa hư lục đứng hẳn trên các tương quan thế tục, trong
khi truyền thống gần như cố hữu của Phật giáo thường
đứng trên tương quan xuất thế để hạ thủ công phu.
Tương
quan thế tục là mối ràng buộc luân chuyển theo tính cách
nhân quả của ba đầu mối chính yếu. Thứ nhất là Khổ.
Thứ hai là Hoặc, tức phiền não. Và thứ ba là Nghiệp. Dĩ
nhiên, Khóa hư lục không bố cục theo qui cũ như vậy. Nhưng
chúng ta có thể thiết lập ba quan hệ đó để dễ nắm những
yếu điểm trong pháp môn bái sám của Khóa hư lục.
Trước
hết là nghiệp. Đó là những tạo tác của thân, khẩu và
ý. Nhưng xét kỹ hơn, chính là những tương quan giữa nội
tâm và ngoại giới dẫn đến những tạo tác của nghiệp.
Nói cách khác, nghiệp tạo tác là do sự tiếp xúc giữa sáu
quan năng nội giới, thuật ngữ gọi là "sáu căn", với sáu
đối tượng ngoại giới, thuật ngữ gọi là "sáu cảnh" hay
"sáu trần cảnh". Tương quan của chúng dẫn tới hành động,
và cố nhiên là hành động sai lầm. Sai lầm trước hết là
do các quan năng nội giới không hề nhận rõ chân tướng tồn
tại của ngoại giới. Tức là không nhận thực được rằng,
những cái có đó là do quan hệ với cái có ở đây. Hay diễn
tả như Khóa hư: Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc
tự chân không. Thị vọng tùng Không, Không hiển vọng. Vọng
sinh chúng sắc 由空起妄妄成色色自真空是妄從空空顯妄妄生眾色.
Diễn tả này vay mượn quan điểm triết lý của Duy thức
học. Nói rằng do Không khởi vọng, tức là nói tất cả những
mê lầm có dấy lên nhưng vẫn dấy từ bản tính tồn tại
của vạn hữu. Bản tính đó do duyên sinh, và duyên sinh tức
không tự tánh, không tự tánh tức Không. Rồi từ vọng tưởng,
mới thấy có các sắc tướng, để cho quan năng săn đuổi
thỏa mãn sự khát vọng của nó. Như thế là do tạo tác của
nghiệp mà đưa đến những mê hoặc. Rồi mê hoặc lại hướng
dẫn hành động săn đuổi thỏa mãn những yêu sách mù quáng,
và kết quả là dẫn tới đau khổ.
Trước
khi hạ thủ công phu, điều kiện phải có là nhận thức thực
trạng hiện hữu. Nhận thức đúng, ý thức được những
săn đuổi mù quáng của các quan năng, mới có thể khơi dậy
ý thức phản tỉnh, tìm một con đường hành động chân chính
khác, điều chỉnh những tập quán hành động cũ, cải thiện
cho những hành động mới. Dĩ nhiên nhận thức thực trạng
đó là nhận thức về đau khổ mà con người không thể chối
cãi. Nói một cách đại cương, diễn trình tâm thức trong
đường lối bái sám của Khóa hư đi tuần tự như thế này:
Trước hết nhận thức về Khổ; kể đến điều chỉnh các
hành động tạo tác của nghiệp. Nói là điều chỉnh vì bái
sám có chủ đích tẩy xóa sạch những vết tích tập quán
của hành động do nghiệp quá khứ tích tụ lại từ bao nhiêu
đời rồi. Cả hai giai đoạn đều có những hiệu nghiệm
riêng. Nghĩa là mỗi giai đoạn trong diễn trình tâm thức của
bái sám đều gây nên những phản ứng tâm lý thực tế nào
đó. Chúng ta nói thêm một vài chi tiết về hai giai đoạn
vừa nêu ra đó.
Trước
hết, về thực trạng nhân sinh. Thực trạng này là những
thống khổ bức bách của sinh, lão, bệnh, tử. Khóa hư lục
mô tả chúng như bốn ngọn núi cao sừng sững vây phủ đời
sống con người. Dưới đây trích dẫn bốn bài kệ, mỗi
bài nói về một sự trạng thống khổ. Điều đáng lưu ý
là các cảnh tượng thống khổ này, bên ngoài được nhìn
theo kinh nghiệm thông tục, bất cứ ai cũng có thể cảm nghiệm.
Nhưng dưới cái nhìn đó là phong thái của một Thiền sư
đúng nghĩa nhất; nghĩa là nhìn trong thái độ tự nhiên, không
một chút bi quan, và cố nhiên, đó là thái độ tiêu dao của
một Thiền sư.
Bài
kệ thứ nhất nói về nổi khổ của sự sinh:
真宰熏陶萬像成
Chân tể huân đào vạn tượng thành
本來非肇亦非萌
Bản lai phi triệu diệt phi manh
衹差一念亡無念
Chỉ sai nhất niệm vong vô niệm
卻背無生受有生
Khước bối vô sinh thọ hữu sinh
鼻著諸香舌貪味
Tị trước chư hương thiệt tham vị
眼盲眾色耳聞聲
Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh
永為浪蕩風塵客
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
日遠家鄉萬里程
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.
Sự
sinh đặt trong ý nghĩa sinh hữu của vạn tượng. Đó là sự
chung đúc từ tinh ba của vũ trụ. Cho nên, sự sinh như thế
không hề có khởi thủy. Nhưng, vì chúng ta lầm lạc trong
một niệm mà quên đi tính thể vô niệm của tâm. Tâm vô
niệm tức tâm không phân biệt, đến và đi, khởi và diệt,
hằng tùy thuận với thực tướng vô tướng của vạn hữu.
Vô niệm là yếu chỉ của Thiền tông, được thiết lập
bởi ngài Huệ Năng. Rồi từ một niệm sai lạc đó, chúng
ta đã quay lưng lại với tự tánh vô sinh, để trôi theo dòng
thác hữu sinh. Và từ đó, mũi săn đuổi hương thơm, lưỡi
truy tầm các mùi vị, mắt thì mù quáng vì sắc và tai dong
ruổi theo âm thanh. Những tạo tác ấy đẩy chúng ta vĩnh viễn
làm khách phong trần lưu lạc trong thế giới khổ lụy, bỏ
xa quê nhà tự tánh bản lai hằng mấy vạn dặm.
Chỉ
cần một bài tụng này cũng đủ để chúng ta khám phá bản
chất của pháp môn đang được nói ở đây. Do đó, xin bỏ
qua những chi tiết khác.
Đời
sống là thống khổ. Nhưng thống khổ trong cái nhìn đó, quả
thực là nổi khổ của đứa con hoang lưu lạc, hay bị đày
khỏi quê nhà. Trở về quê cũ, là lối nói thông thường
của các Thiền sư, khi họ muốn nói lý tưởng giác ngộ hay
những điều tương tợ. Điều cần ghi nhận thêm ở đây
là cái bản chất thong dong trong pháp môn của Khóa hư lục,
mặc dù thường có lời cảnh giác rằng thời gian không ngừng
thúc bách mạng sống con người. Vậy, tinh tiến nỗ lực tu
tập không hề gián đoạn trong từng giây phút, nhưng vẫn
một thái độ ung dung tự nhiên như Thiền. Đó là thái độ
khi một Thiền sư hành lễ cầu nguyện và lễ sám suốt trong
sáu thời của một ngày.
Một
điểm khác cũng cần lưu ý. Đó là đặt nhận thức trong
quan hệ thời gian. Như vậy, bốn nỗi khổ của con người
tương ứng với chu kỳ bốn mùa trong một năm. Mùa Xuân, sự
sống của vạn hữu nở rộ, là đánh dấu nỗi khổ của
sinh. Mùa Hạ, nóng thiêu đốt; cái khổ thúc bách của tuổi
già. Mùa Thu, cây cối tiêu sơ, vàng võ, là nỗi khổ tật
bệnh của đời người. Sau hết, mùa Đông, vạn vật thu mình
lại trong tiết lạnh để chờ đợi mùa xuân trong một chu
kỳ vận hành mới; thì cũng vậy, đời sống con người sẽ
thu lại trong sự chết, để bước sang một chu kỳ sinh tử
khác.
Nhận
thức về kiếp sống trong quan hệ thời gian này có thể cho
phép chúng ta ghi nhận hai nét đặc sắc. Nét thứ nhất, là
nhân sinh quan trong truyền thống kinh Dịch của Trung Hoa. Ở
đây, chúng ta không bàn tới ý nghĩa Tam giáo. Những bậc vua
chúa trong thời đó, và trong ảnh hửơng đó, tự cho là có
sứ mệnh điều hành các vận hành của trời đất trong thời
gian nhân sinh. Vậy, điều rất tự nhiên khi nhà vua của chúng
ta luận về sự khổ, mà luận qua quan hệ thời tiết. Chúng
ta đã biết, như trình bày chương trước, bản chất vương
giả là một trong ba điểm nổi bật của Thiền Trúc lâm.
Thì nét đặc sắc này cũng là một minh chứng.
Nét
thứ hai, nếu mệnh sống con người được nhận thức qua
vận hành của thời tiết, thì định luật vô thường sẽ
phải là nỗi bận tâm lớn. Để đối phó, người học Thiền
(mặc dù là Thiền tông), phải không ngừng nỗ lực mới có
thể đuổi kịp dòng trôi chảy như nước lũ của thời gian.
Vậy phải chuyên cần hành lễ bái sám suốt sáu thời trong
một ngày. Như thế, nét thứ hai này vừa nhận thức về đời
sống, vừa cảnh giác thực tế. Hiệu quả, hay phản ứng
có thể xảy ra trong tâm lý, là chính ở đây. Hiệu quả này,
nếu xét mặt ngoài, có hai tính chất trái ngược nhau. Tính
chất thứ nhất, là thái độ ung dung như đã nói. Vì sự
khổ của nhân sinh cũng tự nhiên như vận hành của thời
tiết. Thứ hai, ngược lại, thời tiết đi rồi lại trong
con mắt nhìn ở phía ngoài, nhưng đời sống đi là đi mất.
Cũng như một ngày qua là qua luôn, làm sao trở lại? Ngoại
giới bị chi phối bởi luật vô thưòng, mà thời gian cuốn
đời sống tâm thức từ những niềm vui thanh xuân đến tâm
trạng buồn sầu héo hon trong tuổi già xế bóng. Trực giác
được con thác thời gian biến thiên bất tuyệt, hay thực
tế hơn, sống mà thường trực cảm nhận những thay đổi
liên miên của thời tiết, thay đổi từ nóng đến lạnh,
từng ngày một, thì từ đó đạo tâm sẽ mở rộng. Nói cách
khác, cách nhìn đó là điều kiện thích hợp nhất cho một
dân tộc sống dưới áp bức thường xuyên của thực tế
hơn, của thời tiết, lấy đó để dẫn khởi phát Bồ đề
tâm.
Giai
đoạn thứ nhất, với hiệu quả tâm lý như vậy, coi như
tạm thời đã xong, đã đủ yếu tố cần thiết cho thực
hành bái sám.
Bài
sám ở đây không phải là cầu nguyện suông. Nó mang hai nhiệm
vụ, điều chỉnh và cảnh giác. Tức điều chỉnh các tập
quán hành động cố hữu và cảnh giác những hành động có
và sắp tới.
Mặt
tiêu cực kia, người ta nói sống là khổ. Thì mặt tích cực
ở đây, chúng ta biết rằng sống là hành động. Hành động
trong từng khoảnh khắc. Nhưng mọi hành động có khuynh hướng
dẫn tới sai lầm, đưa con người vào chỗ mù tối. Bái sám
nhấn mạnh trên quan điểm này.
Giai
đoạn thứ hai được thực hiện như thế này: Cảnh giác
hành động trong mọi thời. Nghĩa là, trình bày theo Khóa hư,
đây là sám hối các tội lỗi của Lục căn và thực hành
sám hối suốt cả sáu thời trong một ngày. Như vậy, thời
gian và hành động là yếu tố chính. Nếu muốn phô diễn
quan niệm triết lý nào đó trong pháp môn bái sám của Khóa
hư lục thì có thể luận giải chi ly về hai yếu tố đó.
Ở đây, chúng ta chỉ lược qua vài chi tiết.
Thời
gian là tinh thể của hành động, và hành động biểu lộ
của thời gian. Do quan niệm mật thiết đó, mỗi thời trong
một ngày sẽ được chọn để biểu tượng cho một quan năng
hành động.
Thời
thứ nhất, lúc vừa thức giấc, là thời gian sám hối con
mắt, vừa là nỗ lực tẩy xóa thói quen tạo tác sai lầm
của nó, và vừa để cảnh giác hành động của nó. Bài kệ
cảnh giác cho thời này như sau:
陽谷明將啟
Dương cốc minh tương khải
漫漫黑地開
Man man hắc địa khai
觸心塵境起
Xúc tâm trần cảnh khởi
眩目色爭排
Huyển mục sắc tranh bài
臭殼休貪抱
Xú xác hưu tham bão
埋頭早願抬
Mai đầu tảo nguyện đài
慇懃專六念
Ân cần chuyên lục niệm
庶得契方來
Thứ đắc khế phương lai.
Bóng
dương hé tang tảng
Đất
tối rạng dần dần
Chạm
lòng trần náo nức
Lóa
mắt sắc tưng bừng
Xác
thối đừng tham giữ
Đầu
vùi sớm liệu nâng
Ân
cần sáu khóa niệm
May
được đúng cơ chân. (Thiều Chửu dịch)
Đoạn
giữa là các nghi lễ của phép sám hối, là một bài kệ cảnh
giác về vô thường. Đây là bài cảnh giác về thời sau nửa
khuya, thời chót trong một ngày, dành cho sám hối ý căn:
法鼓擊回浮世夢
Pháp cổ kích hồi phù thế mộng
梵鐘撞破大家聲
Phạm chung chàng phá đại gia thanh
猶貪北首眠甜黑
Do tham bắc thủ miên điềm hắc
不管東顏日照紅
Bất quản đông nhan nhật chiếu hồng
長夜漫漫時有旦
Trường dạ man man thời hữu đán
冥途默默路難通
Minh đồ mặc mặc lộ nan thông
今朝若不勤行道
Kim triều nhược bất cần hành đạo
他日那逢黃面公
Tha nhật na phùng hoàng diện công
Trống
pháp dạo tan phù thế mộng
Chuông
chùa khua động khắp gần xa
Vẫn
ham giấc ngủ đang mài miệt
Chẳng
quản vầng đông đã chói lòa
Dằng
dặc đêm trường không có sáng
Mịch
mù lối quỉ khó tìm ra
Nay
không cố gắng công tu đạo
Ngày
khác làm sao gặp Phật đà. (Thiều Chửu dịch)
Trích
dẫn chừng đó tạm đủ cho chúng ta có cái nhìn đại cương
về pháp môn bái sám của Khóa hư lục. Bấy giờ có thể
ghi lại một ít nhận xét, gọi là những đặc sắc của pháp
môn này.
Điểm
thứ nhất, pháp môn bái sám đó đã là nỗ lực cho một đường
lối thực hành đạo Phật phù hợp với điều kiện lịch
sử và địa dư của dân tộc Việt Nam. Quá trình lập quốc
là chuỗi phấn đấu không ngừng cho sự sống còn của dân
tộc trong xung đột của các thế lực chính trị. Đạo Phật
cũng phải được thực hành như thế nào để có thể giữ
vững được tinh thần đó. Thiền sư khi thực hành đạo Phật
dựa trên tín ngưỡng quần chúng bình dân, tâm thức luôn
luôn được đào luyện trong niềm tin và khát vọng chung của
quần chúng. Như thế, sở chứng của Thiền sư vẫn có thể
ứng dụng trong các hoạt động tôn giáo và xã hội, để,
hoặc hướng dẫn quần chúng sinh hoạt đúng theo chánh pháp,
hoặc hướng dẫn niềm tin và khát vọng của quần chúng thích
ứng với điều kiện sống còn trong lịch sử.
Điểm
thứ hai, tư tưởng căn bản của pháp môn bái sám không chứa
đựng những nghĩa lý huyền diệu của Đại thừa. Nó được
hình thành rất tự nhiên trong điều kiện địa lý của một
quốc gia. Những phấn đấu với thiên nhiên trong một xã hội
nông nghiệp, mà thời gian tính hiện hành cụ thể trong thời
tiết, là kinh nghiệm sống động để người ta nhận thức
rõ về ý nghĩa sống còn của con người trong thiên nhiên.
Cho nên, sinh, lão, bệnh và tử cũng như sáu quan năng hoạt
động của một đời người đã được phối hợp với bốn
mùa và sáu khắc.
Điểm
thứ ba, đạo Phật hoàn toàn được hiểu biết trong khía
cạnh thế tục. Đạo Phật ở đây không dành riêng cho giới
xuất gia. Người thực hành đạo Phật không cần thiết tìm
nơi thanh vắng để di dưỡng tánh tình. Hành động và luôn
luôn cảnh giác hướng đi của hành động, đó là con đường
thể nghiệm đạo lý của Phật.
Qua
những đặc điểm như vậy, chúng ta có thể hiểu tại sao
những người khai sáng Thiền Trúc Lâm đều là cư sĩ, và
là vua chúa hay đại thần.
III.
KẾT LUẬN.
Từ
những trình bày về hai đường lối hành Thiền ở trên, một
là Thiền công án, và một là Thiền bái sám, đến đây chúng
ta có thể tổng kết giá trị cũng như hiệu lực của chúng
như sau.
A.
PHẢN ỨNG TÂM LÝ GIỮA HAI PHÁP MÔN.
Muốn
nói đến những phản ứng của hai pháp môn đã trình bày,
chúng ta cần phải có những ký sự tu tập của chúng. Nhưng
hiện tại, chưa ai phát kiến những ký sự như vậy, hay những
loại tương tợ. Do đó, chúng ta chỉ có thể nói theo sự
ức đoán mà thôi.
Đối
với phản ứng tâm lý trong lối tu tập công án, Trung Hoa có
rất nhiều ký sự, chẳng hạn ngữ lục của Đại Huệ đời
Tống, Thiền quán sách tấn của Chu Hoằng đời Minh, và một
số lớn các tác phẩm khác. Tại Việt Nam, hầu như tuyệt
nhiên không có. Nếu căn cứ theo các ký sự của các Thiền
sư Trung Hoa, thì phản ứng tâm lý trong lối tu tập công án
đại khái trải qua hai thời kỳ, mà Đại Huệ gọi là ngộ
Chết và ngộ Sống. Ngộ Chết tức là thực hành công án
cho đến lúc nghi tình trổi dậy mãnh liệt, vũ trụ hầu như
tan biến, chỉ còn lại hành giả với công án mà thôi. Đó
không phải là sự vong ngã. Trái lại, cái ngã nó hiện quá
rõ, nên hành giả không thấy mặt mày của mình trong gương
vậy. Vì quá rõ, nên hành giả không thấy gì ngoài cái đó.
Các ký sự khi diễn tả tâm trạng này thường dùng các hình
ảnh, như nói trời đất bổng như sụp đổ hẳn, vũ trụ
bổng nhiên trong suốt lạ thường tựa hồ mọi vật biến
mất đâu hết, hoặc cảm thấy như mình đang ngồi trong chậu
pha lê, hoặc mồ hôi đẫm ướt áo như xối v.v… Sau tâm
trạng đó, hành giả thấu triệt công án mình đang nghiền
ngẫm. Giai đoạn đó chỉ mới là ngộ chết. Vì sở ngộ
đó chưa đủ để làm minh sư cho một thời. Hành giả còn
phải trải qua một giai đoạn gay go nữa. Không những chỉ
thấu triệt công án của mình, mà thấu triệt bất cứ công
án nào của vũ trụ. Với tâm trạng thực hành như vậy, người
ta có thể lần ra tính cách độc đáo riêng biệt của mỗi
phái Thiền. Các phái Thiền tại Trung Hoa được phân chia là
do bởi đó.[16]
Trường
hợp của chúng ta ở đây, các công án của Viên Chiếu được
thực hành như thế nào và có những hậu quả tâm lý nào?
Cũng như các công án của Tuệ trung Thượng Sỹ?
Hình
như mặc dù tại Việt Nam cũng có nỗ lực cho hệ thống công
án, nhưng là nỗ lực trên phương diện học hỏi, chứ chưa
có Thiền sư nào thực hành. Ít ra, cho đến thời nhà Nguyễn,
người ta mới thấy dấu hiệu thực hành công án nơi Thiền
sư Liễu Quán chẳng hạn. Nhưng giới hạn của chúng ta là
thời Trần và trước đó. Vậy, có thể cho rằng hệ thống
công án ở Việt Nam không phải được thiết lập để dẫn
tới chứng ngộ mà được thiết lập để trình bày sở chứng.
Nghĩa là, công án như một phương tiện văn học để trình
bày tư tưởng. Đó là một hệ thống công án khác biệt hẳn
với những gì được thiết lập tại Trung Hoa. Điều này
chúng ta có thể thấy rõ nơi lối trình bày công án của Tuệ
Trung Thượng Sỹ. Công án không phải được dựng lên cho
môn đệ tu tập và giải quyết. Kết luận của chúng ta là,
hệ thống công án của các Thiền sư Việt Nam thực tình là
hệ thống triết lý. Nó không chỉ dành riêng cho Thiền, mà
còn để trình bày kiến giải của các Thiền sư về các giáo
pháp của các tông phái Phật giáo khác.
Thứ
đến, là Thiền bái sám. Những phản ứng tâm lý như thế
nào cũng chưa dễ gì xác định. Tuy vậy, không phải là không
thể giả thiết. Phản ứng đầu tiên, mà chúng ta có thể
thấy ngay là ấn tượng rất đậm về sự biến dịch của
thời gian. Phản ứng này có thể dẫn tới hai hậu quả. Một
trong hai, diễn theo chiều hướng của cảm hứng văn chương,
nói rõ là thi ca. Cho nên, những bài kệ trong lục thời sám
hối của Khóa hư lục, mặc dù là những bài văn của nghi
thức tôn giáo, nhưng người ta có thể thấy rất rõ khí vị
văn chương thi ca của chúng. Hậu quả khác, là phấn đấu
gấp rút để khắc phục và chế ngự thiên nhiên. Đồng thời,
nó dẫn tới phấn đấu trong các hoạt động xã hội và chính
trị.
B.
Ý NGHĨA TỒN TẠI CỦA HAI PHÁP MÔN.
Công
án như là phương tiện để trình bày các quan điểm tư tưởng
triết học; do đó, sự có mặt của nó như để nối liền
bản chất Phật giáo Việt Nam trong toàn bộ Phật giáo nói
chung. Vì các điều kiện giao thông, kinh tế, chính trị, xã
hội, nên các nhà học Phật Việt Nam khó thực hiện nổi
một cơ đồ văn học Phật giáo như Trung Hoa hay ít ra bằng
một nửa. Nhưng họ có thể thảo luận về tất cả những
điểm tinh túy của đạo Phật, của bất cứ tông phái nào,
và chỉ cần trình bày vắn tắt, trong một vài lời của công
án là đủ.
Như
vậy, nỗ lực cho hệ thống công án chính là nỗ lực cho
tư tưởng và văn học của đạo Phật. người ta không thể
tưởng tượng ra rằng đạo Phật thực sự có mặt tại Việt
Nam, nếu không có những nỗ lực đó. Bản chất cố hữu
của đạo Phật không phải là một phong trào tín ngưỡng.
Nếu muốn gọi là phong trào, đích thực đó là phong trào
tư tưởng. Tại Ấn độ đã thế. Tại Trung Hoa cũng thế.
Do đó, căn cứ trên sự phát triển của công án, người ta
có thể định rõ đươc chiều hướng và mức độ phát triển
của tư tưởng Phật học tại Việt Nam. Vai trò lịch sử
của công án là như thế. Mà vai trò xã hội nó không phải
không có. Nhà Lý được thành lập, Việt Nam bắt đầu cho
những thời kỳ tự chủ tiếp theo. Đạo Phật cũng từ đó
chính thức đi vào lịch sử tranh đấu của dân tộc. Văn
học được phát triển và vai trò tri thức cùng lúc càng nổi
bật trong nhiệm vụ đối với quốc gia và dân tộc. Công
án là kết quả do nỗ lực hoạt động để phát triển tư
tưởng văn học chung cho đất nước.
Vai
trò lịch sử và vai trò xã hội của công án đại khái là
như thế. Vai trò lịch sử và xã hội của Thiền bái sám
cũng theo chiều hướng tương tợ. Đạo Phật tồn tại trong
sự tồn tại của dân tộc. Sự thực hành của đạo Phật
do đó phải thích hợp với tất cả điều kiện của dân
tộc. Sự trưởng thành của Thiền bái sám chứng tỏ sự
trưởng thành cao độ của ý thức tự chủ dân tộc. Không
phải tự chủ theo nghĩa độc tôn. Vì đạo Phật có sứ mệnh
đóng góp vào con đường sáng của quần chúng.
Căn
cứ trên sự phát triển của Thiền công án và Thiền bái
sám, chúng ta có thề hiểu biết đại khái đạo Phật đã
đi vào lịch sử và xã hội của Việt Nam như thế nào. □
Đ.Q.M.
2/Cf.
Hồ Thích Văn Tồn, tập IV, quyển 2, các bài: Lăng già tông
khảo, Lăng già sư tư ký tự, Hà Trạch Đại sư Thần Hội
truyện, Thần Hội Hòa thượng di lập tự.
1.Cf. Suzuki, Esays in Zen Buddhism ii, p. 75ff. Tham chiếu bản
Việt
4.Cf
. Đại Huệ Phổ Giác Thiền sư Ngữ Lục, T.74, No 1998.
5.Cf
Suzuki, loc.cit, p. 115ff
2.Xem Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu Thiền uyển tập anh, tr. 253.
3.Bản Hán, tờ 45b. Xem Lê Mạnh Thát, dẫn thương.
4.Truyền đăng lục 9, T51n2076, tr. 268att. Xem Lê Mạnh Thát,
đã dẫn, tr.235. Bản gỗ TUTA chép 惠 thay vì 慧.
5.TUTA, bản Hán gỗ, tr. 11b. Xem Lê Mạnh Thát, đã dẫn, tr.
185.
6.TUTA, Hán, bản gỗ, tr.23 a. Lê Mạnh Thát, đã dẫn, tr. 207.
7.Cf. Vô môn quan, (T48n2005_p0292c22) công án “Triệu Châu cẩu
tử 趙州狗子.” Xem thêm, Thiền quan sách tấn (T48n2024_p1099a29):
Mông sơn Đức Dị thiền sư thị chúng.
8.TUTA, Hán, bản gỗ, tr.26 b. Lê Mạnh Thát, đã dẫn, tr. 215.
9.Chuyện chép trong Truyền đăng luc 8 (T51n2076_p0259b14), Thạch
Đầu nói với Đặng Ẩn Phong: “Ngươi chỉ cắt được cái
kia mà không hiểu cắt được cái này.” 石頭云。汝只剗
得那箇不解剗得遮 箇。
10.Các trích dẫn trên đây trở xuống, một phần theo bản
Việt của Trúc Thiên; một phần tự dịch lấy theo ý riêng.
Xin đối chiếu cả hai, sẽ thấy chủ ý này.
11.Truyền đăng lục quyển 6 (T51n2076_p0441b21).
12.Truyền đăng lục, quyển 23 (T51n2076_p0389b13).
13.Truyền đăng lục 10 (T51n2076_p0274c22).
11.Bốn
câu này, bản Việt của Trúc Thiên dịch khác và ý nghĩa cố
nhiên cũng rất khác xa ở đ