GIẢI
THOÁT ĐẠI ĐỒNG
Trong
tác phẩm Chánh Pháp nhãn tạng (Shōbōgenzō) của Thiền
sư Đạo Nguyên (Dōgen. 1200-1253), phần mở đầu Phẩm Phật
tánh (Busshō) có trích một đoạn rất quen thuộc trong kinh
Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Bồ tát Sư tử Hống: “Nhất
thiết chúng sinh tất hữu Phật tánh. Như Lai thường tính
vô hữu biến dịch". Nhưng thay vì hiểu theo mọi người
là “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Như Lai tính thường
hằng không có thay đổi” (Issai no shujō wa kotogotoku busshō
o yōsu; Nyorai wa jōjōnishite henyaku arukoto nashi), Đạo Nguyên
lại đọc hiểu là “Issai wa shujō nari, shitsuu wa busshō nari;
Nyorai wa jōjōnishite mu nari, u nari, henyaku nari”. Chuyển sang
tiếng Việt, “Tất cả là chúng sinh, hết thảy mọi hữu
là Phật tánh; Như Lai là thường hằng, phi hữu (vô), hữu,
và biến dị”. Đáng lưu ý ở đây là ông không chịu hiểu
bốn chữ ở cuối câu đầu, “tất hữu Phật tánh” như
là “hết thảy (chúng sinh) đều có Phật tánh”, ông lại
đọc “Hết thảy mọi hữu là Phật tánh”. Như vậy theo
ông, chữ “tất hữu” có nghĩa “hết thảy hữu tình và
vô tình”, bao gồm hết thảy mọi sự vật trong hữu tình
thế gian và khí thế gian. Nguyên nhân nào đã thúc đẩy Đạo
Nguyên không chịu đọc hiểu như mọi người, mà trái lại
đọc hiểu một cách khác thường như vậy?
Thông
thường khi nói “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”
thời chúng sinh nghĩa là gì? Trong Câu xá Quang ký, quyển 1,
chúng sinh (Nhật: shujō; Phạn: sattva) được định nghĩa là:
“Thọ chúng đa sinh tử cố viết chúng sinh”. Thọ rất nhiều
sinh tử nên gọi là chúng sinh. Thọ mãi sinh tử đời này
qua đời khác nên gọi là chúng sinh. Trong kinh Đại thừa Đồng
tánh nói rằng: “Do lấy năm uẩn làm duyên giả hợp sinh
ra nên gọi là chúng sinh.” Kinh Bất tăng bất giảm giải
thích sự khác biệt giữa chúng sinh và Pháp thân: “Pháp thân
bị phiền não ràng buộc mà sinh tử qua lại trong ba cõi nên
gọi là chúng sinh.” Pháp thân tức là cái thể tánh thanh
tịnh bình đẳng. Bình đẳng là vì thể tánh thanh tịnh ấy
Phật và chúng sinh y như nhau. Nhưng Pháp thân không bị phiền
não ràng buộc, không vãng lai sinh tử, thời đó là Phật.
Còn thể tánh ấy bị phiền não ràng buộc, vãng lai sinh tử
thời đó là chúng sinh. Tóm lại, chúng sinh dầu nói theo nghĩa
hẹp là nhân loại, hay nói theo nghĩa rộng là hữu tình, tất
cả vẫn còn luẩn quẩn trong vòng sinh diệt, chưa giải thoát
khỏi luân hồi nghiệp báo.
Như
vậy, theo câu “Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tánh”,
không chỉ con người mới có Phật tánh. Trong phạm vi rộng
lớn hơn, hết thảy hữu tình đều có Phật tánh, tất cả
đều có khả năng tánh căn bản thành Phật. Câu kế tiếp
“Như Lai thường tính vô hữu biến dịch” phát biểu chân
lý thường hằng, bất biến mà đức Phật chứng ngộ. Đại
khái mà nói, cái tâm của chúng sinh tuy bị mọi phiền não
trói buộc, che lấp, nhưng trong đó vẫn có đầy đủ đức
tánh của Như Lai, mà cái tâm tánh đó dù Phật có ra đời
hay không, nó cũng không thêm không bớt, cho nên gọi nó là
“pháp tự nhiên như thế” (pháp nhĩ như thị). Cái chủng
tử thành Phật bản lai vẫn nằm sẵn trong tâm chúng sinh.
Chỉ vì phiền não che lấp, nên tâm đó không thể hiển hiện
ra được, và chính vì muốn làm cho nó sáng tỏ trở lại
nguyên thể của nó nên Phật mới ra đời.
Nếu
nhân loại và những hữu tình khác đều giống nhau ở chỗ
đều có Phật tánh và khả năng chứng ngộ thời tất nhiên
nhân loại lẫn những hữu tình khác qui chiếu cùng chung một
chiều kích căn bản. Chiều kích này được gọi là sinh diệt
tính (Phạn: utpādanirodha. Nhật: shōmetsusei). Do đó, sinh diệt
tính của hết thảy hữu tình bao gồm trong nó tánh sinh tử
của loài người. Mặc dầu sinh tử được xem như vấn đề
căn bản trọng yếu nhất trong mọi khảo sát về sinh mệnh
con người, Phật giáo không tìm cách giải quyết nó trong chiều
kích nhân loại, mà thấy đó là thuộc vấn đề sinh diệt
trong chiều kích hữu tình rộng lớn hơn. Nói cách khác, nếu
không được giải thoát khỏi kết sử của tánh sinh diệt
phổ biến khắp hết thảy hữu tình, thời con người không
thể nào giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.
Trong
trường hợp vấn đề sinh diệt được qui định một cách
đơn giản để trở thành hình thức luân hồi thời nếu lấy
bản ngã cá biệt tức sinh mệnh con người làm trung tâm, ta
có thể thu vào ba điểm chính là: Hoặc, Nghiệp, và Khổ.
Do phiền não mà có những hành vi thiện ác, và do hành vi thiện
ác mà có quả báo. Đem những hành vi đó phối hợp với quá
khứ, hiện tại, vị lai, thuyết duyên sinh chia thành mười
hai nhân duyên để thuyết minh hình thức luân hồi. Có sinh,
lão, bệnh, tử là do mười hai nhân duyên. Vô minh (Hoặc),
Hành (Nghiệp) thay cho tất cả phiền não và nghiệp tập ở
quá khứ. Thức là tinh thần chủ thể đi đầu thai sau khi
chết và trước khi sinh. Danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, là
những cơ quan sinh lý và tâm lý, hoạt động phát triển mà
thành một hữu tình độc lập, đó là quả báo hiện tại.
Do ái dục và thủ (chấp trước) mà duy trì đời sống hiện
tại, đồng thời gieo nhân cho sự sống trong tương lai, và
qui định rõ rệt kiếp sống tương lai. Lại tiến lên bước
nữa là Hữu. Từ đây, sau khi chết, sinh vào một cảnh giới
nhất định, một mặt hưởng thụ vui, hay chịu đựng khổ,
mặt khác chịu định luật già, ốm (đau), và chết. Đó là
sự sống tương lai.
Nếu
ta cứ theo trạng thái trở đi trở lại như kể ở trên mà
khảo sát, ta sẽ thấy hết thảy sự tồn tại tuy vô thường
biến thiên, nhưng không bao giờ hoàn toàn đoạn diệt cả.
Nghĩa là nếu nhân duyên tức quan hệ của sinh mệnh còn tồn
tại thời sự biến hóa của nó sẽ luân hồi vô cùng. Đó
là pháp tắc sinh mệnh kế tục, tức là cái ý chí muốn sống
lấy vô minh hay khát ái (dục) làm động cơ căn bản, sinh
mệnh tự nó lại tích tụ những kinh nghiệm để tạo thành
tính cách của chính nó, rồi thích ứng với tính cách ấy
mở ra vận mệnh, cảnh giới, và tính cách mai sau.
Sự
tích tụ của kinh nghiệm được gọi là nghiệp, tuy vô ý
thức nhưng là căn để của tính cách người ta, và là động
lực qui định những hành vi tương lai. Do đó bảo rằng nghiệp
tương tục thời chẳng qua cũng chỉ là sự liên tục của
kinh nghiệm, và dĩ nhiên, chỉ là y vào kết quả của kinh
nghiệm và sự lưu chuyển của tính cách. Phương hướng của
sinh mệnh do nghiệp qui định, đồng thời nghiệp lại y vào
nội dung hoạt động của sinh mệnh, luôn luôn gây nghiệp
mới in sâu vào tự thể và bảo tồn những nghiệp cũ đã
có. Trong sự biến hóa bất tuyệt, sinh mệnh hấp thụ những
kinh nghiệm quá khứ rồi lấy đó làm nguyên động lực mà
biến hóa tính cách, lưu động liên tục một cách tuần hoàn.
Trong
chiều kích sinh diệt của hữu tình, chu kỳ sinh tử của một
đời sống có thể ghi nhận qua bốn giai đoạn, sanh, lão,
bệnh, tử, hoặc thành, trụ, dị, diệt của mỗi một chúng
sinh. Đối với sinh mệnh con người, sinh và chết là sự tụ
tập và tan rã của các thủ uẩn, của những vật chất ô
nhiễm và dòng sinh mệnh tiếp nối nương vào đó mà hoạt
động. Với thực trạng sinh tử này, phiền não chủng tử
tồn tại trong a lại da thức phát hiện thành hiện hành, và
những phiền não hiện hành tác động không một sát na nào
tách rời các hoạt động tâm lý. Mỗi một tác động của
chúng huân tập trở lại tập khí phiền não (vāsanābhūmi-kleśa),
làm bền chặt thêm gốc rễ của các phiền não chủng tử.
Chính các phiền não chủng tử này dẫn đến thực trạng
sinh tử phần đoạn.
Như
vậy, căn cứ vào hình thức trên, các loài hữu tình là do
nghiệp tập mà có, và bất cứ loài nào, chính cái đương
thể của sự biến hóa là luân hồi chứ không có linh hồn
luẩn quẩn trong không gian để đi đầu thai chịu các thân
phận. Sinh mệnh là cái đương thể biến hóa thụ sinh trong
ba cõi Dục, Sắc, và Vô sắc, thành súc sinh, thành quỷ đói,
thành a tu la, sa địa ngục, sinh cõi người, hay lên cõi trời,
tất cả đều không ngoài cái được mệnh danh là nghiệp,
tất cả đều tự biến hóa thành luân hồi.
Trong
vòng luân hồi, cõi người quan hệ sâu xa với nhiều cõi khác
cho nên vấn đề sinh tử và giải thoát sinh tử không còn
đơn giản là vấn đề của riêng nhân loại, mà trở thành
vấn đề sinh diệt của hữu tình thế gian. Ta không thể nhất
quyết lấy chính mình làm trung tâm điểm cho toàn thể quá
trình luân hồi mà cho rằng mọi sự luân chuyển đều bắt
đầu từ cõi người vào cõi các loài động vật, và rồi
từ động vật thụ sinh vào những nẻo đường khác. Bởi
vì theo cách hiểu như vậy, tất nhiên không thấy có căn bản
nào chung giữa cõi người và các cõi khác, thử hỏi làm thế
nào chúng sinh ở cảnh giới người có thể đầu thai qua cảnh
giới khác trong lục đạo? Do đó, nhân loại không thể là
điểm trung tâm của quá trình luân hồi, và luân hồi thực
sự diễn ra trong chiều kích sinh diệt của hữu tình, sâu
rộng hơn chiều kích sinh tử của loài người.
Tuy
nhiên, giải thoát khỏi các khổ của phần đoạn sinh tử
chưa phải là hoàn toàn được giải thoát. Còn một nỗi khổ
khác vi tế vô cùng cần được nhận thức trong chiều kích
rộng lớn hơn, chiều kích vô thường có không của vạn hữu.
Đó là bất tư nghị biến dịch sinh tử. Hết thảy hiện
tượng, bất luận là tâm hay vật, đều sinh diệt biến chuyển
trong từng sát na, chúng không bao giờ đứng yên ở cùng một
trạng thái. Tuy trước sau liên tục không có hình tướng sinh
diệt, nhưng từng sát na từng sát na sinh diệt biến hóa, nhỏ
nhiệm, sâu kín, khó thấy, khó biết.
Trong
thực trạng biến dịch sinh tử, các thế lực điều động
những khát vọng sinh tồn của cá thể là những tàn dư của
tập quán hay di truyền quá khứ, từ lâu đời xông ướp trong
a lại da thức, luôn luôn chỉ tồn tại như là chủng tử,
không tùy thuộc vào hoạt động trên cơ sở chủ quan của
các chức năng tâm lý. Vì các chủng tử được huân tập
bởi ác tập hư ngụy từ vô thủy tác động như là bức
màn bao phủ một cá thể trong bóng tối, ngăn cách cá thể
ấy với đời sống bao la vô tận trong thế giới của những
quan hệ phổ biến, nghĩa là pháp giới trùng trùng duyên khởi,
cho nên chúng được gọi là vô minh trụ địa. Vô minh và
nghiệp là hai yếu tố tác động đồng thời tạo ra thực
trạng sinh tử biến dịch. Muốn chứng nghiệm Phật tánh là
chân lý toàn diện, phổ quát, là sự thực không chỉ liên
hệ đến bản thân cá biệt, tất phải đoạn trừ vô minh
trụ địa. Cũng nên biết rằng trụ địa là mảnh đất tâm
thức được xông ướp. Ngoài mảnh đất tâm ấy, không có
tự thể tâm thức nào khác. Khi mê gọi là thức. Khi ngộ
gọi là trí. Chuyển mê thành ngộ, chuyển thức thành trí,
đó là công phu tu tập cho quá trình chuyển y nhằm hiện thực
sự giác ngộ ngay trong cuộc sống.
Trong
chiều kích vô thường có không của vạn hữu, sự luân chuyển
bất tuyệt trong các nẻo luân hồi tương ưng với thực trạng
biến dịch sinh tử. Tính cách vô cùng tận của luân hồi
được xem như thời gian tính của luân hồi.
Mặt
khác, lục đạo không phải gồm các cảnh giới riêng biệt
đồng thời hiện hữu bên cạnh nhau, mà tất cả cùng ở
trong một thế giới. Cái thế giới này thường gọi là thế
gian (loka). Cũng nên biết đức Phật vốn không phân biệt
thế giới và người nên cùng gọi là thế gian, vì thế gian
thật ra chính là kết hợp thức và danh sắc, tức chủ quan
và khách quan làm một mà gọi đó là hữu. Nếu đứng về
phương diện hữu mà quan sát thời thức là tự thân, mà danh
sắc cũng là tự thân, trong đó không có sự phụ thuộc tự
hay tha. Nhưng tại sao được gọi là thế gian? “Phật bảo
Tam-di-li-đề: 'Nguy khốn, hư hoại, đó gọi là thế gian. Thế
nào là nguy khốn, hư hoại? Này Tam-di-li-đề, mắt là pháp
nguy khốn, hư hoại. Nếu sắc, mắt, và thức, ba sự hòa hợp
thành nhãn xúc, nhãn xúc làm nhân duyên sinh ra cảm thọ bên
trong biết hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không khổ không vui;
tất cả thứ ấy cũng là nguy khốn, hư hoại. Tai, mũi, lưỡi,
thân, ý cũng lại như thế. Đó là những pháp nguy khốn, hư
hoại, nên gọi là thế gian.'” (Tạp A hàm, kinh số 231. Đại
tạng kinh Việt Nam) Mọi luân chuyển trong lục đạo cùng diễn
tiến trong thế gian. Đối với người thời đó là thế gian
của người, trong đó động vật và các hữu tình khác đang
chung sống. Tuy nhiên, đối với động vật thời đó là thế
gian của động vật, trong đó người và các hữu tình khác
đang chung sống. Vậy nên hiểu thế gian đó là chân trời
vô biên của chiều kích sinh diệt mở rộng dung thông các
cách thụ sinh vận mệnh khác nhau. Đây là tính cách vô biên
đặc trưng không gian tính của luân hồi. Và như vậy, luân
hồi trong đó nhân loại không là trung tâm điểm có tính cách
vô biên và vô cùng tận trong không gian và thời gian. Luân
hồi chính là chiều kích vô biên và vô cùng tận của sinh
diệt, trong đó nhân loại và các loài hữu tình khác đều
bình đẳng trên phương diện bản thể và cứu độ.
Tuy
nhiên, con người vẫn có một ý nghĩa đặc biệt so với các
sinh vật khác trong thế gian hữu tình. Là vì duy chỉ người
mới có tâm ý để chứng đạt sự bình đẳng giữa người
và các hữu tình khác. Các hữu tình khác tuy luân chuyển trong
các nẻo luân hồi, nhưng không hề hay biết đó là luân hồi
nghiệp báo. Chỉ có người mới biết sợ hãi về sống và
chết. Nhờ có tâm ý, con người có thể thấy biết bản chất
của sinh tử, đặt thành vấn đề giải thoát ra khỏi vòng
luân hồi sinh tử, ý thức về khả tính của giác ngộ, và
biết mưu cầu một cuộc sống tự do chân chánh vĩnh viễn.
Chỉ có người mới có khả năng nhận biết tính cách vô
thường của sắc thân, mới có khát vọng mong thoát khỏi
hữu hạn tính của hiện hữu, và nhiệt tình nỗ lực cố
phát khởi Phật tánh, phát Bồ đề tâm, tu tập luyện tâm
triển khai tuệ quán đặc biệt nhìn thẳng vào bản chất
hiện hữu của mình. Chỉ có người mới nhận biết vấn
đề sinh tử của mình là một thành phần trọng yếu của
vấn đề sinh diệt sâu rộng của tất cả chúng sinh.
Như
vậy, tìm hiểu về luân hồi là trách nhiệm của cá nhân.
Không có sự chứng nghiệm của bản ngã cá biệt về luân
hồi thời không có vấn đề sinh và chết, sinh và diệt. Tự
mình phải biết phản quan tự kỷ, bằng vào tri giác nội
tại mà nhận định thực chất của đời sống, hiểu khổ,
đoạn tập, chứng diệt, và tu đạo mới có thể giải quyết
vấn đề luân hồi sinh diệt đạt đến tịnh lạc tuyệt
đối, như được nói đến trong đoạn kinh Pháp Cú sau đây:
“Tự
mình làm điều ác
Tự
mình sanh nhiễm ô
Tự
mình không làm ác
Tự
mình thanh tịnh mình
Thanh
tịnh, không thanh tịnh
Đều
do tự chính mình
Ai
thanh tịnh cho ai?”
(Dhammapāda,
165. Thích Minh Châu dịch)
Nhưng
cá thể liên hệ mật thiết với nhau, không những chỉ trong
đời sống cộng đồng mà cả trong toàn thể hiện hữu. Cá
biệt tính chỉ là một phương diện của hiện hữu. Thật
ra, cá biệt tính là một hư cấu, vì không thể qui định
những giới hạn của nó, không thể biết chắc tầm rộng
và bờ mé của nó. Cá thể chỉ là cá thể bao lâu người
ta nghĩ đến chúng trong tương quan với nhau và với toàn bộ
cơ cấu mà chúng hợp thành. Một làn sóng một khi bị khuấy
động không thể không gây ảnh hưởng toàn phần của nước.
Nhận xét này phù hợp với tính pha bất tương ly trong thuyết
lượng tử vật lý học. David Bohm, nhà vật lý từng cộng
tác với thiên tài Albert Enstein, đã tựa vào tính tương quan
vô tận và vô ngại này để khai triển một triết lý về
toàn thể tính của tất cả hiện hữu, một hình thái của
thuyết Pháp giới Hoa Nghiêm.
Theo
Đại thừa, kỷ luật đạo đức và thành tựu tâm linh của
đức Phật không nằm yên nơi Ngài như một biến cố cô lập
trong đời sống cộng đồng mà Ngài tham dự. Khi Ngài giác
ngộ, toàn thể vũ trụ đều dự phần vào trí tuệ và đức
lý của Ngài. Lúc bấy giờ, theo kinh Hoa Nghiêm, giác ngộ của
Ngài đưa đến sự thấy biết tất cả chúng sinh đều có
trí huệ của Như Lai, tức Phật tánh, và do đó tất cả chúng
sinh như Phật không khác: “Phật tử! Trí huệ của Như Lai
không chỗ nào là chẳng đến. Vì không một chúng sinh nào
mà chẳng có đủ trí huệ của Như Lai, nhưng chúng chẳng
chứng đặng để thật hiện ra, là vì bởi chúng còn vọng
tưởng chấp trước”. (Kinh Hoa nghiêm. Phẩm 37: Như Lai xuất
hiện)Thiền sư D. T. Suzuki viết trong Thiền luận, Tập Trung,
Tuệ Sỹ dịch: “Với quan niệm Phật tánh, đức Phật lịch
sử trở thành một đức Phật siêu việt. Ngài hết còn là
ẩn sĩ của dòng họ Śākya, giờ đây Ngài là sự biểu lộ
của đức Phật vĩnh cửu, một hóa thân của Phật tánh, và
như thế Ngài không còn là một nhân cách cá biệt giới hạn
trong không gian và thời gian. Bản thể tâm linh của Ngài vượt
ra khỏi Ngài, và mọi năng lực của nó đều ảnh hưởng
đến đồng loại của Ngài trong sự tiến bộ hay tiến triển
của chúng hướng tới Phật quả. Ảnh hưởng này sẽ xảy
ra cân xứng với cường độ khát vọng và thành tín nỗ lực
mà chúng thúc đẩy để đạt tới mục đích. Mục đích đó
là tẩy sạch tội lỗi, và tội lỗi là do tin có thực tại
bản ngã (svabhāva), do chấp nhận những đòi hỏi của nó
là cùng đích, và không ý thức về sự tiềm ẩn của Phật
tánh trong chính mình.
“Do
đó, tẩy sạch tội lỗi, trên khía cạnh trí năng, là nhìn
vào cái chân lý rằng trong cái mà người ta cho là bản ngã
còn có cái hơn thế nữa; và trên khía cạnh thực hành là
muốn và thực hiện ý chí của cái siêu việt bản ngã nhưng
tác động qua cái bản ngã ấy.”
Tóm
lại, trong luân hồi, ngoài cái mệnh danh là bản ngã cá biệt,
còn có một năng lực gia trì hỗ trợ tương quan nội tại
với bản ngã, nhưng siêu việt những hạn cuộc của bản
ngã, không bị ràng buộc vào những giới hạn của cá biệt
tính. Đó là Phật tánh, là khả tính của giác ngộ, là tinh
thể của Phật quả. Không có Phật tánh thời Phật quả không
bao giờ đạt được trong thế gian. Phật tánh là một thực
tại siêu bản ngã nhưng nằm trong bản ngã của hết thảy
mọi chúng sinh. Chứng ngộ là tri kiến về bản ngã cá biệt
và đồng thời, về thực tại siêu bản ngã Phật tánh. Đối
với những ai chỉ mới chứng đạt sự giải thoát cho chính
mình ra khỏi vòng luân hồi sinh diệt mà không thấy kẻ khác
đồng thời giác ngộ và giải thoát như mình, thời đó chưa
phải là giải thoát trọn vẹn. Theo Đại thừa, giác ngộ
không phải là một công việc riêng tư chẳng can dự gì đến
khối lớn cộng đồng. Điểm tựa của nó được đặt ngay
trong lòng vũ trụ. “Khi mà tôi giác ngộ thời trọn cả Pháp
giới (Dharmadhātu) cũng giác ngộ. Thực sự cái lý giác ngộ
của tôi là cái lý của Pháp giới, cả hai buộc trói lẫn
nhau rất ư sít sao.” (D. T. Suzuki. Thiền luận. Tập Hạ) Khi
một người chứng đạt viên mãn Phật tánh, người ấy đồng
hóa mình với Phật tánh trong sinh mệnh của chính mình tức
là với toàn thể hiện hữu. Do đó, thấy biết hết thảy
chúng sinh mỗi mỗi đồng thời chứng đạt Phật tánh như
mình. Bởi vì lúc bấy giờ vượt lên trên chiều kích sinh
diệt của thế gian hữu tình, thực tại siêu bản ngã Phật
tánh hiển thị phổ biến cùng khắp. Đó là ý nghĩa của
câu kinh “Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tánh”.
TẤT
HỮU LÀ PHẬT TÁNH
Theo
truyền thống, câu “Tất hữu Phật tánh” có nghĩa là Phật
tánh hiện hữu trong mỗi mỗi chúng sinh như là khả tính thành
Phật. Hàm ý rằng ngay bây giờ tuy đang bị đắm chìm trong
bể sinh tử luân hồi, vì phiền não mà bị trói buộc, mất
tự do, nhưng trong tương lai, vào một lúc nào đó, chúng sinh
có thể giác ngộ và giải thoát, chính vì có sẵn chủng tử
thành Phật. Như thế, Phật tánh được hiểu như một đối
tượng vốn có và là mục đích nhắm đến của mọi nỗ
lực tu tập. Theo Đạo Nguyên, cách hiểu như vậy bị dính
mắc vào tư tưởng phân hai chủ thể và đối tượng, tiềm
tại và thật tại, trong và ngoài, hiện tại và vị lai, v..v...
Đó là sản phẩm của phân biệt, chấp trước, và phân biệt,
chấp trước là nguyên nhân của sinh tử luân hồi, là hành
trạng thuận dòng của thế gian (chỉ cho sinh tử) trói buộc,
không theo đúng lời Phật dạy: “Muốn bước vào con đường
của các bậc Thánh thời phải lội nghịch dòng sinh tử”.
Bởi
thế, mặc dầu trái nghịch qui tắc văn phạm, Đạo Nguyên
nhất quyết làm sáng tỏ ý nghĩa của Phật tánh đúng theo
cách ông hiểu Chánh Pháp. Theo ông, “Tất Hữu” là hết
thảy mọi hữu, hữu tình và vô tình, và “tất hữu Phật
tánh” là “Hết thảy mọi hữu là Phật tánh.” Đạo Nguyên
đọc hiểu “Tất Hữu là Phật tánh” làm đảo ngược toàn
diện sự tương quan liên hệ giữa Phật tánh và chúng sinh.
Phật tánh không là một tiềm năng, giống như hạt giống
nằm sẵn trong tâm của hết thảy chúng sinh để nẩy mầm
trong tương lai. Trong Chánh Pháp nhãn tạng (Shōbōgenzō), Phẩm
Phật tánh (Bussho), ông phản bác tư tưởng sai lầm cho rằng:
“Phật tánh là như hạt giống của cỏ cây; nhờ mưa Pháp
(tỷ dụ để gọi đạo lý của Phật) tẩm nhuận và nuôi
dưỡng, nên đâm chồi, nẩy mầm, khởi sinh cành, lá, hoa,
và quả, và quả ấy có hạt giống bên trong.” Đây chỉ
là quan điểm Phật tánh theo mục đích luận (teleology). Theo
ông, Phật tánh là chân thể tánh của vạn hữu. Hữu tình
và vô tình, bản nguyên là Phật tánh. Có bốn đặc điểm
đáng đề cập để tìm hiểu lập trường của Đạo Nguyên
về Phật tánh: ý nghĩa vũ trụ của Phật tánh, Phật tánh
không thực chất, Tất Hữu và Phật tánh không hai, và tư
tưởng đầy động lực Vô-thường-Phật-tánh.
Ý
NGHĨA VŨ TRỤ CỦA PHẬT TÁNH
Như
trình bày ở trên, chính trong chiều kích hữu tình mà khái
niệm luân hồi và giải thoát khỏi luân hồi tức niết bàn
được thi thiết. Nhưng Đạo Nguyên còn muốn vượt lên trên
chiều kích hữu tình, khẳng định “Tất Hữu là Phật tánh”,
xác quyết một chiều kích rộng lớn hơn nữa. Đó là chiều
kích Hữu bao gồm vạn hữu trong hữu tình thế gian và khí
thế gian. Chiều kích Hữu vượt lên trên chiều kích sinh diệt
và được gọi là chiều kích khởi diệt (kimetsu) hay chiều
kích có không (umu). Ở đây, sinh diệt có nghĩa sinh ra và biến
mất trên phương diện sinh học; còn khởi diệt thời nói
đến sự thành và hoại, sự có và không, đối với tạo
vật hữu tình và vô tình. Như vậy, theo Đạo Nguyên, vấn
đề sinh tử của con người thật sự được hoàn toàn giải
quyết chỉ khi nào vượt lên trên chiều kích sinh diệt của
hữu tình mà đặt nó vào trong chiều kích khởi diệt hay có
không chung cho toàn thể vạn vật trong vũ trụ. Đạo Nguyên
đặt cơ sở giải thoát con người trong chiều kích vũ trụ
bao la. Giải thoát không hạn cuộc riêng loài hữu tình, mà
bủa rộng lên khắp mọi loài tạo vật. Nhẫn đến súc sinh,
cây, đá, sông, núi, đều được bao gồm trong công trình giải
thoát, nghĩa là trong sự thành đạt Phật quả. Ông nhấn mạnh
“thiên giới bất tằng tàng” (henkaifusōzō), nghĩa là chẳng
bao giờ có sự vật gì bị che dấu trong toàn vũ trụ. Tức
có ý muốn nói đến sự hiển lộ toàn diện của Tất Hữu,
bao hàm người, hữu tình, và vô tình mà căn bản sở y cứu
cánh là toàn vũ trụ vô biên và vô cùng tận.
PHẬT
TÁNH KHÔNG THỰC CHẤT
Theo
Đạo Nguyên, chứng ngộ thực tại cứu cánh bao la tức Phật
tánh là chứng ngộ bản chất nguyên sơ của chiều kích Hữu
trong đó hết thảy mọi thực tại cá biệt tồn tại với
tính cách như thị, “nó là nó.” Trong Phẩm Phật tánh, Đạo
Nguyên giải thích: “Đức Thế Tôn dạy 'Nhất thiết chúng
sinh tất hữu Phật tánh', cốt yếu là muốn nói lên điều
gì? Đó là lời chỉ giáo về 'Cái gì đến như vậy?' (Thập
ma vật nhẫm ma lai)”
Câu
hỏi “Cái gì đến như vậy?” được ghi lại trong Truyền
đăng lục khi Nam Nhạc Hoài Nhượng đến tìm và lần đầu
tiên gặp Lục tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Nhà ngươi từ đâu
đến?” Trả lời: “Từ Tung sơn đến.” Tổ hỏi thêm:
“Cái gì đến như vậy?” Nam Nhạc lúc ấy không biết trả
lời như thế nào. Ông bỏ tám năm trường vật lộn với
câu hỏi và cuối cùng đi đến giải quyết bằng câu đáp:
“Nói tợ như vật gì đều chẳng đúng” (Thuyết tự nhất
vật tức bất trúng).
Câu
hỏi “Cái gì đến như vậy?” mà Nam Nhạc mất tám năm
để tìm cách trả lời là một nghi vấn về tự tánh (svabhāva)
của thực tại, căn cơ trên đó mỗi cá thể đều có lý
tánh tuyệt đối của mình. Trong trường hợp Đạo Nguyên,
nó chỉ vào ý nghĩa trọng yếu của lời ông đoan quyết “Tất
Hữu là Phật tánh.” Ngay câu hỏi lúc khởi đầu, “Từ
đâu đến?” cũng không phải là một câu hỏi tầm thường
khách sáo. Các Thiền sư thường hỏi tăng chúng “cái gì?”,
“từ đâu đến?” là cốt dò biết sở ngộ của họ về
chân lý cứu cánh của Phật pháp. Sử dụng những nghi vấn
từ “cái gì?”, “từ đâu đến?”, hay những cách ngôn
phủ định, hay những xác nhận phản lý là phương cách Thiền
phát biểu nhằm đánh thức giác quan nội tại trực quán bản
tánh thực tại, soi thấy yếu tính của sự vật như thế
là như thế (yathābhūtam). Những nghi vấn từ “cái gì?”,
“từ đâu?” mang bản tướng của như thật tính (yathābhūtatā),
hay nói đơn giản, là phát biểu của Chân như (Tathatā). Chúng
thay thế những từ ngữ như: Bất khả đắc, Bất khả tư
nghị, Nan giải, Viễn ly (lìa xa mọi nhận thức), Bất khả
liễu tri (hoàn toàn không thể hiểu thấu), v..v... thường
gặp trong kinh Bát nhã ba la mật xuất phát từ cõi tánh Không,
và dùng diễn tả thế giới nội tại của vạn hữu, một
thế giới vượt ra ngoài môi trường của tri thức tương
đối, đối đãi.
Như
vậy, “cái gì” hay “từ đâu” không thể lãnh hội bằng
trí óc, không thể gọi tên, không là vật đối tượng, không
thể nắm giữ, và vì thế mà vô biên và vô hạn. Phật tánh
cũng thế, vô biên và vô hạn, không có phẩm tính, danh tính,
thuộc tính, hay sắc tướng, bởi vậy cho nên có thể dùng
những nghi vấn từ trên mà phát biểu. Đó là lý do khiến
Đạo Nguyên nhận thấy câu hỏi “Cái gì đến như vậy?”
đúng là yếu chỉ của lời ông xác quyết “Tất Hữu là
Phật tánh”.
Với
Đạo Nguyên, Phật tánh không phải là cái gì đó bất khả
danh và bất khả đắc, cái gì đó vô biên và vô hạn. Nếu
Phật tánh là cái gì không thể gọi tên thời nó quả là
sự vật có tên là “bất khả danh”. Nếu Phật tánh là
cái gì không có biên giới, thời trong thực tế nó không phải
hoàn toàn vô biên, mà thật ra đã bị giới hạn bởi hay phân
biệt với cái khác có biên giới. Như vậy, Phật tánh không
phải là “cái bất khả danh”, mà Phật tánh là “bất khả
danh”. Đồng thời, “bất khả danh” là Phật tánh. Phật
tánh không phải là “cái vô biên”, mà là “vô biên”.
Đồng thời, “vô biên” là Phật tánh. Nói cách khác, Phật
tánh không thực chất (non-substantial), vô tự tính, vô nhất
vật (Không có vật, đây muốn nói: Không có sinh diệt). Do
đó, nghi vấn từ “cái gì” hay “từ đâu” không biểu
tượng Phật tánh. Vì nếu nó biểu tượng Phật tánh thời
đằng sau từ “cái gì” tất còn có một sự vật được
“cái gì” biểu tượng. Bởi Phật tánh không thực chất,
cho nên chính ngay “cái gì” là Phật tánh, và đồng thời,
chính ngay Phật tánh là “cái gì”. Hiểu như vậy thời câu
“cái gì đến như vậy” không duy chỉ một câu hỏi mà
còn là một sự chứng đạt Phật tánh.
Như
thế, thử hỏi đối với Phật tánh, các vật thể đặc thù
hay phẩm tính riêng biệt có ý nghĩa như thế nào? Vì Phật
tánh không thực chất, cho nên không có vật thể đặc thù
hay phẩm tính riêng biệt nào trong vũ trụ tương ưng với
hay biểu tượng bởi Phật tánh. Ta có thể bảo một vật
thể đặc thù là một tác pháp (mode) của “cái gì”; một
phẩm tính riêng biệt là một thuộc tính (attribute) của “cái
gì”. Ví như nói đến một cây tùng là nói đến tác pháp
của “cái gì”, tức là một tác pháp nhưng không tác giả.
Cây tùng là “đến như vậy” từ “cái gì” trong câu hỏi
“Cái gì đến như vậy?”. Vậy cây tùng là đương thể
cây tùng, không hơn không kém. Nói đến tư tưởng là nói
đến thuộc tính của “cái gì”, tức là một tính chất
không tòng thuộc bất cứ sự vật nào. Vậy tư tưởng là
vật tự thân tư tưởng, không hơn không kém. Chính là “đến
như vậy” của tư tưởng trong câu hỏi “Cái gì đến như
vậy?”.
Khi
Lục tổ Huệ Năng hỏi Nam Nhạc, “Cái gì đến như vậy?”,
câu hỏi chỉ thẳng vào nhân cách cá biệt của Nam Nhạc.
Nhân cách này là tác pháp của “cái gì”, tác pháp nhưng
không tác giả. Nếu Nam Nhạc thông chứng cái nhân cách ấy
là “đến như vậy” từ “cái gì”, tất nhiên Nam Nhạc
chứng đạt Phật tánh của mình. Nhưng Nam Nhạc đã mất tám
năm công phu và cuối cùng thốt lên “Nói tợ như vật gì
đều chẳng đúng”!
Vật
tự thân Huệ Năng là “Cái gì đến như vậy”. Cả anh và
tôi cũng chính là “Cái gì đến như vậy”. Thân và tâm,
cây và cỏ, trời và đất cũng vậy, đều là “Cái gì đến
như vậy”. Hết thảy mọi sự vật trong vũ trụ đều là
“Cái gì đến như vậy”. Đó chính là ý nghĩa của câu
“Tất Hữu là Phật tánh”. Hơn nữa, Đạo Nguyên nhấn mạnh
rằng trong toàn vũ trụ chẳng bao giờ có sự vật gì bị
che dấu. Vì Phật tánh không thực chất, mà là “cái gì”,
cho nên tự tánh của mỗi mỗi sự vật đặc thù trong vũ
trụ hiển lộ dưới sắc thái Chân như của chúng. Vậy theo
Đạo Nguyên, chứng ngộ Phật tánh là một khẳng nhận bao
la hiện hữu.
TẤT
HỮU VÀ PHẬT TÁNH KHÔNG HAI
Theo
chủ trương Tất Hữu là Phật tánh của Đạo Nguyên, muốn
hoàn toàn giải quyết vấn đề sinh tử một cách chính đáng
và chứng đạt Phật tánh một cách viên mãn thời trước
hết phải đủ khả năng đột phá mọi ngăn che phân ly cá
thể với toàn thể vạn vật để vượt lên trên chiều kích
sinh diệt của hữu tình đặt cá thể vào trong chiều kích
Hữu, chiều kích vô thường có không của vũ trụ. Sau đó
là nỗ lực vứt bỏ cứ điểm tương đối tính được dựng
lên trên lưỡng nguyên, siêu thoát ra khỏi chiều kích Hữu
ấy. Nhưng mong cầu giác ngộ là vì lợi ích không chỉ riêng
cá thể mà vì lợi ích của tất cả, cho nên không những
chỉ là siêu thoát ra khỏi mà đồng thời chối từ sự vượt
ra khỏi đó. Như vậy, sự vượt lên trên chiều kích Hữu
đồng thời là sự trở về lại chiều kích ấy, thành tựu
sự thực chứng Tất Hữu như Tất Hữu.
Nói
một cách cụ thể hơn, hiện thực sự giác ngộ và giải
thoát là bằng những tâm linh cá biệt của mỗi người. Muốn
chứng đạt Phật tánh, con người phải phá bỏ ngã chấp,
lìa xa tư tưởng con người và các loài hữu tình khác là
trung tâm của luân hồi, và đồng hóa mình với toàn thể
hiện hữu, tức là đặt sinh mệnh của mình trong chiều kích
vô thường có không của Tất Hữu. Thấy biết tính cách vô
thường có không của Tất Hữu là điều kiện cần thiết
và quan trọng nhất để chứng đạt Phật tánh.
Khi
lưu ý chúng ta đến quan điểm “đồng thời thành đạo”
(dōji ōdō) của ông, Đạo Nguyên muốn thuyết minh rằng nếu
ngộ được Phật tánh trong bản ngã bằng cách đặt cá thể
hữu hạn vào trong chiều kích Hữu vô hạn và tu tỉnh tự
giải thoát mình ra khỏi tánh vô thường có không của vạn
hữu, thời lúc ấy mọi sự vật trong vũ trụ đều cùng chứng
đạt Phật tánh như mình. Đó là do cá thể nhìn nỗi khổ
của bản thân trong mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với
cả thế giới, cho nên chân lý được chứng nghiệm ở đây
là chân lý toàn diện, phổ quát, là sự thật không chỉ liên
hệ đến bản thân cá biệt, mà đến hết thảy mọi hữu
trong vũ trụ. Nói cách khác, sự giác ngộ không mang tính chất
cá biệt, mà là sự giác ngộ toàn diện, đại đồng, nghĩa
là sự giải thoát và giác ngộ luôn luôn nằm trong quan hệ
mật thiết giữa cá thể và toàn thể vạn vật.
Biến
cố đại đồng giải thoát mở tung chân trời bao la vạn tượng
của Phật tánh cùng khắp mọi phương và quyết định cơ
Giác ngộ ở mỗi người do giải hoặc nghiệp thoát ra ngoài
quả khổ Tam giới (Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới).
Cách Đạo Nguyên hiểu “Tất Hữu là Phật tánh” diễn tả
đúng cái cảm giác siêu thoát thành công bẻ gãy giới hạn
phân biệt cá thể, vượt ngoài đối đãi, nhận thức được
như ước muốn cái chừng như không trực thuộc bản ngã,
và thành tựu một tính chất bất khả.
Trong
chứng nghiệm “Tất Hữu là Phật tánh” của Đạo Nguyên,
Phật tánh là nơi quy hướng của chiều kích có không của
Tất Hữu, chiều kích này vô biên và vô cùng tận. Mặt khác,
do cá thể tự giải thoát mình ra khỏi luân hồi có không
của vạn vật, Phật tánh chứng đắc không thực chất, vô
nhiễm, vô tướng, không có pháp đối đãi, luôn luôn có mặt.
Bởi thế cho nên, mệnh đề “Tất Hữu là Phật tánh” không
trực tiếp đồng nhất hóa vạn hữu và Phật tánh. Sự đồng
nhất giữa Tất Hữu và Phật tánh hiện thực chỉ khi nào
thành tựu chứng ngộ “cái gì”, nghĩa là chỉ khi nào chứng
được tính không thực chất của Phật tánh và đồng thời
chứng được tính vô biên và vô hạn của chiều kích Hữu.
Vậy do thiền quán giác nghiệm và chứng thực, Tất Hữu và
Phật tánh không hai. Trong Phẩm Phật tánh, Đạo Nguyên khẳng
định: “Phật tánh luôn luôn là Tất Hữu, tại vì Tất Hữu
là Phật tánh”.
Để
làm sáng tỏ tính không thực chất của Phật tánh, Đạo Nguyên
hay nhắc đến từ ngữ “vô-Phật-tánh” (mubusshō) [Xin lưu
ý hai ngang nối, giữa vô và Phật, giữa Phật và tánh] trong
những lần kể lại và giải thích theo cách riêng của ông
những lời nói và câu chuyện trao đổi giữa các Thiền sư
đời trước. Trong một trường hợp như vậy, ông thuật lại
câu nói của Qui Sơn Linh Hựu (771-853): “Tất cả chúng sinh
không có Phật tánh” và nói: “Đức Phật Thích Ca dạy rằng
'Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tánh.' Qui Sơn nói rằng
'Nhất thiết chúng sinh vô Phật tánh.' Trên nguyên tắc, hai
tiếng hữu và vô hoàn toàn khác biệt. Nảy sinh nghi ngờ không
biết câu nào đúng thời đó là điều dễ hiểu. Tuy nhiên,
trong Phật đạo, duy câu 'Nhất thiết chúng sinh vô Phật tánh'
là ưu việt.”
Đạo
Nguyên đọc hiểu cụm từ “vô Phật tánh” của Qui Sơn
là “vô-Phật-tánh” (mubusshō). Ông giải bày: “Chân lý
như thị của 'vô-Phật-tánh' được truyền thụ đã lâu,
vang động ra khỏi thánh đường của Tứ Tổ. Nó được thấy
và nghe tại Hoàng Mai, truyền đạt đến Triệu Châu, và xướng
tụng ở Qui Sơn. Các người phải không ngớt chuyên tâm vào
chân lý của 'vô-Phật-tánh', chớ bao giờ xao lãng.”
Các
đoạn văn trên gây bất ngờ rất lớn nếu đem so với những
lần Đạo Nguyên đoan quyết “Tất Hữu là Phật tánh”.
Càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghe ông bình luận về câu nói
của Qui Sơn như sau: “Chân lý của ngôn từ Qui Sơn là chân
lý của câu 'Nhất thiết chúng sinh vô Phật tánh'. Nói như
vậy không phải muốn nói 'vô Phật tánh' của Qui Sơn là vô
biên và vô định. Chân lý ấy Qui Sơn thâu nhận được từ
các kinh điển ông ta đã thâm nghiệm. Các người phải tầm
căn vấn đế sâu xa hơn nữa. Làm thế nào hết thảy chúng
sinh là Phật tánh? Làm thế nào hết thảy chúng sinh đều
có Phật tánh? Giả thử một chúng sinh nào đó bắt buộc
phải có một Phật tánh, thời chúng sinh ấy thuộc bọn tà
giáo ma quỉ. Như thể đem một yêu quái đến rồi tìm cách
phủ nó lên đầu của một chúng sinh.”
Mới
nghe thoáng qua, những lời phát biểu như vậy quả là một
sự chối bỏ hoàn toàn quan niệm truyền thống cho rằng trong
mỗi mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Nhưng nếu suy nghĩ
kỹ càng hơn, ta hiểu ngay Đạo Nguyên dùng cụm từ “vô-Phật-tánh”
không phải để đối lập Phật tánh, mà để chỉ vào cái
“vô Phật tánh” đạt được do sự thức tỉnh của giác
quan nội tại vốn là Bát nhã hay Nhất thiết trí. Vậy theo
cái nhìn của tâm vô phân biệt dung hội thông suốt tự tại,
“vô-Phật-tánh” không bị chi phối bởi lưỡng tính của
có và không, vì thế chẳng liên quan đến “Phật tánh”
hay “vô Phật tánh”.
Câu
chuyện sau đây cho thấy một lần nữa cách đọc hiểu văn
tự kinh điển khác thường của Đạo Nguyên. Đạo Nguyên
kể lại buổi Huệ Năng đến tham bái Ngũ tổ Hoằng Nhẫn
để xin học Thiền.
Tổ
sư hỏi: “Ông từ đâu đến?”
Huệ
Năng đáp: “Lĩnh Nam”
Tổ
hỏi: “Ông muốn cầu gì?”
Đáp:
“Chỉ cầu làm Phật”.
Tổ
nói: “Người Lĩnh Nam không có tánh Phật (vô Phật tánh),
sao làm Phật được?”
Huệ
Năng đối lời: “Người có Nam Bắc, nhưng Phật tánh đâu
có phân biệt Bắc Nam?”
Đạo
Nguyên bình luận: “Câu Tổ nói 'Người Lĩnh Nam vô Phật
tánh' không có nghĩa là người Lĩnh Nam không có Phật tánh
hay có Phật tánh. Tổ muốn nói 'người Lĩnh Nam, vô-Phật-tánh.'
Câu 'sao làm Phật được?' có nghĩa là 'Phật nào nhà ngươi
mong thành?'”
Ở
đây, Đạo Nguyên không quan tâm đến có hay không có Phật
tánh. Ông chú trọng duy chỉ Phật tánh, Phật tánh không thực
chất, Phật tánh vô tự tính. Chúng ta hay bận tâm về vấn
đề có hay không có Phật tánh. Như thế, một cách vô ý thức
chúng ta tích cực hay tiêu cực biến Phật tánh thành một
đối tượng của tri thức. Vì Phật tánh là “cái gì” vô
thủ trước, bất khả đắc, và bất khả tư nghị, nên nói
có hay không có Phật tánh là vô nghĩa. Theo Đạo Nguyên, Hoằng
Nhẫn nói vô Phật tánh, tại vì Phật tánh là Không tánh.
Ông
nhấn mạnh thêm: “Đây là chân lý về Phật tánh: Không thấy
được Phật tánh trước khi chứng đạt Phật quả; thấy
Phật tánh ngay khi chứng đạt Phật quả. Phật tánh hiển
thị đồng thời với chứng quả. Chân lý này phải thiền
quán thông nhập một cách thâm sâu. Phải trải qua một quá
trình tinh tấn hành Thiền dài hai mươi hay có thể ba mươi
năm.” Nói một cách ngắn gọn, không hành Thiền không có
Ngộ. Không Ngộ chẳng phải Thiền. Ngộ là thấy tánh (Kiến
tánh). Tánh là Phật tánh. Trong tác phẩm “Sáu cửa Thiền
thất”, Trúc Thiên dịch, ghi lại những giáo lý căn bản
của Thiền Đạt Ma, bài Huyết mạch luận luận về kiến
tánh có đoạn phát biểu ý nghĩa tương tợ: “Nếu thấy
tánh tức là Phật. Không thấy tánh tức là chúng sinh. Nếu
lìa tánh chúng sinh thời không có tánh Phật nào khác chứng
được. Phật nay tại nơi đâu? Tánh chúng sinh tức là tánh
Phật vậy. Ngoài tánh không Phật. Phật tức là tánh. Trừ
tánh ấy ra, không Phật nào có được. Ngoài Phật, không tánh
nào có được.”
Nếu
chứng được bản nguyên chúng sinh là Phật tánh, thời không
cần phải nói là có Phật tánh. Nói đơn giản chúng sinh là
chúng sinh cũng đủ. Nói chúng sinh có Phật tánh chẳng khác
nào vẽ rắn thêm chân. Vì thế, Đạo Nguyên mới nhận xét:
“Làm thế nào hết thảy chúng sinh là Phật tánh? Làm thế
nào hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh? Giả thử một
chúng sinh nào đó bắt buộc phải có một Phật tánh, thời
chúng sinh ấy thuộc bọn tà giáo ma quỉ. Như thể đem một
yêu quái đến rồi tìm cách phủ nó lên đầu của một chúng
sinh.”
Nhắc
đến ý niệm vô-Phật-tánh của ông, Đạo Nguyên tiếp tục:
“Vì Phật tánh chỉ là Phật tánh, cho nên chúng sinh chỉ
là chúng sinh.” Khi nhận thấy chung cùng Phật tánh là Phật
tánh và chúng sinh là chúng sinh, thời chứng được Phật tánh
và chúng sinh là hai mặt của cùng một thực tại đầy động
lực. Trên phương diện tu dưỡng, thấy được Phật tánh
tức là trực nghiệm Phật tánh và chúng sinh không hai. Nhưng
chớ có hòng không chứng quả Bồ đề mà thấy được Phật
tánh. Đó là lý do vì sao Đạo Nguyên đọc hiểu câu 'Người
Lĩnh Nam vô Phật tánh' của Tổ là 'người Lĩnh Nam, vô-Phật-tánh.'
Ý ông muốn nói cái nhìn như thật chính nó của những người
ở Lĩnh Nam không bị ràng buộc vào tư tưởng phân hai là
họ có hay không có Phật tánh. Vô-Phật-tánh tự thân là tự
do, là giải thoát, là chân thật chứng ngộ. Bởi thế, đối
với Đạo Nguyên, truyền giảng có Phật tánh hay không có
Phật tánh là phỉ báng Phật pháp. Quan điểm vô-Phật-tánh
của ông làm sáng tỏ tính không thực chất của Phật tánh,
bác bỏ cả hai biên kiến xem Phật tánh là thực chất, một
đằng thường kiến khẳng định Phật tánh, và đằng kia,
đoạn kiến phủ định Phật tánh.
Giống
như Phật tánh không thực chất, Tất Hữu (shitsuu) có thể
ví như “thùng sơn lủng đáy”, nghĩa là vô thủ trước,
bất khả đắc, và vô biên. Với cách đọc hiểu câu “Nhất
thiết chúng sinh tất hữu Phật tánh” là “Tất cả là chúng
sinh, Tất Hữu (hết thảy mọi hữu) là Phật tánh”, Đạo
Nguyên muốn quảng diễn ý nghĩa của hai chữ Phật tánh (busshō)
và chúng sinh (shujō) theo một chiều kích rộng lớn hơn. Trong
Phẩm Phật tánh, ngay sau khi bảo “Tất Hữu là Phật tánh”,
ông tiếp tục viết: “Tôi gọi toàn bộ Tất Hữu là shujō
(chúng sinh). Chỉ khi nào sự vật là như vậy thời cả trong
lẫn ngoài, shujō tự nó là Tất Hữu của Phật tánh.” Điều
này có nghĩa là tất cả chúng sinh (shujō), hữu tình hoặc
vô tình, đương thể là Phật tánh. Ông giải thích: “Giống
như trường hợp hữu tình, trong Phật đạo, mọi sự vật
có tâm đều gọi là chúng sinh (shujō). Đó là do bởi tâm
tự nó là chúng sinh. Những sự vật không có tâm cũng là
chúng sinh, tại vì hết thảy chúng sinh đương thể là Phật
tánh. Cỏ và cây, quốc độ và lãnh thổ, đều là tâm. Vì
chúng là tâm nên chúng là chúng sinh. Bởi tại chúng là chúng
sinh nên đương thể chúng là Phật tánh. Mặt trời, mặt trăng,
và tinh tú là tâm. Bởi chúng là tâm nên chúng là chúng sinh.
Bởi tại chúng là chúng sinh nên đương thể chúng là Phật
tánh.”
Như
vậy, đối với Đạo Nguyên, chúng sinh(shujō), Tất Hữu (shitsuu),
tâm, và Phật tánh chung cùng đều đồng một nghĩa. Tuy nhiên,
Đạo Nguyên nhấn mạnh nhiều nhất đến quan điểm “Tất
Hữu là Phật tánh”. Tất Hữu không đối lập với phi hữu.
Tất Hữu vượt ngoài phân biệt, chấp trước, và không có
tự tính, như được Đạo Nguyên cắt nghĩa trong đoạn văn
sau đây.
“Các
người phải hiểu rằng, hết thảy mọi hữu (Tất Hữu),
một và tất cả, phát sanh từ Phật tánh không phải là cái
hữu của có và không. .... Chữ Tất Hữu (shitsuu) không chỉ
vào thỉ hữu (shiu), hay bản hữu (honnu), hay diệu hữu (myōu),
hay bất cứ sự vật gì tương tợ. Và Tất Hữu cũng không
phải là duyên hữu (en-u) hay vọng hữu (mòu). Chữ ấy không
liên quan đến tâm và vật, thực chất và sắc tướng, v.v...”
Có
điều đáng thắc mắc ở đây là tại sao Tất Hữu hay hết
thảy mọi hữu một đằng chỉ số nhiều, mà đằng khác
lại đồng nhất với Phật tánh? Để giải đáp vấn đề,
hãy trở lại với câu Tổ Huệ Năng hỏi Nam Nhạc: “Cái
gì đến như vậy?” (Hán: Thập ma vật nhẫm ma lai. Nhật:
kore shimobutsu immorai) Đạo Nguyên cho rằng chữ “như vậy”
(nhẫm ma; immo ni) là từ ngữ thích đáng để mô tả Phật
tánh. Trong Phẩm Immo (nhẫm ma), ông vin vào lời Nam Nhạc lưu
ý chúng ta rằng “như vậy” (immo) là bất khả đắc, “không
như vậy” là bất khả đắc, cả “như vậy” và “không
như vậy” đều bất khả đắc. Điều này chứng tỏ chữ
“như vậy” trong câu “Cái gì đến như vậy?” không hẳn
đơn giản là khẳng định. Thật ra, “như vậy” không khẳng
định, không phủ định, không bị ràng buộc vào sự chấp
có, chấp không. Sự thể hiện hết thảy mọi hữu đến “như
vậy” từ “cái gì” chính là cái biểu hiện của tâm vô
phân biệt. Bởi thế cho nên câu “Cái gì đến như vậy?”
được xem như biểu trưng yếu chỉ của câu “Tất Hữu là
Phật tánh”. Do đó, Tất Hữu đương nhiên đồng một nghĩa
với “như vậy”. Diễn tả cái nhìn như thật chính nó,
cái nhìn của tâm vô phân biệt, văn học Thiền có những
câu: Trời xanh, mây trắng, liễu lục, bông hồng, hay núi chỉ
là núi, nước chỉ là nước. Nhất là hai câu thơ nổi tiếng
của thi hào Tô Đông Pha, một đại phu đời nhà Tống trong
bài thơ Lô sơn yên tỏa Triết giang triều: “Đến rồi đích
thật không gì khác, Khói tỏa Lô sơn sóng Triết giang.” (Đáo
đắc hoàn lai vô thị sự, Lô sơn yên tỏa Triết giang triều)
Cũng vậy, qua cái nhìn của tâm vô phân biệt khi mắt đã
được mở ra (giác ngộ), chúng ta nói: “Anh chỉ là anh, tôi
chỉ là tôi. Và ngay bây giờ, hết thảy mọi hữu đương
là Phật tánh.”
VÔ-THƯỜNG-PHẬT-TÁNH:
MỘT TƯ TƯỞNG ĐẦY ĐỘNG LỰC
Đạo
Nguyên đọc hiểu “Tất Hữu là Phật tánh” và “vô-Phật-tánh”
như nói trong phần trên là nhằm mục đích đả phá quan niệm
thông thường nhận thức Phật tánh và chúng sinh như những
đối tượng có thực chất. Với ý niệm “vô-Phật-tánh”,
ông đã đạt được mục tiêu là phủ nhận cả hai biên kiến,
thường kiến và đoạn kiến, nhận lầm Phật tánh là thực
chất. Tiến xa hơn nữa, để làm sáng tỏ hiện tướng bản
thể vũ trụ và bản thể vũ trụ là một, Tất Hữu và Phật
tánh không hai, ông đề xướng “Vô thường (mujō) tức Phật
tánh”.
Vô
thường cùng với khổ, không, và vô ngã là bốn đặc tính
của mọi hiện hữu, là những yếu tố căn bản thường được
gọi là Bốn pháp ấn của toàn bộ giáo lý đức Phật. Theo
nguyên lý “Chư hành vô thường”, tất cả hiện hữu đều
thoáng chốc và giả tạm, không có gì giữ nguyên dạng trong
hai khoảnh khắc kế tiếp nhau. Sở dĩ thấy các pháp đổi
thay vô thường là vì ta nhìn chúng qua tướng trạng biểu
hiện bên ngoài. Đó là đứng về mặt biểu dụng, các pháp
hiện hữu theo giả hợp về hiện tướng qua giả danh. Vì
chúng hiện hữu qua tướng giả hợp nên được coi như là
tướng Giả, không thật, không có tự tính độc lập ngoài
các duyên, nên về mặt thể, chúng là Không. Mặt khác, vì
tướng Giả luôn luôn thể hiện tính chất vô thường bất
định của các pháp, nên giả tướng luôn luôn hóa dịch đổi
mới không ngừng qua luật tắc Duyên khởi mà hiện hữu. Vậy
đứng về mặt giả định tương đối, Vô thường chính là
tướng giả hợp (Tướng) và Duyên khởi là tướng hóa dịch
của các pháp (Dụng). Theo ngài Thiên Thai, chính ngay nơi dụng
và tướng là thể, chính nơi thể là tướng là dụng bất
tương ly. Nghĩa là, Giả và Không không tách biệt riêng, ngoài
Giả có Không, ngoài Không có Giả, mà chính Giả là Không,
Không là Giả. Đó là Trung đạo đế, đúng theo lời phát
biểu của Bồ tát Long Thọ trong bài tụng Trung luận, XXIV.18:
“Các pháp do duyên khởi, nên ta nói là Không, là Giả danh,
và cũng chính là Trung đạo.”
Ngoài
ra, nói đến tánh vô thường tức là đã thời gian hóa các
pháp, nghĩa là đóng khung chúng vào trong một thời gian nào
đó, biến chúng thành biểu tượng, và gán chúng những tên
gọi. Một khi trên thực tế các pháp đã bị thời gian chi
phối, thời chúng đã mất đi tính viên dung hóa dịch, trở
thành sự vật không còn sống động biến dịch trong từng
sát na như chúng đang hiện hữu hay chúng đang là. Trong trường
hợp này, chúng ta không nhìn thấy được Trung đạo là vì
chúng ta chỉ nhìn có một khía cạnh, khía cạnh vô thường
đối lập với khía cạnh thường, chứ không thấy được
vô thường trong thường và thường trong vô thường. Ý niệm
vô-thường-Phật-tánh của Đạo Nguyên siêu việt tổng hợp
hai khái niệm Phật tánh và Tất Hữu là một phương tiện
biểu hiện tính viên dung hóa dịch của thể-tướng-dụng
của các pháp, đúng theo chân lý Trung đạo.
Bài
kệ tám câu sau đây trích từ Phẩm Phương tiện, kinh Pháp
Hoa, HT Thích Thiện Siêu dịch giải, có thể giúp hiểu phần
nào ý niệm Vô-thường-Phật-tánh của Đạo Nguyên.
“Chư
Phật lưỡng túc tôn, Tri pháp thường vô tánh, Phật chủng
tùng duyên khởi, Thị cố thuyết nhất thừa. Thị pháp trụ
pháp vị, Thế gian tướng thường trú, Ư đạo tràng trí dĩ,
Đạo sư phương tiện thuyết.”
Dịch:
“Các đức Phật lưỡng túc tôn, biết pháp thường vô tánh,
giống Phật theo duyên mà hiện khởi, cho nên mới nói pháp
nhất thừa là pháp trụ pháp vị, tướng thế gian thường
trú, đức Phật ở nơi đạo tràng chứng biết rồi, đấng
Đạo sư phương tiện nói ra.”
“Chư
Phật lưỡng túc tôn”: Phước đức và trí tuệ, hay Đại
Bi và Đại Trí, hai đức tánh tôn quý đó Phật đã thành
tựu, nên Ngài được tôn xưng là Lưỡng Túc Tôn.
“Tri
pháp thường vô tánh”: Đức Phật biết rõ các pháp thường
vô tự tính, có nghĩa rằng chúng sinh chỉ biết các pháp trên
mặt giả tướng. Bất cứ một pháp nào, tự nó cũng đủ
chân lý ba mặt là Không, Giả, và Trung. Chúng sinh không biết
được nghĩa thật tướng của các pháp là Không, là Giả,
là Trung đạo. Biết các pháp thường vô tánh tức là biết
các pháp trọn vẹn ở trong ba thật tướng, Không, Giả, và
Trung, của các pháp.
“Phật
chủng tùng duyên khởi, Thị cố thuyết nhất thừa”: Đức
Phật biết giống Phật phải theo cơ duyên mà hiện khởi.
Giống Phật, chủng tử Phật, Phật tánh, nếu không gặp duyên
để phát khởi thời vẫn nằm yên dưới lớp bùn dơ phiền
trược. Phát khởi đây là phát khởi tướng chứ không phát
khởi tánh. Ngài Thiên Thai do đó chia Phật tánh ra làm ba thứ:
Chánh nhơn Phật tánh, duyên nhơn Phật tánh, và liễu nhơn
Phật tánh. Chánh nhơn Phật tánh tức là lý tức Phật, nghĩa
là Phật trên lý. Dù rằng chúng sinh không biết gì tới Phật
cũng đều là chánh nhơn Phật tánh, bởi vì tự bản tánh
của chúng sinh vốn có trí giác ngộ thành Phật. Lại phải
có duyên nhơn Phật tánh, như gặp Phật, nghe được giáo lý
nhất thừa thời chánh nhơn Phật tánh mới thành tựu được.
Khi duyên nhơn Phật tánh thành tựu đầy đủ thời chánh nhơn
Phật tánh hiển lộ một cách trọn vẹn, cho nên gọi là liễu
nhơn Phật tánh. Cái duyên làm phát khởi Phật chủng là nhất
thừa giáo, cho nên đức Phật nói lý nhất thừa.
“Thị
pháp trụ pháp vị”: Pháp nhất thừa là Chân như, pháp trụ
pháp vị, đồng nghĩa với Chân như thật tướng, chỉ tánh
bình đẳng nhất như, tánh thường hằng trong tất cả các
pháp. Thị pháp là chỉ cho chư pháp thường vô tự tính, tức
thật tướng. Chính “Vô tự tính” là cái tướng thường
còn không biến dịch, không thay đổi, vẫn luôn luôn ở trong
lý thật tướng, ở trong bản vị của nó, mặc dầu hiện
hữu mà ở trong bản vị lý tánh. Tướng lửa đỏ chỉ hiện
lên trong tánh nóng, chứ không thể hiện lên trong tánh ướt.
Sóng chỉ hiện lên trên nước, chứ không hiện lên trên đất.
Pháp trụ pháp vị có nghĩa là tất cả mọi hiện tướng
đều hiện lên trong lý thể, lý tánh của chúng. Như vậy,
tất cả những tướng thế gian đều trụ pháp vị, hiện
lên trên tự thể bản vị của chúng.
“Thế
gian tướng thường trú”: Bởi Lý tức Sự, Sự tức Lý,
cho nên quy tướng về tánh, quy sóng về nước thời sóng tức
nước, nước tức sóng. Nước là thường, sóng ở trong nước
sóng là thường. Đó là thế gian tướng thường trú. Đây
là theo nghĩa của Hiển giáo. Theo Mật giáo, thời tức tướng
tức tánh, tướng tánh bất ly, như mặt trời và ánh sáng.
Mặt trời là tánh là thể, mà ánh sáng là tướng là dụng.
Thể, tướng, dụng đó bất tương ly. Do đó, mặt trời là
thường thời ánh sáng mặt trời là thường. Cũng vậy, những
hiện tướng của thế gian vẫn ở trong tự thể bản vị
của thế gian, bất tương ly, cho nên gọi thế gian tướng
thường trú.
“Ư
đạo tràng trí dĩ, Đạo sư phương tiện thuyết”: Đức
Phật ở nơi đạo tràng, chứng ngộ được lý thật tướng
đó, nhưng tự giác thánh trí lìa tướng ngôn thuyết, lìa
tướng tâm duyên, tự chứng được ở bên trong, chẳng phải
chỗ hiển bày của vọng tưởng ngôn thuyết, cho nên Ngài
phải phương tiện giảng thuyết.
Trong
bài kệ trên, câu “Thế gian tướng thường trú” có thể
giúp ta thông đạt ý nghĩa kiến giải “Vô-thường-Phật-tánh”
của Đạo Nguyên.
Thông
thường ai cũng hiểu rằng đặc tính vô thường đối nghịch
với đức thường ba la mật của Pháp thân tức Như Lai tạng,
hay Phật tánh. Nhưng Đạo Nguyên không nghĩ như thế và chủ
trương vô thường tức Phật tánh. Trong Phẩm Phật tánh, ông
tựa vào Lục tổ Huệ Năng để viết: “Lục tổ dạy đệ
tử Hành Xương: 'Vô thường tự nó là Phật tánh. Thường
tự nó là tâm phân biệt thiện pháp và bất thiện pháp.'”
Một
lần nữa, Đạo Nguyên không chịu theo truyền thống hiểu
rằng tu theo đạo Phật là cốt để giải thoát mình ra khỏi
vô thường, hay luân hồi, và ngộ Phật tánh hầu chứng đắc
niết bàn. Theo ông, nếu niết bàn chứng đắc siêu việt thế
giới vô thường thời đó chưa phải là niết bàn chân thật,
bởi vì như vậy thời niết bàn đối lập với vô thường,
do đó vẫn còn tương quan liên hệ và giới hạn bởi vô thường.
Chứng đắc niết bàn chân thật là khi nào thoát ra khỏi cái
niết bàn siêu việt vô thường ấy. Nghĩa là, không trụ niết
bàn chứng đắc đó mà quay trở về trong thế giới vô thường
sau khi đã giải thoát mình ra khỏi hai tướng vô thường và
thường, cái gọi là luân hồi và cái gọi là niết bàn. Đây
là vô trụ xứ niết bàn được định nghĩa trong Thành duy
thức luận là “Chân như xuất khỏi sở tri chướng, luôn
luôn vận chuyển với hai cánh Đại Bi và Đại Trí cho nên
không chìm trong sinh tử cũng không an trụ Niết bàn....”
Như
thế, niết bàn chân thật là tuy lấy Chân như bình đẳng
giới làm lý tưởng tối hậu, nhưng không trụ ở bình đẳng
giới, mà trái lại trụ ở sai biệt giới để cùng với hết
thảy chúng sinh cùng tiến tới mục đích cuối cùng là đạt
đến giải thoát. Đây là giai đoạn Thập địa Bồ tát khi
đã hoàn thành được ngôi thứ tám bình đẳng giới, cảnh
giới vô sinh pháp nhẫn, nếu không chuẩn bị thích ứng với
ngôi thứ chín sai biệt giới tức sinh hoạt hiện thực, thời
không thể nào thành tựu được quả vị Phật.
Như
vậy, tuy ở trong thế giới luân hồi, nhưng điều đó không
phải là kết quả của nghiệp lực trói buộc, mà ngược
lại, một mặt thường ở trong luân hồi, tức là hiện thực
giới, mặt khác lại hoạt động một cách tự do, tự tại,
và tích cực cứu độ chúng sinh. Niết bàn chân thật là cái
đương thể mà một mặt là vĩnh viễn luân hồi, mặt khác
lại là vĩnh viễn giải thoát. Lời của tổ Huệ Năng được
Đạo Nguyên nhắc lại ở trên là một phương thức ngôn ngữ
Thiền phát biểu ý niệm “không trụ sinh tử, không trụ
niết bàn”.
Trong
Nhiếp luận, HT Thích Trí Quang dịch giải, có đoạn nói về
niết bàn vô trú của Bồ tát như sau: “Đoạn đức là niết
bàn vô trú của Bồ tát. Thể tướng của niết bàn ấy là
xả bỏ tạp nhiễm mà không xả bỏ sinh tử, chuyển y chỗ
dựa của hai phần (sinh tử và niết bàn). Ở đây, sinh tử
là phần tạp nhiễm nơi y tha, niết bàn là phần thanh tịnh
nơi y tha, chỗ dựa của hai phần là y tha thông cả hai phần.
Chuyển y là chính y tha khi nổi lên sự đối trị thời chuyển
bỏ phần tạp nhiễm mà chuyển được phần thanh tịnh.”
Đại
ý nói niết bàn là chính nơi y tha mà chuyển bỏ biến kế
tạp nhiễm, chuyển được viên thành thanh tịnh. Niết bàn
vô trú là bỏ tạp nhiễm (phiền não) mà không bỏ sinh tử,
nên không trú nơi sinh tử mà cũng không trú nơi niết bàn.
Do vậy, niết bàn là chuyển y.
Động
lực dẫn đến sự chứng đạt quan hệ hỗ tức hỗ nhập
giữa Tất Hữu và Phật tánh, giữa Phật tánh và Vô thường,
cùng với ý chí quay ngược trở lại thế giới vô thường
ngay khi chứng đắc niết bàn, bắt nguồn từ vị trí tồn
tại của con người trên giao tuyến của hai trật tự, Chân
như và Hiện tướng. Một mặt, đương thể con người là
Chân như, nhưng mặt kia, Hiện tướng, bị chi phối bởi luật
tắc Vô-thường-Duyên-khởi. Theo Đạo Nguyên, khi nào tu tỉnh
vượt thoát ra khỏi mà đồng thời trở lại chiều kích vô
thường có không của Hiện tướng, thấy được tất cả
mọi hiện tượng chẳng qua cũng chỉ là những biểu tượng
khác nhau của Chân như mà thôi, thời chỉ khi ấy mới có
thể đồng thời thực chứng “vô thường tức thị Phật
tánh” và “Phật tánh tức thị vô thường”. Chính do kinh
nghiệm tu chứng như vậy mà Đạo Nguyên phát sinh kiến giải
“Vô-thường-Phật-tánh”.
Thấy
“Vô-thường-Phật-tánh” là thấy bằng tuệ nhãn, con mắt
Bát nhã nhờ đó mà các bậc giác ngộ trực nhận thực tại
như thật. Hãy nghe Thiền sư D. T. Suzuki nói về tuệ nhãn trong
Thiền luận, Tập Hạ, Tuệ Sỹ dịch: “Tuệ nhãn khi lập
cước trên giới tuyến giữa Nhất thể và Đa thù, giữa Không
và Bất không, giữa Bồ đề và Phiền não, giữa Trí và Bi,
giữa Phật và Chúng sinh, giữa Giác ngộ và Vô minh, giữa
Định và Nghiệp, rọi thẳng vào hai thế giới đó coi như
một Thực tại duy nhất. 'Trí Bát nhã không ở bên này hay
bên kia, cũng không ở quãng giữa; khi lệ thuộc phân biệt,
Bát nhã bị xa lìa, Bát nhã không còn đó nữa.' [Câu này Suzuki
trích từ Tiểu bản, 58b]
“Trí
năng tuợng hình Bát nhã như đang cưỡi ngựa trên hai lãnh
vực của hiện hữu, nhưng nếu Bát nhã thực thụ được
xét đến, nó không lưu tâm về lối phân chia như thế, nó
dong ruỗi theo kinh nghiệm riêng của chính nó. Tánh Không không
hình dung như là tách biệt với Luân hồi, và Luân hồi không
khác với tánh Không. Khi Bát nhã lộ diện, tánh Không và Luân
hồi cùng được kéo lên trong một đường dây.”
Đạo
Nguyên giải bày quan điểm ấy bằng cách quảng diễn lời
của Lục tổ như sau: “Do đó, tánh vô thường của cỏ và
cây, bụi và rừng, tự nó là Phật tánh. Tánh vô thường
của người và vạn vật, của thân và tâm, tự nó là Phật
tánh. Quốc độ và lãnh thổ, núi và sông, đều vô thường
bởi vì chúng là Phật tánh. Trạng thái giác ngộ tròn đầy
vì là Phật tánh, nên vô thường. Đại Bát Niết bàn vì vô
thường, nên là Phật tánh.”
Ý
nghĩa “Vô-thường-Phật-tánh” có thể tìm thấy trong phẩm
Đại Như, Đại Phẩm Bát nhã, luận Đại trí độ, Quyển
72, HT Thích Thiện Siêu dịch, đoạn ngài Long Thọ giải thích:
“Trong Bát nhã ba la mật hoặc có khi phân biệt các pháp không,
ấy là cạn; hoặc có khi nói thế gian pháp tức đồng Niết
bàn, ấy là sâu. Các pháp sắc, v..v... tức là Phật pháp”.
Với công dụng triển khai “diệu hữu quan” của Bát nhã,
giống như lập trường “Phiền não tức Bồ đề” của
Thiền tông, hay tư tưởng “Pháp giới vô tận duyên khởi”
trong kinh Hoa nghiêm, “Vô-thường-Phật-tánh” của Đạo Nguyên
diễn tả cùng một ý nghĩa với câu “Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc” trong Tâm kinh, cũng như với tiêu ngữ
“Thượng cầu Bồ đề, hạ hóa chúng sinh” của Bồ tát
đạo.
Ngay
việc niệm Phật để cầu “Vãng sinh Tịnh độ”, theo tư
tưởng “Vô-thường-Phật-tánh”, thời trong tướng vãng
trở về Cực Lạc, cần phải có tướng hoàn, tức hồi chuyển
Ta Bà. Trong quan niệm đó, người đã được vãng sinh trở
về, lấy chân tướng Cực Lạc làm mô hình, nỗ lực cực
lạc hóa Ta Bà, đó mới là ý nghĩa vãng sinh chân chính.
Thật
là thiếu sót lớn nếu tìm hiểu quan điểm của Đạo Nguyên
về Tất Hữu và Phật tánh chỉ trên phương diện triết học
và bản thể luận. Bởi vì Đạo Nguyên trước hết là một
Đạo sư suốt đời xả thân hành trì và thực chứng, lấy
chỉ quán đả tọa (shikantaza) làm pháp môn tu tập duy nhất
để chứng ngộ trọn vẹn lý tánh của pháp Phật. Chính do
thực chứng Tất Hữu là Phật tánh Đạo Nguyên mới khế
hội được lý tu chứng nhất đẳng và thành tựu ý niệm
Vô-thường-Phật-tánh. “Nếu chính do vốn không bất giác
mà gọi là Phật thời phàm phu tức là Phật rồi, còn cần
phải tu làm gì?”, đó là câu hỏi đã tạo nên mối nghi
tình lớn thúc dục Đạo Nguyên bạt thiệp hiểm nguy vượt
biển qua Trung Hoa cầu học Thiền với tôn sư Như Tịnh. Khi
bản thân thực chứng trạng thái thân tâm thoát lạc, ông
thức tỉnh, dứt hết nghi tình về sự chọn lựa giữa hai
thiên kiến đối lập, thỉ giác và bản giác, giữa tu và
chứng.
Với
lập trường tu chứng nhất đẳng và Tất Hữu là Phật tánh,
Đạo Nguyên phá bỏ cái nhìn phân hai giữa chủ thể và đối
tượng, giữa tiềm tại và thật tại, giữa phương tiện
và cứu cánh.
Trước
nhất, trong cách đọc hiểu “Tất Hữu là Phật tánh” trái
ngược với cách đọc hiểu theo truyền thống là “Tất cả
chúng sinh đều có Phật tánh”, Đạo Nguyên dùng chữ “là”
để bảo rằng Tất Hữu và Phật tánh không hai. Phật tánh
không phải là một vật sở hữu mà tất cả chúng sinh mỗi
mỗi đều có và cần được nhận thức bởi chủ thể Tất
Hữu. Tất Hữu là Hiện tướng của Phật tánh, “đến như
vậy” từ “cái gì”, cho nên Tất Hữu là tác pháp của
“cái gì”, tức là một tác pháp nhưng không có tác giả.
Thứ
đến, theo cách đọc hiểu của Đạo Nguyên, Phật tánh không
phải là một tiềm tại cần công phu tu dưỡng để hiện
thành thật tại. Vì Phật tánh là bản chất nguyên sơ của
mỗi sự vật cá biệt, nên bất kỳ khi nào, mỗi phút mỗi
giây, trong tiến trình hóa dịch, tự thân như thực của vạn
hữu luôn luôn hiển lộ Phật tánh. Bởi thế, Đạo Nguyên
mới nói về chân lý của Phật tánh như sau: “Không thấy
được Phật tánh trước khi chứng đạt Phật quả; thấy
Phật tánh ngay khi chứng đạt Phật quả. Phật tánh hiển
thị đồng thời với chứng quả.” Vậy Phật tánh và chứng
quả thể nghiệm được đồng thời chỉ ngay bây giờ và
ở đây, vào mỗi và mọi lúc.
Cuối
cùng, vì chứng đạt Phật tánh là siêu việt quan hệ hai chiều
giữa tu và chứng nên trong Phẩm Phật tánh, Đạo Nguyên viết:
“Trong pháp Phật, tu tập và chứng ngộ đồng nhất. Bởi
tại tu tập trong hiện tại là tu tập nơi sự chứng, cho nên
sơ phát tâm Bồ đề (Thỉ giác) tự nó là toàn giác, là tuệ
giác vốn có (Bản giác). Do đó, ngay cả trong khi được hướng
dẫn tu tập, hành giả được nhắc nhở đừng dự kỳ hành
chứng riêng biệt, tại vì tu hành là trực chứng bản giác.
Vì là đã chứng trong khi tu tập nên chứng ngộ là vô chung;
vì là tu tập nơi sự chứng nên tu tập là vô thỉ.”
Một
đoạn khác: “Trong Đạo lớn của chư Phật và chư Tổ, liên
tục tu hành luôn luôn là tối thượng. Ngay một khoảng trống
cực nhỏ cũng không chen vào giữa sự phát tâm, tu tập, giác
ngộ, và niết bàn. Con đường tu hành liên tục luân chuyển
không bao giờ ngừng.” Vậy tu là tu nơi sự chứng, gọi là
“bản chứng diệu tu” (honshō myōshu). Phương tiện và cứu
cánh như vậy là không hai.
H.D.