TOÀN
NHẬT THIỀN SƯ
người
muốn đưa tinh thần Phật giáo đời nhà Trần
xuống
cho triều đại Tây Sơn*
Thích
Phước An
Nhưng
nếu trước khi xuất gia, Toàn Nhật đã từng làm tướng rồi
sau đó mới “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu”. Vậy
thì bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã làm tướng
cho triều đại nào?
Theo
tác giả Toàn Nhật Quang Đài, trong những tác phẩm đã tìm
lại được thì chỉ có tác phẩm Xuất gia tối lạc tỉnh
thể tu hành vãn là Toàn Nhật có nhắc đến triều đại nhà
Nguyễn:
Ấy
triều đại cổ kim thật lục
Nối
truyền qua bản quốc Nam thiên
Những
vì thánh chúa tôi hiền
Tượng
kinh tôn trọng chùa chiền nghiêm trang
Nỗi
riêng than có thành có quách
Nếu
vui thôi thì ắt thái qua
Mừng
nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung
hưng chánh pháp gần xa tôn sùng
Dựng
tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo
trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng
ni thong thả tu thân
Cảnh
thiền tiêu sái áng trần phiền lao.
Nhưng
thời bấy giờ ở đàng trong có hai chúa Nguyễn, là Nguyễn
Gia Long và Nguyễn Tây Sơn, vậy câu: “Mừng nay minh chúa Nguyễn
Gia” của Toàn Nhật muốn nói đến Nguyễn Gia Long hay Nguyễn
Tây Sơn?
Và
đây là lời giải đáp của giáo sư Lê Mạnh Thát, tác giả
Toàn Nhật Quang Đài:
“Đương
nhiên, nó không thể là nhà Nguyễn của các chúa Nguyễn bởi
vì kể từ năm 1771 trở đi, lúc Toàn Nhật mới 14 tuổi, thì
toàn bộ dòng họ chúa Nguyễn đã bị đánh bật ra khỏi ngôi
vị của mình, để có thể làm chuyện “trung hưng chánh Pháp”.
Do vậy, chỉ có thể là nhà Nguyễn Tây Sơn hay nhà Nguyễn
Gia Long mà thôi. Đối với nhà Nguyễn Gia Long, tuy Toàn Nhật
sống hơn 30 năm còn lại của đời mình dưới sự thống
trị của dòng họ này và đã biểu thị một thái độ hết
sức đặc biệt. Ông hầu như không thừa nhận sự hiện diện
của nhà Nguyễn ấy qua việc ông không bao giờ xử dụng niên
hiệu của các vị vua nhà Nguyễn trong các tác phẩm để ghi
lại những đơn vị thời gian cần thiết.
Chẳng
hạn, trong ba bài bạt ta hiện tìm được viết cho những lần
in kinh năm 1819 và 1829, thì một bài bạt không đề ngày tháng
gì hết, còn hai bài bạt kia, ta chỉ thấy ghi “tuế thứ
Kỷ Mão” và “tuế thứ Kỷ Sửu”. Việc ghi niên đại
kiểu này, trong khi đất nước đang có chủ quyền, là một
biểu thị khinh nhờn cực kỳ nghiêm trọng đối với nhà
đương quyền. Nói trắng ra, Thiền sư Toàn Nhật không thừa
nhận nhà Nguyễn Gia Long là chính thống, do thế đã không
xử dụng niên hiệu của Gia Long và Minh Mạng ngay cả lúc
cần thiết.[1]
Trong
tác phẩm Lược sử Phật Giáo và các chùa Phú Yên, hai tác
giả Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn khi viết về Thiền
sư Diệu Nghiêm và chùa Từ Quang cũng xác nhận rằng: “Đệ
tử thành đạt của tổ sư có đến 28 vị thành danh, trong
đó có Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài nguyên là mưu thần của
vua Quang Trung về sau xuất gia và làm trụ trì chùa Viên Quang”.[2]
Nhưng
tại sao Toàn Nhật đã gặp được “Chúa thánh tôi hiền”
để phục vụ lại phải vội vã từ giả khi mới có 30 tuổi
đầu? Chắc chắn phải có một biến cố đau lòng nào đó?
Tác giả Toàn Nhật Quang Đài cho rằng:
“Lý
do cho sự từ quan có thể xuất phát từ cuộc tranh chấp nào
đó, mà ngày nay vì thiếu tư liệu, chúng ta không thể nào
xác định được một cách rõ ràng. Trong Từ Quang Tự sa môn
Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm Thiền sư xuất thế nhân
do sự tích, dù được viết vào năm Gia Long thứ 3 (1805) nhà
Tây Sơn xung đột với nhau bằng từ ngữ “thủ túc tương
tranh”. Ta biết việc kéo quân vào Quy Nhơn vây Nguyễn Nhạc
xảy ra vào khoảng tháng 9 năm 1786 sau khi đã rút quân khỏi
Thăng Long vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), và Nguyễn Nhạc
đã than khóc với Nguyễn Huệ về việc nồi da xáo thịt.
Như vậy khi Toàn Nhật nói mình xuất gia vào năm 30 tuổi,
và ông lại sinh vào năm Đinh Sửu (1757), thì năm Bính Ngọ
ông đúng 30 tuổi theo cách tính của người Việt Nam. Việc
rũ áo từ quan đi xuất gia của Toàn Nhật do thế phải chăng
đã liên hệ với sự kiện anh em Tây Sơn xung đột vừa nói?[3]
Trong
suốt 2 tác phẩm Tham thiền vãn và Thiền cơ yếu ngữ vãn,
ta nghe thấy một nỗi buồn nào đó với con đường lợi danh
mà Toàn Nhật vừa rũ bỏ để ra đi.
Quyết
một bề trèo non đào giếng
Kẻo
lời phàm đeo tiếng thị phi
(Tham
thiền vãn)
Không
phải chỉ buồn thôi mà còn có một cái gì đó vừa chua chát
vừa đắng cay:
Danh
lợi đã đề nên tiếng sĩ
Đâu
ở mình xử kỷ chẳng toan
Súng
kia nhắm dạng dè làn
Thiên
cơ dễ biết ngộ duyên quân thần
Đã
cầm cân non già từng nhắc
Dai
hay sao tráo trác đấu đong
(Tham
Thiền vãn)
Nhưng
không sao, vì Toàn Nhật có đủ nghị lực cũng như ý chí
để vượt qua những phong ba bão táp của cuộc đời, vì ông
đã tự nhắc nhở cho chính mình:
Miễn
là neo nọc cho bền
Gió
lồng mặc gió, vững thuyền thì thôi
(Tham
Thiền vãn)
hoặc
là:
Lời
thị phi khen chê mặc thế
Hơi
nào mà cấm chợ ngăn sông?
Và
nếu Toàn Nhật đã từng theo Chúa Nguyễn Tây Sơn, thì nhất
định triều đại Tậy Sơn phải là một triều đại tôn
sùng Phật giáo như Thiền sư Toàn Nhật đã hết lòng ca ngợi:
Mừng
nay minh chúa Nguyễn Gia
Trung
hưng chánh Pháp gần xa tôn sùng
Dựng
tăng phòng lại trau Phật điện
Tạo
trống chuông nổi tiếng vang lừng
Tăng
ni thong thả tu thân
Cảnh
thiền tiêu sái áng trần phiền lao
Tác
giả Lê Mạnh Thát đã khẳng định như thế này: “Lịch
sử và dã sử cũng như truyền thuyết đều xác nhận nhà
nước Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ, đã
có những chính sách cải cách Phật giáo thực to lớn. Điều
này cũng không có gì lạ khi ta nhớ rằng trong ba anh em nhà
Nguyễn Tây Sơn, có người đã ở Chùa làm sư rồi sau đó
mới ra làm tướng, làm vua. Có thuyết nói rằng người đã
từng làm sư ấy là Nguyễn Lữ, nhưng thuyết đáng tin cậy
hơn lại nói người đó chính là Nguyễn Huệ. Ngày nay, tại
Chùa Trúc Lâm ở Huế còn giữ một tấm gấm thêu Kinh Kim
Cang bằng chỉ đỏ do Ngọc Hân Công chúa thực hiện vào năm
Cảnh Thịnh thứ 2. Và văn tế vua Quang Trung do Ngọc Hân viết
cũng nói đến cái chết của vua Quang Trung như “miền cực
lạc xe mây vùn vụt”. Vua Quang Trung phải là người như thế
nào về phương diện tôn giáo, thì Công chúa Ngọc Hân mới
nới tới miền cực lạc. Cũng thế, thái độ tôn giáo của
triều đình Tây Sơn Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân
mới thêu kinh Kim Canh Bát Nhã lên gấm”.[4]
Nguyễn
Xuân Nhân, trong tác phẩm Văn học dân gian Tây Sơn cũng xác
nhận như thế này đối với thông tin trên:
“Trước
khi dấy nghĩa, Nguyễn Lữ cùng theo hai anh học văn học võ
với thầy giáo Hiến. Sau đó có một thời gian xuất gia nên
ông còn được gọi là thầy Tư Lữ. Mấy năm làm nhà sư,
ông có dịp trao đổi võ thuật với các nhà sư Trung Quốc
vốn là những người mang tư tưởng “Phục Minh Kháng Thanh”
trú ngụ ở An Thái (Bình Định). Ông muốn cho bộ môn võ
thuật nước nhà thích hợp với thể chất của người mình
nên cùng các chiến hữu tìm hiểu kỹ các thế đánh của
đôi gà chọi nhau, rồi sáng tạo nên nhiều thế đánh mới
hợp thành một thể thống nhất gọi là Hùng Kê Quyền”.[5]
Nếu
những điều trên có thể làm cho ta bán tín bán nghi vì nửa
là lịch sử và nửa là dã sử thì những bằng chứng sau
đây cũng của tác giả Toàn Nhật Quang Đài chắc chắn là
sự khẳng định rõ ràng của lịch sử:
“Không
những thế, triều đình nhà Tây Sơn, cụ thể là triều đình
vua Quang Trung, gồm những người cốt cán lại là những Phật
tử. Ta có Hải Lượng đại Thiền sư, tức Binh Bộ Thượng
Thư Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) cùng những người trong Trúc
Lâm Thiền viện của ông như Hương Lĩnh Bá Nguyễn Đăng Sở,
Phan Huy Ích, Vũ Trinh… Ngoài ra vị quân sư của Nguyễn Huệ
là Trần Văn Kỷ, lại có con đi xuất gia có hiệu là Đạo
Minh Trung Hậu hòa thượng. Triều đình nhà Tây Sơn do thế
là một triều đình Phật giáo”.[6]
“Ngoài
ra, từ Quang tự sa môn Pháp chuyên Luật truyền Diệu Nghiêm
thiền sư xuất thế nhân do tích chí có cho ta biết về việc
thầy của Toàn Nhật là Thiền sư Pháp chuyên luật truyền
Diệu Nghiêm đã được vua quan nhà Tây Sơn ủng hộ. Chẳng
hạn, vào năm Bính Thìn (1796) tại tỉnh Phú Yên, Pháp chuyên
đã tổ chức một giới đàn để thọ giới cho hơn 200 tăng
ni, thì đã được chủ trấn là Đoàn Luyện quận công của
nhà Tây Sơn ủng hộ.
Rồi
đến năm Mậu Ngọ (1798) Thiền sư Diệu Nghiêm lại được
Hoàng Thái hậu nhà Tây Sơn mời ra Huế để chứng minh việc
đúc Đại Hồng Chung và được ban cà sa màu tím. Ta biết
những năm 1796 cho đến 1798, quân Nguyễn Ánh chưa lấy được
Phú Yên và Thuận Hóa”.[7]
Và
như vậy, tác giả Toàn Nhật Quy đài kết luận:
“Trên
cơ sở những phân tích vừa thấy “minh chúa Nguyễn Gia”,
tất không thể ai hơn là vua Quang Trung. Từ đó, nếu trước
khi xuất gia, Toàn Nhật đã làm quan và làm tướng thì ông
đã làm quan làm tướng với nhà Tây Sơn”.[8]
Bởi
vậy nên mặc dù đã rời bỏ hàng ngũ của phong trào Tây
Sơn để đi xuất gia, nhưng Toàn Nhật vẫn tích cực hỗ trợ
cuộc cách mạng của Tây Sơn. Chính vì sự hỗ trợ này nên
khi nhà Tây Sơn sụp đỗ và Nguyễn Gia Long chiếm được chính
quyền thì Toàn Nhật lại phải sống lao đao cùng với vận
nước nổi trôi, như chính Toàn Nhật đã ghi lại trong một
bài phú:
Ở
không nơi; về không chốn
Than
rằng biển khổ rất mênh mông
Lênh
đênh chẳng khác thuyền trôi
biết
đâu dừng đỗ
Lãng
đãng cũng như bèo nổi
Theo
đó hợp tan
Công
đã đi tu
Phận
muối dưa lại không an phận
Lòng
toan học đạo,
Thân
bả bô chẳng đặng dung thân
Ở
không nơi, phải tạm ở đình
Đình
vốn rộng trống sau trống trước
Quán
cũng lạ không vào ngụ quán
Quán
tuy nhiều, khó mượn khó toan
Đặng
gặp nơi nào
Cũng
nhờ chốn ấy
(Thơ
Bà Vãi)
Nhưng
tại sao một người như Toàn Nhật lại hết lòng ủng hộ
cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn? Vì Tây Sơn đã đánh đuổi
chúa Nguyễn ở Đàng trong, đã xóa tên hai tập đoàn phong
kiến là chúa Trịnh và vua Lê ở Đàng ngoài, đặc biệt là
đã oanh liệt đánh tan tành hai cuộc xâm lăng của nhà Thanh
ở phương Bắc và Xiêm la ở phương Nam chăng?
Nếu
chỉ hùng mạnh về quân sự không thì chưa đủ để thuyết
phục một nhà trí thức lỗi lạc như Toàn Nhật, để Toàn
Nhật có thể ủng hộ cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn. Vì sao?
Vì lý do đơn giản là xưa nay lịch sử đã từng chứng minh
rằng, một chế độ chỉ biết đề cao võ trị thì chế độ
đó luôn luôn chuyên quyền và độc đoán và nạn nhân thê
thảm cho sự chuyên quyền và độc đoán này chính là người
dân vô tội chứ không ai khác.
Vậy
chắc chắn triều đại Tây Sơn ngoài sức mạnh về quân sự
ra thì phải còn có những chính sách nào đó rất phù hợp
với lòng dân nên một trí thức như Toàn Nhật mới ủng hộ
một cách tích cực như vậy chăng?
Cố
học giả Trần Trọng Kim, đã nhận định về con người của
Quang Trung Nguyễn Huệ như thế này:
“Vua
Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược
mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc
trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học.
Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Thời Nhiệm,
Phan Huy Ích, đều được trọng dụng và nhất là đối với
một người xử sĩ như Nguyễn Thiếp thì thật là khác thường.
Nguyễn
Thiếp, tức là Khải Chuyên hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu
là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên thành, thuộc huyện La
Sơn, Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên
tiên sinh hay là La Sơn Phu tử. Vua Quang Trung từ khi đem quân
ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiếp, đã mấy lần
cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ
và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đăng cực, lại mấy
lần cho người đến mời ông, ông có đến bái yết và khuyên
vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin
về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ
cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong
nước thường theo ý mà Nguyễn Thiếp đã trình bày”.[9]
Đó
là chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với giới trí
thức, còn đối với người dân thì sao? Người dân nước
ta ở nửa cuối thế kỷ 18 thì hầu hết đều sống bằng
nghề nông, lao động suốt ngày nhưng vẫn nghèo khổ. Vậy
chính sách của nhà nước Tây Sơn đối với những người
nghèo khổ này thì sao? Những người Tây phương có mặt từ
những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nói rằng,
khẩu hiệu của nghĩa quân là “hãy tước đoạt của ngưởi
giàu chia cho người nghèo”.
“Bọn
Nguyễn Nhạc muốn đem ánh sáng công lý soi tới chúng dân
và giải thoát khỏi gông cùm của nhà vua, các quan và các
cố vấn. Bọn chúng tuyên truyền tính bình đẳng trong mọi
địa hạt. Trung thành với thuyết tân xã hội, bọn Nguyễn
Nhạc tước đoạt tài sản của các quan thống trị giàu có
và đem chia cho dân cùng đinh khố rách”[10].
Như
vậy, chắc chắn những tác phẩm của Toàn Nhật, đặc biệt
là Hứa sử truyện vãn đã được Toàn Nhật viết ra để
hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa do chính những người từ giới
nông dân nghèo khổ ấy cầm đầu. Bởi thế, theo tác giả
Toàn Nhật Quang Đài thì: “Thể hiện rõ nét bản lĩnh tư
duy của nhân dân ta trước những vấn đề trọng đại của
đất nước. Chúng không phải là những luận đề cũ rích
vay mượn từ những sách vở Trung Quốc, không có một liên
quan thiết yếu đến đời sống dân tộc.
Trái
lại, chúng là những vấn đề nóng bỏng của thời đại
tác giả sống, đòi hỏi phải có những giải đáp thích đáng.
Cho nên, chúng không cần phải bao bọc trong những câu thơ
óng chuốt, trưởng giả, đầy những điển cố chữ nghĩa,
sự tích xuất phát từ dòng văn hoá bác học và ít nhiều
mang tính ngoại lai. Thay vào đó, chúng được trình bày một
cách thẳng thắn, cố nhiên là dưới hình thức truyện vãn,
qua những lời thơ bình dị, trong sáng đến nỗi giống như
lời nói hằng ngày của nhân dân. Do thế, trên toàn bộ, Hứa
sử truyện vãn đã thể hiện sức sống dạt dào đang cuồn
cuộn dâng lên của dân tộc ta trong thời kỳ nổ ra cuộc
cách mạng Tây Sơn do nhà anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lãnh
đạo lần đầu tiên đánh thắng hai thế lực quân chủ lực
kỳ phản động trong nước và thế lực xâm lược ngoại
bang”.[11]
Nhưng
với Toàn Nhật, một người được nuôi dưỡng từ truyền
thống tư tưởng của Phật giáo, thì chỉ công bằng trên
bình diện xã hội không chưa đủ mà còn phải bình đẳng
và công bằng ngay cả trên phương diện nhân phẩm của mỗi
cá nhân con người nữa. Như vấn đề gọi là chính thống
và ngụy triều sau đây chẳng hạn:
“Những
người làm quốc sư nước Tàu và nước ta thường chia những
nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là
đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được
kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn
yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính
thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, là sự thoán
đạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng
núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại
chủng vào chiến nước làm vua thì cũng cho là ngụy triều”.[12]
Như
vậy, nhà Tây Sơn được xem là kẻ ở rừng núi, ở biên
địa, là ngoại chủng vào cướp nước làm vua nên sử nhà
Nguyễn đã gọi là Ngụy Tây Sơn.
Thế
nào là chính thống và thế nào là ngụy triều? Và ai là kẻ
có thẩm quyền đứng ra để bảo rằng triều đại này là
chính thống và triều đại kia là ngụy triều là không chính
thống? Và có cái gì để bảo chứng rằng những người được
sinh ra từ giới thống trị, sanh ra ở vùng trung nguyên là
hơn kẻ sanh ra ở vùng biên địa hay thôn dã quê mùa?
“Sự
sanh trưởng không làm cho con người được liệt vào giai cấp
Bà la môn hay bị loại ra khỏi giai cấp này.
Chính
nếp sống hàng ngày tạo ra người nông dân, thương gia hay
nô bộc.
Nếp
sống hàng ngày tạo ra hạng trộm cắp, binh sĩ, tu sĩ hay vua
chúa.
Và
thông điệp này cứ được nhắc đi nhắc lại mãi trong giáo
Pháp của Đức Phật:
“Là
cung đình không phải do sanh trưởng là Bà la môn không phải
do sanh trưởng do hành động, người này là cung đình do hành
động người này là Bà la môn (Sutta Nipàta –Vasalasutta).
Từ
lời khẳng định này của Phật giáo ta mới thấy rằng cái
gọi là chính thống cũng như không chính thống, gọi là ngụy
triều hay chính triều chỉ là trò bày đặt của giai cấp
thống trị mà thôi chứ chẳng có bất cứ một giá trị đích
thực nào cả.
Vậy
bây giờ ta thử xem Thiền sư Toàn Nhật đã phải làm gì để
đập tan cái lý luận bất công này mà hỗ trợ cho cuộc cách
mạng Tây Sơn? Những người được sanh ra từ nơi thôn dã
quê mùa?
Tác
giả Lê Mạnh Thát viết: “Thế thì Hứa sử truyện vãn có
thể được Toàn Nhật “san bổ” trước những năm 1798.
Phải chăng nó ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận
chính trị phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại
xâm của Quang Trung? Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng
nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế không
thừa nhận quyền uy chính thống của Vua Lê? Thậm chí, nếu
“Vãn Hứa sử”, tiền thân của Hứa sử truyện vãn lưu
hành trước Toàn Nhật đã có nội dung chống tôn quân khi
Hứa sử truyện vãn, thế phải chăng tiền thân ấy đã cung
ứng phần nào lý luận cho việc lên ngôi của Nguyễn Nhạc,
chứ không phải chỉ đợi đến Quang Trung?”
Cũng
theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì Hứa sử truyện vãn, ngoài những
vấn đề về tư tưởng Phật giáo ra, thì nổi bật nhất
có ba chủ đề chính, nhưng giáo sư cho rằng luận đề thứ
nhất mới là luận đề quan trọng nhất vì nó đã “tiến
công đập tan chủ nghĩa tôn quân chuyên chế và cực đoan,
phá vỡ cái trật tự phong kiến quân - sư - phụ hàng ngàn
năm đè nặng lên đầu lên cổ nhân dân. Đó là thầy quan
trọng hơn cả vua và cha mẹ. Dưới hình thức lời phán của
Diêm vương, Hứa sử truyện vãn đã nêu câu hỏi:
Tội
ai bằng Hoàng Tử Anh
Giết
cha rồi lại tung hoành hung hăng
Xét
mình nghịch ác chẳng an
Quy
y niệm Phật ba đàng thoát qua
Xà
vương giết hại vua cha
Quy
y niệm Phật đặng tha tội đày
Có
một sự tội phụ thầy
Phật
không cứu đặng, ta rầy khó bênh
Hứa
sử đứng lên xin hỏi:
Thế
thì thực sự thầy quan trọng hơn vua và cha mẹ sao?
Và
như quân phụ sư ân
Trong
đời đạo thiệt bằng cân cao dày
Làm
tôi buông thói thẳng ngay
Làm
con không thảo giết đày vua cha
Lẽ
thời tội ấy không tha
Quy
y sao lại thoát ra tội dày
Đệ
tử nếu phụ ân thầy
Phật
không cứu đặng, lịnh này chẳng tha
Vậy
thời thầy hơn vua cha
Tôi
nghe lẽ ấy lòng mà chưa thông
Để
trả lời câu hỏi của Hứa sử, một lần nữa dưới hình
thức lời phán của Diêm vương, Hứa sử truyện vãn đã đưa
ra lý lẽ sau:
Trong
đời muôn việc không thầy
Thế
gian thường nói đố mày làm nên
Tớ
đương nghĩa trả ơn đền
Nếu
mà phụ bạc tội dường hằng sa
Tớ
thầy, tôi chúa, con cha
Trong
đời ba ấy rất là trọng thay
Sanh
con bằng chẳng có thầy
Lấy
ai giáo hóa cho rầy nên thân
Chẳng
noi đạo đức nghĩa nhân
Làm
đường nghịch ác vong thân làm gì
Ví
như tẩu nhục hành thi
Làm
chi nên chuyện kể thì là con
Cho
hay khắc chấn gia môn
Chói
danh hai họ tiếng đồn muôn thu
Cũng
là tiết nghĩa phò vua
Trạc
dân trí chúa cơ đồ đặng yên
Vua
cùng cha mẹ rõ ràng
Các
điều thành tựu nhờ ơn có thầy
Rõ
ràng xuất phát từ quan điểm dân chủ tự phát của nhân
dân, Toàn Nhật đã tiếp thu những yếu tố dân chủ tự phát
đó và triển khai chúng thành một lý tưởng dân chủ có cơ
sở lý luận, tiến công trực diện vào lập trường tôn quân
chuyên chế và cực đoan do các thế lực phong kiến suy tàn
cố dựng lên. Có thể nói, đây là lần đầu tiên và có
lẽ duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta,
một tác phẩm văn học dám nêu lên một lý thuyết dân chủ,
dám thẳng thừng tuyên bố không úp mở: “Vậy thời thầy
hơn vua, cha”. Vua là thiên tử, là con trời: “Khắp dưới
gầm trời, không đâu không là đất của vua, dân ở khắp
đất không ai không là bề tôi của vua”. Tuyên ngôn phong
kiến đã dõng dạc xác định quyền uy tối thượng và bất
khả xâm phạm của thiên tử là thế, của vua là thế. Cho
nên, nói rằng có một lớp người nào đó hơn cả vua nữa
là phạm thượng, là xúc phạm đến chính cốt lõi, đến
chính điểm huyệt sống chết của vấn đề, cần phải loại
trừ không chút khoan nhượng, Toàn Nhật đã mạnh mẽ lên
tiếng minh định cái trật tự phong kiến quân - sư - phụ
bất di bất dịch có thể bị đả đảo, để sư quan trọng,
thiết yếu hơn quân và phụ, bởi vì:
Trong
đời muôn việc không thầy
Thế
gian thường nói đố mày làm nên
Và
tiếng nói đả đảo đó không phải xuất phát từ những
truyền thống tư tưởng ngoại lai, từ lý thuyết Khổng Mạnh.
Trái lại, nó nổi lên từ kho tàng trí tuệ tích luỹ những
kinh nghiệm và nhận thức của dân tộc và nhân dân. Trên
cơ sở nhận thức “Không thầy đố mày làm nên”, với
nội dung tất yếu giới hạn của nó, Toàn Nhật đã phát
triển thành một luận đề bẽ gãy cái trật tự quân - sư
- phụ, để đẩy lùi cái bóng ma gian ác của trật tự ấy,
mà vào thời Toàn Nhật đã trở thành rữa nát và cực kỳ
phản động, đang cản trỡ bước tiến của dân tộc, phủ
lên cuộc sống của nhân dân một màn đau thương thống khổ.
Hãy
tưởng tượng lại cái thời kỳ mà vua chúa còn hoàn toàn
nắm trong tay quyền sinh sát đối với mọi người dân, và
khi mọi người mặc nhiên nhìn nhận sự kiện ấy như một
tất yếu không phải bàn cãi, ta mới thấy hết tính vĩ đại
hùng tráng của một tiếng nói Toàn Nhật.
Cũng
hãy tưởng tượng lại cái thời kỳ khi ý thức hệ và nền
giáo dục chính thống chỉ tập trung nhồi sọ cho người ta
cái chủ thuyết tôn quân cực đoan, ta mới thấy hết bản
lĩnh dám nghĩ dám làm của dân tộc ta, thể hiện qua những
con người như Toàn Nhật. Mà Toàn Nhật có được cái tầm
vóc tư tưởng vĩ đại ấy, có được cái bản lĩnh dám nghĩ
dám làm ấy, đó là ông đã biết bám vào nhân dân, lấy cuộc
sống, kinh nghiệm, nhận thức và tình cảm của dân tộc,
của nhân dân là chủ để thể hiện của mình, mà giải quyết
những vấn đề do thời đại đặt ra.
Ông
đã tập tan cái trật tự phong kiến quân - sư - phụ hàng
ngàn năm đè nặng lên ý thức của nhân dân, không bằng những
viện dẫn từ sách vở ngoại lai, trái lại bằng chính những
tri thức, kinh nghiệm và tình cảm của dân tộc, của nhân
dân kết tinh trong những câu ca dao tục ngữ. Dựa vào và khai
thác một cách có chọn lọc kho tàng quý giá vô tận ấy,
Toàn Nhật đã làm nổi bật thêm cái chân lý sáng ngời là
đứng trong hàng ngũ nhân dân, người ta càng trở nên to lớn
theo kích thước vĩ đại của nhân dân trong lịch sử, càng
trở nên tin tường vào trí tuệ tuyệt vời, vào tình cảm
trong sáng và vào sức mạnh vô địch của họ”.
(…)
Do thế, tư tưởng dân chủ của Toàn Nhật là một điểm
son trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Lần đầu tiên nhân
dân ta dám công khai nghĩ tới và tuyên bố rằng vua không phải
là vị tối thượng của nước, có quyền uy tuyệt đối với
mọi người.[13]
Nếu
đã gần hai thế kỷ qua, những người làm công tác nghiên
cứu văn học ở nước ta đã “không một lần tên Toàn Nhật
được nhắc tới, không bất kỳ một dòng nào dành cho tác
phẩm của ông” thì những lời đánh giá trên của giáo sư
Lê Mạnh Thát theo tôi, là đã đủ để chuộc lại phần nào
lỗi lầm của chúng ta, những thế hệ sau đối với Toàn
Nhật vậy.
Nhưng
nếu quả đúng là Toàn Nhật viết Hứa sử truyện vãn là
để “nhằm đáp ứng những yêu cầu lý luận chính trị
phục vụ cho sự nghiệp xưng đế và chống ngoại xâm của
Quang Trung? Với lý thuyết chống tôn quân, phải chăng
nó đã gián tiếp biện minh cho việc Quang Trung xưng đế và
không cần thừa nhận quyền uy của vua Lê” như sự nhận
định của tác giả Toàn Nhật Quang Đài thì theo tôi không
chỉ những người Phật tử Việt Nam hiện tại mà cả mai
sau nữa, phải học lấy bài học mà Toàn Nhật, với tư cách
là một thiền sư đã ủng hộ cuộc cách mạng Tây Sơn như
thế nào? Nghĩa là Toàn Nhật không hề xưng tụng hay tôn sùng
cá nhân của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay Quang Trung Nguyễn Huệ
mà Toàn Nhật chỉ ủng hộ chính sách đúng đắn có
lợi cho dân cho nước mà cuộc cách mạng Tây Sơn đã đề
ra mà thôi.
Khi
một cá nhân hay một tổ chức chính trị nào đó đề ra được
một chính sách phù hợp với lòng dân thì nhất định cá
nhân ấy, tổ chức ấy đương nhiên xứng đáng đứng ra đại
diện cho đất nước chứ không nhất định là họ đã được
sanh ra từ giai cấp nào, họ đang ở trung nguyên hay nơi quê
mùa thôn dã.
Trong
bối cảnh chính trị và xã hội vào thời của Toàn Nhật
ở nửa cuối thế kỷ 18 thì người đó nhất định không
phải là Lê Chiêu Thống, mặc dù ông này được xem là “chính
thống” theo quan điểm của cái gọi là “quốc sử” của
mốt số nhà sử học nước ta cũng như của Trung Quốc, mà
người có đủ điều kiện đứng ra đại diện cho đất nước
lúc đó đương nhiên là Quang Trung Nguyễn Huệ, dù Nguyễn
Huệ không phải “chính thống” cũng như không sanh ra ở
Trung nguyên mà lại sanh ra tại một nơi xa xôi hẻo lánh ở
tận nơi núi rừng Tây Sơn.
Nhưng
con người được sinh ra tại nơi quê mùa ấy lại được
một sử gia viết là: “… còn như Nguyễn Huệ là vua Thấi
tổ của nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước giúp anh bốn lần
vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai
vạn quân hùm beo của Xiêm La, chỉ còn được mấy trăm người
lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh,
tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng. Ấy là
có đủ sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa.
Nhưng
vì nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có
tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh
nối nhau mà chuyên quyền cho đến nỗi thành ra tán loạn.
Dẫu thế măc lòng, khi Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi,
không nỡ dứt nhà Lê, đặt giám quốc để giữ tông miếu
tiền triều; như thế thì cách ở với nhà Lê không lấy gì
làm bạc.
Sau
vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cứu bên
Tàu, vua nhà Thanh nhân dịp ấy mượng tiếng cứu nhà Lê,
để lấy nước Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng
Long. Bấy giờ cứ theo mật dụ của vua nhà Thanh, thì nước
Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn, nhưng kỳ thật đã vào
tay người Tàu rồi.
Vậy
nước mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới
lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường
chính chính đem quân ra đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu,
tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cá ấn tín mà chạy,
làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng nhà Thanh phải
thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công
nào lẫm liệt như vậy.
Và
đánh đuổi người Tàu đi rồi lấy nước lại mà làm vua
thì có điều gì mà trái đạo? Vậy lẽ gì mà gọi là nguỵ
triều?”[14]
Nhưng
Toàn Nhật biết rằng triều đại nào rồi cũng sẽ qua đi,
kể cả những triều đại được ca tụng nhất trong lịch
sử của loài người xua nay:
Lợi
danh tợ bọt nước xao
Hán
Đường Triệu Tống thì nào thấy đâu?
(Xuất
gia vãn)
Triều
đại Tây Sơn dù được ca ngợi là “Bách chiến bách thắng”
là “vô địch” thì cũng chỉ tồn không đầy nữa thế
kỷ, nghĩa là không triều đại nào là “muôn năm” hết.
Bởi
vậy, là một tư tưởng gia của Phật giáo, nên Toàn Nhật
ý thức được rằng con đường đi của Phật giáo là: “Phật
giáo Việt Nam không gắn bó tuyệt đối với triều đại nào,
dù triều đại đó do Phật giáo dựng lên hay lãnh đạo. Phật
giáo chỉ gắn bó và trung thành với quyền lợi dân tộc,
quyền lợi của dân chúng mà thôi”.[15]
Chính
đó là lý do vì sao Toàn Nhật ủng hộ cho cuộc cách mạng
Tây Sơn mà không hề ca tụng bất cứ một cá nhân nào trong
phong trào ấy, dù đó là cá nhân của Nguyễn Nhạc hay Nguyễn
Huệ.
Dù
không trực tiếp nhắc gì đến cuộc cách mạng Pháp 1789,
nhưng khi đề cập đến tiểu luận Sa di oai nghi tăng chú giảo
ngụy tự tiểu thiên của Toàn Nhật, Lê Mạnh Thát có viết
rằng:
“Phải
chăng nó đáp ứng lại xu thế chung của lịch sử thế giới
thời bây giờ, thể hiện một xu thế đi tìm ánh sáng, đi
tìm chân lý, dựa trên khả năng hiểu biết và tìm kiếm của
con người, chứ không còn tin tưởng một cách mù quáng vào
những gì do truyền thống hay những quyền uy khác truyền lại”.[16]
Từ
những nhận định trên của tác giả Toàn Nhật Quang Đài,
ta thử làm một chút so sánh thì sẽ thấy có một sự trùng
hợp lạ lùng giữa cuộc cách mạng Pháp 1789 và tình hình
chính trị cũng như xã hội ở nước ta vào nửa cuối thế
kỷ 18.
Nếu
các vua Louis 14 và 15 đã giam hãm xã hội Pháp trong 4 vách tường
đến vua Louis 16 thì người dân của nước Pháp không thể
nào chịu đựng sự giam hãm và kiềm kẹp này được nữa,
nên vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 đã đồng loạt kéo đến đập
phá tan tành nhà ngục Bastille, nhà ngục này trong nhiều thế
kỷ đã là nơi giam giữ những người yêu nước dám lên tiếng
chống đối chế độ, và là tiêu biểu cho chính sách chuyên
chế và hà khắc của chế độ phong kiến Pháp.
Cũng
xấp xỉ vào khoảng thời gian đó, Lê Mạnh Thát viết:
“…
Nước ta vào thời Toàn Nhật cũng đang đứng trước một
tình thế hết sức hiểm nguy. Bên trong thì các thế lực phong
kiến phản động đang suy tàn cấu xé tiêu diệt lẫn nhau
một cách tàn nhẫn trên thống khổ tuyệt vọng của nhân
dân. Bên ngoài thì các thế lực ngoại bang đang lăm le và
thực sư lợi dụng tình hình đó của dân tộc để thực
hiện những mưu đồ xâm lược nham hiểm của chúng. Chính
trong tình thế đó của đất nước, mà hàng ngày đã xảy
ra những cảnh:
Non
chen ngù giáo đỏ cây
Mác
hoa đường tuyết, tên bay mát trời
Thảm
thương chật đất phơi thây
Đỏ
hoe máu rắc đòi nơi dầm dề.
(…)
Chúng
dân lìa bỏ xóm giềng
Chằm
non trốn núp của tiền đoái chi
Mắc
cơn lửa dữ một kỳ
Đá
kia ngọc nọ đều thì cháy leo
(Hứa
sử truyện vãn)
Xảy
ra nhan nhản khắp nơi. Nếu không có một cuộc khởi nghĩa
nông dân vĩ đại dưới sự lãnh đạo thiên tài của Nguyễn
Huệ bùng nổ, thì đất nước tưởng chừng như không còn
có cơ sống sót. Nhưng làm sao một sự việc như thế có thể
quan niệm được, khi mà những người như Toàn Nhật xuất
thân từ nhân dân đã nêu cao ngọn cờ chủ nghĩa nhân đạo
chiến đấu, đã nêu cao lý tưởng đạo đức lao động, kiên
quyết đứng về phía những người bị áp bức, nói lên tâm
tình và nguyện vọng giải phóng của họ. Do thế, sẽ không
có gì đáng ngạc nhiên khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn sau khi
giành chính quyền trong cả nước về tay nông dân, đã cùng
một lúc đánh bại được hai thế lực phong kiến phản động
trong nước và phong kiến ngoại bang xâm lược, tạo nên một
khí thế hào hùng, đưa dân tộc lên một đỉnh cao của thời
đại mới”.[17]
Nhưng
đằng sau bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng đều được
dưỡng bồi bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng nào
đó. Nếu đỉnh cao của cuộc cách mạng Pháp là việc nhân
dân nổi dậy phá ngục Bastille vào năm 1789 thì trước đó
người dân cũng đã thấm nhuần những tư tưởng về tự
do, về dân chủ và nhân quyền của các tư tưởng gia
như Voltare, Rousseau, Montesquieu…Cùng thế, đỉnh cao của cuộc
cách mạng Tây Sơn là cuộc đánh bại đoàn quân xâm lược
khổng lồ của phong kiến phương Bắc cũng vào năm 1789 cũng
không ra ngoài thông lệ đó, nghĩa là cũng được nuôi dưỡng
bởi một sức mạnh tư tưởng trầm lặng từ truyền thống
của dân tộc Việt:
“Trong
vòng hơn 300 năm trở lại đây, Cư Trần lạc đạo Phú và
Đắc thú lâm truyền thành đạo ca đã được in lại nhiều
lần. Điều này chứng tỏ tư tưởng Cư Trần lạc đạo vẫn
tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật giáo cũng
như đất nước đang chuyển mình qua một giai đoạn mới.
Giá trị lý luận của Cư Trần lạc đạo từ đó vẫn còn
có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế
kỷ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt
của quân và dân Tây Sơn. Trong đó nổi bật những khuôn mặt
Phật tử nhận mình là người kế thừa truyền thống Trúc
Lâm như binh bộ Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thời Nhiệm
là Hải Lượng Thiền sư, Hương Lĩnh Bá tiến sĩ Nguyễn Đăng
Sĩ là Thiền sư Hải Âu…”[18].
Lời
dặn dò sau đây của Quang Trung Nguyễn Huệ với Ngô Thời
Nhiệm dưới chân núi Tam Điệp càng chứng tỏ sự nhận định
trên của giáo sư Lê Mạnh Thát là hoàn toàn có cơ sở:
“Vua
Quang Trung cuời mà nói rằng: “Chúng nó sang phen này là mua
cái chết đó thôi. Ta ra Bắc chuyến này đích thân coi việc
quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng
qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn
gấp 10 lần nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất
chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì chỉ
đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ làm
thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Ngô Thời Nhiệm
dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh, Đợi
mười năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi,
thì ta không cần phải sợ chúng nữa”.[19]
Và
ta vẫn còn nhớ là ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (1789) khi
đại quân của Thanh triều dưới sự chỉ huy của Tổng đốc
lưỡng quản là Tôn Sĩ Nghị vượt ải Nam Quan tiến
về Thăng Long thì tất cả tướng lãnh Tây Sơn ở Bắc Hà
bây giờ đều chủ trương đem quân chặn đánh với lý do
suy diễn của họ là “lấy quân nghỉ ngơi mà đánh quân
mệt nhọc” nhưng ý kiến của Ngô Thời Nhiệm thì lại khác
“Toàn quân rút lui, không nên mất một mũi tên, cho nó ngủ
trọ một đêm rồi mai lại đuổi chúng nó đi” và ý kiến
của Ngô Thời Nhiệm đã được Ngô Văn Sở và các tướng
lãnh Tây Sơn chấp thuận. Nhờ ý kiến đó mà đại quân của
Tây Sơn đã rút lui một cách an toàn về núi Tam Điệp, để
tạo điều kiện cho Quang Trung Nguyễn Huệ thần tốc tiến
quân ra giải phóng Thăng Long chưa đầy 10 ngày.
Như
vậy là ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm ở đời Trần
qua Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời Nhiệm đối với chiến
thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của triều đình Tây Sơn là hiển
nhiên, không cần phải bàn cãi gì thêm nữa.
Nhưng
sau chiến thắng oanh liệt này thì lịch sử của dân tộc
một lần nữa lại bị dang dở bởi sự ra đi đột ngột
của Quang Trung Nguyễn Huệ. Tác giả Toàn Nhật Quang Đài nói
lên sự luyến tiếc cho đất nước cũng như cho giới trí
thức như Toàn Nhật đã lỡ mất cơ hội để đưa dân tộc
tiến lên cùng với thế kỷ của ánh sáng:
“Với
phong cách và tinh thần làm việc đó, đúng ra bước sang thế
kỷ 19 dân tộc ta phải bước lên vũ đài khoa học thế giới.
Thế mà, với sự ngóc đầu dậy của một hệ ý thức phong
kiến cực kỳ phản động, phong cách và tinh thần làm việc
của Toàn Nhật không có cơ hội phát triển và kế thừa,
để cuối cùng đất nước ta đã rơi vào tay bọn xâm lược”.
Một
nhà thơ hàng đầu của Việt Nam ở nửa thế kỷ 20 cũng chia
xẻ nỗi luyến tiếc này đối với cái chết của Quang Trung
Nguyễn Huệ và sự dở dang của lịch sử dân tộc:
Thôi
xin người đừng nức nở
Nếu
sau này đường dang dở
Những
ai về
Ôm
mãi mộng người đi
(Nguyễn
Huệ - Mưa nguồn)
Toàn
Nhật còn viết một câu chuyện tình tên là Tống Vương truyện.
Nội dung kể lại câu chuyện tình giữa chàng thái tử nước
Tống đem lòng yêu một người con gái, con của một ngư ông
nghèo khổ bên bờ sông Vị Thuỷ. Nhưng trước khi đến được
với người con gái chài lưới ở dòng sông Vị Thủy đó,
thì chàng Thái tử đa tình này đã phải từ chối biết bao
nhiêu là công chúa xinh đẹp ở các nước láng giềng muốn
chiếm được trái tim của chàng:
Nước
Tần nước Tấn
Nước
Sở nước Tề
Toàn
những tiên phi
Cùng
nàng công chúa
Nước
Lương nước Sở
Nước
Trịnh nước Tuỳ
Toàn
những tiên phi
Cùng
nàng quế liễu
Nước
Trần nước Triệu
Nước
Hán nước Đường
Nhưng
mà:
Thái
tử chẳng ngó
Mặt
ủ dàu dàu
Triều
đình xem ai nấy lắc đầu
Ghê
mặt thấy đều thì mất vía
Ở
trần gian không có người con gái nào vừa lòng Thái tử, nên
cuối cùng vua cha phải cầu cứu Ngọc Hoàng:
Tống
Vương rằng rầy con đã kén chê
Cha
cũng phải cầu tiên thượng giới
Nhưng
sau khi:
Bước
lên lầu rồng
Xem
năm tiên nữ
Xem
rồi tự sự
Bèn
trở vào đền
Tâu
vua cha duyên chẳng xứng duyên
Xin
cha chớ ép con sự ấy
Nhưng
rồi một hôm:
Ngày
giao sự ước chơi vị thuỷ
Thì
trời xui xảy gặp ngư ông
Chèo
thuyền đánh cá giữa dòng
Thái
tử lại gần thuyền ngư phủ
Sau
khi gặp người con gái của người chài lưới nghèo khổ thì
trái tim Thái tử đã thực sự rung động:
Mới
trở về nhà
Tưởng
nàng Thụy nữ
Ta
muốn cùng thưa vương phụ
Lại
sợ có triều đình
Lo
lượng một mình
Sợ
người quở phạt
Khi
nghe tin Thái tử đem lòng yêu thương người con gái của người
chài lưới nghèo khổ, nhà vua tức giận mà than thở:
Nhà
sinh con vô phúc
Nên
rối sửa số căn
Con
chư hầu các nước thì chê
Mà
khiến lấy con nhà thuyền rớ
Nhưng
lòng chàng Thái tử đã quyết cùng với sự thương con của
hoàng hậu, nên cuối cùng nhà vua cũng phải miễn cưỡng đồng
ý.
Rồi
sau khi Thái tử và Thụy nữ, người con gái của người chài
lưới đẹp duyên cùng nhau thi vua cha thoái vị và nhường
ngôi cho Thái từ:
Sửa
sang chính sự
Ta
nay Thái tử
Nối
nghiệp trị ngôi
Nội
ngoại tề gia
Cùng
là ngư phụ
Quốc
lão nội triều
Cha
đà tác cao
Trước
xe sau gía
Hồi
đầu Phật Tổ
Thế
phát tu hành
Từ
đó:
Con
nối ngôi truyền đã tạo thanh
Muôn
đời để lưu danh thiên hạ.
Vậy
là để đến được với nàng con gái mình yêu Thái tử đã
phải đấu tranh quyết liệt mới có thể vượt qua những
công ước giả tạo của xã hội như giàu nghèo, tiện dân
hay quý tộc v.v… Nhưng tác giá Toàn Nhật Quang Đài với cái
nhìn của một sử gia đã nhận xét vì sao Toàn Nhật đã viết
Tống vương truyện:
“Vì
vậy, viết Tống vương truyện ca ngợi mối tình đẹp đẽ
giữa chàng Thái tử quyền quý với một nàng con gái con nhà
chài lưới, thực sự là ngợi ca những nét đẹp của cuộc
khởi nghĩa Tây Sơn, giải phóng những người bị áp bức,
tạo cơ hội cho họ lập nên những chiến công hiển hách,
những thành quả văn hoá xã hội rực rỡ. Từ chỗ áp bức
mà đứng lên, họ đã dành cho bản thân một địa vị xứng
đáng trong lịch sử dân tộc. Cũng như loài người. Tả lại:
một chàng Thái tử đi tìm một cô gái chài lưới, chính là
khắc họa việc kết hợp giữa lực lượng nông dân với
xu thế của thời đại để làm nên cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn vĩ đại”.[20]
Nhưng
nếu một người cầm bút mà chỉ biết có ca ngợi các thủ
lãnh nhà nước đương quyền, dù là nhà nước đó có được
lòng dân đi nữa, thì sự ca ngợi đó cũng chẳng có ý nghĩa
gì hết, nếu người cầm bút không vạch ra được một lý
thuyết, một hướng đi có lợi cho dân cho nước. Toàn Nhật
với tư cách là một nhà văn nhà thơ nhà tư tưởng của cuộc
cách mạng Tây Sơn và đồng thời cũng là một Thiền sư của
Phật giáo Việt Nam, Toàn Nhật biết mình phải làm gì để
hỗ trợ cho nhà nước Tây Sơn.
“Trong
lịch sử Phật giáo Việt Nam, ngoài Lý Trần thì chỉ ở thời
Tây Sơn những người Phật giáo mới một lần nữa đề cao
quan niệm sống thoát ly để nhập cuộc một cách mạnh mẽ
và hào hùng. Điều đó cũng không có gì lạ bởi thời đại
Tây Sơn đã có những con người điển hình như Ngô Thời
Nhiệm và Toàn Nhật”.[21]
Quan
điểm sống thoát ly để rồi nhập cuộc một cách mạnh mẽ
và hào hùng đó, nếu ở đời Lýa chỉ mới khởi đầu, phải
đợi đến thời Trần thì quan điểm sống đó mới được
áp dụng một cách triệt để:
“Cách
sống đó bắt buộc người ta phải vào đời nhưng phải vượt
lên cõi đời, vào đạo nhưng phải xuyên qua đời. Những
nhân vật chính trong các tác phẩm của Toàn Nhật như Hứa
sử truyện vãn, Tống vương truyện đều thể hiện quan niệm
sống đó của ông. Họ làm vua rồi họ đi tu, họ đi tu rồi
họ đứng ra làm tướng. Phải chăng Toàn Nhật muốn tìm về
nếp sống của các vua nhà Trần Việt Nam”.[22]
Bây
giờ người ta xem thử Toàn Nhật của thời Tây Sơn đã “muốn
tìm về nếp sống của các vua đời Trần” như thế nào
trong các tác phầm của ông trước hết là Kinh Kim Cang.
Trong
lời tựa cho Thiền Tông chỉ Nam, Trần Thái Tông, vị vua khai
sáng ra triều đại nhà Trần có viết rằng: “Đến các kinh
điển của đại giáo thì không kinh nào là không nghiên cứu.
Trẫm thường đọc Kinh Kim Cang đến câu “ủng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” vừa gấp sách lại ngâm nga bỗng nhiên giác
ngộ…” thì lập tức sau đó Kinh Kim Cang đã trở thành quyển
kinh căn bản nhất của Phật giáo đời Trần. Điều đó ta
có thể dễ dàng nhận thấy khi đọc Cư Trần Lạc đạo phú
của vua Trần Nhân Tông hay bài phú vịnh chùa Hoa Yên của
Thiền sư Huyền Quang.
Toàn
Nhật ở thời Tây Sơn cũng thế, không những đã viết riêng
một tác phẩm có tên là Bát nhã ngộ đạo văn, trong đó
có những câu vô cùng hoành tráng, hoành tráng chẳng khác gì
tiếng sấm chẻ:
Cõi
Nam đà mở rộng cửa lầu
Đèn
trí tuệ hào quang chói chói
Thuyền
Bát nhã nghênh ngang bốn cõi
Nước
ma ha rữa sạch ba lòng
Hoặc
là:
Cửa
Bát nhã vào ra thong thả
Trống
đại hùng đà thu ý mã
Chuông
Linh sơn hãy tỏa tâm viên
Ngọc
mâu ni há dễ khinh tuyền
Kinh
Bạch tự dám đâm vọng tiết
Những
câu sau đây trong Tham Thiền vãn của Toàn Nhật:
Bạn
thuyền Bát nhã hôm mai
Xem
hoa lập cảnh dồi mài Kim Cang
Hay:
Một
nồi hương huệ đất xông
Ba
biến kinh lòng thường niệm hôm mai
Khiến
ta nhớ đến những câu:
Khuya
sớm sáng chong đèn Bát nhã
Hôm
mai rửa sạch nước ma ha
của
Huyền Quang Thiền sư ở đời Trần ở thế kỷ 13.
Và
cũng như vua Trần Thái Tông nhờ đọc Kinh Kim Cang mà giác
ngộ thì Toàn Nhật chắc cũng như vậy, nghĩa là cũng nhờ
thấy lẽ sắc không của Bát nhã mà ngộ đạo, như Toàn Nhật
đã ghi lại trong một bài thơ bằng chữ Hán:
Trần
duyên đoạn hậu tự tiêu dung
Thanh
tịnh phương tư sắc thị không
Phật
tức tâm hề tâm tức Phật
Thanh
Son chỉ tại bạch vân trung
(Trung
niên xuất gia)
Lê
Mạnh Thát dịch:
Duyên
đời đã dứt tự thong dong
Thanh
tịnh phương tri sắc thị không
Phật
tức lòng chừ lòng tức Phật
Ngay
trong mây trắng núi xanh rờn
Và
mặc dù chỉ là viết lại hành trang của Lục Tổ Huệ Năng,
nhưng chúng ta phải hiểu rằng Toàn Nhật cũng xem Kinh Kim Cang
là quyển kinh căn bản nhất để đưa con người đến chân
trời giác ngộ như vua Trần Thái Tông của đời Trần:
Bây
giờ cảm động thiết tình
Nghe
câu sở tục tâm truyền Kim Cang
Trực
liền ngộ đặng linh quang
Diệu
xưa Phật Tổ thấy toàn chân như
Quan
điểm ấy càng rõ ràng hơn nữa khi trong Bát Nhã Ngộ Đạo
văn Toàn Nhật lặp lại:
Giảng
cho thông tứ cú Kim Cang
Thì
mới thấy bổn lai diện mục
Dưới
ảnh hưởng của những nhà trí thức lỗi lạc của thời
đại như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật thì rõ ràng Kinh Kim
Cang cũng trở thành quyển kinh được triều đình Tây Sơn
xem như quyển kinh quan trọng nhằm vạch ra một hướng đi
tinh thần cho dân tộc Việt, điều đó được thể hiện qua
việc Ngọc Hân công chúa tức Bắc cung Hoàng hậu của triều
đình Tây Sơn chủ trì việc thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm.
Hiện chùa Trúc Lâm ở Huế vẫn còn giữ gìn tấm thêu bằng
gấm này. Bởi vậy, xin được lập lại câu hỏi rất có
ý nghĩa của tác giả Toàn Nhật Quang Đài “Thái độ tôn
giáo của triều đình Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân
công chúa mới thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm chứ!”
Hỏi
tức là đã trả lời vậy.
Nhưng
ảnh hưởng mãnh liệt nhất tinh thần Phật giáo đời Trần
đối với Toàn Nhật vẫn là trong Hứa sử truyện vãn. Tôi
có cảm tưởng là khi viết tác phẩm này mục đích của Toàn
Nhật không gì khác hơn là nhằm giải thích hai tác phẩm quan
trọng nhất của đời Trần là bài tựa Thiền Tông chỉ Nam
của vua Trần Thái Tông và Cư Trần Lạc Đạo phú của vua
Trần Nhân Tông.
Trong
Thiền Tông chỉ nam, vua Trần Thái Tông đã nói lên nỗi ray
rứt cũng như đau khổ và dằn vặt của mình đối với công
danh sự nghiệp: “Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thời trước,
hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn
cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác”.
Nhưng
Quốc sư Trúc Lâm đã khuyên vua Trần Thái Tông rằng:
“Trong
núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lặng lẽ
mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ
tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm bên ngoài”
Nhưng
sau câu nói ấy, Quốc sư Trúc Lâm thấy nhà vua vẫn phân vân
lưỡng lự chưa chịu xuống núi, nên Quốc sư mới nói tiếp:
“Phàm
đã là bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ
làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm
lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ
hạ không về sao được! Duy chỉ có việc nghiên cứu nội
điển thì xin bệ hạ đừng chút xao lòng mà thôi”.
Chính
vì đời Trần đã “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn
của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của
mình” một cách triệt để, nên không có gì lạ trong hơn
một thế kỷ tồn tại, vương triều Trần không chỉ một
lần mà cả đến ba lần đánh bại đội quân xâm lược hung
hãn mà thời bấy giờ chỉ mới nghe nhắc đến Tartar (Thát
Đát) thôi thì đã lên cơn sốt rồi. Nhưng không chỉ mạnh
về mặt quân sự, mà trên mặt văn học tư tưởng cũng thế,
nghĩa là cũng “lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng
của mình” nên nền văn học đời Trần đã phát triển rực
rỡ. Dù bị kẻ ngoại xâm cũng như thiên tai địch họa phá
hủy rất nhiều, nhưng những gì còn lại của nền văn học
ấy vẫn tiếp tục nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho đến
ngày hôm nay. Bởi thế ta chẳng lấy gì làm lạ, vào những
năm cuối cùng của thế kỷ 20, một phần của nhân loại
đã nhận ra rằng, những ý thức hệ ngoại lai mà bấy lâu
nay họ tôn thờ thực sự chẳng giúp ích gì cho sự phát triển
của quốc gia họ cả, mà còn gây ra không biết bao là thống
khổ và hận thù cho dân tộc họ nữa.
Bởi
vậy, hơn bao giờ hết, cái hình bóng cô đơn heo hút của
“một lão Tăng sống trên núi hoang, xương gầy mặt võ, ăn
rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối,
lòng như mây nổi” trên núi Yên tử cách đây bảy thế kỷ
căn dặn nhà lãnh đạo của dân tộc Việt “phải lấy ý
muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng
của thiên hạ làm tấm lòng của mình” đã trở thành một
bức thông điệp khẩn thiết hơn bao giờ hết đối với dân
tộc Việt Nam trong lúc này.
Trong
Hứa sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật của thời Tây
Sơn, Đồng Vân, một vị quan bách chiến bách thắng đang trấn
giữ miền biên giới của nước Trung Quốc Việt Vương cùng
ám ảnh nỗi sầu muôn thuở ấy của kiếp người như Trần
Thái Tông của đời Trần:
Đời
tham cả lộc cao ngôi
Ví
như lá vược hớp mồi mắc câu
Tuổi
xanh khiến sớm bạc đầu
Phút
đau lại chết khổ sầu mà thôi
Và
Đồng Vân cũng đã vứt bỏ cả lộc cao ngôi bỏ vợ con lên
chùa xuất gia với thiền sư Mật Hạnh.
Khi
nghe tin Đồng Vân đã xuất gia, thì Triệu Tân bên nước láng
giềng liền ráo riết chuẩn bị xâm lăng:
Lệnh
truyền tướng tá các nha
Chỉnh
tu binh mã can qua sẵn sàng
Triệu
Tân mới cất binh sang
Ngựa
ăn chật nội quân hàn dãy non.
Chỉ
mới có giao tranh trận đầu quân của nước Trung Quốc Việt
vương đã thảm bại vì:
Triệu
Tân tài mạnh tột đời
Tướng
việt sa thế, rã rời chạy đi
Triệu
Tân sách mà huy kỳ
Trống
sáu reo đuổi ầm ỷ vang rân
Quân
việt rã chạy rần rần
Triệu
Tân chém tướng tưng bừng Đông Tây
Không
còn cách nào hơn, vua Việt vương đành phải cùng các quan
xa giá đến chùa để xin Đỗng Vân cứu nguy xã tắc.
Cũng
như Trần Thái Độ đã cùng với các quan trong triều lên tận
núi Yên Tử để xin vua Trần Thái Tông hãy vì xã tắc mà
xuống núi.
Trong
Thiền Tông chữ Nam, Trần Thái Độ đã thưa với Trần Thái
Tông:
“Vả
Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên mồ chưa khô, lời
trăn trối bên tai còn đó. Thế mà bệ hạ lại lánh gót ẩn
cư nơi núi rừng, để theo đuổi cái chí riêng của mình.
Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã vậy, nhưng còn
quốc gia xã tắc thì sao?”
Trong
Hứa sử truyện vãn, vua Việt Vương cũng đã nói với quan
Đỗng Vân những lời tương tự:
Vả
ông dũng lược ân oai
Triệu
Tân ni đã sợ tài xưa nay
Xin
ông phương tiện ra tay
Chống
đàn xã tắc khỏi ngày khuynh nguy
Đạo
là cứu độ từ bi
Nước
nghèo dân chết bỏ đi nỡ nào
Kìa
lời tục ngữ thường rao
Liền
giết một mèo, cứu chuột muôn con
Xin
ông đoái tưởng cựu ân
Ra
tay giúp nước cứu dân phen này
Sau
đó thiên sư Mật Hạnh, thầy của Đỗng Vân đã phải giải
thích mọi thắc mắc trong lòng của Đỗng Vân, vì Đỗng Vân
đang phân vân lưỡng lự là có nên tránh xa xã hội loạn
lạc đau khổ để đi tìm hạnh phúc riêng cho mình không?
Mật
Hạnh lời mới tỏ phân
Chúng
ta vì tưởng bốn ân tu hành
Gặp
cơn ác Đảng tung hoành
Dễ
ta đâu khá nỡ đành ngồi coi
Huống
thêm nghĩa cũ vua tôi
Mình
vàng hiểm trở xa xôi tìm vời
Phải
chi vũ lực tột đời
Cũng
ra giúp người thầy chẳng tiếc công
Vả
chăng quyền xảo thích trung
Bồ
Tát đa hạnh thiệt trong đạo này
Làm
sao mà đặng lợi người
Giúp
nước cứu đời cũng một việc tu.
Như
vậy là thiền sư Mật Hạnh đã bảo cho Đỗng Vân, đệ tử
của mình biết rằng “giúp dân cứu nước” mới mới là
việc quan trọng nhất của người xuất gia.
Một
sự thắc mắc nữa cũng không kém phần quan trọng là giới
sát. Nếu một người đã xuất gia mà tham dự chiến tranh
thì có phạm giới sát không?
Hãy
còn ngại việc sát sanh
Thôi
lại quỳ gối thưa trình bổn sư
Thầy
phân tôi đã hiệp cơ
Nhưng
mà còn ngại, hãy chưa yên tĩnh
Vả
như một sự sát sinh
Đầu
trong các giới, chẳng khinh thiệt thà
Dầu
kẽ tại gia xuất gia