Tập
san Nghiên cứu Phật học số 4, lần này đến tay quý độc
giả trong mùa Vu-lan báo hiếu, mùa những người con Phật chúng
ta ở khắp nơi thiết lễ cúng dường và cầu nguyện, báo
đáp hồng ơn của chư Phật và ơn thầy tổ, ơn sinh thành
dưỡng dục của mẹ cha, ơn đất nước ơn đồng bào, và
ơn vạn loại chúng sanh đã cưu mang, giúp dẫn chúng ta tiến
tu trên con đường hướng đến quả vị giải thoát.
Truyền
thống thiêng liêng thấm đẫm nghĩa lý từ bi và đạo hiếu
này càng khiến chúng ta, những người xuất gia, nhớ lại
từ ngày đầu khi chúng ta lắng lòng quỳ nghe lời kệ trầm
hùng ‘Thiện tai đại trượng phu, năng liễu thế vô thường…’,
nhìn những lọn tóc lã tã rơi xuống khi vị bổn sư đưa
dao cạo bỏ:
Hủy
hình thủ khí tiết,
cát
ái từ sở thân,
xuất
gia hoằng Phật đạo,
thệ
độ nhất thiết nhân…,
ai
mà không một lần bỗng thấy mình cao vợi, và xúc động
sâu xa khi chư tăng đồng tán thán quyết tâm từ bỏ tấm
hình hảo tầm thường này để giữ lấy khí tiết đại trượng
phu: xuất gia để hoằng truyền Phật đạo, và hoằng truyền
Phật đạo rốt cùng cũng vì mục đích cứu độ quần sanh.
Xuất
gia, lìa bỏ gia đình và người thân để sống một đời
cô tịch vì mục tiêu cao cả hơn, chí nguyện thiêng liêng
ấy biểu hiện hùng tâm của một người đã ngoảnh mặt
trước những niềm vui hạn hẹp, những hình hảo, những mong
muốn tầm thường. Nhưng cạo bỏ đi mớ tóc là cái mà thế
gian lấy làm đẹp, bỏ nhà cửa gia đình để vào chùa ở,
bỏ phẩm phục lụa là để khoát lên mình tấm y hoại sắc
hay bộ áo nâu sồng, đó chỉ là Sự xuất gia. Cạo bỏ cho
kỳ được những tâm tánh hẹp hòi, những quyến rũ của
lợi danh, cho đến xa lìa những ham muốn quẩn quanh về tiền
của, ái ân, tiện nghi, ăn ngủ; tựu chung là đoạn trừ được
ba thứ độc tiềm tàng tham, sân, si; đó mới thật là xuất
gia, Lý xuất gia. Đạt được cái Lý này thì người con Phật
‘xuất gia’ mà không từ bỏ gia đình, bởi từ nay ngoài
hai đấng sinh thành hiện tại của chúng ta, tất cả những
bậc cha mẹ trên thế gian này đều là cha mẹ của ta; những
người cha lam lũ phơi mình trên đồng vắng, trong rừng, dưới
sông, ngoài đường phố… và những bà mẹ cần cù lao khổ
nơi mọi ngõ ngách, thôn làng.
Ngày
lễ Vu-lan, gọi đầy đủ là Vu-lan-bồn, dịch âm từ Phạn
ngữ Ulumbana, dịch nghĩa là Cứu đảo huyền, tức cứu
nạn (những oan hồn) bị treo ngược nơi địa ngục, đói
khát mà không thể ăn uống được. Truyền thống này xuất
phát từ câu chuyện của tôn giả Mục-kiền-liên, khi ngài
dùng thần thông quán sát cuộc sống của chúng sanh khắp các
cõi giới, ngài thấy mẹ mình đang bị tội đày nơi địa
ngục, sống kiếp ngạ quỷ đói khát cùng với bao oan hồn
nơi đó. Xót thương trước thảm cảnh đoạ đày của mẹ
và các oan hồn, ngài liền dấn thân xuống địa ngục, mang
cơm đến cho họ ăn. Nhưng khi bà mẹ đưa cơm vào miệng thì
cơm biến thành lửa đỏ, không thể ăn được. Đau đớn
trước sự đói khổ của mẹ và những oan hồn ở đây mà
không làm sao cứu được, ngài trở về thưa với Phật, thiết
tha xin Phật chỉ bày phương cứu giúp. Đức Phật dạy một
mình ngài không thể cứu nổi những tội nhân ở đó, mà
phải đợi đến ngày Rằm tháng bảy, là ngày Tự tứ, chúng
tăng ra hạ sau ba tháng An cư, hãy thiết lễ cúng dường chư
Phật và chư đại đức tăng khắp mười phương, nhờ thần
lực chú nguyện của Phật và đạo lực giới hạnh của chư
tăng hợp lại, mới có thể cứu vớt được những oan hồn
ở đó. Tôn giả Mục-kiền-liên y lời thi hành, cứu được
mẹ và những oan hồn siêu thoát.
Lòng
từ bi và hiếu đễ của người tu sĩ Phật giáo được thể
hiện rõ ràng qua câu chuyện trên, cần phải được chúng
ta nhìn rộng hơn và cụ thể hơn trong thời hiện đại, là
thời kỳ mạt pháp, cách Phật quá xa, các bậc hiền thánh
ngày càng hiếm thấy, mà nguy cơ huỷ diệt loài người ngày
càng đe doạ, dày đặc hận thù, quá nhiều tai ương thảm
hoạ…[1] Câu chuyện trên là một biểu ý sinh động và
tích cực của tinh thần Phật giáo. Hình tượng tôn giả Mục-kiền-liên
dấn thân vào địa ngục để cứu mẹ và những oan hồn đói
khổ nơi đó phải được nhìn như là hình ảnh bất cứ người
tu sĩ nào dấn thân vào những nơi khốn khó, còn có người
đói khổ, có người bị đoạ đày, để cứu giúp họ. Vì
với người tu sĩ sống cuộc đời đơn độc, không gia đình,
xa cha mẹ, thì hết thảy các bậc cha mẹ của thế nhân đều
là cha mẹ của mình, hết thảy đều là người thân của
mình, bình đẳng không phân biệt. Như lời Đại lão HT Thích
Huyền Quang trong một Thông điệp Vu lan trước đây đã dạy,
“ở đâu còn có đau khổ, có áp bức, bất công, ở đó
là địa ngục.” Bởi không chỉ có địa ngục của người
đã chết dưới chín tầng âm ty, mà còn có những địa ngục
trần gian đang ngày đêm chờ đợi hình bóng những tôn giả
Mục-kiền-liên ngày nay. Chúng ta không thể nào thờ ơ trước
một nghịch cảnh chừng như đã trở thành bình thường khi
ngày nay, ở những thành phố lớn nơi đô hội, tương đối
sung túc và tiện nghi, lại là nơi tập trung nhiều tu sĩ nhất,
trong khi những nơi hẻo lánh, xa ánh sáng văn minh, nghèo cơm
ăn và nghèo cả chỗ dựa tinh thần, nơi người dân trông
lên trời chờ mưa đợi nắng cho hạt lúa đủ no, nhìn xuống
đất tìm người thầy người bạn để nương tựa dìu dắt
nhau trong cuộc sống lầm than, trong sự cô đơn, thống khổ
của đêm dài vô minh; những nơi ấy lại chẳng mấy khi nhìn
thấy bóng hình người tu sĩ. Có bình thường không khi đức
Phật ngày xưa từ cung vàng điện ngọc đi ra với người
dân bần cùng xứ Ấn độ, thì ngày nay chúng ta, những đệ
tử đã một lần thệ nguyện theo gót chân Ngài, lại hầu
hết từ ngoài đi vào nơi đô hội, nơi những tự viện to
lớn, những tổ đình qui mô? Chúng ta chỉ có thể tạm chấp
nhận tình trạng này trong thời gian đầu tu học, để rèn
luyện, trang bị cho mình một kiến thức cần thiết, và hơn
hết, một tấm lòng sắt son không bao giờ lay chuyển, như
một hành trang đầy đủ cho những cuộc lên đường. Bởi
đó đã từng là chí nguyện của chúng ta, là niềm vui, là
lẽ sống của những người thượng cầu giác ngộ, hạ hóa
chúng sanh.
Kinh
sách đã ghi chuyện đức Phật, sau khi hóa độ năm vị đệ
tử đầu tiên, rồi đến những người tiếp theo sau, và sau
nữa, làm thành đoàn thể Tăng khởi thỉ chừng 60 vị, Ngài
đã ban cho họ lời khuyến dạy: “Các người hãy ra đi,
tỏa đi khắp nơi, đem giáo pháp cao thượng này để hóa độ
chúng sanh, vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, vì lợi
lạc và hạnh phúc của chư thiên và của con người. Mỗi
người đi một hướng chớ đi chung đường.” [2]
Hình ảnh dấn thân thiêng liêng đó nhắc nhở chúng ta, sau
bao nhiêu năm dùi mài kinh kệ nơi chốn tòng lâm, đã đến
lúc chưa để đem giáo pháp vô ngã vị tha ấy đi vào cuộc
đời; có khi không phải với tên gọi cao cả là hoằng pháp,
có khi không phải với nhiệm vụ, mục tiêu v.v… nào, không
tất cả, mà đơn giản để sống lại những giây phút rung
động đầu tiên khi chúng ta cúi đầu thế phát trong lời
kệ trầm hùng với trọn vẹn ý nghĩa của nó, và chuyển
tiếp sự rung động ấy từ nay thành nhịp đập của trái
tim mình.
Đá
mòn nhưng dạ không mòn,
Tào
khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.
Huế,
Mạnh Thu Nhâm Ngọ
Tỳ
kheo Thích Thiện Hạnh
1.
Phát biểu nhân dịp Phật đản 2546 của đại diện Tăng đoàn
P.G. Thừa Thiên-Huế.
2.
Mahāvagga I.