2.CÁC
UẨN PHI SẮC.
A.TỤNG VĂN.
Hán văn.
此 中
根 與 境
許 即 十 處 界
受 領
納 隨 觸
想 取 像 爲 體
四 餘
名 行 蘊
如 是 受 等 三
及 無
表 無 為
名 法 處 法 界
識 謂
各 了 別
此 即 名 意 處
及 七
界 應 知
六 識 轉 為 意
由 即
六 識 身
無 間 滅 為 意
成 第
六 意 識
十 八 界 應 知
Phiên âm.
Thử trung căn dữ cảnh Hứa tức thập xứ giới
Thọ lãnh nạp tuỳ xúc
Tưởng thủ tượng vi thể
Tứ dư danh hành uẩn Như thị thọ đẳng tam
Cập vô biểu vô vi
Danh pháp xứ pháp giới
Thức vị các liễu biệt
Thử tức danh ý xứ
Cập thất giới ưng tri
Lục thức chuyển vi ý
Do tức lục thức thân
Vô gián diệt vi ý
Thành đệ lục ý thức
Thập bát giới ưng tri
Việt dịch.
Trong đây, căn và cảnh,
là mười xứ, mười giới
Thọ, cảm nhận theo xúc.
Tưởng, thủ tượng là thể/14/
Ngoài bốn,
là hành uẩn. Như vậy, ba uẩn thọ v.v.../15/
và vô biểu, vô vi,
là pháp xứ, pháp giới.
Thức, mỗi mỗi liễu biệt.
Đây chính là ý xứ,
Và bảy giới,
nên biết. Sáu thức chuyển thành ý/16/.
Tức chính sáu thức thân
vô gián diệt, là ý.
Lập sở y thứ sáu;
mười tám giới, nên biết./17/
B. LUẬN THÍCH.
1.Tổng hợp
uẩn xứ giới của sắc.
Chính các
tự thể sắc uẩn được nói ấy, là căn và cảnh tức mười
xứ vậy
(14a-b) Trong
đây105, căn và cảnh, là106 mười xứ
mười giới.
Nghĩa là,
trong phạm vi của xứ107, lập thành mười xứ -nhãn xứ108,
sắc xứ109, v.v... cho đến thân xứ110, xúc xứ111. Trong phạm
vi của giới112, lập thành mười giới –nhãn giới, sắc
giới, v.v... cho đến thân giới, xúc giới.
Nói xong về
sắc uẩn và lập thành xứ giới. Tiếp đến, nói về ba uẩn:
thọ, v.v... và lập thành xứ giới.
2.Thọ uẩn
(vedanāskandha).
(14c) Thọ,
cảm nhận theo xúc
Thọ uẩn
có ba loại: lạc, khổ, bất khổ bất lạc. Lại nữa, thọ
(sự cảm nhận) được chia thành sáu loại cảm nhận của
thân113 -cảm nhận sinh ra do nhãn thức tiếp xúc với sắc
trần; cho đến cảm nhận sinh ra do ý thức tiếp xúc với
pháp trần.
3.Tưởng
uẩn (saṃjñāskandha)
(14d) Tưởng,
thủ tượng là thể
Tưởng uẩn
lấy sự chấp thủ ảnh tượng114 làm thể, tức là chấp
thủ các tướng xanh vàng, dài ngắn, nam nữ, oán thân, khổ
vui v.v... Tưởng cũng chia thành sáu loại tưởng thân115. Theo
cách nói của thọ để hiểu.
4.Hành uẩn
(saṃskāraskandha)
(15a) Ngoài
bốn, là hành uẩn
i.Hành tức
ý chí.
Ngoài (các
hành thuộc) sắc, thọ, tưởng và thức, tất cả các hành
còn lại gọi là hành uẩn. Nhưng trong kinh, đức Thế tôn
nói : «sáu tư thân116 là hành uẩn, ấy do vì lực của nó
tối thắng.» Nghĩa là thế nào? –Bởi lẽ, hành là tạo
tác, tư là tự thể của tạo tác (nghiệp); nó (tư) có lực
tạo tác mạnh mẽ cho nên gọi là tối thắng. Do vậy, đức
Phật dạy : nếu có khả năng tạo tác các pháp hữu lậu,
hữu vi, gọi đó là hành thủ uẩn ... . Nếu không như
vậy117, các tâm sở khác và các bất tương ưng hành pháp
không nhiếp thuộc vào uẩn. (Như vậy) chẳng phải khổ, chẳng
phải tập, thì không thể là nên biết, nên đoạn. Đức Thế
tôn dạy : nếu đối với một pháp118, chưa thấu triệt, chưa
biết rõ, Ta nói rằng, không thể vượt qua giới hạn của
sự khổ119. Chưa đoạn chưa diệt120 cũng nói như vậy. Cho
nên, ngoài bốn uẩn, các pháp hữu vi còn lại đều nhiếp
thuộc hành uẩn.
ii.Tổng hợp
uẩn, xứ, giới của pháp.
(15bcd) Lại
nữa, ba uẩn thọ, v.v...
cùng vô biểu, vô vi là pháp xứ, pháp giới.
Ba uẩn thọ,
tưởng, hành và vô biểu sắc, ba loại vô vi, cả thảy bảy
pháp, trong phạm vi của xứ, lập thành pháp xứ121 ở trong
phạm vi của giới, lập thành pháp giới122.
5. Thức uẩn
(vijñānaskandha)
i.Định nghĩa
.
(16a) Thức,mỗi
mỗi liễu biệt;
Mỗi thức123
đối với từng đối tượng riêng của nó, thủ đắc tổng
tướng124 cho nên gọi là thức uẩn. Lại nữa, thức uẩn
còn chia thành sáu loại thức thân125 –nhãn thức thân cho
đến ý thức thân.
ii. Ý xứ
(manaāyatana)
Thức uẩn
được đề cập ở đây, trong phạm vi của xứ,lập thành
ý xứ;
(16b) Đây
chính là ý xứ
iii.Ý giới
(manodhātu)
Trong phạm
vi của giới, lập thành bảy giới.
(16c) Và bảy
giới,
Những gì
là bảy ?
(16d) Sáu
thức chuyển thành ý
Đó là nhãn
thức giới cho đến ý thức giới; chính sáu thức thân chuyển
thành ý giới.
Như vậy,
năm uẩn được nói ở trong nầy là mười hai xứ, mười
tám giới. Đó là, trừ vô biểu sắc, các sắc uẩn còn lại
là mười xứ, cũng là mười giới. Các uẩn thọ, tưởng,
hành cùng vô biểu, vô vi gọi là pháp xứ, cũng gọi là pháp
giới.
Nên biết,
thức uẩn gọi là ý xứ cũng gọi là bảy giới –sáu thức
giới và ý giới.
iv. Tự thể
của ý giới.
Há không
phải thức uẩn là sáu thức thân ư; thế thì ngoài sáu thức
nầy, cái gì gọi là ý giới ? không một pháp nào khác mà
chính các thức ấy,
(17a-b) Tức
chính sáu thức thân
vô gián diệt, là ý.
Chính sáu
thức thân126 nầy, sau khi diệt, không gián cách127, có khả
năng sinh khởi thức sau, cho nên gọi là ý giới. Chẳng hạn
như, con của người nầy là cha của người kia; trái của
cây nầy là giống của cây kia.
Nếu vậy,
chỉ có 17 hoặc 12 giới mà thôi, vì sáu thức thân và ý thâu
nhiếp lẫn nhau; và như vậy, vì lý do gì lại lập thành 18
giới?
(17c-d).Lập
sở y thứ sáu;
mười tám giới, nên biết.
Năm thức
giới đều có năm giới nhãn, v.v... làm sở y; thức thứ sáu
không có một sở y nào cả; do đó, với mục đích lấp thành
sở y cho thức nầy mà nói ý giới. Như vậy, sở y, năng y,
cảnh giới, mỗi loại có sáu, cọng thành 18 giới .
Nếu vậy,
tối hậu tâm128 của bậc vô học (A la hán, Thập địa bồ
tát), lẽ ra chẳng phải là ý giới, vì tâm nầy, sau khi diệt,
không sinh khởi thức sau. Không phải vậy. Tâm nầy vốn đã
có mặt trong tự thể của ý, do thiếu duyên nên không sinh
khởi thức sau đó thôi.
TIẾT 2 :
THIẾT LẬP BA KHOA
I.THỐNG NHẤT
UẨN XỨ GIỚI
A.TỤNG VĂN
Hán văn
總 攝 一 切 法
由 一 蘊 處 界
攝 自 性 非 餘
以 離 他 性 故
類 境 識 同 故
雖 二 界 一 體
然 謂 令 端 嚴
眼 等 各 生 二
Phiên âm
Tổng nhiếp nhất thiết pháp
do nhất uẩn xứ giới
Nhiếp tự tánh phi dư
dĩ ly tha tánh cố
Loại cảnh thức đồng cố
tuy nhị giới nhất thể
Nhiên vị linh đoan nghiêm
nhãn đẳng, các sanh nhị
Việt dịch.
Tổng nhiếp tất cả pháp
bằng một uẩn, xứ, giới;/18/
Nhiếp tự tánh, không ngoài vì lìa tha tánh
vậy
Cùng một loại, cảnh, thức
tuy hai giới, một thể
Song, vì khiến đoan nghiêm Nhãn, nhĩ đều sanh
hai/19/
B. LUẬN THÍCH.
1.Nguyên lý
tổng thể.
Ở đây,
uẩn thâu nhiếp129 tất cả các pháp hữu vi; ngũ uẩn chỉ
thâu nhiếp các pháp hữu lậu; xứ và giới thâu nhiếp toàn
bộ tất cả các pháp.
Nhưng, theo
tổng thể, nên biết :
(18a-b).Tổng
nhiếp tất cả pháp
bằng một uẩn, xứ, giới
Nghĩa là,
với một sắc uẩn, một ý xứ và một pháp giới, nên biết
thâu nhiếp130 tất cả các pháp. Ở trong các Kinh Luận có
nói, về mặt thắng nghĩa,
(18c) Nhiếp
tự tánh, không ngoài.
Nghĩa là
chỉ thâu nhiếp tự tánh131, không thâu nhiếp tha tánh. Vì
sao?
(18d). vì
lìa tha tánh vậy
Pháp nầy
đối với một pháp khác không cùng chung tự tánh, luôn luôn
có sự ngăn cách. Tự tánh cách biệt với tha tánh132 mà nói
tương hợp là không đúng lý. Chẳng hạn như, nhãn căn chỉ
thâu nhiếp sắc uẩn, nhãn xứ, nhãn giới, khổ đế, tập
đế v.v... , những loại có cùng tự tánh. Không thâu nhiếp
các uẩn khác, xứ khác, giới khác, v.v... những loại không
có cùng tự tánh. Cũng trong Kinh Luận, có nói, về mặt thế
tục, nên biết cũng có các pháp khác thâu nhiếp các pháp
khác. Như bốn nhiếp pháp thâu nhiếp133 đồ chúng v.v.. .
2.Cá biệt.
Ba xứ nhãn,
nhĩ, tỷ, mỗi một xứ đều có hai, thế thì vì sao, giới
thể không phải là hai mươi mốt ?
Vấn nạn
nầy phi lý, bởi lẽ ,
(19 a-b).Cùng
một loại, cảnh, thức; tuy hai giới, một thể.
Cùng một
loại : tức hai xứ có chung tự tánh là nhãn; cùng cảnh134
: hai xứ đều lấy sắc làm đối tượng; một thức : hai
xứ đều là sở y của thức. Do đó, nhãn giới tuy có hai
nhưng tự tánh chỉ một. Nhĩ, tỷ cũng nên an lập như vậy.
Nếu vậy,
vì duyên cớ gì lại sanh ra hai y xứ ?
(19 c-d) Song,
vì sự đoan nghiêm, Nhãn,v.v...,mỗi
thứ có hai
Với mục
đích khiến cho thân tướng sở y được đoan nghiêm nên giới
thể tuy một nhưng xứ lại có hai. Nếu nhãn căn xứ,
nhĩ căn xứ chỉ có một, tỷ căn xứ không có hai, thì thân
thế trông rất khó coi .
Giải thích
nầy không hợp lý; bởi lẽ, nếu từ xưa đến nay vốn như
vậy thì có ai nói là xấu xí. Hơn nữa, giống miêu ly, v.v...,
tuy có hai xứ nhưng có gì là đẹp đẽ.
Nếu nói
vậy thì, ba căn kia vì sao lại có hai xứ ? –vì để
giúp các thức có khả năng phân biệt, nhận biết rõ ràng
hơn. Như thông thường, thế gian, nếu che một mắt, v.v...
sự phân biệt, nhận biết về sắc, v.v..., không rõ ràng.
Vì lý do đó, ba căn mỗi thứ đều có hai xứ.
Nói xong về
sự thâu nhiếp trong uẩn, xứ, giới.
II.TÔNG LUẬN
BA KHOA.
Hán văn.
聚 生 門 種 族
是 蘊 處 界 義
愚 根 樂 三 故
說 蘊 處 界 三
諍 根 生 死 人
及 次 第 因 故
於 諸 心 所 法
受 想 別 為 處
蘊 不 攝 無 為
義 不 相 應 故
隨 麤 染 器 等
界 別 次 第 立
前 五 境 唯 現
四 境 唯 所 造
餘 用 遠 速 明
或 隨 處 次 第
為 差 別 最 勝
攝 多 增 上 法
故 一 處 名 色
一 名 為 法 處
牟 尼 說 法 蘊
數 有 八 十 千
彼 體 語 或 名
此 色 行 蘊 攝
有 言 諸 法 蘊
量 如 彼 論 說
或 隨 蘊 等 言
如 實 行 對 治
如 是 餘 蘊 等
各 隨 其 所 應
攝 在 前 說 中
應 審 觀 自 相
空 界 謂 竅 隙
傳 說 是 明 闇
識 界 有 漏 識
有 情 生 所 依
Phiên âm
Tụ sanh môn
chủng tộc
thị uẩn xứ giới nghĩa
Ngu căn lạc
tam cố
thuyết uẩn xứ giới tam
Tránh căn
sanh tử nhơn
cập thứ đệ nhơn cố
Ư chư tâm
sở pháp
Thọ Tưởng biệt vi xứ
Uẩn bất
nhiếp vô vi
Nghiã bất tương ưng cố
Tuỳ thô
nhiễm khí đẳng
Giới biệt thứ đệ lập
Tiền ngũ
cảnh duy hiện
tứ cảnh duy sở tạo
Dư dụng
viễn tốc minh
hoặc tuỳ xứ thứ đệ
Vị sai biệt,
tối thắng
nhiếp đa, tăng thượng pháp
Cố nhất
xứ danh sắc
nhất danh vi pháp xứ
Mâu ni thuyết
pháp uẩn
số hữu bát thập thiên
Bỉ thể
ngữ hoặc danh
thử sắc hành uẩn nhiếp.
Hữu ngôn
chư pháp uẩn
lượng như bỉ luận thuyết
Hoặc tuỳ
uẩn đẳng ngôn
như thật hành đối trị
Như thị
dư uẩn đẳng
các tuỳ kỳ sở ứng
Nhiếp tại
tiền thuyết trung
ưng thẩm quán tự tướng
Không giới
vị khiếu khích
Truyền thuyết thị minh ám
Thức giới
hữu lậu thức
hữu tình sanh sở y.
Việt dịch.
Tụ tập, sanh môn, chủng tộc; là nghĩa của uẩn, xứ, giới.
Vì ba thứ-ngu, căn, lạc;
nói ba khoa -uẩn, xứ, giới./20/
Nhơn tránh căn, sanh tử
và cả nhơn thứ đệ;
Ở trong các tâm sở
lập riêng thọ, tưởng uẩn./21/
Uẩn không nhiếp vô vi;
nghĩa không tương ưng vậy.
Tuỳ thô, nhiễm, khí, giới
mà thành lập thứ tự./22/
Năm(căn) trước, cảnh hiện tại.
Bốn căn, cảnh sở tạo.
Ngoài ra, dùng xa, nhanh
hoặc xứ, để sắp xếp thứ tự./23/
Vì giản biệt, ưu thế, nhiếp
nhiều pháp và tăng thượng pháp
nên một xứ được gọi là sắc, một xứ được
gọi là pháp./24/
Mâu ni nói pháp uẩn,
có cả thảy tám vạn.
Thể là ngữ hoặc danh;
nhiếp nhập uẩn -sắc, hành./25/
Có thuyết nói-các pháp uẩn, lượng như Luận kia
nói.
Hoặc tuỳ theo uẩn v.v... mà nói,
như thật hành đối trị./26/
Như vậy, các uẩn khác v.v... mỗi mỗi tuỳ tương thích,
nhiếp vào các uẩn, nói trước. Nên quán sát tự tướng./27/
Không giới là lỗ hỗng.
Truyền thuyết là sáng tối.
Thức giới, thức hữu lậu;
là sở y của sinh mạng./28/
B.LUẬN THÍCH
1.Ý nghĩa
uẩn, xứ, giới.
Tiếp đến,
nói về ý nghĩa riêng biệt của uẩn xứ giới ?
a.Uẩn (skandha)
(20a-b).Tụ
tập, sanh môn, chủng tộc
là nghĩa của uẩn, xứ, giới.
Uẩn có nghĩa
là sự hoà hợp tích tụ của các pháp hữu vi. Như Khế kinh135
nói : những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc
vị lai, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài, hoặc thô, hoặc tế,
hoặc liệt hoặc thắng, hoặc xa hoặc gần, tất cả
tổng hợp136 làm một, gọi đó là sắc uẩn. Trong đó, sắc
quá khứ là cái đã bị vô thường huỷ diệt; sắc vị lai
là cái chưa sinh; sắc hiện tại là cái đã sinh và đang còn
tương tục; sắc trong thân137 gọi là nội; sắc ngoài thân
gọi là ngoại; hoặc căn cứ theo xứ mà biện giải.
Sắc có chướng
ngại138 gọi là thô, không chướng ngại gọi là tế; hoặc
theo sự đối đãi139 mà xác lập.
Nếu nói
theo sự đối đãi thì các sắc hoặc thô, hoặc tế không
thể thành lập được?
Vấn nạn
nầy không đúng. Bởi vì, các sắc trong đối đãi140, tự
nó đã có sự khác nhau –như khi, sắc nầy đối với
sắc kia, được gọi là thô thì trong lúc đó, nó không
hề là tế. Hoặc khi sắc nầy đối với sắc kia được gọi
là tế thì, trong lúc đó, nó không hề là thô. Cũng như cha
con, khổ đế, tập đế v.v...
Cái nhiễm
ô gọi là liệt sắc; cái không nhiễm ô gọi là thắng sắc;
các sắc trong quá khứ, vị lai gọi là sắc xa; trong hiện
tại gọi là sắc gần.
Cho đến
thức uẩn cũng nên như vậy mà biết.
Có giải
thích khác: Dựa vào năm căn gọi là thô; dựa vào ý gọi
là tế. Hoặc căn cứ vào vị trí mà nói.
Trên đây
là những điều được nói bởi các Luận sư Tỳ bà sa.
Đại đức141
Pháp Cứu lại nói : Đối tượng của năm căn gọi là thô
sắc; ngoài đối tượng của năm căn là tế sắc. Phi khả
ý là liệt sắc; ngoài ra là thắng sắc. Ở ngoài tầm nhìn
là sắc xa; trong tầm nhìn là sắc gần. Các sắc trong quá
khứ v.v... , như chính tên gọi của nó đã có thể rõ ràng.
Thọ v.v...
, cũng như vậy; tuỳ theo nơi chốn sở y mà biết các sắc
xa, gần, thô, tế, giống như trước đã nói.
b.Xứ (āyatana)
Cửa sanh
xuất142 các tâm, tâm sở là nghĩa của xứ. Theo ngữ nguyên,
xứ là cái làm gia tăng sự sanh xuất tâm và tâm sở143. Ở
đây là sanh xuất tác dụng tác dụng .
c.Giới (dhātu)
Giới có
nghĩa là chủng tộc144. Như trong một ngọn núi, có những
chủng loại đồng, thiết, vàng, bạc v.v... gọi là đa
giới. Trong một thân hay một chuỗi tương tục có 18 chủng
loại gọi là 18 giới. Trong đó, chủng tộc có nghĩa là gốc
sanh khởi145.
Như vậy,
các giới nhãn, nhĩ v.v... , là gốc sanh khởi của cái gì ?
- Của chủng
loại tự thân, vì là đồng loại nhơn146 vậy.
Nếu như
vậy, vô vi không phải là giới ?
- Là giới,
vì là gốc sanh khởi của các tâm, tâm sở.
Có thuyết
nói: giới có nghĩa là chủng loại; mười tám tự tánh chủng
loại khác nhau của các pháp được gọi là mười tám
giới.
d.Phê phán
định nghĩa
i.Uẩn giả
hữu
Nếu nói
rằng, uẩn có nghĩa là tụ tập, lẽ ra uẩn là giả hữu,147
vì nó được tạo thành do nhiều thực vật hợp lại. Như
tụ, như ngã.
- Vấn nạn
nầy không đúng. Bởi lẽ, một cực vi cũng gọi là uẩn.
Nếu vậy,
lẽ ra không nên nói rằng , uẩn có nghĩa là tụ tập, vì
không một cực vi nào có nghĩa tụ tập.
Có thuyết
nói: Uẩn có nghĩa là gánh vác148. Từ nghĩa đó, thế gian
nói vai là uẩn; vì là chỗ tụ tập của các vật.
Hoặc có
thuyết
nói : Uẩn có nghĩa là phần đoạn149. Thế gian có nói:
«Ông trả lại tôi ba uẩn, tôi sẽ cho Ông mượn150.»
Giải thích
nầy vượt ra ngoài của Kinh. Kinh nói : Uẩn có nghĩa là tụ
tập. Như Khế kinh nói : những gì là sắc hoặc quá khứ,
v.v... theo như trước mà nói rộng ra. Nếu nói rằng, Kinh nầy
nói mỗi một sắc trong quá khứ v.v... , là một uẩn cho nên
mỗi một cực vi trong quá khứ v.v... , cũng gọi là một uẩn..
Chấp nầy vô lý. Vì Kinh kia nói : tất cả các sắc như vậy
tổng hợp làm một151, đó gọi là uẩn.Cũng giống như tụ,uẩn
là giả hữu.
ii.Xứ thực
hữu
Nếu như
vậy, cũng nên đồng ý rằng, các sắc xứ cũng là giả hữu152;
vì do nhiều cực vi của nhãn hợp lại mà thành.
Vấn nạn
nầy phi lý. Trong khối tụ hợp ấy, mỗi một cực vi là một
tác nhân. Nếu không như vậy, khi căn và cảnh phối hợp phát
sanh thức, lẽ đáng không thể có các xứ khác tức sẽ không
có 12 xứ . Song theo các luận sư Tỳ bà sa153 thì, các Đối
pháp sư nếu quán ngũ uẩn là giả, họ nói rằng cực vi là
một phần của một uẩn , một xứ, một giới; nếu không
quán uẩn là giả, họ nói rằng cực vi là một uẩn,
một xứ, một giới. Ở đây, căn cứ vào phần đoạn mà
tạm nói là toàn phần154. Giống như một phần chiếc áo bị
cháy mà nói là chiếc áo cháy.
2.Ý hướng
thiết lập
a.Tổng lập
ba khoa
Vì sao đức
Thế tôn đối với cảnh sở tri mà nói ba khoa uẩn xứ giới.
?
(20c-d).Ngu,
căn, lạc, có ba;
nói ba khoa uẩn, xứ, giới
Hữu tình
được giáo hoá có ba phẩm loại cho nên đức Thế tôn vì
đó nói ba khoa uẩn xứ giới. Theo truyền thuyết, có ba hình
thái ngu si của chúng sanh : một số ngu mê về tâm sở, chấp
toàn khối là ngã; một số ngu mê về sắc; một số khác
ngu mê cả sắc lẫn tâm. Căn tánh155 chúng sanh cũng có ba loại
: lợi căn, trung căn và độn căn. Sự ưa thích cũng phân
thành ba loại : thích văn tóm tắt; thích văn trung bình ; và
thích văn chi tiết. Theo các thứ lớp như trên, đức Thế
tôn nói ba khoa uẩn, xứ, giới.
b.Thành phần
của uẩn.
Vì duyên
do gì, Thế tôn nói các uẩn khác, xếp chúng vào trong hành
uẩn; hai uẩn thọ, tưởng lại xếp riêng ?
(21).Nhơn
tránh căn, sanh tử và cả nhơn thứ đệ,
Ở trong các
tâm sở
lập riêng thọ, tưởng uẩn.
i.Có hai gốc
rễ của sự đấu tranh156 : đam mê dục vọng và đắm chấp
quan điểm157; theo thứ tự, hai loại thọ, tưởng nầy làm
nguyên động lực rất mạnh mẽ. Do lực hấp dẫn của vị
ngọt cảm thọ, khởi sinh đam mê dục vọng. Do lực của các
tưởng điên đảo, khởi sinh đắm chấp các quan điểm.
ii.Lại nữa,
thọ và tưởng là động lực chính của sanh tử luân hồi.
Do đắm trước cảm thọ, khởi sinh tưởng điên đảo cho
nên trôi lăn trong sanh tử luân hồi.
iii.Và do
nhơn thứ đệ158, sẽ nói sau, cùng với hai nguyên nhơn nầy,
nên biết, thọ tưởng được xếp thành hai uẩn riêng biệt.
c.Vô vi và
uẩn.
Tại sao lại
đề cập đến vô vi trong xứ và giới mà không đề cập
đến trong uẩn ?
(22a-b).Uẩn
không nhiếp vô vi;
nghĩa không tương ưng vậy.
i.Ba pháp vô vi không thể đề cập trong các uẩn sắc v.v...
vì về ý nghĩa nó không tương ưng với sắc; nghĩa là thể
của nó không phải là sắc, cho đến, không phải là thức159.
ii.Cũng không thể nói là uẩn thứ sáu160 vì nghĩa của chúng
không tương ưng với uẩn. Uẩn có nghĩa là tích tụ, như
trước đã nói. Pháp vô vi không chẳng giống như sắc v.v...
, có các phẩm loại sai biệt trong quá khứ v.v... , có thể
tổng hợp lại thành một để gọi là vô vi uẩn. (tức không
có nghĩa tích tụ)
iii.Lại nữa, nói thủ uẩn chính là để hiển bày rằng,
nó là sở y của nhiễm pháp. Nói uẩn là để hiển bày sở
y của hai pháp nhiễm tịnh. Với hai nghĩa nầy, vô vi hoàn
toàn không có nên không thể thành lập uẩn được.(không
có nghĩa sở y)
iv.Thuyết
khác nói, như cái bình vỡ, không thể gọi là bình; cũng vậy,
uẩn đã diệt rồi, không còn gọi là uẩn160. Ví dụ kia so
sánh với xứ giới là sai lầm161.
Nói xong việc thành lập và không thành lập uẩn.
d.Thứ tự
của uẩn
(22c-d).Tuỳ
thô, nhiễm, khí, giới mà
thành lập thứ tự.
i.Vì tính chất đối ngại nên ở trong uẩn, sắc là thô162.
Trong các uẩn phi sắc, hành tướng của thọ là thô; như thế
gian nói, tay tôi bị đau, v.v... . So với hai uẩn (hành, thức),
tưởng uẩn là thô; chẳng hạn như các tướng nam nữ v.v...
rất dễ nhận biết. Hành thô hơn thức. Các hành tham, sân,
si rất dễ nhận biết. Thức rất vi tế, tổng thủ cảnh
tướng, rất khó phân biệt. Đó là căn cứ vào thô để sắp
xếp thứ tự các uẩn.
ii.Hoặc từ vô thỉ đến nay, tất cả kẻ nam người nữ
đối với sắc, thường có sự ưa thích qua lại; đó là do
say đắm vị ngọt cảm thọ; say đắm vị ngọt cảm thọ
phát sinh từ các tưởng điên đảo; tưởng điên đảo phát
sinh từ phiền não(hành); phiền não từ thức sinh khởi. Hành
và ba uẩn trước (sắc, thọ, tưởng ) đều làm cho thức
nhiễm ô. Đây là căn cứ vào nhiễm để sắp xếp thứ tự
của uẩn.
iii.Hoặc sắc ví như đồ đựng; thọ như ẩm thực; tưởng
như gia vị; hành như người đầu bếp; thức như thực khách.
Đây là căn cứ vào đồ đựng để sắp xếp thứ tự của
uẩn163.
iv.Hoặc dựa vào giới (cõi) để sắp xếp thứ tự các uẩn.
Đó là, ở cõi Dục có các dục lạc vi diệu, mà tướng của
sắc dễ hiện bày; ở Sắc giới, tịnh lự phát sinh hỷ lạc
tối thắng v.v... hành tướng của thọ rất mạnh; ở Vô sắc,
thủ đắc các tướng không, hành tướng của tưởng rất
mạnh; ở cõi Hữu đảnh164, tư165 (hành) rất tối thắng,
dễ nhận biết. Bốn uẩn là chỗ sở trú của thức166; thức
trú ở trong đó cũng tương tợ như thứ tự những hạt giống
trong đồng ruộng của thế gian. Thứ tự của uẩn là như
vậy. Do đó, năm uẩn không thêm không bớt. Chính bởi nguyên
do thứ tự đó, mà tách biệt khỏi hành, lập riêng hai uẩn
thọ, tưởng. Nghĩa là , vì ở trong các hành, thọ và tưởng
có tướng thô hơn, laị sanh nhiễm, như thức ăn, như gia vị
và đặc trưng của hai giới nên lập thành uẩn riêng.
e.Thứ tự
của xứ giới
Về xứ và giới, trước hết, nói thứ tự của sáu căn.
Theo đó, có thể biết được thứ tự của cảnh và thức.
(23a).Năm
(căn) trước, thủ đắc cảnh hiện tại.
Năm căn nhãn nhĩ v.v... thủ đắc cảnh hiện tại nên nói
trước. Ý căn duyên với bất định cảnh; với vô vi, pháp
trong ba đời, hoặc chỉ thủ đắc một, hai, ba hoặc bốn.
(23b).Bốn
căn, cảnh sở tạo
Bốn căn đầu trong năm căn, vì có cảnh là sở tạo nên nói
trước. Thân căn có cảnh là bất định; hoặc cảnh là đại
chủng, hoặc cảnh là sở tạo; hoặc cảnh là cả hai.
(23c).Ngoài
ra, dùng xa, mau
Ngoài ra (dư) chỉ cho bốn căn trước; theo sự thích hợp mà
dùng xa hoặc mau, nên được nói trước Nghĩa là, hai căn nhãn
nhĩ thủ đắc cảnh xa nên nói trước. Trong đó, nhãn dùng
xa, từ xa trông thấy núi sông, không nghe âm thanh; nhãn lại
dùng mau, như trước nhìn thấy người khua chuông gióng trống,
sau mới nghe âm thanh, nên được nói trước. Hai căn tỷ và
thiệt không có hoạt động xa; tỷ có hoạt động mau
nên được nói trước. Như khi đối với hương thơm của
đồ ăn thức uống, tỷ nhận biết mùi hương trước, thiệt
nếm vị sau.
(23d) Hoặc
xứ, để sắp xếp thứ tự
Hoặc ở
trong thân, căn cứ vào vị trí trên dưới mà sắp xếp thứ
tự các căn. Nhãn ở trên hết; tiếp đến là nhĩ, tỷ, thiệt
và thân phần lớn ở dưới cùng. Ý không có phương sở,
dựa vào các căn mà sinh khởi nên nói sau cùng.
f.Khái niệm
sắc xứ (rūpāyatana) và pháp xứ (dharmāyatana)
Tại sao, mười xứ đều nhiếp thuộc sắc uẩn, duy chỉ một
xứ được gọi là sắc xứ167; và mười hai xứ đều có
chung tự thể là pháp, sao chỉ một pháp được gọi là pháp
xứ168 ?
(24).Vì giản
biệt, ưu thế, nhiếp
nhiều pháp, và tăng thượng pháp;
Nên một xứ gọi là sắc,
một xứ gọi là pháp
Vì giản biệt : nghĩa là , vì muốn có sự tri nhận rõ ràng
về tự tánh của đối tượng (cảnh) và tự tánh các căn
(hữu cảnh)169 có nhiều loại khác nhau cho nên căn cứ vào
hành tướng sai biệt của sắc uẩn, lập thành 12 xứ mà không
lập thành một xứ. Trong khi thể đều cùng là sắc, nếu
không có những danh và tưởng khác nhau như nhãn v.v... thì
đã gọi chung là sắc xứ. Nhưng ở đây, vì muốn phân biệt
với các tên gọi như nhãn, nhĩ v.v... nên tuy nêu tên chung
mà thật sự là tên riêng vậy.
Lại nữa, trong các sắc, sắc xứ nỗi trội hơn hết nên
(lấy nó) lập thành tên chung; do vì có sự đối ngại,
khi tay v.v... tiếp xúc liền sinh biến hoại; do vì hữu
kiến nên có thể chỉ ở chỗ nầy, chỗ kia khác nhau. Vả
lại Thế gian cũng chỉ gọi xứ nầy là sắc xứ, không gọi
một xứ nào khác như nhãn v.v... là sắc xứ170.
Lại nữa, vì mục đích giản biệt nên chỉ một xứ
gọi là pháp xứ chứ không phải là tất cả (các xứ). Nên
hiểu, cũng giống như sắc vậy.
Lại nữa, vì pháp xứ thâu nhiếp nhiều pháp khác như thọ,
tưởng v.v... nên lập thành tên gọi chung.
Vì pháp xứ thâu nhiếp pháp tăng thượng tức là niết
bàn, nên riêng lập nó làm tên gọi chung.
Các Luận sư171 khác nói : vì sắc xứ có 20 loại mà sắc
thô hơn cả, lại là đối tượng của ba loại nhục nhãn,
thiên nhãn và thành huệ nhãn, nên chỉ gọi nó là sắc xứ.
Vì trong pháp xứ, có danh của các pháp, có trí của các pháp
nên chỉ gọi riêng nó là pháp xứ.
g.Khái niệm
pháp uẩn (dharmaskandha)
Trong các Kinh có đề cập đến danh và tưởng khác của uẩn,
xứ, giới; các loại đó nhiếp nhập vào đây hay không nhiếp
nhập vào đây ?
Tất cả đều nhiếp nhập vào đây.
(25). Mâu
ni nói pháp uẩn
Có cả thảy tám vạn.
Thể là ngữ hoặc danh Nhiếp nhập uẩn sắc, hành.
Với những vị mà bản thể của lời Phật dạy là ngữ âm172,
thì họ nói rằng pháp uẩn nhiếp nhập sắc uẩn; với những
vị mà bản thể của lời Phật dạy là danh từ173 thì họ
nói rằng pháp uẩn nhiếp nhập hành uẩn.
Các pháp uẩn nầy có số lượng là bao nhiêu ?
(26a-b).Có
thuyết nói, lượng các pháp
uẩn, như luận kia nói.
Có thuyết nói, tám vạn pháp uẩn; mỗi một lượng v.v...,
như Pháp uẩn túc luận174. Nghĩa là, mỗi một lượng có sáu
ngàn bài tụng như Pháp uẩn túc luận, ở trong đối pháp,
nói vậy.
Thuyết khác nói,
(26c).Hoặc
tuỳ theo uẩn v.v... mà nói
Pháp uẩn tuỳ theo số lượng của uẩn mà nói; từng uẩn
từng uẩn khác nhau, có đến tám vạn. Đó là : uẩn, xứ,
giới, duyên khởi, đế, thực, tĩnh lự, vô lượng, vô sắc,
giải thoát, thắng xứ, biến xứ, giác phẩm, thần thông,
vô tránh, nguyện trí, vô ngại giải v.v... , mỗi một giáo
môn (lượng ) như vậy là một pháp uẩn.
(26d).Như
thật hành đối trị175.
Như thật thuyết : hữu tình cần được giáo hoá có đến
tám vạn tập tính176 khác nhau, như tham, sân, v.v... ; để đối
trị với tám vạn tập tính đó, đức Thế tôn
đã nói tám vạn pháp uẩn. Tám vạn pháp uẩn được nói
kia đều nhiếp nhập trong hai uẩn (sắc, hành) của năm uẩn
nầy.
Như vậy, các uẩn xứ giới trong các kinh khác cũng
(27).Như vậy,
các uẩn v.v... khác; mỗi mỗi tuỳ tương
thích,
Nhiếp vào các uẩn đã nói ở trước.
Nên quán sát tự tướng.
Uẩn xứ giới trong các kinh khác, tuỳ theo sự tương thích
mà nhiếp vào các uẩn xứ giới được nói ở trước, sau
khi quán sát tự tướng của từng loại uẩn v.v... nói trong
luận nầy.
Vả lại, trong các Kinh đề cập đến ngũ uẩn khác : đó
là năm uẩn giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến177. Trong đó, giới uẩn nhiếp nhập sắc uẩn. Bốn uẩn
còn lại nhiếp nhập hành uẩn.
Lại nữa, Kinh nói : mười biến xứ178 v.v... ; tám biến xứ
trước, do không có tính tham nên nhiếp nhập pháp xứ; nếu
bao gồm cả trợ bạn thì, vì có tính ngũ uẩn nên nhiếp
nhập ý xứ và pháp xứ. Thâu nhiếp tám thắng xứ, nên biết,
cũng như vậy. Không biến xứ, thức biến xứ và bốn vô
sắc xứ như không vô biên v.v... do tính là bốn uẩn nên nhiếp
nhập ý xứ và pháp xứ. Năm giải thoát xứ lấy huệ làm
tính nên nhiếp nhập pháp xứ; nếu bao gồm cả trợ bạn
thì nhiếp nhập thanh xứ, ý xứ và pháp xứ. Lại có hai xứ,
vô tưởng hữu tình thiên xứ và phi tưởng phi phi tưởng
xứ; xứ đầu nhiếp nhập trong mười xứ nầy vì không có
hương, vị; xứ sau nhiếp nhập ý xứ và pháp xứ vì tánh
của bốn uẩn. Lại nữa, Đa giới kinh179 nói về sự sai biệt
của giới, có 62 loại. Tuỳ theo sự tương thích, nên biết,
đều nhiếp nhập trong 18 giới.
h. Hai giới
đặc biệt
Lại có các
Kinh nói về sáu giới. Trong đó, bốn giới địa thuỷ hoả
phong đã được đề cập đến; hai giới không và thức, chưa
nói về hành tướng của chúng.
i.Hư không
giới (ākāśadhātu)
Như vậy,
phải chăng chính hư không180 là không giới, nhất thiết thức
là thức giới ?
Không phải
vậy. Vì sao ?
(28a).Không
giới là lỗ hỏng
Các lỗ hỏng
trong ngoài trên cửa sổ, cửa lớn, trên miệng, mũi v.v...
đều gọi là không giới.
Làm thế
nào để biết những lỗ hỏng như vậy ?
(28b).Truyền
thuyết là sáng tối.
Thật vậy,
không thể lìa sáng tối mà có thể nhận biết được các
lỗ hỏng cho nên nói, không giới lấy sáng tối làm thể.
Cũng nên biết rằng, thể nầy không thể tách rời khỏi ngày
và đêm nên nói là Lân a già sắc
* Theo truyền
thuyết181, a già là sắc tích tập; có khả năng chất ngại182
rất lớn nên gọi là a già .
* Theo thuyết
khác, a già tức không giới sắc. Trong đó, vô ngại nên gọi
là a già. Tức a già và các chất ngại khác tương lân nên
nói là lân a già sắc.
ii.Thức giới
(vijñānadhātu)
(28c).Thức
giới là thức hữu lậu.
Tại sao không
nói các vô lậu thức là thức giới ?
Do vì chấp
nhận rằng, sáu giới là sở y của hữu tình chúng sanh.
(28d).Là sở
y của sinh mạng.
Thật vậy,
các giới, từ tục sanh tâm183 (kết sanh thức) cho đến mạng
chung tâm184(tử tâm), thường xuyên duy trì sanh mạng185. Các
pháp vô lậu thì không như vậy. Trong sáu giới kia, bốn giới
đầu nhiếp nhập xúc giới. Giới thứ năm nhiếp nhập sắc
giới.Thứ sáu nhiếp nhập bảy thức giới. Các giới trong
các Kinh kia, theo sự tương thích của chúng mà nhiếp nhập
trong 18 giới.
Thuyết nhất
thiết hữu bộ câu xá luận, quyển 1.
--------------------------------------------------------------------------------
105 Ht.Trong
đây 此 中 ,Quang ký : “ ....此 前 所
說 十 一 蘊 中 “, trong mười một loại
sắc uẩn được ở trước.
106 Ht. Hứa
許 “(được xem) là”; Tì Bà Sa Sư Hứa (chấp nhận)
chính căn và cảnh là mười xứ giới. Kinh Bộ Sư, Xứ giả,
Giới thật, không thể lấy Xứ làm thể của Giới. Ở chỗ
nầy có sự trái ngược nhau cho nên Luận chủ dùng chữ Hứa,
tức bày tỏ sự không tin.
107 Ht.Xứ
môn 處 門 。 Skt. āyatanavyavasthā.
108 Ht.Nhãn
xứ 眼 處 . Skt. cakṣurāyatana.
109 Ht.Sắc
xứ 色 處 . Skt. rūpāyatana.
110 Ht.Thân
xứ 身 處 . Skt. kāyāyatana.
111 Ht.Xúc
xứ 觸 處 . Skt.spraṣṭavyāyatana.
112 Ht.Giới
môn 界 門 . Skt. dhātuvyavasthā.
113 Ht. Sáu
thọ thân 六 受 身 ; cđ: thọ tụ 受 聚 . cf. Tập Dị 15,
tr.429a26 :”sáu thọ thân ... thế nào là thọ thân phát sinh
từ thức của con mắt ? –con mắt và các sắc làm duyên,
phát sinh thức con mắt. Ba yếu tố nầy hoà hiệp do đó có
xúc. Xúc làm duyên cho nên thọ ... “ . Skt. vedanākāya.
114 Ht.Tượng
像 ; cđ. : tướng 相 。 Skt. nimitta, hình tướng, dấu hiệu,
hay tín hiệu. Sphut., tr.46 (T. Tuệ Sỹ): “nimittaṃ vastuno vasthāviśeso”
, tướng là phần vị sai biệt của các vật thể .
115 Ht.Sáu
loại tưởng thân 六 想 身 . Skt. ṣaḍ saṃjñākāyā.
116 Ht.Tư
thân 思 身 Tập Dị Môn Túc Luận 15, nt.; Skt. cetanakāya. Sphut.,
tr.48 (T. Tuệ Sỹ) giải thích : saṃskāraskandhaḥ katamaḥ ?
ṣaḍ cetanākāyāh, “những gì là hành? sáu tư thân.”
117 Ht.Nếu
không như vậy 若 不 爾 者 . Bảo sớ1A, tr.486b19
: ...nếu y theo kinh văn, duy chỉ sáu tư thân là hành uẩn thì
trong hữu vi pháp, ngoại trừ sắc, thọ, tưởng, thức, còn
lại không nhiếp thuộc vào uẩn; như vậy, chẳng phải là
khổ đế, tập đế; đã không phải là khổ đế, tập đế
thì không thể là nên biết, nên đoạn.
118 Ht.Một
pháp 一 法 , chỉ pháp khổ đế. Skt. ekadharma. Quang
ký 1B, tr.25c13 , Nếu một pháp khổ đế, chưa ở vô gián đạo
để thấu triệt; chưa ở giải thoát đạo để chứng tri,
Ta nói không thể tận cùng biên tế của sự khổ, chứng
quả vô học.
119 Ht. Khổ
biên tế 苦 邉 際 . Quang ký1B, tr.25c18 : “Đó là
niết bàn; niết bàn vượt ra ngoài sự khổ chỗ nên gọi
là khổ biên tế; còn gọi là khổ tận xứ 苦 盡 處 : nơi
không còn bóng dáng của khổ đau.
120 Ht.Chưa
đoạn chưa diệt 未 斷 未 滅 , chỉ tập đế. Quang ký
1B, tr.25c16 “một pháp tập đế, chưa được đoạn trừ ở
vô gián đạo, chưa chứng diệt ở giải thoát đạo, Ta nói
...”
121 Ht.Pháp
xứ 法 處 . Skt. dharmāyatana.
122 Ht.Pháp
giới 法 界 . Skt. dharmadhātu.
123 Ht.Các
các liễu biệt bỉ bỉ cảnh giới 各 各 了 別 彼 彼
境 界 . Quang ký 1B, tr.26a3 “ thức không phải chỉ
một nên nói là các các liễu biệt (mỗi thức); cảnh chẳng
phải là một nên nói là bỉ bỉ cảnh giới (từng cảnh,
mỗi cảnh mỗi cảnh)
124 Tổng
tướng 總 相 ; cđ., tổng thủ cảnh tưóng
總 取 境 相. Quang ký 1B, tr. 26a10 ; sáu thức kia, mỗi
thức đối với từng đối tượng riêng biệt của nó, không
tiếp thu biệt tướng mà chỉ tiếp thu tổng tướng. Chính
lý 3, tr. 342a : nhãn thức chỉ tiếp thu sắc, không tiếp thu
các thứ thanh ... Skt. upalabdhi, sphut., tr.50 (T. Tuệ Sỹ)
: upalabdhir vastumātragrahaṇam, sự tri nhận là sự tiếp thu
vật thể tự thân.
125 Ht. Sáu
thức thân 六 識 身 ; Cđ.: lục thức tụ 六
識 聚 . Cf. Tập dị 15,tr.429a14 ... Sphut.,tr.50 (T. Tuệ
Sỹ) : ṣaḍ vijñānakāyā iti ṣaḍ vijñānasamūhāḥ .
126 Ht. Chính
sáu thức thân 即 六 識 身 . Bảo sớ1b,tr.487c6 : sáu thức
thân khi lấy nghĩa sở y gọi đó là ý giới; khi lấy nghĩa
năng y gọi đó là thức giới.
127 Ht. không
gián cách 無 間 滅 ; cđ.: vô gián tạ 無 間 謝. Skt. anantarātīta,
quá khứ trực tiếp. Sphut.,tr.50 (T.Tuệ Sỹ):Từ vô gián (anantara),
chỉ sự không gây trở ngại cho thức khác. Nếu nó không
gián cách nghĩa là không cản trở sự sinh khởi của thức
khác, thì nó là sở y của thức ấy.
128 Ht. Tối
hậu niệm tâm 最 後 念 心 , 最 後 剎 那 之 心
, 最 後 念 , 末 心 . Đó là tâm khi nhập vô dư niết bàn.
Đại tỳ bà sa 10,32 : trong ba cõi, khi bậc A la hán trú
ở tối hậu tâm, nhơn vì tất cả các sắc pháp không hiện
hành, cho nên thành tựu tối đa phi trạch diệt. Ngoài ra, khi
nhập vô dư niết bàn, thân tâm đều diệt, không có tâm tương
tục (tiếp nối), cho nên tối hậu niệm tâm của A la hán
chỉ có tướng của ý căn ..., không có tướng của đẳng
vô gián duyên. (Câu xá quang ký 7).
129 Ht.Nhiếp
攝 ;Cđ., tổng nhiếp 總 攝 . Skt. saṃgraha , sự thâu tóm,
sự bao hàm; tích hợp, thống hợp.
130 .Tổng
nhiếp 總 攝 . Skt. sarvasaṃgraha. Chính lý3,tr.342c7 : Tổng (saṃ)
có nghĩa là tập hợp. Nói tổng để biết ba tổng chứ không
phải từng cái cá biệt.
131 Ht. Tự
tánh 自 性 . Skt. svabhāva
132 Ht. Tha
tánh 他 性 . Quang ký 1B,tr. 2719 : Hoá địa bộ (Mahiśāsaka)
cho rằng, pháp tương ưng với tha tính chứ không tương ưng
với tự tính. Như bằng giới, định, huệ mà nhiếp thánh
đạo tám chi. Cf. Tỳ bà sa 59,tr.306b13: Phân biệt luận giả
(Vibhajyavādin)
... các pháp đều được nhiếp bởi tha tính chứ không phải
tự tính.
133 Ht. Nhiếp
攝 . Skt. saṃgraha, ở đây được hiểu là sự đoàn kết.
Trung a hàm, 41 “Thủ trưởng giả’ bằng bốn nhiếp sự
mà duy trì sự đoàn kết của cộng đồng tại gia. Cf. Tỳ
bà sa 59, tr. 306b22.
134 Ht. Cảnh
境 , sở hành cảnh giới 所 行 境 界 . Skt. gocara : môi
trường hoạt động.
135 Cf. Tạp
a hàm, Đại 2,tr. 15a.
136 Ht. Tụ
聚 . Skt. rāśi, đống, tích tụ . Cf. Tỳ bà sa 74, tr. 383c16
: “Uẩn có nghĩa là tụ 聚 , là hiệp 合 , là tích 積 , là
lược 略 “
137 Ht. Tự
thân 自 身,tự tương tục 自 相 續 . Skt. svāsāṃtānika,
dòng chảy liên tục của sinh mệnh cá biệt. Cf. Tập dị môn
11, tr.412a29 : “nội sắc là gì? Sắc ở nơi tương tục (thân)
nầy, đã sở đắc mà chưa mất. Ngoại sắc là gì? Sắc ở
nơi tương tục (thân) nầy, vốn chưa sở đắc hoặc đã mất;
hoặc ở nơi tương tục khác; hoặc thuộc phi hữu tình.”
138 Ht. Chướng
ngại 有 對 ; hữu ngại 有 礙 . Skt. sapratigha.
139 Sự đối
đãi 相 待 . Skt. āpekṣikā.
140 Sở đãi
所 待 .Skt. apekṣa.
141 Đại
đức Pháp cứu (Bhandanta Dharmatrāta). Bảo sớ,1B, tr.488c15 :
“Vị Luận sư nầy không công nhận có sắc vô đối.” .
Spht., tr.85 (T. Tuệ Sỹ) : “Bhadanta (Đại đức), nghĩa là
Thượng toạ, một vị thuộc Kinh Lượng bộ (kaścitsautrāntikaḥ,
tan nāmā vā). Bhagavadviśéṣa nói vị Thượng toạ nầy là
Dharmatrāta. Thế nhưng, Dharmatrāta là vị chủ trương thuyết
quá khứ và vị lai thực hữu nên không phải là Vị Kinh lượng
bộ. Do đó, đây là một vị Tôn giả khác với Bhadanta Dharmatrāta.”
142 Ht. Sinh
môn 生 門 ; cđ., lai môn 來 門 . Skt. āyadvāra. Tỳ bà
sa 73, tr. 379a12 : “nêu lên 20 định nghĩa của xứ.”
143 Sphut.,
tr. 59 (T. Tuệ Sỹ) : cittacaitānām, āyam utpattiṃ tanvantīty
āyatanāni, “những gì khuyếch trương sự xuất hiện, hay
sinh khởi, của tâm và tâm sở, đó là xứ.” .Theo đây, āyatana,
là phức hợp từ của āya + tanoti, trong đó āya (sự hiện
đến) utpatti (sự sinh khởi).
144 Ht. Chủng
tộc 種 族 ; Cđ.: tính 性 hay biệt 別. Skt. gotra, nghĩa
đen: chuồng bò; nghĩa rộng : dòng họ.
145 Ht.Chủng
tộc có nghĩa là gốc sinh khởi 種 族 是 生 本 義 .
Cđ.: “Biệt nghĩa là gốc”. Skt. ākarās tatra gotrāṇy ucyate.
Sphut., tr. 59 (T. Tuệ Sỹ): ākarā iti prakṛitam, ākara ( mỏ
khoáng chất), nghĩa là sản vật nguyên thuỷ (prakṛta; trong
cá bản Hán : prakṛti, nguyên sinh chất).
146 Skt. sabhāgahetu.
Sphut., tr.59 ( T.Tuệ Sỹ) : “con mắt sinh khởi trước làm
nguyên nhân đồng loại cho con mắt sinh khởi tiếp theo sau.
147 Ht. Giả
hữu 假 有 ; Cđ, giả danh hữu 假 名 有 . Skt. prajñaptisat.
Quan điểm của Tỳ bà sa nói Uẩn, Xứ, Giới, có tự thể
thực hữu. Kinh bộ cho rằng, Uẩn và Xứ là giả, chỉ có
Giới là thực hữu. Luận chủ quan niệm chỉ Uẩn là giả,
Xứ và Giới đều thực. Cf. Quang ký 1B, tr. 29a6; Bảo sớ 1B,
tr.489b16.
148 Ht. Năng
hạ trọng đảm 能 荷 重 擔 ; cđ., năng hạ phụ sự, 能
荷 負 事 . Skt. kāryanhārodvahana.Tỳ bà sa 79, tr.407c9. Cf. Tạp
a hàm 3, Đại 2, tr. 19a.
149 Ht. Phần
đoạn 分 斷 ; Cđ., phân phần 分 分 ; khả phân đoạn 可
分 斷 .Skt. praccheda : nhát cắt, mảnh cắt, một bộ phận.
Chính lý 3, tr. 344a13 : “Các pháp hữu vi đều có ba phần
đoạn là quá khứ, hiện tại và vị lại.”
150 Ht. Nhữ
tam uẩn hoàn, ngã đương dữ nhữ 汝 三 蘊 還,我 當 與 汝
. Cđ., ngã ưng chuyển (thâu) tam ấm vật 我 應 轉 (輸) 三
陰 物 “ Tôi cần chuyển (mượn) ba vật ấm. Skt. skandhakair
deyaṃ dāsyāma. Quang ký 1B, tr.29b13 ; “Thế gian khi cho mượn
tiền của đều có giao ước người mượn phải trả đủ
trong ba lần, cho nên nói như vậy.”
151 Quang ký
1B, tr.nt. : Kinh nói lược tụ (ekadhyam abhisaṃkṣipya),
đâu có thể từng cái riêng biệt được gọi là uẩn. Cho
nên như tụ, uẩn là giả.’
152 Quan điểm
của Luận chủ : Xứ thực hữu. Do đó, đây là giả thiết
của Kinh bộ nạn vấn Luận chủ.
153 Cf. Tỳ
bà sa 74, tr. 384a18.
154 Ht. Ư
phần đoạn vị hữu phần 於 分 斷 謂 有 分 ; Cđ.,
nhất phần .. cụ phần 一 分 ... 具 分 . Skt. pradeśe’ pi
pradeśivad.
155 Ht.Căn
tánh 根 . Skt. indriya. Quang ký 1B, tr. 30a10 : căn , chỉ căn cơ
mà tự thể là năm căn ( tín ... ).
156 Ht. Gốc
rễ của sự đấu tránh 諍 根 . Skt. vivādamūla. Cf. Tập dị
15, tr.131 : “sáu gốc rễ của sự đấu tránh.”.
157 Ht. đam
mê dục vọng và đắm chấp quan điểm 貪 著 諸 欲,貪 著
諸 見 . Skt. kāmādhyavasānam,dṛṣṭyadhyavasānam ca. Cf. Tỳ
bà sa 74, tr. 385a27. Quang ký 1B, tr. 30a ; “Tại gia ham mê dục
vọng, xuất gia đắm trước quan điểm”.
158 Ht. Nhơn
thứ đệ 次 第 因 : thô 麤 nhiễm 染 và khí 器
, sẽ nói ở sau.
159 .Ht. Thể
của nó ... không phải là thức 體 非 色 .....非
識 . Cf. Tỳ bà sa 74, tr. 385b16.
160 Ht. Uẩn
thứ sáu 第 六 蘊 . Cf. Tỳ bà sa 74, tr. 385c2.
160 Ht. Uẩn
đã diệt rồi, không còn gọi là uẩn 蘊 息 應 非 蘊
. Cf. Tỳ bà sa 74, tr. 385b17 :”Vô vi là chỗ cứu cánh diệt
của uẩn nên không thể lập làm uẩn”
161 Ht. Ví
dụ kia so sánh với xứ giới là sai lầm 彼 於 處 界......
成 七失 . Spht, tr. 66 ( T. Tuệ Sỹ) : Nếu ghè vỡ,
không còn là ghè; uẩn diệt không thể là uẩn; cũng vậy,
xứ diệt không thể là xứ; giới diệt không thể là giới.
Như thế vô vi không được an lập trong pháp giới pháp xứ.
Chính lý 3, tr. 345a12, biện minh quan điểm của Tỳ bà sa (xem
ct. 159), “ Chúng sinh chấp ngã trong toàn bộ uẩn môn. Khi
nhập vô dư vị, các uẩn tức thời đình chỉ. Xứ và giới
thì không như vậy .. Nơi nào hoàn toàn không có tướng
của uẩn, nơi đó được nói là uẩn đình chỉ. Nơi ba vô
vi, hoàn toàn không có nghĩa tích tụ nên có thể nó là uẩn
đình chỉ. Nhưng không phải rằng ở đó không có ý nghĩa
chủng tộc và sinh môn.”
162 Ht. Vì
tính chất ... sắc là thô 色 有 對 ..... 蘊 中 麤
. Cf.Tỳ bà sa 74, tr.584b1.
163 Ht.Căn
cứ ... thứ tự các uẩn 隨 麤 立 蘊 次 第 . Cf. Tỳ
bà sa 74, tr. nt. : “Bốn uẩn phi sắc tuy không hình chất nhưng
y theo hình tướng mà phân biệt thô tế.”
164 Ht. Hữu
đảnh 有 頂 ; đệ nhất hữu 第 一 有 . Skt. Bhavāgra
.
165 Ht. Tư
思 , hành 行 . Skt. saṃskāra. Spht., tr. 66 (T. Tuệ Sỹ) : saṃskāramātra
- prabhāvitaṃ ... , ở đây, do tư (cetanā), tuổi thọ được
kéo dài tám mươi nghìn kiếp.”
166 Ht. Bốn
uẩn ... của thức 此 即 識 住 . Xem Tập dị 8,tr. 400c16.
167 Ht. Mười
xứ ... sắc xứ 十 處 ......立 色 處 名 .Cf. Tỳ bà sa
73,tr. 397c3 : “Năm căn, năm cảnh và một phần pháp xứ, đều
là sắc uẩn, nhưng chỉ một xứ được gọi là sắc xứ.”
168 Ht. Mười
hai xứ ... gọi là pháp xứ 十 二 處 ..... 立 法
處 名 . Cf. Tỳ bà sa 73,tr. 380a24 ; “Tự thể của mười
hai xứ đều là pháp, nhưng một xứ được gọi là pháp xứ.”
169 Ht. Cảnh
境 và hữu cảnh 有 境 ; Cđ., căn 根 và trần 塵 . Skt. viṣayin,
viṣaya: chỉ cho sự nhận thức và đối tượng nhận thức.
170 Ht. Thế
gian .. là sắc xứ 世 間 ....... 非 於 眼 等 . Cf. Tỳ
bà sa 73,tr. 379c27 ; “ Nếu xứ nào có đủ hình sắc và hiển
sắc thì được lập làm sắc xứ.”
171 Bảo sớ
1B,tr. 492a3 : “ Đây là giải thích của các Luận sư Tạp
tâm luận. Cf. Tạp a tỳ đàm tâm luận 1 (Pháp cứu) tr. 873a29.
172 Ht. Ngữ
âm 語 ; ngôn âm 言 音 .Sphut., tr. 91. ( T. Tuệ
Sỹ) : đây là quan điểm của Sautrāntika .
173 Ht. Danh
từ 名 ; Cđ. văn cú 文 句 . Sphut., tr. nt., các bộ
phái khác ngoài kinh bộ。
174 Ht. Pháp
uẩn túc luận 法 蘊 足 論 . Cđ. : “có một bộ
phận A tỳ đàm được gọi là pháp uẩn.”. Theo đây, Dharmaskandha
là danh từ chung không chỉ một tác phẩm nào. Bảo sơ 1B,
tr. 492b13, giải thích đoạn dịch của Cđ. : “A tỳ đạt
ma tạng của Phật gồm có 9 phần : 1.Pháp ấm; 2.phân biệt
hoặc; 3.phân biệt thế; 4.phân biệt nhân; 5.thành lập giới;
6.danh tụ; 7.đoá đắc; 8.nghiệp tướng; 9.định tướng..”
175 . Đây
là quan điểm của Thế Thân về lượng của pháp uẩn.
176 Ht.Tập
tính 行 . Skt. carita.
177 Ht.
Giải thoát tri kiến 解 脫 知 見 . Cf. Tỳ bà sa
33, tr. 171b8
178 Ht.
Biến xứ 遍 處 ; Biến nhập 遍 入 . Cf. Tập dị
19,tr. 447a.
179 Ht.
Đa giới kinh 多 界 經 , Trung 47, kinh 181, đại 1, 723a. Cf. Pháp
uẩn 10, “20. Phẩm đa giới” , đại 26, 501b.
180 Ht.
Hư không 虛 空 . Cđ., hư không vô vi 虛 空 無 為 。
181 Ht.Truyền
thuyết.傳 說 Cf. Tỳ bà sa 75, tr. 388a29. Thuận chánh lý
3, tr. 347b5 : “ Nói là truyền thuyết vì không tin ... ; Thượng
toạ nầy cùng với các nhà Thí dụ bộ nói rằng hư không
giới không tách rời với hư không, nhưng thể tính của hư
không kia vốn không thật hữu.”.
182 . Ht. Chất
ngại rất lớn 極 能 為 礙 . Theo nguyên văn bản Skt.(T. Tuệ
Sỹ) : tasya tat sāmantakam iti. Cđ., và Ht. hiểu rất khác nhau.
Theo Cđ., đại danh từ tasya (của nó) chỉ cho sáng và tối;
tat chỉ cho ngại sắc. Ht. tat chỉ cho không giới sắc.
183 Ht. Tục
sanh tâm 續 生 心 ; Cđ., Thác sanh tâm 托 生 心 .
184 Ht. Mạng
chung tâm 命 終 心 ; Cđ., tử đoạ tâm 死 墮 心 .
185 Ht.
Duy trì sinh mạng 恆 持 生 . Tỳ bà sa 75, tr. 387b22
: “ Do sáu giới nầy năng sinh, năng dưỡng, năng trưởng
thân có sắc và không có sắc của các hữu tình.” Sphut.,
tr.98 (T. Tuệ Sỹ) : ete hi janmano janakapoṣakasaṃvardhakatvād
ādhārabhūtāḥ, những giới nầy là điểm duy trì, vì chúng
sinh sản, nuôi dưỡng, phát triển sự sinh. Thuyết nhất thiết
hữu bộ câu xứ luận , quyển 1 hết.