I. GIỚI THIỆU
Phẩm thứ nhất, trong bản
dịch của Cưu-ma-la-thập có tiêu đề là «Phật quốc phẩm.»
Trong bản dịch của ngài Huyền Tráng, tiêu đề là «Tự phẩm.»
Theo thông lệ, các kinh Đại thừa bắt đầu với phẩm Tựa,
giới thiệu thời gian, địa điểm, thính chúng, và các yếu
tố khác liên quan đến lý do bản kinh được giảng thuyết.
Trong phẩm tựa như vậy được
chia làm hai phần chính. Phần tổng quát, chung cho tất cả
các kinh, giới thiệu hoàn cảnh thuyết kinh. Phần cá biệt,
giới thiệu nội dung chủ yếu của kinh.
Duy-ma-cật sở thuyết mở đầu
kinh với tiêu đề «Phật quốc phẩm» đã nêu rõ nội dung
chủ yếu của kinh. Theo đó, bản kinh không phải đơn thuần
là bản hành trạng của Duy-ma-cật, mặc dù có những chi tiết
nói về đời sống và các hành vi của Duy-ma-cật. Nhưng điều
cần được nhấn mạnh là nội dung hành đạo của Bồ-tát.
Nội dung đó, như đã biết, là «tịnh Phật quốc độ, thành
tựu chúng sinh.» (Buddhakṣetra-pariśuddhi; sattva-paripāka)
Toàn bộ kinh được diễn ra
ở hai địa điểm. Tại vườn Am-la 1 và tại phòng riêng của
Duy-ma-cật. Kinh mở đầu bằng sự kiện, lúc đó Phật cùng
với đại chúng tỳ kheo đang trú ngụ tại vườn Am-la, tức
khu vườn của kỹ nữ Am-ba-bà-lị (Amrapāli). Điều này rất
có ý nghĩa. Khu vườn ấy đã được Am-ba-bà-lị dâng cúng
cho Phật sau khi nàng quy y. Từ một địa điểm xa hoa trụy
lạc nay bỗng nhiên biến cải thành nơi chốn tu hành nghiêm
túc. Vườn xoài vẫn như cũ. Kỹ nữ Am-ba-bà-lị vẫn là
kỹ nữ. Các vương tôn công tử vẫn tìm đến nàng để mua
vui. Nhưng nay, vẫn những người đó, khi họ trở lại lạc
viên ngày trước, thì một sự thay đổi kỳ diệu nào đó
đã xảy ra. Trước kia, họ đến đây để thưởng thức vị
ngọt của ngũ dục. Nay, vẫn những con người đó, họ đến
đây để phát hiện một hương vị tuyệt vời khác: vị ngọt
của Chánh pháp. Điều đó khiến mọi người khởi lên ý
nghĩ liên tưởng và so sánh. Sẽ là hiện thực chăng, thế
giới được xem là ngập tràn nước lũ ô trược này nhất
định sẽ có thể trở thành thế giới thuần tịnh, một
khi tâm tư của chúng sinh sống trong đó được biến cải?
Và phải chăng, một khi tâm của chúng sinh đã thanh tịnh thì
vị ngọt ngũ dục vốn là nguyên nhân của đau khổ sẽ trở
thành vị ngọt của Chân lý, của Chánh pháp?
Sự kiện, năm trăm công tử
trong thành Tỳ-da-ly (Vaiśāli), dẫn đầu bởi Bảo Tích (Ratnarāśi),
đến vườn xoài để tham lễ Phật, được giới thiệu ngay
trong
phẩm tựa này cũng là điều có ý nghĩa. Trước đây có thể
nhiều người trong số họ đã đến với người kỹ nữ danh
tiếng nơi vườn xoài này để tìm lạc thú. Nay họ đến
đây không do thúc đẩy của khát khao dục vọng, nhưng đến
để tìm một giá trị siêu việt nào đó của sự sống. Cho
nên, sau khi lễ Phật và cúng dường, Bảo Tích thỉnh cầu
Phật chỉ dạy con đường hành đạo thực tiễn để Bồ-tát
làm trong sạch cõi Phật và thành tựu chúng sinh.
II. BIỂU TƯỢNG CƯƠNG GIỚI
PHẬT QUỐC
Khái niệm một quốc gia bao
gồm lãnh thổ, nhân dân và cơ cấu chính quyền. Phật quốc
tuy không phải là một quốc gia mà đứng đầu Nhà nước
là Phật để tất yếu phải gồm những yếu tố như thế.
Nhưng, trong các truyền thống Phật giáo, giữa không gian vô
cùng tận này tồn tại vô số Phật quốc. Điều làm nảy
sinh khái niệm rằng mỗi Phật quốc đương nhiên tồn tại
một đường biên nào đó, để có thể phân chia giới hạn
các Phật quốc khác nhau.
Trong kinh Tiễn dụ (Thí dụ
về mũi tên),2 khi Man Đồng tử (Pl. Māluṅkya) yêu cầu
Phật giải thích một số vấn đề trong đó có câu hỏi:
thế giới này hữu biên hay vô biên, đức Phật không trả
lời, cho đó là những câu hỏi không liên hệ đến mục đích
giải thoát. Nhưng các nhà Phật học về sau khi đi sâu vào
ý nghĩa triết học của vấn đề, đã lập luận rằng các
câu hỏi không đuợc Phật trả lời vì bản chất không xác
định (avyākṛta: vô ký) của chúng.3 Thực tế,
các câu hỏi của Man Đồng tử nếu không được trả lời
trong một phương diện nào đó thì sẽ không thể thành lập
một thế giới quan Phật giáo. Và do thế sẽ không thể giải
thích khẳng định trong nhiều kinh rằng «không hề có hai
vị Phật xuất hiện cùng thời gian trong cùng một thế giới.
» Đâu là giới hạn của một thế giới?
Từ thế giới hay thế gian
trong tiếng Việt đều tương đương với một từ tiếng Phạn:
loka. Các nhà Phật học phân chia hai phạm trù thế giới: thế
giới sinh vật (sattvaloka: hữu tình thế gian), và thế giới
vật chất (bhājana-loka: khí thế gian, hay thế giới khí cụ).
Nói cách khác, một thế giới là một môi trường để chúng
sinh tồn tại, với những khí cụ hay phương tiện và điều
kiện cần thiết để chúng sinh sinh sản, rồi trưởng thành,
rồi chết đi và tái sinh. Núi rừng, sông, biển, các thứ
vân vân, cho đến mặt trời, mặt trăng tinh tú, tất cả đều
là hoàn cảnh và điều kiện sinh tồn của chúng sinh, phù
hợp với tâm thức và nghiệp cảm của các loài chúng sinh
sống trong đó.
Một nghìn thế giới như vậy
hiệp thành một tiểu thiên thế giới (sāhasra-cūḍika-loka-dhātu).
Một nghìn tiểu thiên thế giới hiệp thành một trung thiên
thế giới (dvisāhasro madhyamo loka-dhātuḥ). Một nghìn trung
thiên thế giới hiệp thành một đại thiên thế giới, cũng
gọi là tam thiên đại thiên thế giới (trisāhasra-mahāsāhasro
lokadhātuḥ). Mỗi Tam thiên đại thiên như vậy là một cõi
Phật, trong đó thế giới vật lý bị chi phối các quy luật
giống nhau, và các chúng sinh cùng được giáo hóa bởi giáo
pháp của một đức Phật như nhau. Ngoài đó ra, mỗi thế
giới tồn tại theo các quy luật riêng biệt. Chẳng hạn, chúng
sinh ở thế giới Ta-bà (sahālokadhātu), phạm vi mà giáo pháp
của đức Thích-ca có tác dụng, hết thảy giáo pháp được
công bố và được lãnh hội đều qua phương tiện âm thanh.4
Nhưng có thế giới khác, như cõi của Phật Hương Tích, ở
đó phương tiện truyền thông lại là mùi hương. Nếu các
chúng sinh trong thế giới Ta bà này tồn tại nhờ dung nạp
bốn loại thực phẩm, thì ở thế giới Hương tích thực
phẩm chính là mùi hương.
Như vậy, khái niệm Phật quốc
cũng bao hàm khái niệm về cương giới, và loại biệt chúng
sinh tồn tại trong phạm vi cương giới đó với các hình thái
và trạng huống đau khổ và hạnh phúc chung. Khái niệm này
được xác định bằng hành vi thần kỳ mô tả trong phẩm
Phật quốc như sau:
“Bấy giờ, ở Tỳ-da-ly (Vaiśāli)
có một vị công tử tên là Bảo Tích (Ratnarāśi), cùng với
năm trăm công tử, cầm các bảo cái được làm bởi bảy
thứ báu, đi đến chỗ Phật. Sau khi cúi đầu lễ dưới chân
Phật, mỗi người dâng bảo cái của mình lên cúng Phật.
Bằng uy lực siêu nhiên, Đức Phật làm cho tất cả các bảo
cái ấy hiệp thành một cái duy nhất, che trùm cả Tam thiên
đại thiên thế giới. Tất cả hình thái của thế giới này
với tất cả chiều kích của nó thảy đều ánh hiện vào
trong ấy. Lại nữa, trong Tam thiên đại thiên thế giới này,
với các núi như núi Tu-di, núi Tuyết, núi Mục-chân-lân-đà,
núi Đại Mục-chân-lân-đà, núi Hương, núi Đen, núi Thiết
vi, núi Đại thiết vi; 5 các đại dương, các sông ngòi,
các suối, nguồn, cho đến mặt trời, mặt trăng, các sao,
thiên cung, long cung, thần cung; tất cả đều ánh hiện trong
đó mười phương chư Phật, cùng với giáo pháp của muời
phương chư Phật ấy, thảy đều ánh hiện trong bảo cái ấy.
”
Bảo cái, hay lọng báu, là
dụng cụ để che đầu. Bảo cái có nhiều chủng loại khác
nhau, biểu hiệu cho thân phận xã hội khác nhau của mỗi cá
nhân. Bảo cái cũng là biểu hiệu cho uy quyền của vua hay
hoàng đế.
Khi các công tử thành Tỳ-da-ly
dâng các lọng báu cúng Phật, cũng chỉ là hành vi đơn giản,
với ý nghĩa bình thường là dâng cúng một vật dụng cần
thiết để che nắng, che mưa. Nhưng, trong trường hợp đặc
biệt như ở đây, khi mà thời cơ thích hợp để nêu cao lý
tưởng Bồ-tát đạo, và chỉ rõ mục tiêu cứu cánh và đường
hướng hành đạo thực tiễn đối với lý tưởng ấy, đức
Phật khiến cho các bảo cái hiệp nhất để biểu tượng
cho Phật quốc, trong đó hiện rõ hình thái và cương giới
Phật quốc, là phạm vi mà giáo pháp của một đức Phật
có thể được thực hành có hiệu quả, và cũng là môi trường
thực tế để Bồ-tát hành đạo.
III. TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG
Gia Tường Đại sư khi viết
Tịnh Danh huyền luận 6 đã xoay quanh ba phạm trù cảnh-trí-giáo
trên hai phương diện bản môn hay bản thể luận và tích môn
hay hiện tượng luận để phân tích toàn bộ nội dung của
Duy-ma-cật sở thuyết. Đại sư nói: «Do bất tư nghị cảnh
khởi bất tư nghị trí. Bằng bất tư nghị trí, diễn bất
tư nghị giáo, khiến cho hàng đệ tử tiếp thọ giáo hóa
nhân giáo mà thông lý; nhân lý mà phát trí. »7 Về quan
hệ ba phạm trù này với bản-tích, Đại sư nói: «Cảnh làm
trổi dậy trí; đó là bản (môn) bất tư nghị. Giáo chính
là tích (môn) bất tư nghị. »8
Trên phương diện bản thể
luận, thể tính hay tự tính của Phật quốc vốn thanh tịnh.
Ở đoạn sau trong phẩm Phật quốc này Phật thị hiện cho
ngài Xá-lợi-phất thấy rõ thế giới Ta-bà vốn dĩ được
quan niệm là một thế giới đầy ô trược nguyên lai trong
tự tính lại là thế giới thanh tịnh như tất cả Phật quốc
khác trong mười phương thế giới. Cảnh tương ứng với trí.
Do đó, chỉ với trí tuệ thanh tịnh mới nhận thức được
bản nguyên thanh tịnh của thế giới. Nhận thức như thế
là trí bất tư nghị. Cảnh và trí ấy siêu việt mọi tư
duy, biện giải; vượt ngoài khả năng luận giải của ngôn
ngữ. Nhưng bằng phương tiện khéo léo, đức Phật thuyết
pháp tùy theo mọi căn cơ, nói được những điều không thể
nói. Đó là phương pháp luận từ bản mà thiết lập tích.
Rồi căn cứ vào giáo thuyết ấy mà thực hành, các đệ tử
dần dần thể nhập cảnh và trí bất tư nghị. Đó là phương
pháp luận đi từ tích đến bản. Đại sư Gia Tường nói:
«Trước hết do cảnh phát trí, sau đó mới ứng theo vật
mà ban phát giáo. Đó là từ bản dẫn xuống tích9 . Mượn
giáo để thông lý. Đó là bằng tích mà chỉ vào bản.10
Nói cách khác, như được thị
hiện trong bảo cái, có vô số Phật quốc khác nhau, thì cũng
có vô số phương tiện thuyết giáo và vô số phương tiện
hành đạo khác nhau. Do vậy, khi Bồ-tát hành đạo trong một
Phật quốc cá biệt với đối tượng thành tựu là các loại
chúng sinh cá biệt, thế thì Bồ-tát cũng y trên một giáo
pháp cá biệt thích ứng. Đó là tiền đề tư tưởng của
Bồ-tát.
Phân tích ý nghĩa loạt bài
tụng mà Bảo Tích đọc lên để tán thán Phật chúng ta sẽ
có thể tìm thấy tiền đề tư tưởng cho Bồ-tát hành đạo,
để tịnh Phật quốc độ và thành tựu chúng sinh.
Một cách tổng quát, nội dung
loạt bài tụng tán Phật của Bảo Tích là sự triển khai
cặp tương đối Phật quốc và Phật thân. Như đã thấy,
khi luận giải thế giới, các nhà luận sư Phật học cổ
đại phân tích thế giới thành hai loại, hữu tình thế gian
và khí thế gian. Ở đây, trong sự phát triển của tư tưởng
Đại thừa, hay trong tư tưởng Bồ-tát đạo, khái niệm về
Phật quốc cũng bao gồm hai phạm trù như vậy. Trong đề cương
của Gia Tường Đại sư, đó là cặp tương đối cảnh và
trí.
Trong thời kỳ đầu, các luận
sư A-tỳ-đàm luận giải Phật thân với hai phạm trù là sắc
thân (rūpakāya) và pháp thân (dharmkāya). Sắc thân là bản
thân do cha mẹ sinh ra, chịu tác động của quy luật vật lý.
Pháp thân là bản thân có được sau khi giác ngộ.
Trong phẩm «Phương tiện,»
bằng cách giả bịnh, Duy-ma-cật thuyết pháp cho các cư sỹ,
đề cao Pháp thân của Phật: «Phật thân chính là Pháp thân,
sinh ra từ vô luợng công đức trí tuệ, từ giới, định,
tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến…» Đoạn khác, khi
nghe ngài A-nan nói Phật đang bịnh, Duy-ma-cật nói với ngài
A-nan: «Như lai thân là Pháp thân, không phải thân do tư dục.
Phật là đấng Thế Tôn, vượt ngoài tam giới. Thân Phật
là vô lậu, vì các lậu đã bị dứt sạch. Thân Phật là
vô vi, vì không thuộc khái niệm. Bản thân như vậy làm sao
có bịnh?»
Giải thích quan hệ Phật thân
và Phật độ, Khuy Cơ minh giải: Quốc độ Phật có ba, 1.
Pháp tính độ, trú xứ của Pháp thân, là lý thể của Chân
như. 2. Thọ dụng độ, thế giới của Báo thân, thọ hưởng
quả báo của vô số công đức được tích luỹ. 3. Biến
hoá độ, thế giới của Hoá thân Phật, tịnh hay uế không
nhất định.11
Trong tông Thiên thai, Phật thân
và Phật quốc hay Phật độ được luận giải bằng bốn
phạm trù: 1. Phàm thánh đồng cư độ, thế giới vừa tịnh
vừa nhiễm, ở đó Thánh nhân và phàm phu cùng tồn tại. 2.
Phương tiện Thánh cư độ, thế giới chỉ tồn tại các Thánh
nhân. Cũng gọi là Hữu dư phương tiện nhân độ, thế giới
hữu dư cho các Thánh giả tuy đã vượt khỏi phần đoạn
sinh tử nhưng còn tàn dư là biến dịch sinh tử chưa được
vượt thoát. 3. Thật báo trang nghiêm độ, thế giới do quả
báo chân thực từ nhân tu hành chân thật. Cũng gọi là thật
báo vô chướng ngại, vì sắc tâm không còn bị chướng ngại.
Cũng gọi là quả báo thuần pháp thân cư, là trú xứ của
Pháp thân Bồ tát. 4. Thường tịch quang độ, thế giới của
các bậc Diệu giác. Quốc độ thứ nhất và thứ hai là thế
giới của Ứng thân Phật. Quốc độ thứ ba, vừa Ứng thân,
vừa Báo thân. Quốc độ thứ tư duy chỉ thuộc về Pháp thân
Phật12
Khái niệm Phật thân trong loại
bài tụng của Bảo Tích có tính cách cá biệt, không theo các
khuynh hướng giải thích trong các trường Phật học khác.
Phật thân ở đây được nhận thức trên cơ sở nghiệp.
Nghĩa là, tuỳ theo bản chất và mục tiêu hành động của
Bồ-tát mà Phật thân được nhận thức tương ứng.
Bài tụng thứ nhất tán thán
Phật thân mà ngài Khuy Cơ phân tích thành sáu điểm tịnh
gồm trong ba nghiệp: con mắt tịnh, ý lạc tịnh, định tịnh,
bỉ ngạn tịnh, nghiệp tịnh và danh xưng tịnh. 13 Bài
tụng nói:
Con kính lễ Ngài, đấng có
đôi mắt thanh tịnh,
dài và rộng như sen xanh;
Với tâm thanh tịnh, đã sang
bờ bên kia,
cùng với các thiền định;
Với tịnh nghiệp được tích
tập từ lâu,
và với danh xưng vô lượng;
Ngài dắt dẫn chúng sinh bằng
con đường tịch diệt.
Trong bài tụng thứ hai, Phật
thân và Phật quốc được nhận thức như một chỉnh thể
thống nhất, mà Phật thị hiện cho thấy trong bảo cái.
Các bài tụng tiếp theo tán
thán riêng biệt Pháp thân. Nếu phân tích theo phương pháp
luận của ngài Gia Tường, thì Pháp thân ở đây gồm hai phương
diện, bản và tích: Pháp thân như là hiện thân của thể
tính chân lý, và Pháp thân tương ứng với các loại chúng
sinh sai biệt. Tùy theo cơ cảm của mỗi hạng chúng sinh, và
tùy theo trình độ sai biệt của Thánh hiền, của Bồ-tát,
Phật và giáo pháp của Phật được nhận thức và lãnh hội
không đồng nhất.
Mặc dù thể tính của các
pháp vốn siêu việt tư duy, siêu việt ngôn ngữ, nhưng do đã
thể nhập pháp tính, đạt được sự tự tại đối với
các pháp, nên Phật có thể phân tích, giải thuyết các pháp
và pháp tướng một cách chính xác, dù vậy, đệ nhất nghĩa
tức Chân tính tuyệt đối vẫn không vì thế mà bị dao động.
Pháp mà Phật diễn giải không phải là hữu, cũng không phải
là vô; tất cả sinh khởi do nhân duyên. Phần đầu bài tụng
thứ năm nói:
Không tự ngã, không tác giả,
không thọ giả;
Nhưng nghiệp thiện và ác
không hề mất.
Bằng bản chất của giáo pháp
như thế, Phật vận chuyển bánh xe Chánh pháp trong cả Đại
thiên thế giới. Khởi từ đó, Tam bảo xuất hiện ở thế
gian làm nơi nương tựa cho chúng sinh. Các bài tụng 12-14 nói:
Phật diễn thuyết pháp bằng
một thứ tiếng.
Chúng sinh tùy loại mà lãnh
hội.
Thảy đều cho rằng Phật
nói tiếng nói của mình.
Đó là thần lực bất cộng
pháp.
Phật diễn thuyết pháp bằng
một thứ tiếng.
Chúng sinh tùy loại mà lãnh
hội.
Thảy đều phụng hành và
được lợi ích.
Đó là thần lực bất cộng
pháp.
Phật diễn thuyết pháp bằng
một thứ tiếng.
Có kẻ nghe mà kinh sợ, có
kẻ hoan hỷ;
Hoặc sinh tâm nhàm chán, hoặc
dứt trừ nghi hoặc.
Đó là thần lực bất cộng
pháp.
Mối quan hệ của Phật thân
và Phật độ như đã thuật cũng có thể được nhận thức
theo một khía cạnh khác; khía cạnh thực dụng. Với thể
tính mầu nhiệm của Pháp mà Ngài chứng đắc dưới gốc
bồ đề, Phật đã thành tựu phẩm tính tự lợi. Bằng phương
tiện thuyết giáo vi diệu, Phật đã thành tựu các phẩm tính
lợi tha. Bồ-tát khi hành đạo cũng thế, vì mục đích giác
ngộ của chính mình mà cũng vì sự an lạc của mọi loài.
Cuối cùng, Bảo Tích đọc
lời kính lễ Phật:
Cúi lạy đấng đại tinh tấn
đủ mười lực.
Cúi lạy đấng thành tựu
vô úy.
Cúi lạy đấng an trụ pháp
bất cộng.
Cúi lạy đấng Đạo sư tất
cả.
Cúi lạy đấng đọan trừ
kết phược.
Cúi lạy đấng sang bờ bên
kia.
Cúi lạy đấng cứu độ thế
gian.
Cúi lạy đấng vượt ngoài
sinh tử.
Biết rõ tướng đi, đến
chúng sinh;
Đối các pháp khéo được
giải thoát;
Không nhiễm thế gian như hoa
sen;
Thường khéo thâm nhập hạnh
không tịch;
Thông đạt các pháp không
chướng ngại;
Lạy đấng như không, không
sở y.
IV. TỊNH PHẬT QUỐC ĐỘ
1. CĂN BẢN TỊNH PHẬT QUỐC
ĐỘ
Khi được Bảo Tích thỉnh
cầu Phật chỉ giáo hình thái tồn tại của Phật quốc, đức
Phật nói: «Các loại chúng sinh là Phật quốc của Bồ-tát.
»14
Như đã biết, các luận sư
Phật học chia thế giới làm hai phạm trù, hữu tình và khí
thế gian. Các nhà chú giải Duy-ma-cật cũng dựa trên đó để
thuyết minh ý nghĩa tịnh độ Phật quốc. Do đó, khi giải
thích từ loại trong «chúng sinh chi loại,» Trạm Nhiên cho
đó là khí loại. Giải thích này phù hợp với văn dịch của
ngài Huyền Tráng: «Quốc độ của các hữu tình là Phật
độ của Bồ-tát. »15 Để giải thích ý nghĩa của câu
này, Khuy Cơ phân tích hai loại quốc độ. Quốc độ phàm
phu gồm hữu tình thế gian và khí thế gian. Quốc độ Thánh
gồm Bồ-tát và bảo phương. Khuy Cơ viết: «Ngoài hữu tình
(tức chúng sinh) không tồn tại quốc độ riêng biệt. Do có
hữu tình mà có khí thế giới. Hữu tình sẽ trở thành Bồ-tát.
Khí thế giới sẽ trở thành bảo phương. Bồ-tát nguyên lai
muốn giáo hóa hữu tình dẫn đến xuất thế, do đó phương
tiện biến diệt mà thành bảo phương. Căn bản không phải
biến khí thế giới thành tịnh độ. »16
Như vậy, căn bản của tịnh
độ Bồ-tát vẫn là quốc độ chúng sinh. Nhưng nội dung quốc
độ ấy là thanh tịnh hay uế trược, tùy theo loại chúng
sinh tồn tại trong đó. Theo ý nghĩa này, đối tượng hành
đạo của Bồ-tát là thế giới hiện thực bao gồm chúng
sinh và môi trường sống của chúng sinh. Vì lợi ích và sự
an lạc của chúng sinh, Bồ-tát cần làm sạch môi trường
sống. Làm sạch môi trường sống là tạo điều kiện tốt,
thuận duyên, để chúng sinh tu tập và phát triển thiện căn
như là gốc rễ của an lạc. Nhưng không thể làm sạch môi
trường sống nếu Bồ-tát không làm sạch tâm tư của chúng
sinh. Đồng thời, không thể làm sạch tâm tư chúng sinh nếu
không cải thiện môi trường sống. Mối quan hệ nhân quả
ấy thực chất là bất khả tư nghị. Không thể tồn tại
cái này mà không tồn tại cái kia.
Với nội dung cải biến tâm
tư chúng sinh để tịnh Phật quốc độ, Bồ-tát hành đạo
theo hai phương hướng: tùy theo sự phát triển và lợi ích
của chúng sinh, và tùy theo sự phát khởi các phẩm chất thanh
tịnh của chúng sinh. Đó là hai phương hướng xác định theo
Thuyết Vô cấu xưng. Cả hai phương hướng này, theo giải
thích so sánh của Khuy Cơ, được tổng hợp làm một trong
Duy-ma-cật sở thuyết: «Bồ-tát xây dựng Phật độ tuỳ
theo loại chúng sinh được giáo hoá. »17
Với nội dung cải thiện môi
trường, Bồ-tát xây dựng Phật quốc theo ba tiêu chí: tùy
theo loại Phật quốc nào thích hợp để chúng sinh có thể
được điều phục, nghĩa là để dễ dàng chế ngự tâm tư;
tùy theo Phật quốc thích hợp mà ở đó chúng sinh có thể
ngộ nhập Phật trí; tùy theo Phật quốc thích hợp mà ở
đó chúng sinh có thể phát triển gốc rễ Bồ-tát, nói theo
Duy-ma-cật sở thuyết; hay phát khởi Thánh hạnh, nói theo Thuyết
Vô cấu xưng.
Do văn dịch khác nhau của Duy-ma-cật
sở thuyết và Thuyết Vô cấu xưng, và cũng có thể do khác
biệt ngay gốc truyền bản, các nhà chú giải nêu nhiều giải
thích khác nhau về đoạn này.
Duy-ma-cật sở thuyết xác định
tịnh độ của Bồ-tát là «chúng sinh chi loại» và phân tích
«chi loại» ấy thành bốn. Căn cứ theo văn dịch này, nhà
chú giải thuộc tông Thiên thai là Trạm Nhiên triển khai thành
bốn loại quốc độ. Kinh văn nói: «Bồ-tát nhiếp thủ Phật
độ tùy theo chúng sinh được giáo hóa. »18 Đây chỉ
Đồng cư độ, là quốc độ nơi mà phàm phu và Thánh hiền
ở chung. Đó là hình thái quốc độ vừa nhiễm vừa tịnh.
Kinh văn nói: «Bồ-tát chọn hình thái Phật độ tùy theo loại
chúng sinh được điều phục. »19 Điều này chỉ cho
Hữu dư độ, là quốc độ riêng biệt của Thánh giả. Kinh
văn nói: «Bồ-tát chọn quốc độ nào thích hợp để chúng
sinh ngộ nhập trí tuệ của Phật. »20 Đây chỉ Quả
báo độ, hình thái quốc độ theo nhân tu hành của Phật.
Kinh văn nói: «Tuỳ theo chúng sinh bằng quốc độ nào mà phát
khởi căn cơ của Bồ-tát. »21 Đây chỉ Tịch quang độ,
quốc độ lấy Pháp tánh thân của Phật làm yếu tính.
Trong văn dịch của Thuyết
Vô cấu xưng, có năm hình thái tịnh độ của Bồ-tát. Căn
cứ vào văn dịch này, Khuy Cơ gọi là năm trùng, chia làm hai
phần. Phần thứ nhất, tuỳ theo sự phát tâm tu hành của
chúng sinh. Phần này có hai trùng: 1. Hết thảy các Bồ-tát
tùy theo sự phát triển và sự ích lợi của chúng sinh mà
xây dựng Phật quốc trong sạch và đẹp đẽ.22
Điều này được giải thích là chỉ cho hình thái quốc độ
tương ứng với sự tu thiện diệt ác của chúng sinh. 2. Tùy
theo sự phát khởi các phẩm tính thanh tịnh của chúng sinh
mà kiến thiết Phật quốc nghiêm tịnh. 23 Đây chỉ cho
hình thái quốc độ tùy theo phẩm chất phước đức và trí
tuệ của chúng sinh. Cả hai hình thái này gọi chung là Ngoại
phàm Biến hóa độ, theo Khuy Cơ, hoặc Ứng độ, theo Cát Tạng,24
là quốc độ của Ứng thân của Phật, thân thể với hình
tướng phù hợp theo căn cơ và nhận thức của từng loại
chúng sinh khác nhau; là quốc độ của chúng sinh hay phàm phu
bên ngoài Thánh đạo.
Ba hình thái còn lại, tức
ba trùng của phần thứ hai theo phân tích của Khuy Cơ, đại
để tương đồng trong Duy-ma-cật sở thuyết và Thuyết Vô
cấu xưng. Cả ba được gọi chung là Tha báo độ, tức quốc
độ của Tha thọ dụng thân của Phật.
2. NỘI DUNG TỊNH PHẬT QUỐC
ĐỘ
Bi và trí, nguyện và hành,
là các cặp nhân quả tương đối trong quá trình tu đạo và
hành đạo của Bồ-tát. Bằng trí tuệ, Bồ-tát nhận rõ yếu
tính của tồn tại, nguồn gốc của đau khổ và an lạc, và
do đó thấu hiểu tâm tư, ước nguyện của chúng sinh. Với
bi tâm, Bồ-tát hành đạo với mục đích mong cầu lợi ích
và an lạc cho chúng sinh. Do đó, tùy theo căn cơ, tùy theo xu
hướng của các loại chúng sinh mà Bồ-tát dự phóng hình
ảnh một Phật quốc thích ứng. Đó là nguyện. Từ nguyện,
và tuỳ theo bản chất của nguyện, Bồ-tát phát khởi hành.
Nguyện và hành tương xứng, nhân và quả tương liên. Bồ-tát
lấy đó làm chỉ nam định hướng.
Ở đây, Duy-ma-cật sở thuyết
nêu mười bảy hành của Bồ-tát. Trong Thuyết Vô cấu xưng,
có mười tám hành. Theo bản dịch trước, gồm ba tâm, sáu
độ, bốn vô lượng và bốn nhiếp. Trong bản dịch sau, thay
vào ba tâm là bốn độ. Các hành còn lại, đại thể tương
đồng.
A. Ba tâm và bốn độ
Về ba tâm, Duy-ma-cật sở
thuyết nói: «Trực tâm là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát
thành Phật, các loại chúng sinh không dua vạy sẽ sinh về
đó. Thâm tâm là tịnh độ của Bồ-tát; khi Bồ-tát thành
Phật, các chúng sinh có đầy đủ các phẩm chất sẽ sinh
về đó. Bồ-đề tâm là tịnh độ của Bồ-tát; khi Bồ-tát
thành Phật, chúng sinh Đại thừa sẽ sinh về đó. »
Ý nghĩa và mối quan hệ tương
liên của ba tâm được Cát Tạng giải thích: «Phàm phu vướng
mắc hữu, Nhị thừa nghiêng lệch về không. Cả hai đều
cong. Bồ-tát thực hành chánh quán nên gọi là trực tâm (tâm
ngay thẳng)… Phát tâm là điểm khởi đầu. Khởi đầu với
chánh quán. Chánh quán càng lúc càng sáng, gọi là thâm tâm
(tâm sâu thẳm). Vì thâm sâu kiên cố khó nhổ, là ý nghĩa
của thâm tâm… Muốn đi đường lớn25 , trước hết phải
làm ngay thẳng tâm. Tâm đã chánh trực rồi mới bước vào
hành. Bước vào hành mà sâu thì có thể vận chuyển cùng
khắp, tất cả đều đi đến Phật, nên gọi là Bồ đề
tâm. »26
Trạm Nhiên khi giải thích
ba tâm lại phối hợp vơí ba Thừa. Trực tâm, chỉ Thanh văn
thừa, tu quán bốn Thánh đế. Thâm tâm chỉ Duyên giác thừa,
tu quán mười hai nhân duyên. Bồ đề tâm, chỉ Bồ-tát thừa
phát bốn đại nguyện (bốn hoằng thệ nguyện).
Ba tâm trên đây trong bản
dịch của La-thập cần được đối chiếu với bốn độ
trong bản dịch của Huyền Tráng.
1. Bồ-đề tâm độ:
quốc độ mà trong đó tất cả chúng sinh đều phát khởi
ý hướng Đại thừa; như đã thấy trong ba tâm của bản dịch
trước.
2. Thuần ý lạc độ:
quốc độ được hình thành bằng thuần ý lạc, hay ý hướng,
của Bồ-tát. Giải thích từ thuần ý lạc, Khuy Cơ nói: «Tiếng
Phạn a-thế-da (āśaya)27 , có nghĩa là ý lạc. Không lẫn lộn
với cái xấu, gọi là thuần tịnh ý lạc. » Điều này tương
đương với trực tâm trong bản dịch trước.
3. Thiện gia hành độ,
không có tương đương trong bản dịch trước. Quốc độ được
hình thành do nỗ lực thực hiện các phẩm tính thiện mà
trước kia chưa từng có hay chưa từng biết.
4. Thượng ý lạc độ,
tương đương với thâm tâm. Khuy Cơ so sánh: ý lạc (ý hướng)
mà được tăng thượng mãnh liệt, thì đó cũng là thâm tâm.
B. Sáu độ, hay sáu ba la
mật (pāramitā). Cả sáu ba la mật, theo giải thích của
Khuy Cơ, đều có tác dụng đình chỉ (chỉ tức), loại bỏ
các chướng ngại để đạt đến chỗ toàn thiện.
C. Bốn vô luợng tâm
(aprāmaṇa): từ, bi, hỷ, xả, như thường biết.
D. Bốn nhiếp pháp, hay
nhiếp sự (saṅgrahavastu): bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng
sự. Đó là bốn nguyên tắc để Bồ-tát gần gũi chúng sinh,
duy trì mối quan hệ mật thiết.
E. Các hành tiếp theo:
phương tiện, và 37 thành phần giác ngộ, cùng với 4 vô lượng
tâm và 4 nhiếp pháp, được Khuy Cơ hợp chung thành một nhóm,
gọi là phát khởi thuyết.
D. Ba hành: thuyết trừ
tám nạn28 , tự thủ giới hạnh và mười nghiệp đạo thiện,
được Khuy Cơ hợp thành nhóm tịch tĩnh.
Điểm cũng nên lưu ý là trong
tất cả các hành nêu trên trong Thuyết Vô cấu xưng đều
là các hình thái quốc độ được hình thành do bởi các hành
ấy của Bồ-tát, chứ không phải thuần tuý là các hành.
V. TUẦN TỰ TU HÀNH
Được trang bị với các tâm
như vậy, Bồ-tát hình thành quốc độ thanh tịnh tương ứng.
Bồ-tát tuần tự thực hiện mục tiêu cứu cánh là tịnh
Phật quốc độ theo chuỗi quan hệ nhân quả, khởi đầu với
trực tâm, cho đến thành tựu cuối cùng là tịnh độ.
Chuỗi tuần tự ấy, trong
Duy-ma-cật sở thuyết là mười ba giai đoạn. Trong Thuyết
Vô cấu xưng, gồm mười bảy giai đoạn.
Chuỗi tuần tự mười ba giai
đoạn:
Bồ-tát tùy theo trực tâm mà
phát khởi thực hành. Tùy phát khởi hành động mà đạt được
thâm tâm. Do thâm tâm mà ý được chế ngự (điều phục).
Do ý được chế ngự mà có thể thực hành như thuyết. Do
hành như thuyết mà có thể hồi hướng. Do hồi hướng mà
có phương tiện. Tùy theo phương tiện mà thành tựu chúng
sinh. Tùy theo sự thành tựu chúng sinh mà quốc độ Phật được
thanh tịnh. Tuỳ theo Phật độ tịnh mà pháp được thuyết
thanh tịnh. Tuỳ theo thuyết pháp tịnh mà trí tuệ tịnh. Tuỳ
theo trí tuệ tịnh mà tâm tịnh. Tuỳ theo tâm tịnh mà Phật
độ thanh tịnh.
Mười ba giai đoạn này có
thể phối hợp với thứ lớp trình độ tu tập của Bồ-tát,
lấy mười địa làm chuẩn.
Sự phối hợp theo Duy ma kinh
lược sớ 29 của Trạm Nhiên như sau:
1. Bồ tát khi vào Sơ địa,
tức Hoan hỷ địa, do chứng nghiệm chân lý nên thoát ly các
kiến giải tà khúc; đó là trực tâm.
2. Do trực tâm mà tiến vào
Nhị địa tức Ly cấu địa. Ở đây, Bồ-tát khởi đầu
hành động nhằm mục đích lợi tha, do đó, Nhị địa tương
ứng với giai đoạn phát hành.
3. Do phát hành tiến vào Tam
địa tức Phát quang địa. Ở đây, nhận thức và hành động
của Bồ-tát cùng tiến, do đó tương ứng với thâm tâm.
4. Do thâm tâm mà tiến vào
Tứ địa, tức Diệm tuệ địa. Ở đây, lý và sự cùng song
hành, cho nên có thể tự điều phục và cũng có thể điều
phục tha nhân. Như vậy, Tam địa tương ứng với giai đoạn
điều phục.
5. Do điều phục mà nhập
Ngũ địa, Nan thắng địa. Đã điều phục sự lý nên có
thể hành động như thuyết. Ngũ địa tương ứng giai đoạn
như thuyết.
6. Do như thuyết hành mà vào
Lục địa, Hiện tiền địa. Ở đây, Bồ-tát đã có thể
hồi hướng tất cả thiện pháp về Phật quả, vậy tương
ứng với hồi hướng.
7. Do hồi hướng mà vào Thất
địa, Viễn hành địa. Thất địa tương ứng giai đoạn Bồ-tát
có đủ phương tiện thiện xảo, có thể tự mình hành đạo
và cũng có thể giáo hoá tha nhân.
8. Do phương tiện nhập Bát
địa, Bất động địa. Ở đây Bồ-tát có thể vận dụng
đạo và quán song hành, và cũng có thể giáo hóa và điều
phục chúng sinh ở bất cứ nơi nào. Chúng sinh được điều
phục, thì Phật quốc được thanh tịnh. Do Phật quốc tịnh
mà tiến vào Cửu địa.
9. Cửu địa tức Thiện tuệ
địa, ở đây Bồ-tát có thể thuyết pháp tịnh. Thuyết pháp
tịnh, tức trí tuệ tịnh. Nhân trí tuệ tịnh mà nhập Thập
địa.
10. Thập địa là Pháp vân
địa, do bởi tâm tịnh nên hết thảy phẩm tính đều thanh
tịnh.
Trong Duy ma kinh nghĩa sớ,30
Cát Tạng phối hợp các quá trình hành đạo này theo tiêu
chuẩn mười địa cách khác. Bắt đầu với thập tín, giai
đoạn ngoại phàm, tức phàm phu tuy đã có tín tâm nhưng còn
ở ngoài Thánh đạo; đó là giai đoạn Bồ-tát tu trực tâm
để tịnh Phật quốc độ. Sau quá trình thành tựu mười
tín tâm, Bồ-tát bước vào vị trí nội phàm, phàm phu nhưng
đã ở trong Thánh đạo; tương đương giai đoạn phát khởi
hành. Từ sơ địa trở lên, đều là quá trình tu và sửa
trị sự nghiệp Bồ-tát địa; đó là thâm tâm. Nhị địa
thành tựu trì giới ba la mật, Bồ-tát có năng lực phòng
hộ các bất thiện nghiệp, nên gọi là điều phục. Tam địa,
Bồ-tát y vào những điều được nghe mà tu định; tương
đương giai đoạn như thuyết hành. Tứ địa cho đến lục
địa, Bồ-tát tu thuận nhẫn, hướng đến chứng nhập thể
bất sinh; đây gọi là hồi hướng. Thất địa tu tập mười
phương tiện nên có thể thành tựu chúng sinh. Bát địa tu
tịnh Phật quốc độ. Cửu địa, thành tựu biện tài để
thuyết pháp vô ngại, nên gọi là thuyết pháp tịnh. Thập
địa thành tựu trí ba la mật nên nói là trí tuệ tịnh. Đẳng
giác địa, tức kim cang tâm, gọi là tâm tịnh. Diệu giác
địa, hành và nguyện viên mãn, nên nói là hết thảy công
đức thanh tịnh.
Trong Thuyết vô cấu xưng,31
quá trình này gồm tất cả mười bảy giai đoạn, mà Khuy
Cơ gọi là mười bảy chuyển, chia làm hai phần. 32 Phần
đầu gồm tám chuyển, lặp lại tuần tự tu hành của mười
tám phiên đã nêu. Phần hai gồm chín chuyển, những kết quả
đặc biệt phát sinh từ sự tu nhân về nghiêm tịnh Phật
độ. Mười bảy chuyển liệt kê theo tuần tự: 1. Phát bồ
đề tâm; 2. Thuần tịnh ý lạc; 3. Diệu thiện gia hành; 4.
Tăng thượng ý lạc; 5. Chỉ tức, dẹp các chướng ngại,
gồm sáu ba la mật; 6. Phát khởi, gồm bốn vô lượng tâm,
bốn nhiếp pháp, phương tiện thiện xảo, các thành phần
của bồ đề; 7. Hồi hướng; 8. Tịch tĩnh, gồm thuyết tức
vô hạ (tức thuyết trừ tám nạn, theo dịch văn của La-thập),
tự thủ giới hạnh, mười nghiệp đạo thiện; 9. Thanh tịnh
hữu tình; 10. Nghiêm tịnh Phật độ; 11. Thanh tịnh giáo pháp;
12. Thanh tịnh diệu phước; 13. Thanh tịnh diệu tuệ; 14. Thanh
tịnh diệu trí; 15. Thanh tịnh diệu hành; 16. Thanh tịnh diệu
tâm; 17. Thanh tịnh các công đức.
Kinh kết luận: nếu Bồ-tát
muốn tu tập để nghiêm tịnh Phật độ, trước hết phải
nghiêm tịnh tự tâm. Tuỳ theo tâm tịnh mà Phật độ thanh
tịnh.
VI. THỂ NGHIỆM TỊNH ĐỘ
Lịch sử phát triển tư tưởng
về Phật thân trong Phật giáo Đại thừa, về một phương
diện, nhắm thỏa mãn nhu cầu tâm linh tôn giáo; về phương
diện khác, để nỗ lực giải quyết một vấn đề hết sức
gay cấn mà nhà tư tuởng lúc nào cũng phải đối diện. Tuy
vậy, cả hai phương diện ấy phản ánh hai xu hướng thực
hành, tức thể nghiệm, khác nhau, chứ thực chất cả hai nằm
chung trên một bình diện.
Một vấn đề căn bản kích
thích các xu hướng tư tưởng tôn giáo và triết học khác
nhau, là vấn đề bản nguyên hay bản thể của vũ trụ hay
thế giới. Trên mặt lý luận và nhận thức, bản nguyên và
bản thể là hai vấn đề riêng biệt. Những câu hỏi và giải
thích về bản nguyên luôn luôn dẫn tư tưởng và nhận thức
đi vào ngõ cụt. Chẳng hạn, một nạn vấn danh tiếng được
đặt ra cho nhà tính không luận là rằng, tiền đề tính không
nói «tất cả các pháp đều không,» bản thân của tiền
đề ấy có phải là một pháp hay không? Nếu nó cũng là một
pháp, thì tiền đề không được xác lập, vì không thể minh
chứng bằng hiện thực. Nhưng nếu nó không phải là một
pháp, nó không tồn tại hiện thực, và như vậy trở thành
vô nghĩa. 33 Tuy không thể minh chứng bằng hiện thực,
nhưng có thể thể nghiệm bằng tâm linh. Vì thể nghiệm ấy
siêu việt lý trí, do đó được xem như là thể nghiệm thần
bí. Triết học có tham vọng tiến đến chân lý phổ quát
và khoa học nên thường cố tình tránh né vấn đề bản nguyên,
mà tập trung nỗ lực tư duy trên vấn đề bản thể.
Đại thừa Phật giáo phát
triển quan niệm Phật thân cũng là để giải quyết cùng lúc
cả hai vấn đề, bản nguyên và bản thể. Phật thân vừa
là bản nguyên vừa là bản thể của tồn tại, của vũ trụ.
Đỉnh cao của tư tưởng này là kinh Pháp hoa, ở đó Phật
thân và Phật tính được nhận thức bằng lý tính duyên khởi.
Khởi thuỷ, vì đức Phật
được nhận thức như là một con người, cho nên thân Phật
cũng vẫn là một tổ hợp của năm uẩn như các con người
hay các chúng sinh khác. Nhưng khi các luận sư Abhidharma đặt
vấn đề thân Phật hữu lậu hay vô lậu, thì một khái niệm
mới về Phật thân đã thành hình. Chính Duy-ma-cật cũng đã
khẳng định với A-nan: thân Phật là vô lậu. Thế nhưng,
khẳng định ấy không thể là xác quyết một chiều. Thân
Phật được nhận thức là hữu lậu hay vô lậu tùy theo tính
chất nhiễm hay tịnh trong tương quan với Phật quốc. Đây
là chỗ dẫn khởi mối nghi ngờ của ngài Xá-lợi-phất.
Sau khi nghe Phật diễn giải
quá trình biến chuyển tâm tư của Bồ-tát, với đoạn kết
nói rằng, tuỳ theo sự thanh tịnh của tâm mà Phật quốc
của Bồ-tát thanh tịnh. Nếu thế, ngài Xá-lợi-phất tự
hỏi, phải chăng đức Thích Tôn khi hành Bồ-tát đạo đã
không tu tập tâm chất trực, vv…, cho đến các ba la mật,
các trợ đạo và các thiện nghiệp đạo, do đó mà quốc
độ của Ngài không thanh tịnh.
Nghi ngờ của ngài Xá-lợi-phất
không những được Phật giải đáp, mà cả đến Loa Kế Phạm
thiên vương vốn chỉ là phàm phu cũng có thể khẳng định
rằng quốc độ của Phật Thích-ca không uế trược, xấu
xí như Xá-lợi-phất thấy. Thế giới mà ngài Xá-lợi-phất
đang thấy là xấu xa ấy, thực chất, trong cái nhìn của Loa
Kế Phạm vương, cũng xinh đẹp huy hoàng như cảnh giới thiên
đường của trời Đại Tự tại. Đây không phải là do ở
chỗ Loa Kế Phạm vương có sở đắc trong Thánh đạo cao hơn
ngài Xá-lợi-phất. Bậc Thánh thấy nó xấu xí, trong khi đó
phàm phu thấy nó thanh tịnh; sở kiến bất đồng là do nghiệp
cảm bất đồng. Phàm phu thấy nó xinh đẹp nên sinh tâm đắm
trước. Thánh giả thấy nó bất tịnh nên có tư tưởng thoát
ly. Siêu việt trên sở kiến của Thánh và phàm, đức Phật
khẳng định thế giới này vốn thanh tịnh; tự tính thanh
tịnh. Để xác chứng điều này, bằng thị hiện thần thông,
Ngài hiển thị cho Xá-lợi-phất thấy tất cả sự trang nghiêm
và thanh tịnh của thế giới Ta bà này.
Xem
Tiếp Phần 2:Bản
dịch Việt DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT
Chú Thích
1Xem cht. 2, phần
Bản dịch Việt.
2Trung A-hàm 60,
kinh 221, Đại1 1, tr. 804tt. Pali, M. 63. (Cūḷa)Māluṅkya.
3 Câu-xá 27,
Đại 29, tr. 156a 26: Vì sao Phật không trả lời thế gian là
thường hay phi thường?
4 Kinh Lăng nghiêm:
thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn.
5 Xem các cht.
với các đoạn liên hệ trong phần phiên dịch kinh văn.
6 Taisho 1780.
7 T38n1780, tr.853b3
8 T38n1780_p0853b05.
9 Dĩ bản thùy
tích 以本垂跡. T38n1780, tr.853b7.
10 Dĩ tích hiển
bản 以跡顯本. ibid.
11 T38n1782_p0995b06.
12 Trạm Nhiên,
Duy-ma kinh lược sớ, T38n1778_p0564b01. Về nguồn gốc kinh điển
của bốn độ, đoạn sau (T38n1778_p0565a15), Trạm Nhiên đặt
nghi vấn : ý nghĩa bốn độ chỉ có thể tìm thấy rải rác,
chứ không thấy đề chung trong một đoạn văn. Rồi Trạm
Nhiên giải thích : Ngay trong phần lời trong Kinh này cũng đã
cho thấy hết ý nghĩa của cả bốn độ.
13 T38n1782_p1020a02.
14 Chúng sinh
chi loại thị Bồ-tát Phật độ 眾生之類是菩薩佛土.
15 Chư hữu tình
độ thị vi Bồ-tát nghiêm tịnh Phật độ 諸有情土是為菩薩佛土.
16Khuy Cơ, Thuyết
Vô Cấu Xưng kinh sớ (vt. VCS), T38n1782,tr. 1023b1.
17 T38n1782_p1023b07.
18 Tùy sở hóa
chúng sinh nhi thủ Phật độ 隨所化眾生而取佛土.
19 Tùy sở điều
phục chúng sinh nhi thủ Phật độ隨所調伏眾生而取佛土.
20 Tùy chư chúng
sinh ưng dĩ hà quốc nhập Phật trí tuệ nhi thủ Phật độ
隨 諸 眾生 應以何國 入佛 智 而取佛 土.
21 Tùy chư chúng
sinh ứng dĩ hà quốc khởi Bồ-tát căn 隨諸眾生應以何國起菩薩根.
22 Nhất thiết
Bồ-tát tùy chư hữu tình tăng trưởng nhiêu ích, tức tiện
nhiếp thọ nghiêm tịnh Phật độ 一切菩薩隨諸有情增長饒益即便攝受嚴淨佛土
23 Tùy chư hữu
tình phát khởi chủng chủng thanh tịnh công đức, tức tiện
nhiếp thọ nghiêm tịnh Phật độ 隨諸有發起種種清 淨功德即便攝受嚴淨佛土.
24 Cát Tạng,
Duy-ma-cật nghĩa sớ, T38n1781_p0927c15
25 Hành đại
đạo行大道.
26 T38n1781_p0928b19.
27 āśaya, từ
Sanskrit khó dịch, nên Huyền Trang thường phiên âm. Có khi
dịch là ý lạc意樂. Các chỗ khác, cũng dịch là chánh trực
tâm, thâm tâm, bản nguyện, chí lạc, tâm sở dục lạc...
28 Huyền Tráng:
ác thú vô hạ 惡趣無暇.
29Đại 38, tr.593c23
30 T38n1781_p0930a09.
31 T38n1782_p1026b25.
32 Khuy Cơ, ibid.,
cũng phân tích bản dịch của La-thập thành 13 chuyển, chia
làm hai phần. Phần đầu 7 chuyển ; phần hai 6 chuyển.
33 Nāgārjuna,
Vigrahavyāvartani, k.1 : sarveṣāṃ bhāvānāṃ sarvatra na vidyate
svabhāvaścet/ tvad vacanam asvabhāvaṃ na nivartayitum svabhāvam alam,
«Nếu tự tính của các sự hữu không tồn tại một cách
phổ quát, thì phát biểu ngài là vô thể, không thể bác bỏ
tự tính.»
X