LTS.
– Vào dịp lễ Vu-lan Thắng hội, Phật tử có tục lệ cúng
thí người chết. Dưới đây Tập san trích dịch đoạn kinh
có liên hệ đến ý nghĩa cúng thí này.
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật ở trong Ca-lan-đà Trúc viên, thành Vương-xá.
Bấy giờ có Phạm chí Sanh Văn [2] đi đến chỗ Phật, cùng
Phật thăm hỏi an ủy xong, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
«Thưa
Cù-đàm! Con có người thân tộc rất thương mến, bỗng nhiên
qua đời. Con vì người ấy nên bố thí với tín tâm. Thế
nào, bạch Thế tôn, người ấy có nhận được không?»
Phật
bảo Bà-la-môn:
«Không
phải nhất định phải được. [3] Nếu người thân tộc của
ông sinh vào trong địa ngục, nó sẽ ăn thức ăn của chúng
sanh địa ngục để nuôi sống sinh mạng của nó, chứ không
nhận được đồ ăn thức uống mà ông bố thí với tín tâm.
Nếu nó sinh vào súc sanh, ngạ quỷ, hoặc loài người, họ
sẽ được đồ ăn thức uống của loài người, không nhận
được đồ bố thí của ông.
«Này
Bà-la-môn! Trong đường ngạ quỷ có một nơi tên là Nhập
xứ ngạ quỷ. [4] Nếu người thân tộc của ông sinh vào trong
Nhập xứ ngạ quỷ kia, thì sẽ nhận được thức ăn của
ông.»
Bà-la-môn
bạch Phật:
«Nếu
người thân tộc của con không sinh vào trong đường Nhập
xứ ngạ quỷ, thì thức ăn do tín tâm của con bố thí ai sẽ
hưởng được?»
Phật
bảo Bà-la-môn:
«Nếu
ông với tín tâm bố thí cho người thân tộc, nhưng họ không
sinh vào chốn Nhập xứ ngạ quỷ, thì có những thân tộc
quen biết khác đã sinh vào trong chốn Nhập xứ ngạ quỷ đó
sẽ được hưởng.»
Bà-la-môn
bạch Phật:
«Thưa
Cù-đàm! Nếu con vì tín tâm bố thí cho người thân tộc,
nhưng họ không sinh vào trong chốn Nhập xứ ngạ quỷ, và
cũng không có các thân tộc quen biết khác sinh vào chốn Nhập
xứ ngạ quỷ, thì thức ăn do lòng tin bố thí đó ai
sẽ hưởng?»
Phật
bảo Bà-la-môn:
«Giả
sử ông vì những thân tộc quen biết mà bố thí, nhưng họ
không sinh vào trong chốn Nhập xứ ngạ quỷ, và lại cũng
không có những người quen biết khác sinh vào chốn Nhập xứ
ngạ quỷ, thì việc bố thí do lòng tin, tự mình sẽ được
phước. [5] Của bố thí do lòng tin của người thí chủ
đó, sẽ không mất đạt-sấn [6] .»
Bà-la-môn
bạch Phật:
«Thế
nào là thí chủ hành thí, để người bố thí được đạt-sấn
kia ?»
Phật
bảo Bà-la-môn:
«Có
người sát sanh, làm những việc ác, tay thường tanh máu, [7]
tâm thường suy nghĩ đến đánh đập, sát hại, không hổ,
không thẹn, tham lam, keo kiệt. Đó là nghiệp ác sát sinh.
«Có
người lấy của không được cho; đối với tài vật, làng
xóm, đất trống của người, cũng không xa lìa trộm cắp.
«Có
người tà dâm; đối với những người được bảo hộ bởi
cha mẹ, anh em, chị em, phu chủ, thân tộc cho đến người
trao vòng hoa, mà dùng sức cưỡng bức, làm mọi việc tà dâm,
không lìa bỏ tà dâm.
“Có
người nói dối không chân thật: Hoặc ở chốn vua quan, các
nhà nói chơn thật, nơi có nhiều người tụ tập cần lời
nói thích đáng, nhưng lại nói lời không thật; không thấy
nói thấy, thấy nói không thấy, không nghe nói nghe, nghe nói
không nghe; biết nói không biết, không biết nói biết. Vì
chính mình, vì người khác, hoặc vì tài lợi, biết mà nói
dối không chịu lìa bỏ nói dối.
«Có
người hoặc nói hai lưỡi, gây chia lìa; đem chuyện chỗ này
đến nói chỗ kia, đem chuyện chỗ kia đến nói chỗ này,
phá hoại lẫn nhau, làm cho tan rã sự hòa hợp, khiến kẻ
ly gián vui mừng.
«Có
người nói lời thô ác, mắng nhiết. Có những lời nói dịu
dàng, êm tai, làm vui lòng, rõ ràng dễ hiểu, lời nói được
ưa nghe, được nhiều người yêu mến, hợp ý, tùy thuận
tam-muội. Xả bỏ những lời như vậy mà nói lời gắt gao,
cộc cằn, bị nhiều người ghét, không ưa, không hợp ý,
không thuận tam-muội. Nói những lời như vậy, không lìa bỏ
lời nói thô. Đó gọi là ác khẩu. «Có người nói lời thêu
dệt bại hoại, nói không đúng lúc, nói không thực tế, lời
nói vô nghĩa, lời nói phi pháp, lời nói thiếu suy nghĩ. Nói
những lời hư hỏng như vậy.
«Có
người không lìa bỏ tham lam; đối với tài vật người khác
khởi tham dục, nói rằng ‹Nếu ta có vật này thì rất tốt.›
«Có
người không xả bỏ sân nhuế tệ ác; trong tâm suy nghĩ, ‹chúng
sanh kia đáng bị trói, đáng bị roi vọt, gậy gộc, đáng
giết, muốn cho nó khó sống.›
«Có
người không bỏ tà kiến; có quan điểm điên đảo như vầy:
‹Không có bố thí, không có quả báo, không có phước, không
có điều thiện điều ác, không có nghiệp thiện ác và quả
báo, không có đời này, đời khác, không có cha mẹ, không
có chúng sanh hoá sanh; thế gian không có A-la-hán, không
có các vị chánh hành, chánh hướng [8] mà trong đời này hay
đới khác, tự biết, tự mình chứng nghiệm rằng, ‹Ta,
sự sinh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm
đã làm xong, tự biết không còn tái sinh đời sau nữa.›
«Đó
gọi mười nghiệp bất thiện.
«Sau
lại bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, ... cho đến những kẻ ăn
xin bần cùng, đều bố thí tiền tài, áo quần, chăn mền,
đồ ăn thức uống, đèn đuốc, những vật dụng trang nghiêm.
«Này
Bà-la-môn! Thí chủ kia nếu lại phạm giới, sinh trong loài
voi; nhưng vì người ấy đã từng bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn
tiền của, áo quần, chăn mền, đồ ăn thức uống cho đến
những vật dụng trang nghiêm, nên tuy ở trong loài voi, cũng
nhận được phước báo nhờ đã bố thí, từ quần áo, đồ
ăn thức uống cho đến những vật dụng trang nghiêm.
«Nếu
lại sinh vào các loài súc sanh như trâu, ngựa, lừa, la v.v...
nhưng cũng nhờ vào công đức thí ân trước, nên sẽ nhận
được phước báo kia tùy theo chỗ sinh tương ứng mà được
thọ dụng.
«Này
Bà-la-môn! Nếu thí chủ kia lại trì giới, không sát sinh,
trộm cướp, ... cho đến chánh kiến, và bố thí cho các Sa-môn,
Bà-la-môn, ... cho đến những kẻ ăn xin nào là tiền của,
áo quần, đồ ăn thức uống, đèn đuốc, thì nhờ công đức
này mà sinh trong loài người, ngồi hưởng thụ phước báo
này, từ áo quần, đồ ăn thức uống ... cho đến những vật
dụng như đèn đuốc.
«Lại
nữa, này Bà-la-môn! Nếu người ấy lại trì giới, thì sẽ
được sinh lên cõi trời, vì nhờ vào những thí ân nên được
hưởng những thứ phước báo về tài bảo, áo quần, đồ
ăn thức uống, ... cho đến những vật dụng trang nghiêm cõi
trời.
«Này
Bà-la-môn! Đó gọi là người bố thí hành thí; khi người
bố thí thọ nhận đạt-sấn, quả báo không mất.»
Sau
khi Bà-la-môn Sanh Văn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
BBT.
1. Trích dịch, Tạp A-hàm, quyển 37, kinh số 1041, Kinh Sanh
Văn (T02n99, tr. 272b8). Tương đương Pali, Aṅguttara-nikāya, x,
177. Jāṇusoṇi-suttaṃ (S. v. p. 269ff).
2. Phạm chí Sanh Văn 生聞梵志. Pali: Jāṇussoṇi brāhmaṇo.
3. Pali: ṭhāne kho, brāmahṇa, upakappati, no aṭṭhāne’ ti,
«trường hợp thích đáng thì hữu ích; trường hợp không
thích đáng thì không.»
4. Nhập xứ ngạ quỷ 入處餓鬼. Pali: pettivisaya, cảnh giới
ngạ quỷ.
5.Bản Pali: “Không có trường hợp trong một thời gian dài
như vậy mà không có thân thích huyết thống nào sinh vào Nhập
xứ ngạ quỷ. Nhưng, người bố thí không phải không có kết
quả.“
6.Đạt-sấn 達嚫. Từ phiên âm; Pali: dakkhiṇā, cũng dịch
là cúng vật, thí vật. Phẩm vật cúng dường hay bố thí
được cúng cho Tăng sau khi đã thọ trai. Đây chỉ sự thuyết
pháp, chú nguyện hay hồi hướng của Tăng đối với vật
được cúng dường.
7.Nguyên bản Hán: „Nói chi tiết như trong kinh Thuần-đà (kinh
số 1039).“ Ở đây chép lại đoạn liên hệ từ kinh đó
cho đủ nghĩa; với một vài chi tiết thay đổi thích hợp.
8.Nguyên Hán: đẳng thú đẳng hướng 等趣等向. Pali: sammaggatā
sammāpaṭipannā.