|
c
Nẻo
Vào Tuệ Không
Thích Thái
Hòa
Tinh yếu của hệ thống
kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa nằm nguyên vẹn trong một câu
bốn chữ của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là “NGŨ UẨN
GIAI KHÔNG”
Tinh yếu này đã được đức
Thế Tôn dạy ngay cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn
Nai, sau khi Ngài giảng xong tứ Thánh Đế.
Đức Thế Tôn nói: “…nếu
chúng Thánh đệ tử thuộc Thanh Văn của Như Lai, thì hãy quán
chiếu năm thủ uẩn nầy, biết rõ nó không phải là tôi,
không phải là của tôi.
Quý vị quán chiếu như vậy
rồi, quý vị biết rõ thế gian không có ai đuổi bắt, không
có cái gì để bắt đuổi, và cũng không có cái đuổi bắt.
Điều đó chỉ tự thân giác
ngộ chứng đạt Niết Bàn. Việc sinh tử đã hết – Phạm
hạnh đã lập thành – Điều đáng làm đã làm xong – Không
còn tái sinh nữa”1 .
Lại nữa, cũng trong kinh Tạp
A Hàm, đức Phật dạy: “Này các Tỷ khưu, có nghiệp báo
mà không có tác giả. Có hành vi và kết quả của hành vi
mà không có cái gọi là chủ thể. ”2
Trong Tiểu Không Kinh, thuộc
kinh tạng Pàli, đức Phật dạy: “này Ananda, sau khi chứng
đạt, ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng không tánh. Như vậy,
này Ananda, các ông cần phải học tập.3 ”
Và ở trong Đại Không Kinh,
đức Phật đã giải thích thế nào là “nội không”,
“ngoại không” và thế nào là “nội ngoại không” cho
các Thánh đệ tử nghe.4
Như vậy, tinh thần Bát Nhã
cũng đã nằm ngay ở trong kinh điển A Hàm và Nikàya, chứ
không phải chỉ có ở trong kinh điển Đại Thừa.
Trong bộ Đại Bát Nhã, thì
Tâm Kinh Bát Nhã được rút ra từ TẬP ƯNG PHẨM, phẩm ba,
quyển một của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, bản dịch
của Ngài Cưu Ma La Thập, sau phần đức Thế Tôn nói bảy
không cho tôn giả Xá Lợi Phất. Bảy không gồm có:
-
Tánh không = không của bản tánh.
-
Tự tướng không = không của
tự tướng.
-
Chư pháp không = không của vạn
hữu.
-
Vô sở đắc không = không của
cái không thể đắc.
-
Vô pháp không = không của các
pháp vô vi.
-
Hữu pháp không = không của các
pháp hữu vi.
-
Vô pháp hữu pháp không = không
của các pháp vô vi và hữu vi.5
Và nội dung Bát Nhã Tâm Kinh ta
cũng thấy nằm trong Đại Bát Nhã, Tương Ưng Phẩm, trước
phần đức Phật nói tương ưng và không tướng với 20 loại
không gồm:
-
Nội không: tánh không của các
pháp nội tại.
-
Ngoại không: tánh không của các
pháp ngoại tại.
-
Nội ngoại không: tánh không của
các pháp nội ngoại tại.
-
Không không: tánh không của cái
không.
-
Đại không: tánh không của cái
rộng lớn.
-
Thắng nghĩa không: tánh không
của chân lý tuyệt đối.
-
Hữu vi không: tánh không của
các pháp hữu vi.
-
Vô vi không: tánh không của các
pháp vô vi.
-
Tất cánh không: tánh không của
cái tối hậu.
-
Vô tế không: tánh không của
cái không ngằn mé.
-
Tán không: tánh không của sự
phân tán.
-
Vô biến dị không: tánh không
của cái không biến dị.
-
Bản tánh không: tính không của
bản tính.
-
Tự tướng không: tánh không của
tự tướng.
-
Cọng tướng không: tánh không
của cọng tướng.
-
Nhất thế pháp không: tánh không
của hết thảy pháp.
-
Bất khả đắc không: tánh không
của cái không thể ý niệm, không thể nắm bắt.
-
Vô tánh không: tánh không của
cái vô thể.
-
Tự tánh không: tính không của
tự tính.
-
Vô tánh tự tánh không: tánh không
của vô tánh và tự tánh. 6
Tuy rằng, Tánh Không được các
kinh luận phân tích có nhiều loại, nhưng tánh không ở nơi
năm uẩn được hiểu như thế nào là tùy theo mức độ thực
hành để chứng nghiệm pháp và mức độ đoạn tận vô minh
của từng hành giả.
Ở đây, Bát Nhã Ba La Mật
Đa đã thể hiện tánh không của năm uẩn như thế nào trong
hệ kinh tạng của mình?
Tánh không là tánh chân thật
của mọi sự hiện hữu. Trong mọi sự hiện hữu ấy, không
có sự hiện hữu nào mang tính tự thể cá biệt của ngã
và pháp.
Điều này được trực nhận
bằng Bát Nhã mà không bằng lý trí tỷ giảo hay suy nghiệm.
Bát nhã là gì? Đó là trí
tuệ toàn hảo và thâm diệu, trí tuệ ấy do quá trình tu tập
quán chiếu “KHÔNG LÝ” mà sinh khởi, nên Bát Nhã còn gọi
là “KHÔNG TRÍ” hay “KHÔNG TUỆ”. Nghĩa là trí tuệ do
thực hành quán chiếu “KHÔNG LÝ” đem lại.
KHÔNG LÝ là chỉ cho “NHƯ
LÝ” của vạn hữu mà đại biểu là năm uẩn. KHÔNG TRÍ
hay KHÔNG TUỆ là chỉ cho NHƯ TRÍ của Bát Nhã đang soi chiếu
năm uẩn. Chỉ có NHƯ TRÍ mới soi chiếu và trực nhận được
NHƯ LÝ của năm uẩn. TRÍ thẩm thấu bên trong của LÝ
rõ thấy sắc uẩn không phải là tự ngã đã đành mà ngay
mỗi yếu tố tạo nên sắc uẩn cũng không có tự thể của
ngã và pháp. NHƯ TRÍ soi chiếu thọ uẩn, tưởng uẩn, hành
uẩn và thức uẩn cũng đều như vậy. Nghĩa là trong các uẩn
không có ngã thể và pháp thể đã đành mà ngay trong các đơn
tố hợp thành các uẩn, nó cũng không hề có ngã thể và
pháp thể.
Như vậy, ở đây NHƯ TRÍ
hay BÁT NHÃ đã khám phá ra ngay trong “ngũ uẩn” không phải
chỉ là “giai không” về ngã mà còn “giai không” về pháp
nữa.
NHƯ TRÍ còn khám phá ra tự
tính không ở nơi vạn hữu, không phải là không trơn, lại
càng không phải là cái không đối với cái có, mà nó là
một thực tại tính của vạn hữu.
Thực tại tính ấy, không
hề lệ thuộc không gian và thời gian. Bất cứ cái gì nằm
trong khuôn khổ tương hợp của không gian và thời gian thì
cái đó là có sinh có diệt, có uế có tịnh, có tăng có giảm,
có hợp có ly, có vô minh, có hành, có thức, có danh sắc cho
đến có lão-tử; cái đó có Khổ - Tập - Diệt - Đạo; cái
ấy có trí và có đắc.
Trái lại, NHƯ TRÍ hay BÁT
NHÃ thấy rõ TÁNH KHÔNG là tính như thật của mọi sự hiện
hữu, vượt ra ngoài cái sinh diệt tương hợp của không gian
và thời gian, nên tánh không ấy là không tất cả những gì
thuộc về đối đãi nhị nguyên.
Các pháp duyên khởi, tự tính
của nó là không. Nhưng TỰ TÍNH KHÔNG không phải là duyên
khởi. Tự tính không chỉ là nền tảng cho duyên khởi và
các pháp duyên khởi từ đó mà hình thành, nên ở trong Trung
Quán Luận, Ngài long thọ nói:
“以 有 空 義
故
一 切 法 得
成
若 無 空 義
故
一 切 則 不
成
Dĩ hữu không nghĩa cố
Nhất thiết pháp đắc thành
Nhược vô không nghĩa cố
Nhất thiết tắc bất thành”7
Nghĩa là:
Vì do có Tánh Không
Nên mọi pháp đều thành.
Nếu không có Tánh Không
Các pháp đều chẳng thành.
Các pháp thành tựu là thành
tựu nơi thể tánh của KHÔNG. Bởi vì tự tính của các pháp
là KHÔNG, nên mọi sự hiện hữu của các pháp từ nơi tự
tính ấy mà biểu hiện. Tách trà biểu hiện từ tự tính
không của nó, do đó đương thể của tách trà là KHÔNG, chứ
không phải sau khi tách trà bị hủy diệt rồi mới là không.
Do thẩm thấu được tự tính
không của vạn hữu, nên Bát Nhã lúc nào cũng đi đầu và
chủ đạo cho những hoạt động của Bồ Tát Đạo, để mọi
hoạt động này không bị điều khiển bởi sắc, thọ, tưởng,
hành và thức; hay để các hoạt động không bị sai sử bởi
các tham dục của tâm ý đối với sắc, thọ, tưởng, hành
và thức hoặc những hoạt động này không bị điều động
bởi vô minh, hay bởi những ngã tưởng và pháp tưởng hiện
khởi từ tập khí của vô minh.
Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Vong
thất Bồ Đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh Ma nghiệp”,
nghĩa là quên mất tâm Bồ Đề mà thực hành các thiện pháp,
thì đó là những hoạt động của Ma.
Do đó, Bồ Tát Đạo đặt
trên nền tảng của Bồ Đề, Bồ Đề chính là Bát Nhã. Mọi
hoạt động của Bồ Tát đều được rọi soi bởi Bát Nhã.
Nếu một hành động bố thí
không được rọi soi bởi Bát Nhã, hành động ấy có thể
mất hiệu quả và lạc hướng.
Chẳng hạn, khi một hành động
bố thí không được rọi soi bởi Bát nhã, hành động ấy
chỉ có thể đem lại phước báu trong cõi trời, cõi người
chứ không thể thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Hoạt
động bố thí có Bát Nhã rọi soi thì hành động ấy không
mang tính ngã và pháp, do đó đưa hành giả vượt thoát khổ
đau và đạt Niết Bàn tuyệt đối.
Các hoạt động trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định của Bồ Tát cũng vậy,
nghĩa là chúng luôn luôn được soi rọi bởi Bát Nhã và Bát
Nhã soi rọi cho mọi hoạt động ấy đi tới cứu cánh Niết
Bàn, hay đi tới đời sống của Phật. Đời sống của Phật
chính là Bát Nhã.
Mọi hoạt động của Bồ Tát
đều được rọi soi bởi Bát Nhã, nên mọi hoạt động ấy
đều vượt qua mọi ý niệm về ngã và pháp. Do mọi hoạt
động ấy vượt qua hệ lụy của ngã và pháp, nên Bồ Tát
hoạt động mà không thấy sở đắc không thấy cái sở đắc
.
Nên trong kinh Trường A Hàm,
đức Phật dạy: “Như Lai sử dụng phương tiện nói pháp
mà không thủ đắc, nói hoàn toàn KHÔNG mà có thành tựu”8
.
Chính vô sở đắc mới thành
tựu, mới đắc cái đắc chân thật.
Kinh Bát Nhã nói: “Vô sở
đắc” không có nghĩa là không đắc mà kinh chỉ phủ nhận
tâm chấp thủ ngã và pháp là sắc, là thọ, là tưởng, là
hành, là thức.
Lại nữa, sắc, thọ, tưởng,
hành và thức là duyên khởi giả hữu, chúng như mộng, như
huyễn, như ảo ảnh, như bọt nước, như sương, như điện
chớp, nên Bồ Tát không hành theo cái giả hữu đó mà hành
theo Bát Nhã. Do hành theo Bát Nhã nên gọi là “vô sở hành”,
vì là “vô sở hành” nên là “vô sở đắc”, nghĩa là
không đắc theo cái ảo ảnh của cái sắc, thọ, tưởng, hành,
thức biểu hiện.
Và chính hành với cái hành
“vô sở đắc”, nên mọi hoạt động của Bồ Tát, tâm
không có chướng ngại, không còn có sợ hãi, không còn có
điên đảo và đạt tới Niết Bàn tuyệt đối. Và chư Phật
ba đời, vì không sở đắc, nên các Ngài an trú thường trực
ở trong Bát Nhã.
Bởi vậy, khi tu tập, hành
giả không dừng lại ở nơi có và không của pháp đối đãi;
mà lấy cái có, cái không ấy làm đối tượng quán chiếu
bằng Bát Nhã.
Và hỏi các pháp tại sao nó
có, tại sao nó không, tại sao nó sinh, tại sao nó diệt? Cái
gì sinh, cái gì diệt để rồi từ đó khám phá ra TỰ TÍNH
KHÔNG, là tính không sinh không diệt của vạn pháp như vua
Trần Nhân Tông nói:
一 切 法 不
生
一 切 法 不
滅
若 能 如 是
解
諸 佛 常 現
前
Nhất thiết pháp bất sinh
Nhất thiết pháp bất diệt
Nhược năng như thị giải
Chư Phật thường hiện
tiền.
Nghĩa là:
Tất cả pháp không sinh
Tất cả pháp không diệt
Nếu thường hiểu như vậy,
Chư Phật ngay trước mắt.
Cũng vậy, cây tùng, cây khế,
cây mai là những thực tại mầu nhiệm ở trước mắt chúng
ta, nhưng trong ta không có Bát Nhã, ta không thể nhận ra cái
bất sinh diệt đang có mặt trong từng sát na sinh diệt của
nó. Và vì không có Bát Nhã, nên ta không thể vượt qua sự
chấp ngã và pháp nơi tri kiến của ta.
Nếu nhận ra được điều
đó, ta mỉm cười và tự nhủ: “Phật ở đâu thì con ở
đó, con ở đâu thì có Phật ở đó”. Và rõ ràng Niết Bàn
không phải là bên kia, sinh tử không phải là bên này mà ở
ngay trước mắt.
Thích Thái Hòa
Chú Thích:
1 Tạp A Hàm
số 102, trang 499, Đại Tạng Tân Tu 02.
2 Kinh đã dẫn,
trang 92, Đại Tạng Tân Tu 02.
3 Trung bộ 03,
trang 252-259, Đại Học Vạn Hạnh 1975.
4 Trung bộ 03,
tr260-275, Đại Học Vạn Hạnh 1975.
5 Đại Bát Nhã,
bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập, tr223a, Đại Tạng Tân
Tu 08.
6 Đại Bát Nhã
Ba La Mật Đa Kinh 05, bản dịch của Ngài Huyền Tráng, trang
23, Đại Tạng Tân Tu 05.
7 Trung luận
04, trang 33a, Đại Tạng Tân Tu 30
8 Trường A Hàm,
trang 35, Đại Tạng Tân Tu 01.
X
|