Giới
thiệu
PHẨM
VUA DIỆU TRANG NGHIÊM
TRONG
KINH PHÁP HOA
Thích
Thái Hòa
I
- Ý Nghĩa và Duyên Khởi:
Phẩm
này nói lên sự tích của Vua Diệu Trang Nghiêm là tiền thân
của Bồ tát Hoa Đức.
Và
công hạnh chuyển hóa tà kiến đối với Vua Diệu Trang Nghiêm
của Vương Hậu Tịnh Đức và hai hoàng tử là Tịnh Tạng
và Tịnh Nhãn, khiến Vua chuyển đổi tà kiến thành chánh
kiến, và hướng tâm đến Phật đạo. Vua đã được đức
Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí khai thị cho kinh Pháp Hoa
và vua đã ngộ nhập được Phật tri kiến, nên đã xin xuất
gia và tinh tấn tu học, sau đó được đức Phật Vân Lôi
Âm Tú Vương Hoa thọ ký tương lai thành Phật với danh hiệu
là Sa La Thọ Vương, quốc độ tên là Đại Quang, thời kỳ
tên là Đại Cao Vương. Ngài có vô lượng Bồ tát và Thanh
Văn. Quốc độ của Sa La Thọ Vương là Tịnh độ.
Vương
Hậu Tịnh Đức, bấy giờ là Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm
Tướng. Hoàng tử Tịnh Tạng lúc bấy giờ là Bồ tát Dược
Vương, và hoàng tử Tịnh Nhãn bấy giờ là Bồ tát Dược
Thượng.
Bồ
tát Hoa Đức, Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng, Bồ tát
Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng, hiện đang có mặt trong
đương hội Pháp Hoa của đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại đỉnh
Linh Sơn đã từng là thiện hữu tri thức của nhau và đã
từng đưa nhau đi tới Nhất Thừa Đạo vào thời đại của
đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí thuở xa xưa.
Như
vậy, vị trí của Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự nầy
là nói rõ vai trò thiện tri thức đối với kinh Pháp Hoa và
đề cao pháp hành Phương tiện Ba La Mật và hiệu quả do pháp
hành ấy đem lại.
Ở
phẩm Đề Bà Đạt Đa, đức Phật đã nói rõ, Đề Bà Đạt
Đa là thiện tri thức Pháp Hoa của Ngài. Phẩm nầy đức Phật
nói rõ đức Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng, Bồ tát
Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng là những vị thiện tri
thức Pháp Hoa của Bồ tát Hoa Đức.
Thiện
tri thức đối với chúng ta có nhiều loại, có những loại
đồng giới, đồng học, đồng hành với chúng ta, ở kinh
Hoa Nghiêm Bồ tát Phổ Hiền nói với Bồ tát Phổ Tuệ cùng
với Đại chúng Bồ tát rằng, Thiện tri thức có mười chủng
loại như sau:
-
Thiện tri thức là vị có khả năng khiến ta an trú tâm bồ
đề.
-
Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta tu tập hết thảy
căn lành.
-
Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta thực hành các
Ba la mật rốt ráo.
-
Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta phân biệt, giải
thuyết hết thảy pháp.
-
Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta thành thục và
an trú hết thảy chúng sanh.
-
Thiện tri thức là vị đầy đủ biện tài, có khả năng giúp
ta trả lời mọi nghi vấn. .
-
Thiện tri thức là vị có khả năng giúp cho ta không bị mắc
kẹt ở nơi các loại sanh tử.
-
Thiện tri thức là vị có khả năng giúp ta ở nơi vô lượng
kiếp thực hành hạnh Bồ tát không có mệt mỏi.
-
Thiện tri thức là vị giúp ta an trú hạnh nguyện hiền thiện
cùng khắp.
-
Thiện tri thức là vị có khả giúp ta thâm nhập tất cả
trí tuệ của Phật.1
Nhưng,
Thiện tri thức Pháp Hoa còn sử dụng ứng thân đủ loại
thuận nghịch, khi thì làm vợ chồng, thầy bạn, con cháu để
tác thành diệu pháp cho ta. Không những xoay chuyển tâm tà
của ta về với chánh đạo, mà còn giúp ta phế bỏ phương
tiện mà nhắm hướng tới cứu cánh, không ngưng trệ nơi
hóa thành mà đi tới bảo sở. Và ngay cả, có khi biểu hiện
thân Phật để thọ ký và ấn chứng cho ta thành Phật nữa.
Do
đó, Thiện tri thức là một trong những yếu tố quyết định
sự tồn tại và hoằng truyền kinh Pháp Hoa. Nên, hạnh môn
của Bồ tát trong phẩm nầy là Thiện tri thức với phương
tiện trí lực.
Duyên
khởi của phẩm nầy là đức Phật tự nói về bản môn và
hạnh môn Pháp Hoa của các vị Bồ tát như Hoa Đức, Quang
Chiếu Trang Nghiêm Tướng, Dược Vương, Dược Thượng cho
đại chúng Pháp Hoa ở trong tích môn nghe.
II-
NỘI DUNG CHỦ YẾU:
Nội
dung chủ yếu của phẩm nầy là nói về Phương tiện bản
môn và bản hóa của Bồ tát.
Và
trong mười Ba La Mật của Bồ tát, phẩm nầy đề cao sự
thực hành Phương tiện Ba La Mật.
Phương
tiện Ba La Mật ở phẩm nầy là đề cao thần lực:
1-
Sử Dụng Thần Lực:
Kinh
nói: “Bấy giờ hai vương tử là Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn
đến nơi mẹ chấp tay thưa rằng: xin mẹ đi đến chỗ đức
Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, chúng con xin đi theo thân
cận hầu hạ mẹ và để được cúng dường lễ bái Ngài.
Tại vì sao? Vì Ngài đang ở giữa hết thảy chư thiên, loài
người diễn giảng kinh Pháp Hoa. Chúng ta cần phải đến đó
để lắng nghe và tiếp nhận”.
Vương
Hậu bảo hai vương tử rằng, phụ thân của hai con tin tưởng
và thọ giáo theo ngoại đạo, kẹt sâu vào pháp của Bà La
Môn. Các con hãy đến thưa với phụ thân để Người cùng
đi.
Tịnh
Tạng và Tịnh Nhãn chấp tay thưa với mẹ rằng: Chúng con
là con của đấng Pháp Vương, vậy mà lại sinh vào nhà kiến
thức sai lầm nầy.
Vương
Hậu bảo, các con phải thương phụ thân của các con mà biểu
hiện thần thông biến hóa. Nếu phụ thân các con thấy được,
tâm phụ thân của hai con chắc chắn thanh tịnh và chấp nhận
cho tất cả chúng ta cùng đi đến chỗ Phật.
Bấy
giờ hai người con nghĩ đến thân phụ, liền vọt lên không
gian, cao độ bảy cây Đa La, biểu hiện các loại thần thông
biến hóa. Đi, đứng, nằm, ngồi ở trên hư không. Trên thân
ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân
ra lửa. Hoặc biểu hiện thân lớn đầy khắp cả không gian,
rồi lại hiện nhỏ, nhỏ lại hiện lớn, ẩn mất ở trong
không gian, lại hiện ra trên mặt đất. Vào đất như
vào nước, đi trên nước như đi trên đất. Hai vương tử
biểu hiện nhiều loại thần biến như vậy là khiến cho tâm
trí của phụ vương tin hiểu một cách trong sáng” 2.
Đối
với luật tạng Thanh Văn, Tỷ khưu đi hoằng hóa không được
sử dụng thần thông. Nhưng, đối với kinh Pháp Hoa, phẩm
nầy lại đề cao việc sử dụng thần lực.
Tại
sao? Tại vì giới luật Thanh Văn nhắm tới phòng phi, chỉ
ác cho tự thân, và đề cao về mặt tự giác, nên việc biểu
hiện thần lực không phải là điều cần thiết. Nhưng, đối
với Bồ tát Thừa, không những chỉ nhắm tới phòng phi, chỉ
ác cho bản thân mà còn đề cao về mặt giác tha, nên có thể
sử dụng bất cứ phương tiện nào, để đánh thức và khai
thị Phật tính cho chúng sanh ngộ nhập là Bồ tát đều có
thể sử dụng.
Thần
thông mà Bồ tát sử dụng là thuộc về Phương tiện trí
lực. Trí lực nầy là do Bồ tát tu tập Trì giới Ba La Mật,
Thiền định Ba La Mật và Trí tuệ Ba La Mật mà thành tựu.
Nên,
thần lực ấy là thần lực sinh khởi từ Giới - Định -
Tuệ của Bồ tát, cộng với Từ bi và Nguyện lực của các
Ngài, trong hạnh nguyện độ sinh. Vì muốn chuyển hóa tà tâm,
tà kiến của chúng sanh mà biểu hiện thần lực, chứ không
phải biểu hiện thần lực vì danh dự hay lợi dưỡng.
Và
quan trọng hơn hết, Bồ tát sử dụng phương tiện thần lực
là để khai thị Phật tính cho chúng sanh và giúp họ ngộ
nhập Phật tính, hội nhập Nhất Thừa.
2-
Hiệu Quả Của Phương Tiện Thần Lực:
2/1.
Xin được xuất gia:
Với
hiệu quả nầy, kinh nói:
“Bấy
giờ phụ vương thấy thần lực của hai con như vậy, tâm
rất hoan hỷ được sự chưa từng có, liền chấp tay hướng
đến hai con mà hỏi: Thầy của hai con là ai? Hai con là đệ
tử của vị nào?
Hai
vương tử thưa với phụ vương rằng, đức Như Lai Vân Lôi
Âm Tú Vương Hoa Trí, hiện nay đang ngồi trên pháp tòa bảy
báu dưới cội Bồ đề, ở giữa chư thiên và nhân loại
để tuyên thuyết kinh Pháp Hoa một cách rộng rãi, Ngài là
Thầy của chúng con, chúng con là đệ tử của Ngài.
Phụ
vương nói với các vương tử rằng: Ta muốn diện kiến Thầy
của các con. Chúng ta nên cùng đi.
Hai
vương tử từ hư không bước xuống, đến chỗ của mẹ chấp
tay mà thưa mẹ rằng, phụ vương nay đã tin hiểu, đủ khả
năng phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chúng con đã vì cha làm
Phật sự xong. Xin mẹ chấp thuận cho chúng con được xuất
gia tu tập học đạo với đức Phật.
Bấy
giờ hai vương tử trình bày lại ý nguyện của mình bằng
thi kệ như sau:
“Xin
mẹ cho chúng con
xuất
gia làm Sa Môn
chư
Phật rất khó gặp
chúng
con theo học Phật
như
hoa Ưu Đàm Bát
gặp
Phật lại khó hơn
thoát
tai nạn cũng khó
xin
cho con xuất gia”.
Vương
Hậu liền nói lên lời chấp nhận cho hai vương tử xuất
gia, vì sao? Vì Phật khó gặp vậy.
Hai
vương tử liền thưa với Phụ hoàng và Mẫu hậu rằng, thật
hạnh phúc thay, thưa Phụ hoàng và Mẫu hậu! Xin Phụ hoàng
và Mẫu hậu đi liền đến chỗ của đức Phật Vân Lôi Âm
Tú Vương Hoa Trí để thân cận, cúng dường. Vì sao? Vì Phật
khó gặp, cũng giống như sự hiếm có của hoa Ưu Đàm; lại
hiếm có như rùa một mắt mà cổ của nó chui vào được
lỗ hổng của tấm ván trôi dạt trên biển cả.
Chúng
con nhờ phước đức sâu dày đời trước sinh ra gặp Phật
và pháp của Ngài, nên xin cha mẹ chấp thuận cho chúng con
xuất gia. Vì sao? Vì chư Phật khó gặp mà thời gian để gặp
lại càng khó hơn” 3.
Xuất
gia là điều kiện tốt nhất để tu học và làm các Phật
sự.
Tu
học trong đời sống xuất gia thì không có điều kiện hoặc
có ít điều kiện để cho tham ái sinh khởi. Và làm Phật
sự trong đời sống xuất gia thì không bị mọi sự thiên
ái trói buộc, nên làm các Phật sự có hiệu quả rất cao.
2/2
Hiệu quả của sự chuyển hóa:
Kinh
nói:“Bấy giờ Vua Diệu Trang Nghiêm cùng quần thần, quyến
thuộc, Tịnh Đức Phu nhân, với các thể nữ quyến thuộc
ở hậu cung, hai vương tử, cùng bốn vạn hai ngàn người
đều đồng một lúc đi đến chỗ Phật.
Đến
rồi, mọi người đều kính lễ đức Phật, đi nhiễu ba vòng.
Xong, bước lui đứng về một phía.
Bấy
giờ đức Phật đã vì Vua Diệu Trang Nghiêm mà thuyết pháp,
chỉ bày, giáo huấn, khiến Vua tùy hỷ lợi ích. Vua đã vui
mừng và rất hoan hỷ” 4.
Đây
là kinh diễn bày sự chuyển hóa bước đầu của Vua Diệu
Trang Nghiêm, qua sự thuyết pháp của đức Phật Vân Lôi Âm
Tú Vương Hoa Trí, những hạt giống tà kiến sâu dày của
Bà La Môn trong Vua đã chuyển hướng đi về phía chánh kiến,
tức là đi về phía của Pháp Hoa. Đức tin Đại thừa bắt
đầu trỗi dậy. Đức tin ấy được thể hiện qua sự ly
tham, ly chấp thủ của Vua. Nên, Vua đã cởi chuỗi ngọc trân
châu đang mang nơi cổ với giá trị cả trăm ngàn, tung lên
trên đức Phật.
2/3
Thành Tựu Đức Tin Và Được Ấn Chứng:
Bấy
giờ đức tin Pháp Hoa của Vua Diệu Trang Nghiêm thành tựu,
nên chuỗi ngọc trân châu của Vua tung lên trên đức Phật
đã trở thành phép lạ, hay diệu pháp như kinh nói:
“Ở
trong không trung, ngọc ấy đã chuyển hóa trở thành đài báu
bốn trụ. Trong đài có giường báu lớn, trải trăm ngàn vạn
thứ vải của chư thiên. Trên giường báu ấy có đức Phật
ngồi kiết già, phóng ra ánh sáng vĩ đại.
Bấy
giờ Vua Diệu Trang Nghiêm liền nghĩ, thân Phật thật hiếm
có, đoan nghiêm, rất đặc biệt, thành tựu sắc tướng mầu
nhiệm tinh anh số một” 5.
Đây
là phần nói về sử dụng Phương tiện trí lực của Phật
Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí để yểm trợ đức tin Pháp Hoa
cho Vua Diệu Trang Nghiêm, khiến cho Vua thành tựu đức tin ấy.
Và Vua Diệu Trang Nghiêm thành tựu đức tin Pháp Hoa là do tâm
Vua buông xả danh lợi.
Nên,
thâm ý của đoạn kinh nầy, khai thị cho ta thấy rằng: buông
xả danh lợi ở đâu thì Phật hiện ra ở đó. Và Phật hiện
ra ở đâu thì sự trang nghiêm và phước báu cũng hiện ra
ở đó.
Buông
xả danh lợi là Pháp bảo, và từ nơi Pháp bảo mà hiện ra
Phật bảo.
Phật
bảo, Pháp bảo là căn bản để Tăng bảo sinh khởi. Vua Diệu
Trang Nghiêm xem thường ngôi vua là xả danh, cởi vòng trân
châu nơi cổ mà tung ra ngoài là xả lợi. Nên, sau khi đã thực
hành pháp xả bỏ danh lợi như vậy, nên không những vua thấy
được Phật thân hiện ra bên ngoài đầy đủ phước tướng
trang nghiêm mà Phật tính trong Vua cũng đã hiển lộ, và Vua
đã được đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, ấn chứng
sẽ xuất gia làm thành viên chính thức của Tăng bảo, và
đã được Ngài thọ ký thành Phật trong tương lai.
Như
kinh nói: “Bấy giờ đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí,
gọi bốn chúng đệ tử mà bảo rằng: Quý vị có thấy Vua
Diệu Trang Nghiêm đang đứng chắp tay trước Như Lai không?
Vị hoàng đế nầy ở trong giáo pháp của Như Lai sẽ làm
vị Tỷ khưu tinh cần tu tập, hỗ trợ đạo pháp của Như
Lai, và sẽ thành Phật hiệu là Ta La Thọ Vương 6, quốc độ
tên là Đại Quang, thời đại tên là Đại Cao Vương.
Đức Phật Ta La Thọ Vương ấy, có chúng Bồ tát vô lượng
và vô lượng Thanh Văn, cõi nước bằng phẳng. Công đức
của Vua Diệu Trang Nghiêm sẽ là như vậy” 7.
3/
Ngộ Nhập Phật Tri Kiến:
Vua
Diệu Trang Nghiêm sau khi đã được đức Phật Vân Lôi Âm
Tú Vương Hoa Trí, khai thị Phật tri kiến và nói rõ con đường
ngộ nhập cũng như thành quả của Vua trong tương lai.
Nên, Vua đã bắt đầu dấn thân vào con đường ngộ nhập
Phật tri kiến. Kinh nói như sau:
“Vua
Diệu Trang Nghiêm, tức khắc đem quốc chính giao phó cho em,
rồi cùng với phu nhân, hai hoàng tử, và những người thân
thuộc xuất gia tu tập đạo pháp ở trong giáo pháp của Phật.
Sau
khi xuất gia, Vua Diệu Trang Nghiêm, trải qua tám vạn bốn ngàn
năm nỗ lực thường xuyên thực hành theo kinh Pháp Hoa.
Trải
qua thời gian ấy, thành tựu thiền định trang nghiêm, bằng
tất cả công hạnh thanh tịnh, liền bay lên hư không cao bảy
cây Đa La mà thưa với đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn,
hai con của con đã làm Phật sự của Phật, dùng thần thông
biến hóa, làm thay đổi tâm tà của con, khiến cho con được
an trú trong giáo pháp của Phật, và được diện kiến Thế
Tôn.
Hai
người con nầy là Thiện tri thức của con, muốn làm sống
dậy gốc rễ tốt đẹp từ đời trước của con, để làm
lợi ích cho con, nên đã sinh vào gia đình của con” 8.
Đây
là nói lên phần tin và hiểu của Vua đối với sự khai thị
ngộ nhập Phật tri kiến qua những phương tiện trí của các
bậc Thiện tri thức.
Và
sự tin hiểu nầy của Vua đã được đức Phật Vân Lôi Âm
Tú Vương Hoa Trí ấn chứng như sau:
“Bấy
giờ, đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí gọi Vua Diệu
Trang Nghiêm mà bảo rằng: Đúng như vậy, đúng như vậy, đúng
như lời ông nói. Nếu thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào,
biết gieo trồng gốc rễ tốt đẹp, thì đời đời họ gặp
Thiện tri thức. Những Thiện tri thức ấy, có khả năng thực
hiện công việc của chư Phật, chỉ bày giáo dục làm cho
tùy hỷ lợi ích, khiến tất cả đều nhập vào Tuệ giác
vô thượng.
Này
đại vương! Người nên biết rằng, Thiện tri thức là nhân
duyên lớn lao, cảm hóa, dẫn dắt khiến cho ông thấy được
Như Lai, phát tâm Vô thượng bồ đề.
Này
đại vương! Người có thấy hai người con nầy không? Hai
người con nầy đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm ngàn
vạn ức vô số hằng hà sa chư Phật. Ở nơi chư Phật ấy,
họ đã tiếp nhận, duy trì kinh Pháp Hoa, thương xót chúng
sanh hiểu biết sai lầm mà khiến cho chúng sanh an trú ở trong
sự hiểu biết chân thật” 9.
Ở
đoạn nầy, đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, không
những ấn chứng cho sự tin hiểu của Vua Diệu Trang Nghiêm
đối với vai trò cực kỳ quan trọng của Thiện tri thức
đối với con đường khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho
chúng sanh, khiến cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, mà
còn nêu rõ nhân duyên được gặp Thiện tri thức là do nhiều
đời đã gieo trồng căn lành, và lại còn nêu rõ bổn sự
tu tập và hoằng truyền Kinh Pháp Hoa của hai vị vương tử
nữa.
Như
vậy, ta thấy rằng, phẩm kinh nầy không những chỉ đề cập
đến bổn sự của Vua Diệu Trang Nghiêm, mà còn đề cập
đến bổn sự của hoàng hậu và hai vương tử thuộc về
phần hạnh môn của bản môn nữa.
Và,
đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong đại chúng tại đỉnh Linh
Sơn, lại nói về bổn sự của tích môn thuộc bản môn của
các vị Bồ tát đang hiện diện nghe kinh Pháp Hoa tại Linh
Sơn.
“Bổn
sự của Hoa Đức Bồ tát chính là Vua Diệu Trang Nghiêm; bổn
sự của Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng là Tịnh Đức
phu nhân; bổn sự của Bồ tát Dược Vương là Tịnh Nhãn
vương tử; bổn sự của Bồ tát Dược Thượng là Tịnh Tạng
vương tử”.
Trong
quá khứ, ở thời đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí,
các Bồ tát Hoa Đức, Quang Chiếu Trang Nghiêm, Dược Vương
và Dược Thượng đã là những bậc Thiện hữu tri thức của
nhau, không những là ngoại hộ, đồng hành, giáo thọ mà còn
là Thiện tri thức của thực tướng Pháp Hoa nữa.
Bồ
tát nguyện làm bậc Thiện tri thức với mọi người và mọi
loài là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho hết thảy
họ, bằng hết thảy mọi phương tiện thuận, nghịch, thực
tế và siêu việt. Thiện tri thức chân thật và vĩ đại là
Thiện tri thức giúp cho chúng sanh đạt đến Thực tướng
Pháp Hoa.
Như
vậy, Thiện tri thức đóng vai trò hết sức quan trọng trong
đời sống tu tập Nhất thừa đạo của chúng ta, yểm trợ
cho chúng ta bỏ tà quy chánh, bỏ vọng tầm chơn, giúp ta vượt
ra khỏi tâm lượng nhỏ nhoi mà nhập cùng pháp giới tính
chân thực, giúp ta vượt ra khỏi tâm thiên chấp mà thành
tựu viên mãn Đại bồ đề.
Nên,
khi thực hành Bồ tát Đạo, Bồ tát luôn luôn ước nguyện
gần gũi, gặp gỡ và phụng sự để học tập đối với
Thiện tri thức, như những ước nguyện của Bồ tát Kim Cang
Tràng ở trong kinh Hoa Nghiêm như sau:
1-Nguyện
tất cả chúng sanh không xả bỏ sự biết ân và báo ân đối
với các Thiện tri thức Bồ tát.
2-Nguyện
tất cả chúng sanh đồng nghĩa, đồng nhiếp thủ, đồng bản
chất thiện căn đối với Thiện tri thức.
3-Nguyện
tất cả chúng sanh thân cận, tôn trọng, cúng dường các Thiện
tri thức; theo Thiện tri thức mà buông bỏ tất cả.
4-Nguyện
tất cả chúng sanh được tâm chân thực, ngay thẳng theo Thiện
tri thức không có xa lìa.
5-Nguyện
tất cả chúng sanh thường gặp Thiện tri thức không trái
lời giáo huấn.
6-Nguyện
tất cả chúng sanh được tâm chân thực, ngay thẳng, không
bỏ Thiện tri thức, vững chãi rời xa tất cả tâm cấu uế.
7-Nguyện
tất cả chúng sanh vì Thiện tri thức, không trái lời giáo
huấn, buông bỏ tất cả không tiếc thân mạng.
8-Nguyện
tất cả chúng sanh được Thiện tri thức nhiếp thọ, tu tập
hạnh đại từ bi xa lìa các điều ác.
9-Nguyện
tất cả chúng sanh thuận theo Thiện tri thức nghe chánh pháp
của Phật và có khả năng thọ trì.
10-Nguyện
tất cả chúng sanh đồng thiện căn, đồng nghiệp báo, đồng
Bồ tát hạnh nguyện, trọn vẹn, bình đẳng thanh tịnh hoàn
toàn.10
Thiện
tri thức giúp ta thành tựu Tuệ giác tối thượng, nên ở
kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Kim Cang Tràng có mười ước nguyện
như trên, khiến cho tất cả chúng sanh thành tựu nhiều lợi
ích. Và lợi ích hơn tất cả là nhờ Thiện tri thức mà ta
thể nhập được Thực tướng Pháp Hoa, thành tựu Nhất Thừa
Đạo. Nên, chủ yếu của Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn
Sự nầy là nói về vai trò Thiện tri thức Pháp Hoa hay Thực
tướng Thiện tri thức.
III-PHƯƠNG
PHÁP THỰC HÀNH:
Ở
phẩm nầy, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói phương pháp
tu học của hai vị Vương tử Tịnh Nhãn và Tịnh Tạng cho
thính chúng Pháp Hoa tại Linh Sơn nghe rằng:
“Hai
vương tử có đại thần lực, phước đức trí tuệ, đã
thực hành Bồ tát đạo lâu xa, như bố thí hoàn mãn, trì
giới hoàn mãn, nhẫn nhục hoàn mãn, tinh tấn hoàn mãn, thiền
định hoàn mãn, trí tuệ hoàn mãn, phương tiện hoàn mãn,
từ, bi, hỷ, xả cho đến ba mươi bảy thành phần của Chánh
đạo và Trợ đạo, cũng đều thông đạt thấu suốt.
Hai
vị vương tử nầy, còn thành tựu được các thứ thiền
định của Bồ tát như: Định Vô Nhiễm (Tịnh Tam Muội),
Định Mặt Trời và Tinh Tú (Nhật Nguyệt Tinh Tú Tam Muội),
Định Ánh Sáng Thanh Tịnh (Tịnh Quang Tam Muội), Định Sắc
Tướng Thanh Tịnh (Tịnh Sắc Tam Muội), Định Chiếu Sáng
Thanh Tịnh (Tịnh Chiếu Minh Tam Muội), Định Trang Nghiêm Lâu
Dài (Trường Trang Nghiêm Tam Muội), Định Kho Tàng Uy Đức
Vĩ Đại (Đại Oai Đức Tạng Tam Muội), đối với các loại
thiền định trên đây hai vị ấy đều thông đạt tất cả”
11.
Như
vậy, ta thấy các pháp môn tu tập ở phẩm nầy đề cập
đều đầy đủ cả Thanh văn thừa và Bồ tát thừa.
Pháp
môn chính yếu của Thanh văn thừa thực hành là ba mươi bảy
thành phần của Chánh đạo và Trợ đạo, thuộc Đạo Đế
của Tứ Thánh Đế .
Pháp
môn chính yếu của Bồ tát thừa là Lục độ hay sáu pháp
hành hoàn mãn của con đường Bồ tát.
Đạo
Đế không những là pháp hành căn bản của Thanh văn thừa
mà còn là của Bồ tát thừa nữa.
Nếu
không thực hành Đạo Đế thì Lục độ của Bồ tát không
có điều kiện để sinh khởi và thành tựu.
Nên,
không có vị Bồ tát nào mà không kinh qua và thông suốt đối
với Đạo Đế hay là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Trong
Bát chánh đạo của Đạo Đế có Chánh kiến, Chánh tư duy
là chất liệu căn bản tu tập để Bồ tát thành tựu Trí
tuệ Ba la mật, hay Tuệ giác giải thoát hoàn toàn. Chánh ngữ,
Chánh nghiệp, Chánh mạng là những chất liệu căn bản tu
tập để Bồ tát thành tựu Bố thí Ba la mật, Trì giới Ba
la mật, Nhẫn nhục Ba la mật, hay Giới giải thoát hoàn toàn
.
Và,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là những chất
liệu căn bản tu tập để Bồ tát thành tựu Tinh tấn Ba la
mật, Thiền định Ba la mật, hay là Định giải thoát.
Bồ
tát thực hành Phương tiện trí, hay Phương tiện Ba la mật
để độ đời, để tuyên dương kinh Pháp Hoa, khai thị Phật
tri kiến cho chúng sanh ngộ nhập, đều xuất phát từ Trí
tuệ Ba la mật. Và Trí tuệ Ba la mật là sự phát triển của
Chánh kiến và Chánh tư duy đến chỗ toàn hảo và cùng đích.
Bồ
tát thực hành Thiền định Ba la mật làm sinh khởi Trí Ba
la mật, Nguyện Ba la mật và Lực Ba la mật. Các Ba la mật
nầy sinh khởi từ Thiền định Ba la mật là để độ đời,
là để khai thị Phật tri kiến của chúng sanh cho chúng sanh
ngộ nhập.
Trí,
Nguyện và Lực là do sự thành tựu và phát triển hoàn hảo
của Thiền định Ba la mật.
Và
Trí, Nguyện và Lực Ba la mật là sự phát triển của Chánh
ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng đến chỗ hoàn hảo và cùng
đích.
Như
vậy, Trí, Nguyện, Lực và Thiền định Ba la mật là sự phát
triển hoàn hảo và cùng đích của Chánh niệm và Chánh định.
Hai
vương tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn do tu tập thành tựu Đạo
Đế gồm Ba mươi bảy thành phần của Chánh đạo và Trợ
đạo mà sinh khởi Lục độ, sinh khởi Tứ Vô lượng tâm
và các loại thiền định như:
Định
Vô Nhiễm, Hán gọi là Tịnh Tam Muội:
Tâm
Bồ tát luôn luôn ở trong thiền định, nên mọi ái nhiễm
không sinh, gọi là Tịnh Tam Muội, hay là Định Vô Nhiễm.
Định
Mặt Trời và Tinh Tú, Hán gọi là Nhật Tinh Tú Tam Muội:
Do
tâm của Bồ tát an trú sâu ở trong thiền định, nên trí
tuệ chân thật của Bồ tát bừng lên sáng chói như mặt trời,
và phương tiện trí của Bồ tát biểu hiện vô số ánh sáng
thiện xảo và dẫn đường cho chúng sanh thể nhập Phật trí.
Do đó, gọi là Định Mặt Trời và Tinh Tú.
Định
Ánh Sáng Thanh Tịnh, Hán gọi là Tịnh Quang Tam Muội:
Do
tâm Bồ tát thường an trú ở trong thiền định, nên biết
rõ tự tánh của mình, tự tánh của chúng sanh và tự tánh
của hết thảy pháp xưa nay vốn vắng lặng mà hằng chiếu
soi, nên gọi là Định Ánh Sáng Thanh Tịnh.
Định
Sắc Tướng Thanh Tịnh, Hán gọi là Tịnh Sắc Tam muội:
Do
Bồ tát tu tập thành tựu giới đức thanh tịnh, định đức
thanh tịnh và tuệ đức thanh tịnh, nên có khả năng thành
tựu báo thân thanh tịnh và báo thân ấy có thể tùy theo cơ
cảm của chúng sanh mà biểu hiện sắc tướng tương ứng
và thanh tịnh để hoá độ, để dìu dắt, khiến cho đối
tượng được hóa độ, thay đổi tà kiến hướng về Chánh
kiến, chuyển đổi tâm hạn hẹp hướng về tâm rộng lớn,
nhằm ngộ nhập Phật tri kiến.
Định
Chiếu Sáng Thanh Tịnh, Hán gọi là Tịnh Chiếu Minh Tam Muội:
Bồ
tát do tu tập thiền định, đình chỉ hết thảy phiền não
vận hành ở trong tâm thức, nên tâm luôn luôn thường trú
trong sự an tịnh. Từ bản tâm thanh tịnh ấy, Bồ tát khởi
lên tuệ giác quán chiếu để thấy rõ thực tướng vạn hữu.
Bồ tát quán chiếu vạn hữu từ tuệ giác thanh tịnh, nên
gọi là Định Chiếu Sáng Thanh Tịnh.
Định
Trang Nghiêm lâu dài, Hán là Trường Trang Nghiêm Tam Muội:
Bồ
tát thành tựu loại thiền định nầy, thì sự trang nghiêm
của Bồ tát về y báo và chánh báo không còn bị hủy diệt.
Bồ tát tu tập đạt tới thiền định nầy, thì sự trang
nghiêm của Bồ tát được biểu hiện từ tự tánh thanh tịnh,
tốt đẹp của thiện pháp, nên sự trang nghiêm ấy không bao
giờ bị hủy diệt bởi các duyên.
Định
Kho Tàng Uy Đức Vĩ Đại, Hán là Đại Uy Đức Tạng Tam Muội:
Bồ
tát do tu thập thiền định, thành tựu và nắm giữ hết thảy
thiện pháp, diệt tận hết thảy ác pháp, nên không còn sợ
hãi đối với bất cứ một ác pháp nào và thường có khả
năng nhiếp phục hết thảy ác pháp, do đó gọi là Định
Kho Tàng Uy Đức Vĩ Đại.
Bảy
loại thiền định nầy được biểu hiện từ Thiền định
Ba la mật. Nếu không thành tựu Thiền định Ba la mật, thì
các loại thiền định ở trên không do đâu mà hiện khởi.
Các loại thiền định ấy chỉ là những biểu hiện của
Thiền định Ba la mật (thiền định hoàn mãn), nhưng tùy theo
tác dụng mà gọi tên.
Bồ
tát tu tập và thành tựu các loại thiền định nầy là để
tự thân ngộ nhập Phật tri kiến, thấy rõ thực tướng của
vạn hữu không ra ngoài “Mười như thị”. Và đồng thời
là để chuyển hóa tâm mê muội, tà kiến của chúng sanh,
xoay về nơi Nhất thừa Phật đạo.
Sử
dụng thần lực để hóa độ chúng sanh, các kinh điển A hàm
và Nikàya rất ít đề cập; luật tạng thì hạn chế các
tỷ khưu tu tập đạt được thần thông, không sử dụng pháp
nầy để hóa độ, vì lậu tận chưa đoạn sạch nên sợ
sinh khởi hạt giống danh lợi.
Nhưng,
ở kinh Pháp Hoa việc sử dụng thần lực để hóa độ chúng
sanh lại được đề cập ở phẩm Như Lai Thần Lực và ở
phẩm Vua Diệu Trang Nghiêm nầy, là để nói lên Phương tiện
trí của Phật và Bồ tát trong việc giáo hóa chúng sanh và
nhất là truyền bá kinh Pháp Hoa, nhằm khai thị ngộ nhập
Phật tri kiến cho chúng sanh của các Ngài là bất khả tư
nghì.
Sử
dụng bất cứ phương tiện nào mà có khả năng làm thay đổi
tà tâm, tà kiến của chúng sanh, và dìu dắt họ trở về
với Bồ đề tâm, với chánh kiến, với chánh đạo với Nhất
thừa Phật đạo, thì các Ngài đều có thể sử dụng cả.
Vì
sao? Vì trong tự thân Phương tiện trí của Bồ tát và Phật,
đều là Phật trí và đều là trên đường hội nhập Phật
trí.
Đó
là đặc điểm pháp hành của kinh Pháp Hoa và của phẩm kinh
nầy.
Như
vậy, Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự nầy, kinh Pháp
Hoa đã đề cao Phương tiện trí lực và Thực tướng Thiện
tri thức của Bồ tát đạo đối với con đường khai thị
ngộ nhập Phật tri kiến của Nhất Thừa. Và Thiện tri thức
đích thực là người có khả năng hay có đầy đủ mọi phương
tiện giúp ta thành tựu Nhất Thừa hay Phật Thừa vậy.
Thiện
tri thức đóng vai trò trong đời sống gia đình và xã hội
hết sức quan trọng. Nếu Tịnh Đức phu nhân và hai hoàng
tử Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn không từng là hành giả Pháp
Hoa, không có nội chúng với đầy đủ phương tiện trí lực
của Pháp Hoa và không từng có phát khởi đại nguyện Pháp
Hoa, thì không thể nào chuyển đổi tâm tà kiến của Vua Diệu
Trang Nghiêm đi về hướng ánh sáng của giác ngộ.
Vua
Diệu Trang Nghiêm là tiêu biểu cho con người nắm quyền lực
của gia đình và xã hội. Người nắm quyền lực dù ở vị
trí lớn hay nhỏ, đời sống và mọi hành xử của họ đều
liên hệ đến hạnh phúc hay khổ đau của nhiều người và
danh dự của họ là danh dự của nhiều người.
Nếu
người nắm quyền lực ấy có đời sống tâm linh cạn mỏng,
cách nhìn sai lạc về cuộc sống, thì mọi quyết định và
hành xử của họ cực kỳ nguy hiểm cho gia đình và xã hội.
Bởi
vậy, Phẩm Vua Diệu Trang Nghiêm của kinh Pháp Hoa đã cho ta
nhìn thấy sự hệ trọng của đời sống tâm linh trong gia
đình cũng như xã hội, và vai trò của Thiện tri thức trong
đời sống ấy.
Trong
một gia đình mà có nhiều xu hướng tôn giáo, chắc chắn
gia đình đó không an ổn và trong một xã hội người nắm
quyền lực có niềm tin tôn giáo cạn mỏng không trong sáng
hay không có cách nhìn trong sáng về niềm tin tôn giáo sẽ
đưa xã hội đi đến chỗ hỗn loạn, vô trật tự.
Do
đó, vai trò Thiện tri thức là vai trò đồng sự để giúp
cho mọi người trong gia đình và xã hội, có cách nhìn chính
xác về những gì trong đời sống của chính họ và chung quanh
họ. Nên, vai trò ấy, nó quan trọng, hữu ích và thiết thực
đến chừng mức nào.
Phẩm
kinh Pháp Hoa nầy đã hiến tặng cho ta rất nhiều cách nhìn
quý báu về đời sống tâm linh của gia đình, xã hội và
tôn giáo, mà chúng ta cần phải suy ngẫm một cách sâu xa về
nhiều mặt, để rút ra bài học quý báu cho chính bản thân,
gia đình và cho cả thời đại của chúng ta.
T.T.H.
1 Hoa
Nghiêm Kinh 36, Ly Thế Gian Phẩm, Hán, Phật Đà Bạt Đà La,
tr 633A, Đại Chính 9.
2 Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh7, La Thập, tr 59 C – 60 A, Đại Chính
9.
3 Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh7, La Thập, tr 60A, Đại Chính 9.
4
Kinh đã dẫn như trên, tr 60B.
5
Kinh đã dẫn như trên.
6 Sālendrajāra
=Ta La Thọ Vương: Ta la là kiên cố, thọ là cây, vương là
vua. Ta La Thọ Vương là vua của các loài cây đứng vững chãi.
7 Kinh
đã dẫn như trên, tr 60B, Đại Chính 9.
8 Kinh
đã dẫn, tr 60B-C, Đại Chính 9.
9 Kinh
đã dẫn, tr 60C, Đại Chính 9.
10
Hoa Nghiêm Kinh16, Hán, Phật Đà Bạt Đà La, tr 503A, Đại Chính
9.
11
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh7, Hán, La Thập, tr 59C, Đại Chính 9.
20-12-2006
Mục
Lục Các Tập San