LỐI NHÌN PHÂN TOÁI.
Trong Tựa Nhận thức và Tánh
không*, thầy Tuệ Sỹ viết: «Phục Hy phát hiện khái niệm
nhị phân bằng hai hào. Ông chồng ba bit-hào thành một quẻ;
thu hoạch được tám quẻ. Rồi chồng nữa, ông có bộ nhớ
6 bit-hào, nhận được 64 ký tự-quẻ, nó đủ để ghi tất
cả mọi hiện tượng, từ thiên nhiên, xã hội, con người.
Ghi bất cứ cái gì mà con người có thể suy nghĩ và tưởng
tượng.
«Nhưng phát hiện của Phục
Hy được thấy là hữu ích cho việc bói toán hơn là hỗ trợ
bộ óc của con người, như vi tính ngày nay. Tại sao?
«Người học Phật chỉ có
thể nói: căn, cảnh, thức; ba sự hòa hiệp xúc. Duyên xúc
phát sinh thọ. Xúc dị biệt nên cảm thọ dị biệt. Không
cùng môi trường “thức ăn” thì không thể nhìn giống nhau
được. Hai bờ sông Ngân có hai chòm sao. Từ Đông hay Tây,
nhìn lên đều thấy. Ở bên này Thái bình dương nhìn lên,
đó là Ngưu lang, người chăn bò, và Chức nữ, cô gái dệt
lụa. Và một thiên tình sử não lòng. Còn bên kia Đại tây
dương nhìn lên, đó là con thiên ưng và cây đàn bảy dây.
Không có dấu hiệu gì chứng tỏ con chim đang cố vượt sông
Ngân để sang bờ bên kia nghe đàn, mà được thấy là đang
đi tìm trái tim của vị thần ăn cắp lửa. Cách nhìn khác
nhau vạch ra định hướng lịch sử khác nhau, và tạo dựng
những nền văn minh khác nhau. »
Quả vậy, cách nhận thức
thực tại ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến hành động của
con người, đúng như ngài Pháp Xứng nói ngay đầu sách Chánh
lý nhất trích luận (Nyàya-bindu): «Mọi hành động thành công
là nhờ trước đó nhận thức đúng. » Từ trước đến nay
cách nhìn ấy như thế nào mà hiện nay phát sinh vô số vấn
đề nguy hại hoàn cầu phải đương đầu cần giải quyết
cấp bách mới mong cứu nguy kịp thời sinh quyển và đời
sống nhân loại.
Trên thế giới hiện nay, nghệ
thuật, khoa học, kỹ thuật, và mọi công trình nhân loại
nói chung đều bị phân chia thành nhiều lãnh vực chuyên khoa
riêng biệt khác nhau về bản chất. Đến lúc thấy sự phân
chia như vậy đem đến lắm trở ngại, thời mới nghĩ cách
thiết lập thêm những bộ môn tổng hợp, nhưng tựu trung
chỉ làm sự phân tán càng thêm phân tán. Xã hội bị chia
cắt thành những quốc gia biệt lập, thành nhiều nhóm sai
biệt về mặt tôn giáo, chính trị, kinh tế, chủng tộc,.
. . cạnh tranh kình chống lẫn nhau. Môi trường sống của
con người cũng bị khu biệt thành nhiều giới vực để dễ
bề chia chác giữa những nhóm quyền lợi khác nhau. Cũng vậy,
con người chịu chung một lối nhìn. Chẳng những con người
bị ly cách ra khỏi chính nó, khỏi đồng loại, và khỏi thiên
nhiên, mà tư tưởng của nó được coi là hữu lý cũng bị
tách khỏi tình cảm, tự bản tính, vốn xem như phi lý. Cái
con người “tôi” bị chẻ ra thành một trí năng, cấu thành
cái ngã của tôi, và nó phải kiểm soát tôi cũng như nó phải
kiểm soát thiên nhiên. Mục tiêu tối thượng của đời sống
là sử dụng trí năng kiểm soát thiên nhiên và sự sản xuất
càng ngày càng nhiều phẩm vật tiêu thụ. Với một lối nhìn
như vậy, con người đã làm ô nhiễm môi sinh đến mức tai
hại diệt phá đời sống trên mặt đất và tự biến mình
thành một bộ máy sản xuất, đời sống bị lệ thuộc vào
tài sản, bị chi phối bởi “có”. Ba độc tham, sân, si hoành
hành, gây âu lo, chán nản, và tuyệt vọng, dần dần phá hủy
hoàn toàn đời sống con người mà nó không hề hay biết.
Cuộc sống trong sự hối hả, lo âu, tâm thần mệt mỏi, vì
thần kinh luôn luôn bị kích thích căng thẳng, nguyên nhân
của những chứng bệnh hiểm nghèo như đau tim, ung thư, thần
kinh, mất ngủ, tất cả là do lối nhìn phân toái gây ra.
Đó là một lối nhìn điên
đảo, dẫn đến xung đột và sai lầm, vì tìm cách phân chia
một toàn thể bị phân hóa, cái thực tại không thể phân
chia, nhằm thực hiện những mục đích riêng tư và hạn định.
Hơn nữa, điều tai hại là cho rằng các mảnh phần chia chẻ
có bản ngã chân thực và tự tính thường hằng.
Thực ra, những lúc giải quyết
một vấn đề, đầu óc suy luận cũng cần chia cắt sự vật
ra từng phần nhỏ để tiện bề xét đoán. Trong chiều hướng
nào đó sự tạo ra những môn khảo sát riêng biệt và sự
phân công thực hiện là một tiến bộ đáng kể. Ngay thuở
sơ khai khi con người nhận ra mình không đồng nhất với thiên
nhiên thời ý thức khác biệt đó làm nảy sinh một tư tưởng
tự do độc lập. Từ đó, trước tiên do trí tưởng tượng
và cuối cùng do hoạt động thực hành con người vượt hẳn
ra khỏi một số giới hạn ràng buộc tức thì của thiên
nhiên.
Tuy nhiên, khả năng của con
người tự xô mình ra biệt lập với môi trường sống và
khả năng suy tư chia cắt sự vật thành mảnh nhỏ đã dẫn
đến những kết quả rất nguy hại, tại vì mọi tiến trình
phân toái chỉ hữu hiệu trong một giới hạn nào đó mà thôi.
Thật vậy, tiến trình phân toái là một lối nhìn, một phương
thức suy tư về sự vật rất tiện lợi, thường được thực
hiện trong những cảnh giới hoạt động có tính cách thực
dụng và chuyên môn. Chẳng hạn như trường hợp chia một
diện tích đất thành vùng, mỗi vùng trồng một thứ cây
trái. Nhưng nếu áp dụng phương thức suy tư ấy để nhận
thức về mình và toàn thể thế giới thời con người rất
dễ quên mọi phân toái đều là phương tiện do vọng suy,
mà trái lại, lại đinh ninh lầm tưởng chính mình và toàn
thể thế giới gồm toàn những thành phần vụn vặt riêng
biệt. Từ quan niệm phân toái như vậy, con người hành động
tìm cách chia cắt mình và thế giới thành mảnh nhỏ, tự
gây ra cái ý thức mọi chuyện xảy đến phù hợp với đường
lối suy tư phân toái của mình, rồi hiểu lầm quan điểm
phân toái cá nhân được công nhận là đúng. Thực ra, nó
đã hành động theo cách tư duy của nó và u mê không nhận
ra chính nó là tác giả của sự phân toái mà cứ tưởng sự
phân toái ấy hiện khởi và tồn tại độc lập ngoài ý muốn
và mong cầu của nó.
Người Tây phương từ xưa
đã thấy rõ sự cần thiết phải có một lối nhìn toàn diện
thời đời sống mới đáng sống. Như chữ “health” họ
dùng để nói sức khỏe chẳng hạn. Căn của nó là chữ “hale”
nghĩa là toàn thể (“hale” meaning “whole”). Như vậy, người
Tây phương xưa đã quan niệm khỏe mạnh quan hệ mật thiết
với ý niệm toàn thể. Chữ “holy” (thần thánh) cũng cùng
một căn như thế. Thế mà trải qua hằng chục thế kỷ người
Tây phương vẫn duy trì một lối suy tư về sự vật trên
quan điểm phân toái!
Vậy do đâu mà xuất sinh lối
nhìn phân toái? Tại sao lối nhìn phân toái có thể vô hiệu
hóa mọi hối thúc trở về với cái nhìn toàn diện đã có
từ thời xưa? Nói một cách tổng quát, quan điểm phân toái
được chấp nhận là do thói quen tưởng lầm nội dung tư
tưởng là một sự miêu tả thế giới đúng như thể cách
hiện hữu “như thị” của nó. Hay nói cách khác, là do lầm
tưởng trí năng của chúng ta trực tiếp tương ưng với thực
tại khách quan. Trí năng thường xuyên phân biệt có sai khác
cho nên vì thói quen mà tưởng lầm những sai dị biệt là
có thật và do đó mà nhìn thấy thế giới phân tán đầy
sắc tướng sai khác, bị phân chia thành mảnh vụn. Thật ra,
quan hệ giữa tư tưởng và thực tại mà tư tưởng suy diễn
không đơn giản chỉ là một sự tương ưng. Khoa học tìm
cách diễn tả sự quan hệ ấy bằng những lý thuyết (theory)
hay mô hình (model). Lý thuyết hay mô hình không phải là giả
thuyết, cũng không phải để phô diễn kiến thức về thế
giới, mà là một phép quán chiếu, một phương cách quán sát
thế giới. Đó là một hình thái nhận thức, một lối suy
tư về thực tại.
Thí dụ thời xưa, có thuyết
phân biệt chuyển động của những vật thể trên trời khác
với chuyển động của những vật thể dưới đất. Vật
thể dưới đất thời rơi rụng, còn vật thể trên trời
như mặt trăng thời mãi mãi lơ lửng trong không trung. Đến
thời đại khoa học, không còn sự phân biệt hai loại chuyển
động như thế nữa. Nghĩa là người ta nhìn nhận vật thể
trên trời cũng rơi rụng như vật thể dưới đất. Newton
trong một chớp quán chiếu thấy quả táo mà rơi thời mặt
trăng, và tất cả vật thể khác cũng rơi như vậy. Do đó,
ông đề xướng thuyết hấp dẫn vạn vật (theory of universal
gravitation) theo đó mọi vật thể đều thấy như rơi về hướng
các tâm điểm khác nhau. Thí dụ, mặt trăng rơi về hướng
quả đất, quả đất về hướng mặt trời,. . . Lối nhìn
mới này cho thấy có thể diễn tả mọi chuyển động của
vật thể trên trời hay dưới đất giống nhau bằng gia tốc
rơi hướng về những tâm điểm riêng của chúng.
Nhiều thế kỷ sau, vào khoảng
năm 1900, thuyết Newton không còn công dụng giải thích rõ ràng
các chuyển động khi đem áp dụng vào những cảnh giới mới
nên nhiều lối nhìn khác được khai triển, dẫn đến thuyết
tương đối và thuyết lượng tử.
Theo thuyết tương đối, thế
giới không thể chia chẻ tận cùng thành những khối kiến
trúc (building blocks) bất khả phân vì những cấu phần căn
bản như vậy bắt buộc phải là vật thể cứng rắn (rigid
body). Nhưng vì vật thể cứng rắn được định nghĩa là
vật thể có tính chất tín hiệu giao thông giữa hai điểm
bất kỳ của nó truyền dẫn tức thời, nghĩa là nhanh hơn
vận tốc truyền dẫn của ánh sáng, nên vật thể cứng rắn
không thể hiện hữu.
Thuyết lượng tử xác định
không thể phân chia chủ thể quan sát gồm có người và dụng
cụ đo lường cách biệt với đối tượng được quan sát
và đo lường. Tất cả tương quan nhiếp nhập trong một toàn
thể vị phân hóa không thể dùng suy luận mà phân tích được.
Cả hai thuyết ám chỉ sự
cần thiết nhận thức hết thảy mọi phần tử của vũ trụ
hỗ tức hỗ nhập theo một lưu động vũ trụ (universal flux).
Lưu động vũ trụ này có thể xem như đã được đề cập
trong Khế kinh: “Vô bất tùng thử pháp giới lưu, mạc bất
hoàn qui thử pháp giới” (Dịch: Không có một pháp nào chẳng
từ Pháp giới này mà lưu xuất, và cũng không có một pháp
nào chẳng trở về Pháp giới này).
Nếu hiểu mọi lý thuyết khoa
học đều là những phép quán chiếu thời vấn đề sai đúng
của một lý thuyết không còn có ý nghĩa nữa. Ta chỉ có
thể bảo thuyết này chiếu soi rõ ràng trong những cảnh giới
này, và không chiếu soi rõ ràng khi đem quảng diễn ra ngoài
những cảnh giới ấy. Lý thuyết quyết định cách tổ chức
các dữ kiện do trí năng và hành động mang lại. Quả vậy,
do cách ta suy tư về sự vật mà phát sinh những phạm trù
không gian, thời gian, vật chất, thực thể, duyên khởi, cọng
hữu, đặc thù, … là những hình thức căn bản của lượng
đoán (Judgment).
Muốn trí năng và tư tưởng
được sáng sủa, thời phải thông hiểu sự quán chiếu tức
phương cách nhận thức thực tại đã tác dụng như thế nào
để uốn nắn kinh nghiệm thấy biết theo khuôn khổ các phạm
trù do đường lối suy tư thiết định. Cần lưu ý cụm từ
“kinh nghiệm thấy biết” được sử dụng để nói lên
kinh nghiệm và trí năng là hai mặt của cùng một tiến trình
hỗ tương giao thiệp giữa thực tại với trí giác và cảm
giác. Thấy biết không phải là thấy biết về một thứ kinh
nghiệm nào đó. Kinh nghiệm thấy biết nói ở đây là những
hỗ tương tác dụng giữa người với thiên nhiên và giữa
người với tha nhân đồng hữu. Theo luật tác dụng và phản
tác dụng (law of action and reaction) thời thiên nhiên hay tha nhân
luôn luôn phản ứng tùy thuận lý thuyết về hỗ tương giao
thiệp. Nghĩa là khi tiếp xúc với một người mà thành kiến
cho là thù nghịch thời mọi hành động của ta đều hướng
về phòng ngự và phía kia, người mà ta tiếp xúc cũng có
phản ứng tương tợ. Thiên nhiên cũng thế, phân tán thành
mảnh phần riêng biệt để phản ứng tùy thuận lối nhìn
phân toái của con người. Như Heisenberg đã nói: “Cái ta quan
sát không phải là thực tại mà là cái thực tại biểu lộ
ứng với cách ta đặt vấn đề”. Ta lầm tưởng như thế
là kinh nghiệm đã xác chứng lý thuyết tức cách nhận thức
của ta.
Sở dĩ chấp giữ không chịu
đổi thay cách nhận thức phân toái là vì đinh ninh lối nhìn
như vậy nhận thức đúng thực tại như thật. Và thực tại
như thật ấy bất biến cho nên cách nhìn không cần phải
thay đổi. Trên thực tế, mỗi cách quán chiếu đều soi thấy
rõ những khác biệt và phân biệt thu nhiếp trong cảnh giới
riêng của nó. Chẳng hạn, trong lối nhìn sự vật chuyển
động ngày xưa, có sự phân biệt vật thể trên trời và
vật thể dưới đất. Trong thuyết Newton, thời có sự phân
biệt những tâm điểm khác nhau nơi hướng đến của mọi
chất rơi. Những khác biệt và phân biệt ấy chỉ là một
lối nhìn, một cách suy tư nhằm hướng dẫn trí giác và cảm
giác nhận thức thực tại. Nhưng nếu cho rằng các lý thuyết
đề xướng là trực tiếp miêu tả cái đương thể của sự
vật, thời dĩ nhiên, quan điểm đó xác nhận các khác biệt
và phân biệt là những phân chia thật sự, tức là xác quyết
những mảnh phần sai biệt căn bản đề cập trong lý thuyết
quả thật hiện hữu. Đó là nguyên nhân gây sự nhận lầm
thế giới là tập hợp các mảnh phần tách ly và cách nhìn
sai lạc đó lôi cuốn theo những hành động nhằm biện minh
cho quan điểm phân toái mê lầm ấy.
Phân toái thật ra là cái nhìn
mơ hồ lầm lẫn không phân biệt được hai tướng đồng
và dị của các pháp: phân chia sai biệt cái vô sai biệt và
thống hợp những cái không thể kết hợp. Nhận thức đúng
vấn đề đồng dị là tối cần thiết để giải trừ mọi
phiền não suốt quá trình cuộc sống. Không nhận định và
xác định được cái gì sai khác hay không sai khác thời tất
nhiên nhận thức điên đảo sai lầm hết thảy mọi sự vật.
Tất cả những cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện đang xảy
ra cho cá nhân và xã hội bắt nguồn từ đó mà phát sinh.
Thực tại là một toàn thể
vị phân hóa không thể chia cắt. Thế mà vì mục đích riêng
tư hẹp hòi nó bị đem chia chẻ thành những sai biệt, rồi
sau đó có những cố gắng liên hợp lại những thành phần
bất khả kết. Hãy lấy trường hợp chia đoàn phân nhóm theo
những tiêu chuẩn tôn giáo, kinh tế, chính trị, . . . ra làm
thí dụ. Hành động thành lập đoàn nhóm tạo nên tư tưởng
phân toái phân cách theo tôn chỉ khác biệt và tách ly các
nhóm đoàn viên ra khỏi thế giới cộng đồng. Nhưng trên
thực tế đâu có thể phân cách và tách ly được. Bởi tại
bất cứ đoàn viên nào cũng tương quan liên hệ toàn thể
thế giới cộng đồng và sự liên hệ ấy sai khác tùy theo
từng mỗi cá nhân, cho nên không chóng thời chầy, mỗi đoàn
viên tự thấy mình dị biệt đối với những đoàn viên khác
trong cùng một nhóm. Do đó phát sinh những quan điểm bất
đồng giữa những người cùng nhóm gây nên sự tan vỡ tất
nhiên của nhóm. Điều này cũng xảy đến cho bất cứ ai vì
lý do chuyên nghiệp tìm cách tách ly mình với tha nhân hay ra
khỏi một phương diện nào đó của thiên nhiên. Tự thân
cá nhân ấy sẽ gặp phải những trạng huống phân tán đầy
mâu thuẫn, tổng biệt, đồng dị, thành hoại, rất khó nhận
định và xác định.
Vậy có cách gì để đoạn
tận lối nhìn phân toái? Đó là câu hỏi rất khó trả lời
bởi vì trước tiên phải thông hiểu tiến trình suy tư và
nội dung tư tưởng mà tiến trình ấy tạo ra tương quan liên
hệ như thế nào? Một nguyên nhân của phân toái là lầm tưởng
rằng tiến trình suy tư và nội dung tư tưởng xuất hiện
trong sự phân ly chủ thể khách thể. Lý do là hiểu lầm rằng
có riêng biệt và độc lập đối với nhau thời quá trình
suy luận mới diễn tiến một cách có đường lối, có trật
tự, và hợp lý, nhờ đó mới có thể thẩm định tính cách
sai đúng, hợp lý hay phi lý, phân toái hay toàn diện,. . . của
nội dung tư tưởng. Quan niệm phân toái về chính mình và
thiên nhiên biểu lộ không những trong nội dung tư tưởng,
mà còn trong mọi hành động của con người đang tư tưởng,
ví như vọng tưởng suy luận chẳng hạn. Thật ra, thành quả
suy tư và tiến trình suy tư luôn luôn xuất hiện đồng thời
trong cùng một dòng hiện tượng tâm lý liên tục chuyển biến.
Bởi thế cho nên muốn đoạn tận lối nhìn phân toái thời
cần phải cùng một lúc đoạn tận cả nội dung tư tưởng
phân toái lẫn tiến trình suy tư phân toái.
Như vậy, để dứt trừ lối
nhìn phân toái, trước hết phải hiểu đúng lý “nhị không”
(ngã không, pháp không), theo đó không một khách thể nội
dung tư tưởng nào lại không có chủ thể suy tư và ngược
lại, không có một chủ thể suy tư nào lại không có khách
thể nội dung tư tưởng. Cả hai đồng thời xuất phát từ
“thức”, một sự hữu toàn diện, một hậu trường tiềm
ẩn. Nói theo thuật ngữ Duy thức, hậu trường ấy là A lại
da thức, là “tâm sanh diệt”, nghĩa là chơn (không sanh diệt)
vọng (sanh diệt) hòa hiệp, không phải một, không phải khác.
Thức này tóm thâu tất cả các pháp và xuất sanh tất cả
các pháp.
Ngoài ra, phải thường xuyên
tỉnh thức để thấy biết rõ ràng hoạt dụng của suy tư
là một hình thái nhận thức, một phép quán chiếu, chứ không
nhằm sao lục trung thực thực tại “như thị”. Trong thực
tế, mọi lối nhìn đều là những cái nhìn phương diện (profile).
Vấn đề ở đây không phải là tìm cách thống hợp hết
thảy mọi cái nhìn phương diện để tạo ra một cái nhìn
toàn diện, vì nhất thể tính (unity) tạo ra như vậy cũng
chỉ là một mảnh phần mới khác áp đặt thêm vào tập hợp
các cái nhìn phương diện. Mỗi cái nhìn phương diện chiếu
soi rõ ràng và đầy đủ một cảnh giới nào đó. Có thể
xem đó là một quan điểm riêng về một sự vật. Mỗi quan
điểm riêng cho thấy sắc tướng của sự vật dưới một
góc độ nào đó. Ý nghĩa toàn diện của sự vật tuy không
thể nắm bắt được với bất cứ quan điểm riêng nào nhưng
được hàm chứa trong hết thảy mọi cái nhìn phương diện
về sự vật ấy. Hiểu như thế thời tất nhiên không còn
hiểu lầm lý thuyết là trực tiếp miêu tả thực tại đúng
như thể cách hiện hữu như thị của nó và không sa vào cái
thói quen suy tư và hành động một cách phân toái đối với
thiên nhiên và tha nhân.
LỐI NHÌN VIÊN DUNG.
Theo Pháp Tạng, đức Phật
thuyết giảng kinh Hoa nghiêm dưới gốc cây Bồ đề trong trạng
thái hải ấn định vào tuần lễ thứ hai sau khi thành đạo.
Hải ấn định còn có ngôn danh là Hoa nghiêm tam muội. Đó
là một minh dụ về lối nhìn viên dung, nhãn quan căn bản
của Hoa nghiêm. Theo lối nhìn viên dung, hỗ tương giao thiệp
giữa mọi hiện tượng đồng thời hiện khởi tạo thành
một toàn thể nhịp nhàng giống như là toàn thể vũ trụ
phản chiếu trên mặt đại dương. Trong Hoa nghiêm Du tâm Pháp
giới ký, Pháp Tạng giải thích ý nghĩa danh từ “Hoa nghiêm
tam muội” và “hải ấn định” như sau.
«Nói Hoa nghiêm Tam muội; giải
rằng:
«Hoa, là muôn hạnh của Bồ
tát. Vì sao? Vì hoa có tác dụng sinh ra hạt (thật), có khả
năng dẫn đến sự kết trái (cảm quả). Tuy trong và ngoài
khác nhau, nhưng sự phát sinh năng lực cảm ứng thì tương
tự. Tức là, lấy pháp mà ký thác sự, cho nên nói là “hoa”.
«Nghiêm, là sự thành
tựu của hành, viên mãn của quả; khế hợp tương ưng; trần
cấu và chướng ngại hoàn toàn dứt sạch; chứng lý tròn
đầy trong sáng. Tùy dụng mà tán thán phẩm đức, nên nói
là “nghiêm”.
«Tam muội, là lý và trí không
hai, triệt để tương giao, hỗ tương dung nhiếp; đây và kia
đều mất; năng và sở vắng bặt. Cho nên nói là “tam muội”.
Cũng có thể nói, “hoa”
tức là “nghiêm”, vì lý và trí không chướng ngại nhau.
Hoa nghiêm tức tam muội, vì hành thì dung hóa (hay dung giải),
xa lìa tri kiến (chỉ kiến chấp).
Cũng có thể nói “hoa” tức
“nghiêm”, vì khi một hành được tu trong khoảnh khắc thì
tất cả hành đều đồng loạt được tu. Cho nên, Hoa nghiêm
tức tam muội. Vì một hành tức là nhiều mà không chướng
ngại giữa cái nhất thể và đa thù.
«Cũng có thể nói, Hoa nghiêm
tức là tam muội; vì định và loạn, cả hai đều tiêu dung.
Cũng có thể nói tam muội
tức Hoa nghiêm. Vì lý trí vốn như như. Như vậy tự tại,
không có chướng ngại. Hoặc định hoặc loạn; hoặc tức
hoặc nhập; hoặc trí hoặc lý; hoặc nhân hoặc quả; hoặc
nhất hoặc dị; phẩm đức chân thật của biển tính, vốn
như vậy là như vậy, vốn tròn sáng; hãy như lý mà tư duy,
dứt tuyệt tri kiến. . .
«Giải hành này (nhận thức
và hành động), theo ngôn danh, là Hoa nghiêm tam muội. Căn cứ
trên kết quả, cũng gọi là “Hải ấn tam muội”. Đây là
tên gọi để chỉ ý nghĩa trước sau đồng thời; mà nội
hàm thì chỉ cho sự đồng loạt hiển hiện, hỗ tương dung
nhiếp. Cũng như đại dương, trong đó hiển hiện ảnh tượng
bốn binh chủng. Từng loại ảnh tượng khác nhau, cái trước
và cái sau cùng lúc đột nhiên hiển hiện. Nhưng, ảnh tượng
và hình thể không phải là một. Nước thì rốt ráo vẫn
không phải đa dạng. Ảnh tượng tức là nước, mà vẫn trong
ngời. Nước tức ảnh tượng mà thành phồn tạp. Trước
và sau rạch ròi. Khởi thủy và chung cuộc khó dò căn nguyên.
Một cách minh nhiên xuất hiện phồn đa. Nhưng lại tịch nhiên,
vắng vẻ không tướng. Đồng loạt bằng đầu nhau mà cùng
lúc hiển hiện; ẩn và hiện khó biết; hỗ tương nhiếp nhập
mà không bị vướng mắc; tiêu tan dung giải, dứt tuyệt tư
lự. . .
«Lại nữa, “biển” tức
là cái trùng trùng vô tận của các ảnh tượng; giới hạn
biên tế khó dò căn nguyên. Tận cùng là nhất thể, mà vẫn
không thể tận cùng. Tùy theo từng cá biệt mà đồng loạt
hiển hiện rành rành. Đó gọi là “biển”.
«Ấn, là các ảnh tượng
đồng thời không phải trước sau, phẩm loại muôn vàn sai
biệt mà tương tức, tương nhập vô ngại; nhất thể và đa
thù, cả hai cùng hiện; cái này và cái kia không mâu thuẫn
nhau; tướng trạng bất đồng, dị biệt nhưng không phải
dị biệt. Đó gọi là “ấn”.
«Định, là chủng loại tuy
đa thù sai biệt nhưng là duy nhất thể, không sai khác. Muôn
vàn ảnh tượng tranh nhau xuất hiện, nhưng vẫn rành mạch.
Do đó, Hải ấn tức tam muội; tác tức bất tác.
«Cũng có thể phân tích thành
bốn phạm trù: 1. Duy chỉ là “hải” mà không là “ấn”,
vì không hoại ảnh tượng mà nước vẫn là nước. 2. Duy
chỉ là “ấn” mà không là “hải”, vì nước không ấn
mà ảnh tượng vẫn là ảnh tượng. 3. Vừa “hải” vừa
“ấn” vì ảnh tượng và biển dung nhiếp nhau toàn diện,
nhất thể mà vẫn dị biệt. 4. Không là “hải” cũng không
là “ấn” vì biển và ảnh tượng tiêu tan, dung giải, hình
thành cho nhau và xâm đoạt lẫn nhau.
Cũng có thể nói “hải”
tức là “ấn”, vì tự tại vô ngại. Cho đến, vừa tương
tức, vừa không phải tương tức; không phải vừa tương tức
vừa không tương tức. Vì không có hai tính. Hãy chuẩn theo
đó mà tư duy. » (Hoa nghiêm Du tâm Pháp giới ký, Đường Pháp
Tạng soạn. Tuệ Sỹ trích dịch).
Hình thái nhận thức thực
tại từ hải ấn tam muội trực dụ cái nhìn căn bản của
tâm linh, một lối nhìn riêng của Hoa nghiêm nhắm thẳng vào
thế giới và tâm linh. Trong Ngũ giáo chương, Pháp Tạng nêu
ra quan điểm “thập thập pháp môn” của kinh Hoa nghiêm là
“xứng pháp bản giáo”, biểu hiện sự giác ngộ của Phật
vì được Phật chứng thực và chứng ngộ. Các kinh giáo khác
là “trục cơ mạt giáo” được giảng dạy tùy theo cơ hội.
Hơn nữa, Pháp Tạng tựa vào một ví dụ nêu ra trong Phẩm
37: Như Lai xuất hiện: “Ví như mặt nhựt lúc xuất hiện/
Trước chiếu núi cao kế các núi/ Sau chiếu cao nguyên và đại
địa/ Mà mặt nhựt vẫn không phân biệt. /” để ví sự
tuyên thuyết giáo lý Hoa nghiêm với những tia sáng mặt trời
đầu tiên chỉ chiếu vào những đỉnh núi cao nhất. Nghĩa
là theo Pháp Tạng, Viên giáo của Hoa nghiêm tông là chân thật,
hoàn toàn khác biệt và cao hơn ba thừa kia được coi như là
quyền biến (Tam quyền nhất thật; Ba thừa kia là: Tiểu thừa,
Đại thừa Tiệm giáo gồm Thỉ giáo và Chung giáo, và Đại
thừa Đốn giáo, như Thiền của Đại thừa).
Tưởng cũng nên biết phán
giáo của Pháp Tạng đề ra trong Hoa nghiêm Ngũ giáo chương
gồm có năm giáo. Đó là:
(1) Giáo lý Tiểu thừa (Hinayāna):
phủ nhận một bản ngã cá biệt nhưng thừa nhận sự thực
hữu của tất cả pháp sai biệt. Về duyên khởi luận, giáo
lý này thuộc về nghiệp cảm duyên khởi.
(2) Đại thừa Thỉ giáo (Mahāyāna):
có hai trình độ. Một, gọi là Tướng Thỉ giáo, giáo lý
nhập môn y cứ trên sai biệt tướng của tất cả các pháp.
Thí dụ: Pháp tướng tông. Hai, gọi là Không Thỉ giáo, giáo
lý nhập môn y cứ trên sự phủ định tất cả các pháp.
Thí dụ: Tam luận tông.
Pháp tướng tông cho rằng
tánh và tướng các pháp hoàn toàn khác nhau. Do đó lý khác
với sự. Tông này nêu lên thuyết A lại da duyên khởi trên
nền tảng pháp tướng và chủ trương sự sai biệt căn để
của năm hạng người (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Bất
định, Ngoại đạo) trong đó hạng ngoại đạo nhứt xiển
đề (icchantika) không bao giờ có thể trở thành Phật.
Tam luận tông, trái lại, thiên
chấp về Không, căn cứ trên tính vô tướng (svabhàva-alaksana)
hay không có bản chất tồn tại. Tông này thừa nhận nhất
thể của hữu nên xác nhận mọi người đều có thể đạt
Phật quả.
(3) Đại thừa Chung giáo tức
giáo lý về Chân như: thừa nhận tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh và đều có thể đạt Phật quả. Vì giáo lý
Chân như xứng hợp với thực tại nên cũng gọi là Thực
giáo. Như Lai tạng duyên khởi là đặc điểm của giáo lý
này. Trong Chung giáo, lý và sự, cả hai là một.
(4) Đại thừa Đốn giáo:
chủ trương tu tập không cần ngôn ngữ hay luật nghi, mà gọi
thẳng vào trực kiến để đạt đến giác ngộ viên mãn tức
khắc. Lý tính tự biểu lộ trong thuần túy của nó, và hành
động luôn luôn tùy thuận trí tuệ và tri kiến. Hành giả
thành Phật khi tư tưởng không còn móng khởi trong tâm và
thành đạt như vậy có thể gặt hái qua sự im lặng như trường
hợp cư sĩ Duy Ma Cật hay qua thiền định, như trường hợp
tổ Bồ đề Đạt ma. Giáo lý này không giảng về lý duyên
khởi đặc biệt nào bởi vì không tự có riêng phương pháp
giáo hóa nào cả.
(5) Đại thừa Viên giáo: có
hai trình độ. Một, Đồng giáo Nhất thừa trong đó Nhất
thừa của Hoa nghiêm tông bao gồm tất cả ba thừa kia. Nhất
thừa được giảng thuyết bằng phương pháp đồng nhất hay
tương tự với cả ba thừa. Hai, Biệt giáo Nhất thừa tức
là trường hợp giáo lý Hoa nghiêm được Pháp Tạng nêu lên
như khác biệt và cao hơn đối với các kinh giáo khác. Giáo
lý này lấy lý sự giác ngộ viên mãn của Phật làm tâm điểm
nhằm thiết lập một thế giới hỗ tương dung nhiếp. Hoa
nghiêm Ngũ giáo chương xác định rằng pháp giới duyên khởi
là đặc điểm của Viên giáo.
Pháp giới duyên khởi có nghĩa
là, vì hết thảy mọi hiện tượng đều không có tự tính,
cộng đồng hiện hữu, và đồng thời hiện khởi, nên mỗi
hiện tượng là một cơ quan trong toàn bộ, và toàn bộ là
hỗ tương giao thiệp nhịp nhàng giữa hết thảy mọi cơ quan
thuộc nó. Như vậy tính chất của mỗi hiện tượng thành
phần trong toàn bộ là do toàn bộ xác định, và tính chất
của toàn bộ là do mỗi và mọi hiện tượng thành phần của
nó xác định. Vì toàn bộ không gì khác là hỗ tương giao
thiệp giữa các thành phần, nên mỗi hiện tượng có thể
xem như tác dụng định đoạt tính chất của tất cả các
hiện tượng khác, đồng thời tính chất của chính nó cũng
do tất cả các hiện tượng khác tác dụng định đoạt.
Pháp Tạng sử dụng mười
huyền môn để quảng diễn lý thuyết pháp giới duyên khởi.
Huyền môn thứ bảy, Nhân đà la võng cảnh giới môn, là một
minh dụ về hai nguyên lý hỗ tức và hỗ nhập. Tấm lưới
rộng lớn bao la của trời Indra (Hán âm: Nhân đà la) biểu
tượng toàn thể vũ trụ và các hạt ngọc óng ánh ở các
mắt lưới biểu tượng đủ loại hiện tượng trong vũ trụ.
Mỗi hạt ngọc vừa phản chiếu vừa bị phản chiếu bởi
mỗi và mọi hạt ngọc kia. Như vậy mỗi hạt ngọc phản
chiếu toàn diện tấm lưới và trong mỗi tấm lưới phản
chiếu này, lại có vô số hạt ngọc và mỗi hạt ngọc đó
lại cũng phản chiếu toàn diện tấm lưới. Quá trình phản
chiếu lẫn nhau tăng gia trùng trùng vô tận, biểu tượng toàn
thể hết thảy mọi tương quan giao thiệp hỗ tức hỗ nhập
dung thông vô ngại của tất cả hiện tượng trong vũ trụ.
SỰ SỰ VÔ NGẠI HAY LÝ SỰ
VÔ NGẠI?
Trong Hoa nghiêm Ngũ giáo chương,
ngoài thuyết pháp giới duyên khởi dùng định danh nghĩa Viên
giáo, lý pháp tánh khởi cũng được đề cập. Tuy danh từ
“tánh khởi” phát xuất từ tên Phẩm 32: Bảo vương Như
Lai tánh khởi chương, theo bản dịch Hoa nghiêm 60 quyển của
Phật đà bạt đà la (Buddhabhadra), ý nghĩa danh từ “tánh
khởi” được giải thích nương theo luận Đại thừa khởi
tín là bộ luận Pháp Tạng y cứ để thuyết giảng về Đại
thừa Chung giáo. Tánh khởi hay Như Lai tạng duyên khởi là
đặc điểm của giáo lý này. Pháp Tạng cho rằng giáo lý
Như Lai tạng là giáo lý về lý sự dung thông vô ngại và
thuyết tánh khởi làm sáng tỏ cái nhìn lý sự dung thông vô
ngại cũng giống như thuyết pháp giới duyên khởi làm sáng
tỏ cái nhìn sự sự vô ngại.
Về Pháp giới, Pháp Tạng
giải thích rằng trong danh từ kép “pháp giới (dharmadhātu)”,
“pháp” cũng như “giới” mỗi chữ có ba nghĩa. Ba nghĩa
của pháp là: một, duy trì tự tính; hai, quỹ tắc; ba, đối
tượng của ý. Ba nghĩa của giới là: một, nghĩa là nhân,
vì Thánh đạo y trên đây mà sinh trưởng; hai, nghĩa là tánh,
tánh sở y của tất cả các pháp; ba, phân tề, giới hạn
phân biệt thực tế.
Theo nghĩa thứ ba của giới
thời pháp tương đương với giới, và pháp giới bao gồm
mọi hiện tượng sai biệt. Trong trường hợp này, Pháp Tạng
quy hợp pháp giới duyên khởi với sự sự vô ngại, là cách
nhìn đặc sắc nhất của Nhất thừa Biệt giáo, khác hẳn
với các tông phái Phật giáo khác.
Theo nghĩa đầu và nhì của
giới, pháp giới biểu tượng hoặc là nhân của sự thành
tựu Thánh đạo hoặc là nơi nương tựa, là chỗ thường
trụ quy y của hết thảy pháp thế gian. Với hai nghĩa ấy,
Pháp giới đồng nghĩa với Như Lai tạng. Trong trường hợp
đồng nhất pháp giới với Như Lai tạng thời pháp giới duyên
khởi có thể hiểu theo nghĩa tánh khởi.
Theo nghĩa tánh khởi, Pháp Tạng
đồng nhất Lý và Sự theo thứ tự với tâm Chân như và tâm
sanh diệt là hai tướng của Tâm chúng sanh đề cập trong luận
Đại thừa khởi tín. Thức A lại da biểu hiện sự tương
tác không ngăn ngại giữa hai tướng này và được giải thích
là do “Chơn (không sanh diệt) Vọng (sanh diệt) hòa hiệp,
không phải một không phải khác”. Xét trên phương diện
“tùy duyên”, A lại da thức chính là Như Lai tạng bị phiền
não che phủ, làm nhân cho động. Thức này có hai trạng thái,
tùy nhiễm duyên thời trạng thái “Bất giác” hiện, tùy
tịnh duyên thời trạng thái “Giác” hiện. Cũng thế, Như
Lai tạng là sở y của cả luân hồi lẫn niết bàn. Như Lai
tạng tuy bị phiền não trói buộc nhưng không phải vì vậy
mà hợp nhất với phiền não. Xét trên phương diện “bất
biến”, Như Lai tạng và Như Lai pháp thân bản chất thanh
tịnh giống nhau. Lìa phiền não trói buộc thời gọi là Như
Lai pháp thân, Như Lai pháp thân chẳng lìa phiền não tạng
gọi là Như Lai tạng. Pháp Tạng đồng nhất hai mặt tùy duyên
và bất biến của Như Lai tạng với hai khía cạnh của Tâm
chúng sanh, một nhìn theo tục đế và một, theo Chân đế.
Pháp Tạng hiểu “tánh khởi”
theo nghĩa 'lý sự vô ngại': Tánh khởi chỉ vào tác dụng
của Tâm (Lý) làm sinh khởi thế giới hiện tượng (Sự).
Như thế, thế giới hiện tượng là biểu tượng của Tâm,
và vì bản tánh của Tâm là thanh tịnh, tự tánh thường trụ,
nên do đó mà toàn thể thế giới hiện tượng xuất sanh từ
Không đúng theo quan niệm lý sự vô ngại. Chính do tánh Không
mà các pháp mới có thể đồng thời hiện khởi, cộng đồng
hiện hữu, và hỗ tương giao thiệp tạo thành một Nhất thể
nhịp nhàng hòa điệu. Do đó, lý sự vô ngại đúng ra là
bản thể cấu trúc của sự sự vô ngại. Nhưng trong Phẩm
cuối của Ngũ giáo chương, Pháp Tạng không xem ý nghĩa của
lý sự vô ngại là quan trọng và cần thiết trong sự giải
thích ý nghĩa của sự sự vô ngại.
Về sau, Trừng Quán, tổ kế
thừa Pháp Tạng, vẫn chủ trương sự sự vô ngại pháp giới
tiêu biểu giáo lý Nhất thừa. Nhưng khi thuyết giảng giáo
lý Hoa nghiêm, Ngài nhấn mạnh vào điểm lý sự vô ngại là
căn bản cần thiết để thi thiết sự sự vô ngại:
«Sự sự vô ngại pháp giới
là yếu chỉ của Kinh [Hoa nghiêm]. . . Lý do mỗi sự sai biệt
mỗi mỗi sự khác mà không bị các sự khác ngăn ngại là
vì Lý (tánh Không) châu biến hàm dung khắp mọi sự. . . .
Bởi vì Sự xuất sanh từ Lý, nên một và nhiều hiện khởi
nương tựa tùy thuộc nhau. . . . Sự sự vô ngại thành tựu
chỉ vì đó là kết quả của lý sự vô ngại. . . . Giả như
Sự không tức Lý, thời Sự không xuất sanh từ Lý và sự
này ngăn ngại sự kia. Tuy nhiên, bởi Sự tức Lý, nên sự
sự vô ngại. . . . Vì Sự xuất sanh từ Lý nên sự sự hỗ
tương nhiếp nhập vô ngại. » (Taisho T36. 9a28-b7)
Đến thời Khuê Phong Tông Mật,
giáo lý của Phật được phân chia từ cạn đến sâu theo
một hệ thống khác với phán giáo của Pháp tạng. Trong Hoa
nghiêm nguyên nhân luận, Tông Mật phân phán ra thành năm bực:
(1) Nhân thiên giáo; (2) Tiểu thừa giáo; (3) Đại thừa pháp
tướng giáo; (4) Đại thừa phá tướng giáo; và (5) Nhất thừa
hiển tánh giáo.
Điều đáng ngạc nhiên ở
đây là Tông Mật tuy được truy tặng là đệ ngũ tổ Hoa
nghiêm tông, mà không đề cập Viên giáo trong phán giáo mặc
dầu theo truyền thống, Viên giáo của Hoa nghiêm tông được
xem như giáo lý chân thật biểu hiện sự giác ngộ của Phật
và nền tảng của tất cả kinh giáo khác.
Tông Mật cũng khác biệt với
Trừng Quán khi luận giải về mười phép quán trong phần “Châu
biến hàm dung quán” ở cuối sách Pháp giới quán môn của
Đỗ Thuận. Tông Mật không sử dụng và đi vào chi tiết mười
huyền môn như Trừng Quán. Ngài cũng tránh dùng hai chữ Lý
và Sự và những danh từ liên hệ mà Trừng Quán dùng để
thi thiết bốn pháp giới. Tông Mật giải thích chữ pháp giới
hoàn toàn theo nghĩa Như Lai tạng. Những lúc cần chỉ thị
về bốn pháp giới, Tông Mật quy chiếu một đoạn văn trong
Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ của Trừng Quán mô tả
Nhất chân pháp giới là bản thể thực tại xuất sanh bốn
pháp giới. Đoạn văn này có ý nghĩa đối với Tông Mật
là vì đã đồng nhất Nhất chân pháp giới với Nhất Tâm,
bao quát vạn hữu. Dựa theo đó, Tông Mật đồng nhất Nhất
chân pháp giới với Tâm chúng sanh tức Pháp Đại thừa của
luận Đại thừa khởi tín.
Xem
Tiếp phần 2
X