Nói
đến sự lễ lạy, người Phật tử chúng ta chắc hẳn không
ai cảm thấy mới mẻ và xa lạ gì với sinh hoạt tâm linh
hằng ngày đó nữa. Sinh hoạt đó đã trở nên quen thuộc
với những người tin Phật, thậm chí đã trở thành một
nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Ta tin Phật, ta cảm mến
ân đức vô lượng của ngài đối với chúng ta, cảm mến
trí tuệ tuyệt vời và công đức vô biên của ngài, mà hằng
ngày gần gũi tôn tượng của ngài để lễ lạy và xưng tán,
để tụng đọc kinh văn, làm cho những lời dạy có giá trị
vượt thoát thời gian của đức Thế tôn thấm sâu vào từng
tế bào của cơ thể làm nên sự sống tươi đẹp và bình
an ngay trong đời sống này.
Tuy
nhiên bên cạnh những cái hay cái đẹp của sự thực tập
lễ lạy vẫn có những sự lễ bái mang hình thức phù phiếm
và ba hoa, mang nội dung cầu cạnh và tiêu cực. Đó là lý
do tại sao chúng ta cần tìm hiểu về sự lễ lạy để xác
định cho được tính tích cực của nó và để cho sự thực
tập của chúng ta ngày thêm nhiều lợi ích.
BẢY
CÁCH LẠY.
Trong
luật Sa-di có nói đến bảy cách lạy mà chúng ta không thể
không biết (Giáo liệt thất chủng lễ bất khả bất tri):
1.
NGÃ MẠN LỄ, là sự lễ lạy mà vẫn còn ôm một cái ngã
không chịu quán chiếu để chuyển hoá. Chúng ta thường nghĩ
về chữ ‘ngã mạn’ với hàm ý là không khiêm nhường,
hống hách, trịch thượng, cho mình hơn người. Danh từ này
thực ra có những ý nghĩa khác xuất phát từ tiếng Phạn
là Māna (kiêu mạn), có bảy loại:
Thứ
nhất là Mạn (Māna), có trội hơn người khác về một số
mặt và có ý tưởng là mình hơn người và sinh ra tự hào,
tự đắc.
Thứ
hai là Quá mạn (anti-māna). Quá mạn có nghĩa là đối với
những người tương đương với mình mà mình lại cho là mình
hơn người.
Thứ
ba là Mạn quá mạn (mānati-māna), đối với những người
có đức độ hơn mình mà mình lại cho là mình hơn người
đó.
Thứ
tư là Ngã mạn (ātma-māna). Đây là mạn gốc, bởi vì nó
làm phát sinh ra những nhận thức sai lầm khác. Chúng ta nhận
lầm những yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức là một
cái ngã biệt lập với các yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành,
thức khác. Chúng ta bị kẹt vào ý niệm về ngã, ngã sở.
Thứ
năm là Tăng thượng mạn (adhimāna). Khi chưa chứng ngộ mà
cho mình đã chứng ngộ pháp thượng nhân. Như chưa chứng
đắc quả vị A la hán mà nói đã chứng được quả vị A
la hán. Đây là giới thứ tư của tỷ khưu giới.
Thứ
sáu là Ti mạn (ūna-māna). Đối với quả vị Phật, các vị
Bồ tát đại nhân, những người có nhân cách quá lớn lao
vĩ đại mà có mặc cảm rằng mình không bao giờ đuợc như
thế. Mặc cảm này là đối tượng giáo hoá của các kinh
đại thừa với tư tưởng “nhất thiết chúng sanh giai hữu
Phật tánh”.
Thứ
bảy là Tà mạn (mithyā-māna), không có đức độ, không hiểu
biết, không giải thoát, không có từ bi, không có khiêm nhường…
Mà đôi khi chỉ với danh xưng được người ta gọi, mình
có ảo tưởng là mình có những đức tính đó thực.
Lễ
Phật, lễ các vị Bồ tát, Thánh nhân mỗi ngày là để nhìn
nhận và chuyển hoá những cái mạn như thế. Nếu không, cái
lạy chẳng có ý nghĩa nào cả.
2.
CẦU DANH LỄ, là cái lễ mang nặng hình thức nghi lễ phô
trương, cái lễ chỉ có ý nghĩa cầu cạnh, cuối cùng cũng
chỉ để tô bồi thêm cho bản ngã của mình mà thôi.
3.
THÂN TÂM CUNG KÍNH LỄ, là lễ lạy với tất cả sự chí thành
khẩn thiết của thân tâm. Cung là sự kính trọng được thể
hiện ra bên ngoài thân tướng, kính là sự kính trọng từ
trong sâu thẳm của tâm tư. Năm vóc sát đất, thân và tâm
an trú trong giờ phút hiện tại của sự lễ bái. Trong giờ
phút đó hành giả ý thức rất rõ mình đang thực hành lễ
lạy và đồng thời hiểu rõ đối tượng của sự lễ lạy
với tất cả những công hạnh, trí tuệ, từ bi của từng
vị. Như khi kính lễ đức Phật Thích ca mâu ni, hành giả
phải hiểu rõ cuộc đời của đức Phật với những công
hạnh cao cả, lòng thương yêu chúng sanh vô lượng, sự khao
khát chân lý tuyệt đối, thái độ dứt khoát ra đi, từ bỏ
đời sống vương giả, sự nỗ lực tu tập, sự nghiệp giáo
hoá chúng sanh,… Hay khi xướng danh hiệu đức Quan Thế Âm
Bồ tát là phải thấy được hạnh lắng nghe dung thông, đức
từ bi cứu khổ của ngài. Rồi danh hiệu của đức Văn thù
với hạnh nhìn sâu bằng con mắt tuệ giác. Danh hiệu của
đức Phổ hiền với hạnh nguyện bao la. Đức Địa tạng
với hạnh nguyện đi vào những chốn tối tăm tuyệt vọng
để hành đạo. Đức Di lặc với hạnh hỷ xả bao dung vv…
Với sự hiểu biết như vậy, hành giả sẽ dễ dàng phát
sinh niềm tin, lòng tôn kính và lòng khao khát muốn học theo
hạnh nguyện của các ngài trên con đường tu đạo, phụng
sự chúng sanh. Bởi vì khi niệm tưởng tới công hạnh của
các vị, thì chính cái năng lượng của niệm cộng với năng
lượng hộ trì của chư Phật, chư vị Bồ tát, thánh hiền,
thiện thần đã tưới tẩm và làm nảy sinh hạt giống vị
tha trong tâm thức của mình. Tâm nguyện vị tha phát sinh và
được nuôi dưỡng, thì tâm niệm vị kỷ hẹp hòi, chấp
ngã tất sẽ nhẹ bớt.
Với
sự cung kính này khi trong tư thế phủ phục trước tôn tuợng,
ta có thể thực tập tâm từ bi bằng cách khởi tâm niệm
“mong sao con có thể yêu thương được mọi người, mong sao
con có thể tha thứ cho lỗi lầm của mọi người, mong sao
con có thể thấy được con với mọi người là một”…
Như vậy cái lễ này đích thực là pháp thực tập để phát
khởi và nuôi dưỡng bồ đề tâm.
4.
PHÁT TRÍ THANH TỊNH LỄ. Tâm hành giả đã bắt đầu lắng
bớt những ý niệm xôn xao về bản ngã vị kỷ. Những ý
niệm ngông cuồng tự cao, tự đại, ảo tưởng về cái tôi
của mình đã ít nhiều dừng lại. Tâm tư bấy giờ tĩnh lặng
hơn và hành giả bắt đầu thấy được những điều mà lâu
nay mình chưa thấy. Thấy được những lỗi lầm của mình
dễ dàng hơn. Cái thấy ấy là trí tuệ. Trí tuệ chỉ phát
sinh khi tâm được định tĩnh (nhân định phát tuệ). Người
có trí là người nhìn thấy được những lỗi lầm của mình.
Đây là lúc hành giả đối diện với cái ‘tôi’ của mình.
5.
THÔNG NHẬP PHÁP GIỚI LỄ. Khi tâm đã thanh tịnh, trí đã
phát sinh, cái nhìn về bản ngã đã có sự thay đổi ngày
một gần thêm với sự thật vô ngã, hành giả đi vào quán
chiếu tính vô ngã của vạn pháp để hoà nhập và cảm thông
với các pháp. Đi vào và hoà làm một với các pháp. Với
sự chí thành, với dụng tâm như vậy, một lạy sẽ cảm
thấu tới chư Phật, mà như trong Kinh Lương Hoàng sám nói
đây là lúc sinh phước và diệt tội.
6.
CHÁNH QUÁN TU THÀNH LỄ. Là sự quán chiếu chân chánh để
thấu đạt tính nhị đế dung thông, thấu triệt ngã không,
pháp không, thấy được tính chân như của vạn vật.
7.
THẬT TƯỚNG BÌNH ĐẲNG LỄ. Thật tướng là tướng chân
thật của các pháp. Đây là cái lạy siêu việt mọi ý niệm,
cái lạy mà không còn có người lễ lạy và người được
lễ lạy. Tất cả đều bình đẳng trong thể tánh chân không.
Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư
nghì.
Chúng
ta đã khảo sát qua bảy cách lạy mà trong luật đề cập
tới. Hai cách lạy đầu mang ý nghĩa tiêu cực và năm cách
lạy sau mang ý nghĩa tích cực. Tuy có sự hiện diện của
hai mặt phản diện ấy, nhưng nó vẫn có tính tương tức
tương nhập. Nêu ra hai mặt như vậy để chúng ta dễ dàng
nhận ra đâu là đúng, đâu là sai và cũng để chúng ta có
cơ hội nhìn sâu hơn sự thật về bản ngã của chính mình.
Nếu chúng ta nhìn dưới cái nhìn của Tứ Đế, chúng ta thấy
hai cách lạy đầu là Khổ Đế và Tập Đế và năm cách lạy
sau là Diệt Đế và Đạo Đế. Khi nêu ra một sự thực tập
nào đều có sự thực tập nhận diện và chuyển hoá.
Với
nhận thức về đức độ cao cả của chư Phật, chư vị Bồ
tát, tà mạn của hành giả sẽ được đoạn trừ. Nếu biết
Đại đức là người có đức lớn thì ta phải tu tập tinh
tiến để xứng đáng với danh xưng ấy. Đức ở đây là
pháp thân giải thoát, và Niết bàn, là tấm lòng bao dung rộng
lượng… Như vậy ảo tưởng về danh xưng của mình sẽ tan
biến, tà mạn sẽ được đoạn trừ. Nếu thấy được bản
ngã của mình là không có thực, mình với người chỉ là
một thì không còn có ý niệm phân biệt và so đo nữa. Do
vậy những Mạn, Quá mạn, Mạn quá mạn cũng đồng thời
tan biến hết. Nếu thấy được thật tướng bình đẳng giữa
Phật, chúng sanh, giữa người lạy và người được lạy,
thì không có Ti mạn.
Sự
lễ lạy như vậy là để nâng cao phẩm chất của mình chứ
không phải làm hạ phẩm giá của con người như một số
người lầm tuởng. Một nhân cách siêu việt, cao tột như
đức Phật tưởng không ai đạt đến được mà đức Phật
bảo tất cả chúng sanh đều có thể đạt đến. Có vị giáo
chủ của tôn giáo nào nói như vậy chưa? Có vị giáo chủ
nào coi giá trị của môn đệ mình có thể ngang bằng với
mình như thế chưa? Đó là thông điệp tuyệt đối mà đức
Phật đã để lại cho mọi loài chúng sanh.
Trong
Thiền môn nhật tụng năm 2000 có pháp môn thực tập ba cái
lạy. Đây là một cách thực tập sâu sắc ý nghĩa đích thực
của sự lễ lạy. Nó giúp chúng ta quán triệt các ý nghĩa
của những cách lạy trên, giúp chúng ta quán chiếu tính vô
tướng của vạn pháp. Giúp chúng ta vượt thoát những ý niệm
về Ngã, về Nhân, về chúng sanh và về thọ giả.
Lễ
lạy là pháp môn hành trì hằng ngày của chúng ta. Lạy Phật
sẽ tạo ra nhiều phước đức, giúp ta có nghị lực để
vượt qua những chướng duyên trên con đường tu đạo. Lạy
Phật cho tâm hồn lắng, lạy Phật để gột rửa thân tâm.
Lạy Phật để nối kết liên hệ giữa ta với đức Phật,
với các vị Bồ tát, với bồ đề tâm của mình và nuôi
dưỡng những hạt giống lành mạnh trong tâm thức. Cho nên,
trong truyền thống thiền học Việt Nam, lễ lạy là một phần
quan trọng của công phu tu tập. Muốn đi vào thiền định
thâm sâu, trước hết phải hành pháp sám hối lễ lạy mà
chúng ta thường gọi là dọn rửa thân tâm. Tiêu biểu cho
sự thực tập này là thiền sư Trần Thái Tông với Lục thời
sám hối khoa nghi. Mỗi ngày sáu thời lễ bái, sám hối. Ngài
tự đặt cho mình một thời khoá nghiêm mật như vậy để
hành trì. Và không chỉ thiền tông, các tông phái khác cũng
rất chú trọng đến việc lễ lạy và sám hối.
Những
công việc lặt vặt thuộc về tay chân được coi là rất
quan trọng trong thiền môn để giúp chấm dứt sự đờ đẫn
của tâm trí, điều mà rất dễ phát sinh bởi sự thực tập
thiền toạ. Những việc gánh nước, bửa cũi, làm vườn,
quét dọn... làm cho thiền trở nên sống động và uyển chuyển.
Khi làm những công việc ấy, thiền sinh vẫn duy trì năng lượng
chánh niệm để thu nhiếp thân tâm và tạo nên tình huynh đệ
luôn hiện hữu trong họ. Cho dù những việc ấy có nhọc nhằn
và dơ bẩn (như việc lau chùi nhà cầu chẳng hạn) đến đâu,
họ cũng không hề tránh né. Và vì vậy “xét về mặt đạo
đức, những công việc có liên quan đến sự tiêu hao thể
lực đều xác chứng cho những ý tưởng lành mạnh. Đặc
biệt trong thiền tông, điều này là sự thật. Những ý tưởng
nào không phản ánh đúng một cách mạnh mẽ và có hiệu quả
trong đời sống thực tế, đều được coi là vô giá trị.
Niềm tin phải được thông qua kinh nghiệm chứ không phải
qua những khái niệm. Sự xác chứng tâm linh phải vượt lên
và cao hơn những suy đoán thuộc về tri thức; điều đó có
nghĩa là, chân lý phải được đặt trên đời sống kinh nghiệm
của mỗi người.” (D.T.Suzuki)
Sự
lễ lạy cũng có ý nghĩa như vậy trong đời sống thực tập.
Sự cúi xuống, duỗi lên là những hoạt động thể chất
làm cho máu huyết lưu thông, đánh tan sự đờ đẫn tâm trí.
Đồng thời trong không khí trang nghiêm, kính cẩn của điện
Phật, năng lượng chánh niệm rất dễ dàng được duy trì
và giúp tạo nên sự liên hệ giữa hành giả với Thầy, với
bạn, khiến dễ dàng có sự cảm thông. Đó cũng là sự thực
tập làm mới.
Trong
nhân quả của sự tôn kính, ‘kính thầy thì được làm thầy’;
xưng tán công đức của chư Phật, chư vị Bồ tát với tâm
chân thành, với nguyện vị tha, thì chắc chắn từ từ ta
sẽ đạt đến những đức ấy của các vị. Cho nên những
bài kệ xưng tán Phật, Pháp, Tăng là rất quan trọng trong
việc lễ lạy. Ngoài những bài kệ xưng tán có sẵn cũng
không hạn chế sáng tạo thêm những bài kệ mới để nói
lên sự tôn kính tự thâm tâm của mình.
Lễ
lạy như vậy không phải là sự mê tín và không làm cho con
người mất nhân cách, mà là một sự thực tập mầu nhiệm
làm tăng trưởng tính thánh thiện và hoàn thiện một nhân
cách vĩ đại trong tự thân (Phật tánh). Lạy xuống một lạy
là có thể làm cho tan biến cái bản ngã và có thể hoà nhập
với mọi người, mọi loài và hoà nhập với chư Phật, Bồ
tát trong mười phương và ba đời:
Cúi
đầu kính lạy
Phật
Pháp và Tăng
Trong
khắp mười phương
Và
ở trong con
Cùng
khắp pháp giới
Thấu
suốt ba đời
Con
xin phủ phục
Quay
về nương tựa.
Tất
cả mọi sự thực tập đều rất dễ rơi vào hình thức và
trống rỗng về nội dung. Nếu không có sự ý thức rõ rệt
ý nghĩa và không thấy tầm quan trọng của sự lễ bái, chúng
ta sẽ bị rơi vào ‘ngã mạn lễ’ và ‘cầu danh lễ’
và sự lễ bái chỉ là hình thức. Sự thực tập của chúng
ta trở nên vô nghĩa nếu không có nội dung của tâm Bồ đề.
Bởi tâm Bồ đề là tâm nguyện rộng lớn, một năng lượng
xuất phát từ bên trong thôi thúc chúng ta thực tập.
“Ngoài
tâm bồ đề,
Ngoài
khao khát hiểu biết lớn
Ngoài
nguyện ước thương yêu sâu
Con
không còn ước mong nào nữa cả.”
Hiểu
biết lớn (đại trí), thương yêu sâu (đại bi) là hai mặt
của tâm Bồ đề. Niềm khao khát ấy thúc đẩy sự thực
tập để làm ích lợi cho mọi loài và chính sự tu tập lại
để đạt đến sự viên mãn của tâm ấy. Cho nên tâm Bồ
đề là năng lực phát khởi và cũng là mục đích cuối cùng
của công trình tu tập. ‘Vong thất Bồ đề tâm, tu chư thiện
pháp, thị danh ma nghiệp’. 0
Q.T.