“Dù trăm năm ai
quên lũy tre làng
Dù ngàn năm ai quên tiếng
mẹ ru. ”
Lũy tre làng, lời mẹ ru, dù
người ta có thể quên, quên vì sự lãng quên, quên trong những
cuộc rong ruỗi kiếm tìm trong cuộc đời. Nhưng âm hưởng
của lời ru, hình ảnh lũy tre làng sẽ còn mãi đó trong lòng
người. Đó là những hình ảnh êm đềm, nhẹ nhàng sau những
tháng năm miệt mài lao đao. Những hình ảnh ấy đã đi vào
thi ca và sống mãi. Tất nhiên những gì đã đi vào thi ca thì
sẽ tồn tại với thời gian và giá trị của nó sẽ được
thời gian gạn lọc. Âm hưởng của tiếng chuông chùa cũng
đã đi vào thi ca tạo nên một nét đẹp nhân văn rất đáng
quý.
Tự bao đời, mái chùa đã
trở nên nơi quy thú tâm linh của con người. Đạo Phật từ
khi sáng ngời ở phía trời Tây Vức đã lan toả khắp cả
miền Đông Á. Đó là đạo lý của sự tĩnh thức. Tất nhiên
những sinh hoạt của những ai đi theo con đường ấy đều
phản ánh tinh thần tĩnh thức; một mái chùa cong cong, không
khí thanh tịnh an nhàn, một tiếng chuông ngân là tiếng trầm
hùng gọi con người về trong thực tại. Ấy vậy khi tìm đến
một cảnh chùa, người ta đã cảm nhận được một sự an
vui nhẹ nhõm mà trong cuộc sống đời thường không thể nào
tìm thấy được:
“Nhân quá trúc viện phùng
tăng thoại
Hữu đắc phù sinh bán nhật
nhàn”
(Nhân qua chùa gặp vị Tăng
cùng đàm luận
Bất giác thấy đời mình
mới có được nửa ngày nhàn)
Sống trong cuộc thế lắm bon
chen, nhiều toan tính, người ta khó có được một phút lắng
yên để sống thật với chính mình. Người ta bận rộn bởi
nhiều cách, bởi sinh nhai, bởi danh vọng, bởi tiền tài…,
họ cố tìm cho mình một vị trí, một ý nghĩa nào đó trong
cuộc đời để sống và thoả mãn. Nhưng tất cả những mối
bận tâm ấy trở nên mong manh hay không còn một ý nghĩa đích
thực nào nữa khi người ta đã tìm được những phút giây
yên tĩnh của nội tâm mình, để cảm nhận được mình, ý
thức thật rõ về mình. “Phút nông nổi để ngàn đời ân
hận, hạnh phúc nào hơn sự yên tĩnh của tâm hồn”.
Sự yên tĩnh của tâm hồn
là một điều thật sự đáng quý, mà khi có được, người
ta cảm nhận n
hư một sự trở về với
quê hương rất thực của mình. Bởi ai cũng có một tuổi
thơ thần tiên, không bận rộn lo toan, hồn nhiên và đẹp
đẽ. Chính ở tuổi thơ ấy, con người đã sống rất thực
với những hiện hữu chung quanh, với một tờ lá xanh non,
với hòn đá nhỏ, với chú bướm vàng, với bông bí đỏ…
với tất cả những gì yêu thương nhất. Âm vang tiếng chuông
là tiếng gọi thiết tha đưa người về với quê hương, xua
tan đi tất cả những vấn vương tục luỵ, những nỗi trần
tâm:
“Đánh tan tục lụy hồi
chuông sớm
Gõ nát trần tâm tiếng
mõ trưa”
Trong cảm hứng về thiên nhiên,
đất nước, con người một cách sâu sắc lắng đọng, người
ta đã cảm nhận trọn vẹn một tiếng chuông ngân dài trong
màn sương êm như hơi thở:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh
gà Thọ Sương
Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt
gương Tây Hồ. ”
Khung cảnh thiên nhiên, nhịp
sống con người hài hoà và tinh tế, tiếng chuông nghe thật
ấm áp và cảnh bỗng trở nên rất có hồn. Phải chăng đó
là tiếng của hồn thiêng dân tộc:
“Mái chùa che chở hồn
Dân tộc
Nếp sống muôn đời của
Tổ tông”
Ở đây, đời sống tâm linh
và đời sống xã hội đã hoà quyện vào nhau thành một thực
thể. Cùng một lúc, ta tiếp xúc được với cả hai cội nguồn
tâm linh và huyết thống; chẳng phải tổ tông đã tiếp nhận
một cách thông minh và hài hoà đời sống tâm linh đạo Phật
đó sao; chẳng phải đạo Phật đã làm cho dân tộc ta trở
nên một dân tộc thuần từ văn minh, có thuỷ, có chung, có
nhân, có hậu đó sao. Nét đẹp nhân văn nhân bản ấy là
nếp sống ngàn đời của tổ tông, của cuộc sống hiện
tại và cả của thế hệ tương lai.
Ta cũng lại nghe một âm điệu
tương tự của tiếng chuông ở một phong cảnh khác:
Gió đưa cành trúc là đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh
gà Thọ Khương
Chiều về trên bến sông
Hương…
Có nhiều người thắc mắc
có phải ai đó đã nhại lại khúc ca dao trước mà đặt và
đó tiếng chuông Thiên Mụ và dòng Sông Hương. Điều ấy
có lẽ chẳng quan trọng gì mấy. Ở đây, chuông Thiên Mụ
và dòng Hương Giang đã thành một giai điệu thi ca trong lòng
người dân xứ Huế. Bên dòng Hương lững lờ thơ mộng, tiếng
chuông cứ ngân dài lan tỏa trong không gian. Không gian càng
rộng, càng yên tĩnh, tiếng chuông nghe càng sâu lắng.
Cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều
cũng đã có hai câu thơ nói đến tiếng chuông:
“Sớm khuya lá bối phiến
mây
Ngọn đèn khiêu nguyệt,
tiếng chày nện sương”
Chày là chiếc dùi thỉnh chuông
có chạm hình con cá Kình tượng trưng cho sự tĩnh thức. Tiếng
chuông luôn dóng lên để thức tỉnh lòng người. Đây là
đoạn miêu tả về sự hạ thủ công phu của Kiều sau những
năm đầy lưu lạc với những chán chường đau khổ. Ai trong
chúng ta là Kiều. Ai đâu đó còn miệt mài trong danh lợi,
còn sầu rũ ruột vì quyến luyến những gì đã mất, hay đuổi
theo những hình bóng của hạnh phúc hy vọng xa xăm, có nghe
chăng tiếng chuông, tiếng chuông chùa văng vẳng gọi trở
về.
Cũng tiếng chày kình, Chu Mạnh
Trinh viết:
“…Vẳng bên tai một tiếng
chày kình
Khách tang hải giật mình
trong giấc mộng”
Khách tang hải là người trong
cõi vô thường. Tiếng chuông làm thức tỉnh bao người còn
mãi đắm chìm trong giấc mộng. Khách tang hải tuy sống trong
cõi vô thường mà không hay biết về vô thường, không ý
thức về sự thật vô thường của vạn thể, nên đang sống
đấy mà như mộng. Tiếng chuông đã làm họ giật mình tỉnh
thức, tỉnh thức để thấy cho rõ sự thật vô thường của
cuộc đời. Ý thức được sự vô thường là thấy được
đích thực cuộc sống, bởi vô thường là sự sống, không
có vô thường thì không có sự sống. Nhờ ý thức như vậy
mà con người sống có ý thức hơn, bình an hơn, minh triết
hơn.
Một thi sĩ người Hoa cũng
đã làm cho tiếng chuông vang mãi cùng bài thơ bất hủ của
mình:
“Nguyệt lạc ô đề sương
mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối
sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn
Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách
thuyền”
Tản Đà dịch:
Trăng tà tiếng quạ kêu
sương
Lửa chài cây bến sầu
vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô
Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông
chùa Hàn San.
Có rất nhiều giai thoại về
bài thơ này. Thi sĩ Trương Kế là một vị quan coi sóc việc
buôn bán, sống vào cuối thế kỷ thứ tám. Thi sĩ đã lưu
danh thiên cổ chỉ với một vài bài thơ. Người đời sau
có nhiều thắc mắc về bài thơ này, nhất là thắc mắc chùa
làm gì mà đánh chuông giữa khuya, nhưng như vậy mới ra thơ.
Nếu sáng ra ông còn phải coi sóc hợp đồng thì còn đâu
tiếng chuông chùa Hàn San còn lưu mãi đến ngày nay. Ngày nay,
chùa Hàn San đã nổi tiếng vì tiếng chuông ấy nên du khách
đến nhiều và không khí không còn như xưa nữa và tiếng
chuông cũng không còn thiêng liêng như thuở nào. Người ta
đã ghi nhận được một tiếng thở dài nhưng cũng rất tự
tin của Thầy trụ trì ở đó: “Chùa Hàn San chỉ là một
chùa nhỏ, nó chỉ lưu danh nhờ một tiếng chuông, thế nhưng
chúng ta là Phật tử, chùa nhỏ chùa lớn không quan trọng,
chúng chỉ là danh tự. ” (Nguyễn Tường Bách, - Mùi hương
trầm).
Vâng, tất cả chỉ là danh
tự, chỉ có tiếng chuông đưa người về trong tĩnh thức,
với chánh niệm mới thật sự là đáng kể. Như sự thức
tỉnh của Trương Kế đã làm sống mãi ngôi chùa và làm vang
mãi tiếng chuông từ ngày ấy.
Tiếng chuông ngân vang trong
không khí thanh u tĩnh mịch của trời khuya thức tỉnh bao người.
Nhưng trong hoàn cảnh ấy, có người cũng “thức” dậy
để làm những công việc ác nghiệp như bác đồ tể. Nhưng
đến lúc nào đó đủ duyên lành, bác đồ tể của chúng
ta cũng được thức tỉnh (nhưng ở đây không còn là tiếng
chuông thường nhật mà là ‘không’ tiếng chuông). Và từ
đó, người ta thấy, đêm đêm khi nghe tiếng chuông thong thả
ngân vang, bác trở dậy, lạy Phật, tụng kinh, sám hối những
ác nghiệp cũ. Bác không cần phải trách móc mình, chẳng cần
bận tâm về những hành nghiệp cũ của mình. Bác ý thức
được đời sống của mình ngay trong hiện tại, về quá khứ
và vững bước trên con đường hướng thiện của mình về
tương lai. Tiếng chuông sẽ giúp bác trở về với nếp sống
hiền từ giải thoát, đánh thức những hạt giống từ bi
bấy lâu còn ngủ yên trong tiềm thức.
Lắng lòng nghe, lắng lòng
nghe!
Tiếng chuông huyền diệu
đưa về nhất tâm.
Tiếng chuông chùa đã đi vào
trong thi ca, trong truyện kể một cách nhẹ nhàng mà sâu lắng,
bình dị mà thiêng liêng. Nó như là tiếng gọi của đức
Phật đưa chúng ta về trong hiện tại của chính mình. Trong
cuộc đời, chúng ta sẽ rất dễ bị cuốn theo những quay
cuồng của nhịp sống thời đại. Chúng ta rất dễ bị lạc
bước bởi những tập khí của mình. Có những lúc chúng ta
thương đau, buồn giận, oán thù, thì xin hãy lắng lòng nghe
một tiếng chuông để còn kịp thời dừng lại, để mỉm
cười và để thương nhau: “Những ai lạc bước xin dừng
lại,Tĩnh giấc hôn mê thấy nẻo về…
Và để nghe lời chuông nhắn
nhủ:
Boong boong… tôi là chuông
đại hồng…
Boong boong… nghe tiếng tôi
xin người nở nụ cười
Boong boong … nghe tiếng
tôi xin người đem mắt thương nhìn cuộc đời…
Quảng Thông
X