TIẾT HAI
NGUYÊN LAI PHÁT XUẤT.
Trước khi xét đến nguyên
lai phát xuất của Trúc Lâm Yên Tử, chúng ta ngược dòng Thiền
Tông để tìm khởi nguồn của nó.
Tại Hội Linh sơn, khi đức
Phật cầm hoa sen khai thị trước đại chúng, lúc bấy giờ
tất cả đại chúng đều im lặng, chỉ riêng có ngài Ca-diếp
trực ngộ được tâm ý của Phật, mĩm cười. Phật liền
bảo: «Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, pháp
môn vi diệu, thật tướng, vô tướng, nay đem phó chúc cho
Ma-ha Ca-diếp. »
Chính lời phó chúc bí pháp
ấy là khởi điểm truyền thống Thiền tông. Thiền tông được
truyền thừa từ ngài Ca-diếp đến A-nan, rồi lần lượt
truyền đến vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề-đạt-ma. Bồ-đề-đạt-ma
muốn nối tiếp làm sống dậy Thiền học nên đã tiếp tục
lộ trình từ Tây Trúc sang Trung hoa thuyết giảng yếu chỉ
Thiền học. Nền Thiền học bắt đầu du nhập vào Trung hoa
và chính Bồ-đề-đạt-ma là vị Tổ đầu tiên của Thiền
tông Trung Hoa.
Thế rồi Thiền tông được
nối tiếp lần lượt bởi các ngài Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo
Tín vv… Đồng thời với ngài Đạo Tín có ngài Tì-ni-đa-lưu-chi.
Ngài Tì-ni-đa-lưu-chi sang truyền pháp tại Việt Nam; đem những
tư tưởng Thiền học gieo rắc vào trong nhân gian. Ngài chính
là người sáng lập Thiền tông Việt Nam và được tôn xưng
là đệ nhất Tổ Thiền tông Việt Nam. Sau đó ngài truyền
cho Pháp Hiền lập thành một phái Thiền tông.
Đến đời Đường (820) lại
có Ngài Vô Ngôn Thông cũng là người Trung Hoa sang truyền giáo
lập thành phái Thiền thứ hai. Rồi sau đó là phái Thảo Đường.
Những trình bày trên chỉ
là sơ lược sự truyền thừa Thiền tông. Ở đây chúng ta
sẽ đặc biệt tìm điểm khởi nguồn trực tiếp của dòng
Thiền Trúc Lâm Yên Tử, như là một trong những nét đặc
thù xuất phát của Thiền học Việt Nam.
Đề cập đến Thiền học
Việt Nam, tức phải nói đến đời nhà Trần vì triều đại
nhà Trần là một triều đại mà suốt cả các vị vua đều
được un đúc bởi tư tưởng Thiền học, trong đó Trần Thái
Tông là người tiêu biểu nhất. Một gốc tích đáng kể nhất,
và có thể được coi là quan trọng nhất trong chứng cứ khởi
phát Thiền Trúc Lâm Yên Tử đó là núi Yên Tử. Núi Yên Tử
đã được gắn liền với Thiền Trúc Lâm, và chính nơi đây
Trần Thái Tông đã khai mở con đường mới về Thiền học.
Núi Yến tử là một dãy rừng
ở Bắc Việt. Bắc giáp Bắc giang. Đông giáp bờ bể Đông
hải. Núi Yên tử còn được gọi là Tượng sơn.
Thanh nhất thống chí có chép:
«An Kỳ Sinh thời Hán bên Tàu đã chứng đạo tại đây. »
Chính vì An Kỳ Sinh chứng đạo ở trên núi này nên đời
sau người ta gọi là An hay Yên Tử. Sách, theo đó, cũng viết
như vậy.
Đại Nam nhất thống chí chép:
«Đời Đường, Tôn Quang Định có bài ký ‘Động thiên phước
địa’ nói: Núi An Tử ở nước ta là một phước địa (kiểu
đất tốt) trong 72 phước địa. » Và Hải nhạc thanh sơn
đời Tống lấy núi này làm phước địa thứ tư. Sách Sử
Lễ chí đời Minh nói: «Nước An Nam có 21 danh sơn liệt kê
vào tự điển, mà núi An tử và núi Kiệt đặc là hai núi
trong số ấy. »11
Như thế, núi Yên tử vốn
là một danh sơn đáng kể. Các vua đời Trần đã lấy núi
này làm nơi để lập am mà tu hành, tham cứu Phật pháp và
chính ở đây các Thiền sư đời Trần như Pháp Loa, Huyền
Quang vv… đã đắc pháp, truyền y bát.
Hơn thế, núi Yên tử còn có
những đặc tính riêng mà không núi nào có thể sánh được.
Dù khách trần tục hay những
bậc đạo sĩ khi bước chân vào núi Yên tử là thấy ngay
cảnh chùa Bí tượng, quanh đồi thì có suối tắm và
cửa ngăn. Suối tắm là nơi Điều Ngự Giác hoàng vào Yên
tử có xuống tắm; cửa ngăn là cửa bước vào rừng. 2
Tiến đến là cảnh chùa Linh
nham. Linh nham cũng được gọi là Cầm thực và tiếp theo là
chùa Long động cũng gọi là chùa Lân. Ở đây tháp tượng
thật nguy nga, thờ ba vị Tổ Trúc Lâm. Sau chùa có một ngôi
tháp lớn bằng đá, trong tượng đá có ghi hàng chữ "Sắc
kiến tịch quang tháp". Đây là tháp Tổ đệ nhất có bia khắc
năm Bảo thái Lê Dụ Tông thứ 8 (1727) của Sa-di Như Như, thuật
lại sự tích "Tuệ Đăng Hòa thượng Chính Giác Chân Nguyên
Thiền sư" và chính là vị Tổ của chùa Lân.
Từ chùa Lân đi sâu vào là
suối Giải oan. Giác hoàng lập một ngôi chùa ở đây với
mục đích làm chay siêu độ cho những cung nhân đã tuẩn tiết
khi theo gót vua Trần Nhân tông cho nên cũng gọi là chùa Giải
oan. Suối Giải oan rộng độ hai trượng, phát nguyên từ đỉnh
núi, nước xanh biếc, mát lạnh, còn gọi là Hổ khê. Sư Huyền
Quang có làm bào thơ:
An Tử Sơn Cảm Tác:
安子山感作
Am bức thanh tiêu lãnh,
庵逼青霄冷
Môn khai vân thượng tằng.
門開雲上層
Dĩ can Long động nhật,
已竿龍峒日
Do xích Hổ khê băng.
猶尺虎溪冰
Bão chuyết vô dư sách,
抱拙無餘策
Phù suy hữu sấu đằng.
扶衰有瘦籐
Trúc lâm đa túc điểu,
竹林多宿鳥
Quá bán bạn nhàn tăng.
過半伴閒僧
Việt dịch:
Ở Am An Tử:
Chiếc am cao lạnh lẽo,
Cửa mở giữa tầng mây.
Trời động Rồng đã đứng,
Băng khe Hổ còn dày.
Kém tài không mẹo dấu,
Nhờ gậy đỡ thân gầy.
Rừng trúc nhiều chim ngủ,
Phần đông bạn với thầy33
Bài thơ trên là chỉ tự bến
Trung phong thẳng đến chùa Giải oan. Trước mặt của chùa
này có khe và sau có núi, nhiều thông, trong có chùa Thanh thạch
(chùa Đá xanh); có núi đá gọi là núi Hạ kiệu (mỗi khi
vua Anh Tông nhà Trần đến đây phải xuống kiệu nên gọi
tên như thế). Bên cạnh núi Ngọc có ba ngọn tháp Tổ, rồi
đến "Huệ Quang kim tháp" tức là tháp "Điều Ngự Giác Hoàng"
Tổ thứ nhất trong Trúc lâm Tam Tổ.
Từ tháp "Điều Ngự Giác Hoàng"
đi thẳng lên là chùa Hoa yên. Thời trước chùa này có tên
là Vân yên rồi do vua Lê Thánh tông (1470-1497) đổi lại là
Hoa yên. Ngoài ra còn được gọi là chùa Cả hay chùa Ân tử.
Một ngôi chùa khác cũng
đáng được kể. Đó là chùa Am trượng, đặc biệt trồng
rất nhiều cây mộc tê (cây hoa mộc). Cứ mỗi lần hoa nở
thì mùi hương thơm ngát, vì thế Thái Thuận đã có câu thơ:
"Nhất thanh thu tại mộc tê hoa" (Một tiếng thu động thì
hoa mộc tê nở). Từ chùa Hoa yên đi lên đỉnh, lại có chùa
Vân tiêu. Chùa Vân tiêu thờ tượng tháp uy nghiêm hơn cả
và chính nơi đây Trần Anh tông có vịnh một bài thơ:
Đình đình bảo cái cao ma
vân,
Kim tiên cung khuyết vô phàm
trần.
Tuyệt phong cánh hữu Phật
đường tại,
Thanh phong lãng nguyệt tương
vi lân.
Thanh phong tác địa vô hưu
yết,
Minh nguyệt đương không
diệu băng tuyết.
Thử phong thử nguyệt dữ
thử nhân,
Hợp thành thiên hạ tam
kỳ tuyệt.
Việt dịch:
Thẳng tắp tầng mây che
lọng lớn,
Nơi tiên cung chẳng gợn
bụi trần.
Đỉnh non chùa Phật trân
trân,
Trăng trong gió mát bạn
thân nơi này;
Vùng quạnh nẽo, suốt ngày
gió mát,
Gương Hằng Nga như hệt
tuyết băng;
Này người, này gió, này
trăng,
Hợp nên tam tuyệt đâu
bằng Vân tiêu!44
Sau chùa Vân tiêu thẳng lên
là chùa Đồng tại đỉnh núi. Bên trong có một hòn đá đứng
tự nhiên cao ba thước. Đấy là tượng An Kỳ Sinh. Trong thời
ba tượng Quan Âm và tượng Trúc lâm Tam Tổ. Chính đây là
tuyệt đỉnh của núi An tử. Đặc biệt lên đây hể ai nói
tới hay đánh một tiếng chuông thì trời liền u ám đổ mưa:
Nào ai quyết chí tu hành
Có lên (về) An Tử mới
đành lòng tu.
(Ca dao)
Đại Nam Nhất thống chí có
viết: «Chùa này có nhiều sự linh dị. Mỗi khi đến ngày
mồng một hay ngày rằm, sơn tăng lên thắp nhang rồi xuống
núi trụ trì tại chùa Hoa yên. Một hôm có sơn tăng ngủ lại
một đêm ở trong chùa Vân tiêu nằm mộng thấy sơn thần
bảo: "Đây là nơi thiên phủ, phải để thanh vắng chứ không
phải chỗ phàm trần nằm nghỉ". Sau chúng tăng đến bái Phật
ra về, rồi cứ lấy tiếng chuông chùa ở Thần khê làm chừng.
»55
Trên đây là địa thế và
một vài cảnh trí đặc biệt của núi Yên tử mà sử sách
còn ghi lại. Đây chính là nơi mà ngọn đuốc Thiền Trúc
lâm được thắp sáng để mở đầu cho một trào lưu Thiền
học thuần túy Việt Nam.
TIẾT HAI
NHÂN VẬT KHAI SÁNG
TRẦN THÁI TÔNG
Trong lịch sử Việt Nam, đời
Trần là một triều đại nổi bật về nhiều lãnh vực, nhất
là trào lưu Thiền học, mang nhiều sắc thái độc đáo nhất
của Phật giáo Việt Nam. Sắc thái độc đáo đó được gói
trọn trong Trúc lâm Yên tử.
Trúc lâm Yên tử mang tính chất
độc đáo và quan trọng như thế, cho nên đã được các nhà
sử gia đề cập khá chi ly, đầy đủ nhất là đối với
Trần Thái Tông, người đã mở đường cho Thiền Trúc lâm.
Dưới đây là một ít sử liệu tiêu biểu.
An nam Chí lược của Lê Tắc
viết: «Suốt cuộc loạn đời Lý, Trần Thừa cùng em là Kiến
Quốc đánh giặc có công, được phong chức Thái úy. Kiến
Quốc được làm Đại tướng quân. Con trai lấy con gái của
Lý Huệ vương là Chiêu Thánh, nhân đó được truyền ngôi.
«Trần Cảnh con giữa của
Thái Tổ (Trần Thừa); tính người khoan hậu, nhân từ, thông
tuệ, văn võ kiêm toàn, lấy tư cách con rễ nhà Lý kế vị
Quốc vương. Chiêu Thánh hậu không có con. Cảnh lại lấy
người vợ của anh, sinh được ba người con. »66
Đại việt sử ký Toàn thư
của Ngô Sĩ Liên viết:
«Vua khoan dung nhân từ, đại
độ, có cái lượng của bậc đế vương; cho nên có thể
khai sáng nghiệp lớn để lại truyền thống, lập ra kỷ cương
bành trướng, đấy là chế độ nhà Trần vĩ đại vậy. Nhưng
mực thước mưu mô đều do tay Thủ Độ làm ra, trong buồng
khuê có nhiều điều hổ thẹn…
«Vua tự tay viết lấy bài
minh ban lời dạy bảo cho các hoàng tử lấy trung, hiếu, hòa,
tốn, ôn, lương, cung, kiệm. »77
Việt sử tiêu án của ngô
Thời Sĩ đề cập đến Trần Thái Tông một cách đầy đủ
hơn cả:
«Vua tên là Cảnh, được
bà Chiêu hoàng truyền ngôi cho; làm vua được 33 năm. Tiên
tổ vốn người Phúc kiến, bên Trung hoa; đến ông tổ là
Kinh sang nước Nam ở làng Tức mặc, phủ Thiên tường, sinh
ra Hấp. Hấp sinh ra Lý. Lý sinh ra Trần Thừa, làm nghề đánh
cá, lấy bà Lê Thị làm vợ; đến năm Mậu thìn sinh ra vua
Thái Tông.88
«Vua là người khoan nhân,
có độ lượng đế vương, lập ra chế độ, điển chương
đã văn minh đáng khen, nhưng chỉ vì Tam cương lộn bậy, nhiều
điều xấu xa trong chốn buồng khuê…
«Vua ra lịnh thi Tam Giáo…
«Vua xuống chiếu "Các nhà
trạm đều tô vẽ tượng Phật. " Tục nước ta vì nắng bức
nên lập ra nhiều đình quán ở dọc đường cho hành khách
nghỉ ngơi tránh nắng. Khi vua còn hàn vi, thường vào nghỉ
ở một cái đình; có thầy tăng bảo rằng: "Cậu bé này ngày
sau phải đại quý. " Nói rồi không biết thầy tăng ấy đi
đâu mất, cho nên đến khi bấy giờ phàm chỗ nào có quán
trạm đều tô vẽ tượng Phật…
«Vua lấy vợ của anh là Trần
Liễu lập làm Hoàng hậu (tức là Thuận Thiên công chúa họ
Lý); giáng bà Chiêu Thánh xuống làm công chúa. Bấy giờ bà
Chiêu Thánh không có con mà vợ Liễu đã có mang ba tháng. Thủ
Độ và bà Thiên Cực mật mưu lấy cho vua làm Hoàng hậu.
Liễu giận lắm tụ tập đại quân ở Đại giang làm loạn.
Trong lòng vua bất tự an, đương đêm ra ở với Phù Vân Quốc
sư ở núi Yên tử (thầy Tăng này là bạn của Thái tông).
Thủ Độ đưa quần thần đến mời về kinh đô. Vua nói:
«Ta tuổi trẻ không cha, chưa
kham nỗi việc nước, nên không dám ở ngôi vua để làm nhục
cho xã tắc. Thủ Độ nói: Vua ở đâu tức là triều đình
ở đấy, xin phá núi để xây dựng cung điện.
«Quốc sư xin với vua: Bệ
hạ nên hồi loan không nên để cảnh sơn lâm của đệ tử
bị phá hủy. Vua mới chịu về. Liễu tự nghĩ mình thế cô,
lén chèo thuyền độc mộc đến nơi vua xin đầu hàng. Thủ
Độ nghe tin đi thẳng đến thuyền vua ngự, lớn tiếng rằng:
Phải giết giặc Liễu! Vua vội vàng dấu Liễu đưa thân ra
nhận. Thủ Độ ném thanh kiếm nói: Thủ Độ này là con chó
săn thôi, biết đâu sự thuận nghịch của anh em nhà vua?
«Vua phải giảng giải mãi,
rồi cho Liễu đất An sinh làm nơi ở riêng và phong cho Liễu
làm An sinh vương mà giết những kẻ theo làm loạn. Vua Thái
tông đang đêm qua sông Bàn than vào chùa Yên hoa ở núi Yên
tử để tiếp kiến Trúc Mộc Thiền sư, muốn xin trụ trì
ở đó; vừa gặp Thủ Độ đi yên giá kéo đến. Thiền sư
nói:
«Làm vua thì phải lấy lòng
dân làm lòng mình. Dân chúng muốn thế, xin vua hồi loan. Sau
này hoàng tử trưởng thành có thể nôí ngôi lớn được,
nhiên hậu hãy bỏ vào núi tu luyện!
«Vua mới cho là phải. Bấy
giờ vua mới bốn mươi tuổi đã có ý chán trần tục, cho
nên các vua triều Trần đều bắt chước theo như thế là
vì sở đắc của Trúc lâm bí quyết…99
Lịch triều hiến chương của
Phan Huy Chú về mục "Nhân vật chí" chép Trần Thái Tông:
«Họ Trần tên là Cảnh, người
làng Tức mặc, phủ Thiên Tường, tiên thế là người tỉnh
Mân (Trung Hoa). Tổ bốn đời là Kinh mới đến làng Tức mặc.
Đời đời làm nghề chài lưới. Khi mới sinh ra vua là người
tuấn tú hùng vĩ. Lên tám tuổi làm quan hậu chính ở Chí
ưng cục triều Lý, vào hầu ở trong cung vua, bèn nhận bà
Chiêu Hoàng truyền ngôi cho. Thiên tính vua rất khoan hậu và
chuộng văn. Khi đã lên ngôi, đặt ra khoa mục, tin dùng hiền
tài, định ra các lễ nghi, hình luật, pháp độ, điển chương;
đáng nên khen ngợi. Đến khi truyền ngôi vua cho con, lui vào
ở Bắc cung, càng lưu ý vào học vấn, rất thích nội điển
(Phật học) đến chỗ tinh vi thâm thúy. Duy có một điều
là bày đặt việc gì, nhất thiết mặc ý Trần Thủ Độ,
đến nỗi chỗ khuê môn có điều xấu xa, gia phong bất chính,
người bản xứ lấy làm tiếc.
«Tại vị 33 năm, tôn vị
19 năm, hưởng thọ 60 tuổi, ba lần kỷ nguyên: Kiến trung,
Thiên ứng chính bình và Nguyên phong. »1010
Sơ lược một vài sử liệu
trên cũng đủ chứng minh cho con người của Trần Thái Tông
một cách khá đầy đủ. Theo đó, tất cả các sử gia đều
thừa nhận Trần Thái Tông là một vị vua văn võ kiêm toàn,
có cốt cách một bậc hiền nhân quân tử chứ không phải
một vị vua nhu nhược văn dốt võ nhác. Sử gia Lê Tắc cũng
đã viết về con người của Trần Thái Tông: «Khoan, nhân,
thông tuệ, văn võ kiêm bị. » Trong lúc đó Ngô Sĩ Liên cũng
viết: «Có lượng đế vương, khoan, nhân đại độ hữu đế
vương chi lượng. » Và Ngô Thời Sĩ một sử gia đứng về
quan điểm Nho học chính thống cũng xác nhận: «Vua là người
khoan, nhân, có độ lượng đế vương; lập ra chế độ điển
chương đã văn minh đáng khen. »
Trên đây, chỉ mới là hình
ảnh một Trần Thái Tông, nhà vua trước trách nhiệm đối
với quốc gia, xã hội. Ngoài ra còn một Trần Thái Tông Thiền
sư mà sự nghiệp trí tuệ với địa vị của ngài trong Thiền
tông thực không phải nhỏ.
Con người Trần Thái Tông
luôn luôn chủ trương áp dụng cái học thực tiển, cái học
«tu, tề, trị, bình» vào các lãnh vực quốc gia xã hội để
cho xã hội quốc gia được phát triển trong tinh thần tự
chủ tự cường của dân tộc. Nhưng song song với chủ trương
đó, Trần Thái Tông không bao giờ quên lãng cái học nội
điển, đặc biệt là sự tu luyện về yếu chỉ Thiền tông
của đạo Phật. Do đó, ngài đã xuất gia đầu Phật năm
bốn mươi tuổi để từ đây vất bỏ những gì nhỏ hẹp
cá nhân mà hướng tới cái đại thể của vũ trụ, mở đường
cho Thiền Trúc Lâm.
Trong phả hệ của Thiền Trúc
lâm, không có ghi vua Trần Thái Tông. Nhưng không phải vì vậy
mà địa vị của vua kém quan trọng. Vua không những là người
sáng nghiệp nhà Trần, đặt ra những điển chương cho đời
sau noi theo, mà trên phương diện tư tưởng, chính vua là người
đã chuyển hướng Phật giáo Thiền tông sang một con đường
mới, với đường lối hành trì mới mẻ. Quả nhiên, TTBH
đã đặt vua vào vị trí xứng đáng:
Chư Tổ truyền đến nước
ta
Thiền tông Nam chỉ chép
ra lời này
Trước kể Trần triều
cho hay
Đế vương học đạo là
Trần Thái Tông.
(TTBH, câu 107-110)
Dĩ nhiên, cuộc đời cũng như
công nghiệp của nhà vua là những điều rất quen thuộc đối
với tất cả chúng ta. Do đó, ở đây chúng tôi chỉ ghi lại
một đoạn ngắn của Đại Việt Sử ký Toàn thư:
"Vua họ Trần, húy là Cảnh,
trước húy là Bồ; làm Chi hậu Triều Lý, được Chiêu Hoàng
truyền ngôi cho. Ở ngôi 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 60
tuổi, băng ở cung Vạn thọ, chôn ở Chiêu Lăng. Vua là người
khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể
mở nghiệp, truyền sau, đặt giềng giăng mối, chế độ nhà
Trần tốt đẹp. Song quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ
Độ làm, mà trong chốn buồng the có điều hổ thẹn. »
Đằng khác, chúng ta có TTBH,
chép khá đầy đủ về sự nghiệp của vua đối với Phật
giáo. Nói về cơ duyên và sở ngộ của vua, TTBH viết:
Nhớ lời thầy dạy chẳng
vong
Xin chư Thiền đức lão
Tăng vào triều
Thăm hỏi kinh giáo trước
sau
Kim cang thường tụng lẽ
mầu tinh thông
Liễu đạt tám chữ làm
xong
Ưng vô sở trụ nhi sinh
kỳ tâm
Vua ngồi tức lự trầm
ngâm
Hoát nhiên đại ngộ mới
thâm vào lòng.
(TTBH, câu 285-292)
Cơ duyên và sở ngộ này đã
được chính vua Trần Thái Tông viết trong Thiền tông Chỉ
Nam tự của vua. Nó cũng đồng trường hợp với Huệ Năng,
Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa, khi nghe người tụng
kinh Kim Cang đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" thì
tỏ ngộ được tất cả chỗ uyên áo trong tâm tông của Phật
Tổ. Đây cũng có thể chỉ là điều sáo cổ, nhưng nó cũng
chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của kinh Kim cang đối với
vua. Nhất là ảnh hưởng của Huệ Năng. Ngay trong lời mở
đầu của Thiền tông Chỉ Nam tự, vua đã lập lại những
lời của Huệ Năng đối đáp với Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn: «Phật
vô Nam Bắc, quân khả tu cầu, tánh hữu trí ngu đồng triêm
giác ngộ. »
Đây cũng là những sáo ngữ
của vua, cũng như câu «Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. »
Nhưng tất cả những sáo ngữ đó qui tụ chung quanh lý tưởng
«Trụ vô trụ vô xứ» của kinh điển Bát nhã. Trong truyền
thống Phật giáo Đại thừa, chính lý tưởng «Trụ vô trụ
xứ» đó làm nảy sinh một Duy-ma-cật. Bởi không trụ vào
đâu hết, không trụ sinh tử, cũng không trụ Niết-bàn, nên
lý tưởng hành động của Phật giáo Đại thừa là lý tưởng
đại đồng phổ biến. Do đó, các vua chúa nhà Trần nêu cao
lý tưởng hành động của mình qua căn bản vô trụ vô trụ
xứ của Kim cang quả là đặc thể. Những sáo ngữ nơi vua
Trần Thái Tông không phải là những lý luận suông không có
sự thật của nó.
Một đoạn khác của TTBH cho
ta thấy sở đắc của Trần Thái Tông:
Thuở ấy ngoại quốc tông
sư
Lại nghe Nam Việt có vua
tu hành
Tên người là Tống Đức
Thành
Trèo non lặn suối một
mình tìm sang
Vào triều bái tạ thiên
nhan
Thiền gia làm lễ dám thăm
lời rằng.
(TTBH, câu 333-338)
Và những lời tham vấn của
Đức Thành cũng khá quan trọng, nên TTBH ghi cả nguyên văn
chữ Hán:
"Đức Thành vấn viết: "Tích
Thế Tôn Thích Ca vị ly Đâu suất dĩ giáng vương cung; vị
xuất mẫu thai, độ nhân dĩ tất, thời, như hà?" Thái Tông
Hoàng đế đáp vân: "Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
vạn lý vô vân vạn lý thiên. " Đức Thành hựu vấn: "Vị
ly vị xuất, mông khai thị. Dĩ ly dĩ xuất sự nhược hà?"
Thái Tông vấn đáp: "Vân sinh Nhạc đỉnh đô lô bạch, thủy
đáo Tiêu tương nhất dạng thanh. "
Những lời hỏi và những lời
đáp trên đây được thấy rất thường trong các tác phẩm
Thiền tông Trung Hoa. Thoạt đầu, Đức Thành hỏi: "Đức Thế
Tôn Thích Ca chưa rời khỏi Đâu Suất mà đã giáng hạ vào
Vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ mà độ người đã xong. Đấy
là nghĩa như thế nào?" Sau khi được vua trả lời, Đức Thành
lại hỏi tiếp: "Đã được khai thị về việc chưa rời (cung
Đâu Suất) và chưa xuất gia (của Phật Thích Ca) rồi. Còn
như sau khi ngài đã rời (khỏi cung Đâu Suất) và đã xuất
gia, thì sao?" Cả hai câu trả lời được TTBH tường thuật
bằng thể lục bát như sau:
Mây lên núi bạc bằng lau
Nước xuống giòng Tào vằng
vặc sáng thanh
Pháp thân trạm tịch viên
minh
Tự tại tung hoành phổ
mãn thái hư
Tùy hình ứng vật tự như
Hóa thiên bách ức độ
chư mọi loài
Ứng hiện dưới đất trên
trời
Khắp hòa thế giới mọi
nơi trong ngoài
Đã đặt là hiệu Như Lai
Sao còn hỏi xuất mẫu thai
làm gì?
(TTBH, câu 339-348)
Tiếp đến, Đức Thành hỏi
về nhân duyên ngộ đạo của nhà vua. TTBH viết:
Này lời Thái Tông thưa ra
Lưỡng thủy đồng hỏa
đôi ta khác gì
Đương cơ đối đáp thị
thùy
Thật tánh ứng dụng cùng
thì nhất ban
Phóng ra buộc hết càn khôn
Thâu lại nhập một mao
đoan những là
Ma ha Bát Nhã Ba La
Tam thế chư Phật chứng
đà nên công
(TTBH, câu 353-360)
Sở ngộ của vua mà được
mô tả như thế, thì hoàn toàn căn cứ trên bản tánh và diệu
dụng của trí Bát-nhã. Nhưng sự thể hiện của bản tánh
và diệu dụng đó lại là đạo lý tự nhiên của Thiền:
Bách giang vạn thủy triều
đông
Ngộ đáo giá lý thật cùng
tày nhau
Phật tiền Phật hậu trước
sau
Bát nhã huyền chỉ đạo
mầu truyền cho.
(TTBH, câu 361-364)
Qua những sự kiện được
trình bày, chúng ta thấy rằng, dù Trần Thái Tông không trực
thuộc trong bất cứ dòng Thiền nào, nhưng tinh thần triết
lý và hành động của vua quả là đã mở đầu cho một con
đường mới của Phật giáo. Con đường đó, nói một cách
vắn tắt, lấy sở ngộ từ kinh Kim cang Bát nhã, và sở hành
của nó là đạo tự nhiên của Thiền. Ở đây, đạo tự
nhiên ấy không gì khác hơn là tông chỉ trụ vô trụ xứ,
là lý tưởng mà kinh Duy-ma- cật tích cực nêu cao để làm
căn bản hành đạo của những Bồ tát Cư sĩ. Cứ sở ngộ
và sở hành như thế, Phật giáo vào đời Trần, bắt đầu
từ Trần Thái Tông, đã chọn thế tục làm môi trường hoạt
động: Theo đó mà nhìn thì chúng ta thấy ngay địa vị trọng
yếu của Trần Thái Tông trong sự hình thành thế hệ của
Thiền Trúc Lâm, một dòng Thiền qui kết được tất cả cái
đặc chất của tinh thần Thiền học Việt Nam với ba vị
Tổ kế tục là : Điều Ngự, Pháp Loa và Huyền Quang.
TIẾT BA
SỰ TÍCH TAM
TỔ
I. ĐIỀU NGỰ
Điều Ngự tên thật là Trần
Nhân Tông (1278). Vua cha là Thánh Tông lên ngôi Thái thượng
Hoàng bèn nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm, tức Trần
Nhân Tông. Ngài có pháp tự là Điều Ngự Giác Hoàng, sùng
mộ đạo Phật từ hồi còn nhỏ. Năm 16 tuổi được lập
làm Hoàng thái tử, thường theo Thánh Tông Hoàng đế vân du
núi Yên tử thuộc tỉnh Hải dương. Trần Nhân Tông đã nhiều
lần ngõ ý muốn xin vua cha cho phép nhường ngôi lại cho Trần
Anh Tông để xuất gia vào núi Yên Tử tu hành, song không được
chấp thuận.
Một thời gian sau, dù đã lên
ngôi Hoàng đế, nhưng tư chất của ngài vốn có chủng tử
đạo và Thiền nên ngài vẫn sống tịnh tu và chuyên tham cứu
về những qui tắc Thiền học. Ngài tham học với Tuệ Trung
Thượng Sĩ, thấu triệt được đạo Thiền.
Nhưng con đường tham Thiền
học đạo chưa trọn với ý nguyện thì giặc Nguyên quấy
rối; ngài đành phải xếp kinh kệ để lo giữ gìn quê hương
đất nước. Nhờ những vị tướng tài giỏi như Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn tận tâm giúp nên đất nước sớm
được thái bình. Và khi Quốc Gia đã an bình, ngài lại lui
về sống một đời sống hướng nội, chuyên nghiên cứu kinh
điển nhà Phật để đào luyện tinh thần hướng tới giải
thoát.
Năm Quý tỵ (1293), Trần Nhân
Tông truyền ngôi cho Trần Anh Tông. Đến năm Kỷ hợi (1299),
ngài vào núi Yên tử, quyết định thực hiện con đường
xuất gia theo Phật pháp. Ngài lấy pháp hiệu là "Hương Vân
Đại Đầu Đà" hoặc "Điều Ngự Đầu Đà", rồi hợp các
danh tăng ở chùa Phổ minh để thuyết giảng kinh điển. Ngài
thường đi khắp nước với mục đích là bố thí pháp trong
nhân gian, giải trừ những điều mê tín dị đoan, loại bỏ
những đền thờ quỷ thần không chính đáng.
Trên con đường giảng đạo,
đệ tử thọ pháp với ngài rất nhiều. Trong số đệ tử
thân tín nhất là Pháp Loa Thiền sư, Pháp Loa thường bạch
ngài: "Tôn đức bây giờ tuổi cũng đã khá cao, vậy mà cứ
xông pha với sương tuyết, lỡ thân thể bất an, thì vận
mạng Phật Pháp như thế nào?"
Ngài dạy:
-Thì giờ đã đến nơi rồi,
ta chỉ còn đợi ngày giải thoát mà thôi.
Ngày 5, tháng 10, niên hiệu
Hưng long thứ 16 (1308) được tin Thiên Thụy Công chúa bịnh
nặng và muốn gặp Điều Ngự. Ngài về thăm người chị
xong, khi trở về núi, đi chưa hết đường, ngài bảo mấy
người đệ tử rằng:
-Ta muốn lên am Ngọa vân.
Nhưng chân ta yếu không thể đi nổi. Vậy hãy làm cách nào?
Đệ tử bạch:
- Chúng con có thể giúp ngài
lên được,
Đệ tử dìu ngài lên,
khi mới vừa tới núi Ngọa vân. Ngài gọi Pháp Loa đến, mặt
tươi cười bảo:
-Đã đến giờ ta đi.
Pháp Loa bạch:
-Điều Ngự đi nơi nào?
Ngài liền đọc bài kệ:
Nhất thiết pháp bất sinh,
一 切 法 不 生
Nhất thiết pháp bất diệt;
一 切 法 不 滅
Nhược năng như thị giải,
若 能 如 是 解
Chư Phật thường hiện
tiền, 諸 佛 常 現 前
Hà khứ lai chi hữu.
何 去 來 之 有
Việt dịch:
Hết thảy pháp không sinh,
Hết thảy pháp không diệt;
Nếu biết được như thế,
Chư Phật thường hiện
tiền.
Vậy còn có gì là đi với
đến. 11
Sau khi đọc bài kệ cho Pháp
Loa xong, ngài ngồi chấp tay mà an nhiên tự tại. Ngài tịch
năm Long hưng thứ 16 (1308), thọ 51 tuổi.
Pháp Loa Thiền sư theo lời
di chúc, đưa ngài lên hỏa đàn. Sau đó vua Trần Anh Tông cùng
đình thần rước ngọc cốt về an táng vào Đức lăng và
xây tháp trên núi Yên tử để thờ ngài, lấy tên là "Huệ
Quang Kim tháp" và được xưng tôn hiệu là "Đại Thánh Trần
Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ
Phật". Ngài là vị Tổ thứ nhất của dòng Thiền Trúc Lâm
Yên Tử.
II. PHÁP LOA.
Pháp Loa là người họ Đồng,
ở làng Cửu la, phủ Nam sách. Thân mẫu là Vũ thị Nguyên.
Nhân một đêm nằm mộng thấy một người lạ trao cho thanh
kiếm, bà ưa thích nên liền nhận lãnh và cất giữ. Được
ít lâu, bà mang thai, nhưng lại ghét vì thường cứ sinh con
gái nên không muốn sinh nữa, bèn dùng thuốc làm trụy thai
nhưng vô hiệu. Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa sinh ra ngài, bà
rất mừng rỡ đặt tên cho ngài là Kiên Cương (cứng chắc).
Khi lớn lên, Pháp Loa bản chất
thông minh, khác hẳn với người thường. Đặc biệt là không
ưa thích mùi tanh hôi thịt cá trong những bữa ăn hàng ngày.
Năm Hưng long thứ 12 (1304),
nhân Điều Ngự đến mạn sông Nam sách (thuộc huyện Nam sách
tỉnh Hải Dương Bắc phần), Pháp Loa đến bái yết. Điều
Ngự thấy đó là con người có đạo nhãn và sau này có thể
đắc pháp, nên đặt tên là Thiện Lai, thâu làm đệ tử;
đưa về núi cho học đạo.
Trong thời gian này, Pháp Loa
một mình chuyên tâm tham cứu kinh điển, chú tâm đọc bộ
kinh Hải Nhỡn, dần dần thấu đạt tinh nghĩa của kinh. Một
hôm Pháp Loa trông thấy một cái hoa đèn rụng xuống, Pháp
Loa tĩnh ngộ việc đời và quyết chí tu theo giới hạnh Thập
nhị đầu đà.
Năm thứ 16, niên hiệu Hưng
long, Điều Ngự lên đỉnh núi Ngọa vân và cho Pháp Loa tu
ở đó. Điều Ngự bắt đầu khai đàn thuyết giảng ở chùa
Siêu loại, có cả vua và đình thần đến dự lễ. Điều
Ngự thuyết pháp xong, lấy y bát và hơn hai trăm bộ kinh phú
chúc cho ngài hộ trì. Từ đó, ngài kế thế trú trì ở chùa
Siêu loại, làm chủ sơn môn Yên Tử, đệ nhị Tổ.
Niên hiệu Hưng long 21 (1313),
ngài tu sửa 800 ngôi Già-lam, đúc trên ngàn tượng Phật, rồi
xây thêm tháp và giảng đường v. v… và thâu nhận hàng đệ
tử. Sau đó ngài trở về chùa Vĩnh nghiêm ở Lạng giang. Tại
đây, cứ ba năm lại một lần phổ độ tăng chúng.
Trên con đường giáo hóa, ngài
đã sáng lập nhiều danh lam thắng tích như núi Quỳnh lâm
viện, Hồ thiên Chân lạn am, Ngài có bài thi nhan đề là "Luyến
thanh san":
Thưa gầy làn nước vút,
Chót vót ánh soi trong,
Ngẫng đầu coi chẳng hết,
Đường tới lại trùng
trùng.
Vòng sinh, lão, bịnh, tử cứ
đoanh vây ngài mãi có lúc tưởng đến hồi nguy kịch nhưng
đều thoát khỏi. Thế rồi thời gian vô thường thân mạng
chóng qua, một hôm cơn bịnh quá nặng đến. Huyền Quang là
người đệ tử đã từng theo gót cuộc đời thầy lâu nay
và cũng đã trực nhận những lời giảng dạy của thầy,
bèn liền thưa:
- Các vị Tổ ngày xưa, gặp
những lúc này đều phó chúc những lời gì cho hậu thế,
vậy thầy lại không có hay sao?
Một lát sau, Pháp Loa ngồi
dậy, đem pháp bảo của Điều Ngự đã truyền, truyền lại
cho Huyền Quang và đọc bài kệ rằng:
Trần duyên rủ sạch từ
xưa,
Bốn mươi năm lẻ bây giờ
là tiên.
Hỏi chi thêm bận thêm phiền,
Trăng thanh gió mát là miền
tiêu dao.
Xong thì ngài tịch, thọ 47
tuổi. Sau khi mất ngài được truy tôn là "Tịnh Trí Đại
Tôn Giả" và hàng đệ tử đem di hài an trí ở núi Thanh mai.
Vua Anh Tông nghe Pháp Loa viên
tịch có làm bài thơ viếng trong đó có hai câu như sau:
Pháp Loa từ bỏ cõi đời,
Khắp trong thiên hạ ai người
chân tu?
Pháp Loa đã trước tác để
lại những tác phẩm như Đoạn sách lục, Tham Thiền chỉ
yếu, Bộ Kim Cương trường Đà la ni kinh v. v…1212
III. HUYỀN QUANG.
Ngài họ Lý, húy là Đạo
Tái , người làng Vạn tải. Cha là Tuệ Tổ, rất có công
dẹp giặc Chiêm thành nhưng lại không chịu ra làm quan. Thiếu
thời, Huyền Quang có hình dung kỳ dị nhưng bẩm tính rất
thông minh. Lên 9 tuổi ngài đã thành thạo các lối thi văn.
Năm 20 tuổi thi đổ Hương cử, năm sau vào thi Hội đỗ đầu
cho nên gọi là Trạng nguyên đời nhà Trần.
Sau khi thi đỗ, tuy được bổ
đi làm quan ở viện Hàn lâm và đi sứ sang Tàu nhưng ngài
luôn luôn có ý nghĩ là xin phép nhà vua vào núi tu hành. Một
hôm theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh nghiêm nghe Pháp Loa giảng
kinh, ngài liền trực ngộ. Khi về ngài dâng biểu xin từ chức
để xuất gia học đạo. Vua thuận cho. Ngài liền làm lễ
thọ giới với Pháp Loa. Pháp Loa đặt pháp hiệu là Huyền
Quang. Từ đây ngài cùng với Điều Ngự và Pháp Loa đi thuyết
giảng đó đây trong dân gian. Ngài còn soạn những bộ sách
Chư phẩm kinh, Công văn tập.
Được Pháp Loa truyền tâm
ấn, ngài trú trì ở chùa Vân yên núi Yên tử. Nơi đây đã
qui tụ hàng nghìn tăng theo học. Ngài cũng in kinh, mở hội
bố thí cho những người nghèo khổ.
Ngoài con đường giáo hóa
độ sinh, ngài còn chuyên lo sáng tác thi văn và thường ngâm
vịnh những bài ngụ tình. Khi viên tịch ngài còn để lại
tập Ngọc tiên do chính ngài soạn, song bị thất lạc. Hiện
nay chỉ thấy còn lại một bài thơ theo lối cổ thi và 20
bài làm theo lối cận đại. Sau đây là một bài cổ thi và
một bài cận đại tiêu biểu:
Lối cổ thi:
Chu trung tác:
舟 中 作
Nhất diệp thiên châu hồ
hải khách: 一 葉 扁 舟 湖 海 客
Sanh xuất vi hàng phong thích
thích. 撐 出 葦 行 風 慼 慼
Vi mang tứ cố vãn trào
sinh. 微 忙 四 顧 晚 潮 生
Giang thủy liên thiên nhất
âu bạch. 江 水 連 天 一 鷗 白
Dịch nghĩa: Làm ở trong
thuyền.
Một chiếc thuyền con khách
hồ hải:
Qua hàng lau, gió vi vu thổi.
Mênh mang bốn mặt sóng
trào dâng.
Sông nước ngang trời, âu
trắng nổi13.
Lối cận đại:
Mai hoa tác:
梅 花 作
Dục hướng thương thương
vấn sở tùng? 欲 向 蒼 蒼 問 所 從
Lẫm nhiên cô trĩ tuyết
san trung. 凜 然 孤 峙 雪 山 中
Chiết lai bất vị già thanh
nhãn. 折 來 不 為 遮 青 眼
Nguyện tá xuân tư úy bệnh
ông. 願 借 春 思 慰 病 翁
Dịch nghĩa: Vịnh hoa mai.
Toan tới xanh kia, hỏi đến
đâu?
Ngọn non trơ trọi tuyết
phau phau.
Bẻ về không phải vì che
mắt.
Muốn mượn xuân này đỡ
lão đau. 14
Ngài thị tịch vào năm Đại
trị thứ 7 (1364) đời vua Trần Dụ Tông và được vua ban
tự hiệu: "Trúc Lâm Thiền sư đệ Tam Đại tự pháp Huyền
Quang tôn giả". Và từ đấy nghiễm nhiên ngài là vị Tổ
thứ ba của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử vậy.
Đinh Quang Mỹ
Chú Thích:
1 Đại Nam nhất
thống chí, quyển số 33, bản dịch của Đông Minh Đặng Chu
Kình. Viết về "Nuí An Tử", Bộ Văn hóa và Thanh niên, Saigon
1968, tr 39-40.
Cf. Nguyễn
Đăng Thục, Núi An Tử với thiền học Trúc Lâm An Tử Việt
Nam, Tư tưởng số 2-1972.
3 Tam Tổ Hành
Trạng, bản dịch Việt của Trần Tuấn Khải, Saigon PQVKĐTVH,
1971, tr 25.
4 Cf. Nguyễn
Đăng Thục, "Núi An Tử với Thiền học Trúc Lâm An Tử Việt
Nam", Tư tưởng số 2, 1972.
5 Đại Nam nhất
thống chí, số 33, bản dịch của Đặng Chu Kình. Viết về
"Núi An tử", saigon bộ VH và TN, 1968, tr 39.
6 Trần thị
thế gia, An Nan Chí lược, Lê Tắc. Viện Đại học Huế xuất
bản 1961, tr 209.
7 Bản kỷ
q.v. Trần kỷ, Đại việt sử ký toàn thư.
8 Theo Việt
sử lược – Lược truyện các tác giả Việt Nam – Hà Nội
1952, thì nói là Mậu dần 10-7-1218.
9 Việt sử tiêu
án, Ngô gia văn phái, bản dịch của Văn hóa Á châu, Saigon,
tr. 168.
10 Bản dịch
Văn hóa Á châu.
11 Tiểu
sử đầy đủ nhất của Trần Thái Tông, xem Triết lý Trần
Thái Tông của GS Nguyễn Đăng Thục, ở đây xin khỏi dài
dòng.
12 Tam Tổ Hành
Trạng, bản dịch Việt của Trần Tuấn Khải, saigon PQVKĐVH,
1971, tr. 15-16.
13 Ibd., tr, 21.
14 Ibd., tr. 23
X