Giới
thiệu
PHẨM
BỒ TÁT PHỔ HIỀN KHUYẾN PHÁT
TRONG
KINH PHÁP HOA
Thích
Thái Hòa
I
- Ý Nghĩa và Duyên Khởi:
Phẩm
nầy nói về hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền đối với
kinh Pháp Hoa.
Bồ
tát Phổ Hiền và vô số vị đại Bồ tát tháp tùng với
Ngài, khởi hành từ phương Đông đến núi Linh Thứu của
cõi Ta bà nầy để nghe Đức Phật Thích Ca nói Kinh Pháp Hoa
và phát nguyện hộ trì kinh nầy, để kinh được tồn tại
và quảng diễn ở nơi thế giới đầy dẫy năm sự dơ bẩn
nầy.
Theo
kinh Bi Hoa, Bồ tát Phổ Hiền là vị vương tử thứ tám của
Vua Vô Lượng Tịnh, ở thế giới Tán đề lam (Santīrana),
thuộc kiếp Thiện Trì. Vương tử tên là Amiga (A di cụ), gặp
thời đức Phật Bảo Tạng ra đời giáo hóa, Vương tử đã
đối trước Đức Phật Bảo Tạng phát khởi những đại
nguyện tu tập Đạo Bồ tát đại loại như sau:
- Con
nguyện ở ngay nơi thế giới bất tịnh mà tu tập Đạo Bồ
tát; lại con tu tập là để chuyển đổi mười ngàn thế
giới bất tịnh thành trang nghiêm, khiến cho mười ngàn thế
giới ấy thanh tịnh và trang nghiêm như thế giới Thanh hương
quang minh vô cấu, và cũng giáo hóa vô lượng Bồ tát, khiến
tâm họ đều thanh tịnh, không còn phiền não cấu uế, hướng
tâm đến Đại thừa, khiến thế giới của con toàn là những
vị như vậy, sau đó con mới thành bậc Vô thượng giác.
- Con
nguyện lúc tu hành Đạo Bồ tát, hạnh nguyện của con sẽ
vượt hẳn đối với các hạnh nguyện của các vị Bồ tát
khác.
- Con
nguyện ngồi yên lặng bảy năm, để chiêm nghiệm công đức
thanh tịnh của chư Phật và Bồ tát, bao nhiêu chủng loại
công đức của các cõi Phật trang nghiêm, bấy giờ con thấy
các chủng loại thiền định trang nghiêm và thấy mười một
ngàn Bồ tát tinh tấn tu hành thiền định.
- Con
nguyện được thiền định Thắng tràng vượt thoát ba đời,
do năng lực thiền định ấy, mà con thấy được vô lượng,
vô biên thế giới của chư Phật trong mười phương và nơi
mỗi thế giới của chư Phật hiện tại, vì chúng sanh mà
thuyết pháp, khiến họ giải thoát ba đời.
- Con
nguyện được thiền định không thối chuyển, do năng lực
của thiền định nầy, nên khiến trong một niệm, con liền
thấy chư Phật, Bồ tát, Thanh văn nhiều như số vi trần vây
quanh.
- Con
nguyện ở nơi mỗi cõi Phật nầy, được thiền định không
còn y chỉ, do năng lực thiền định nầy, khiến cho con hóa
thân biến khắp, cùng một lúc có mặt trước các đức Như
lai, nhiều như vi trần của một thế giới Phật để lễ
bái và cúng dường, …
Do
Vương tử Amiga đã phát đại nguyện trước đức Phật Bảo
Tạng như vậy, và đã được Đức Phật khen rằng, lành thay,
lành thay! Và dạy như sau:
“Nầy
Thiện nam tử! Hiện nay thế giới của ngươi, có một vạn
cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh bao quanh, trong đời vị lai,
ngươi sẽ giáo hóa vô lượng chúng sanh, khiến tâm họ thanh
tịnh và lại còn cúng dường vô lượng, vô biên chư Phật
là bậc tôn kính của đời.
Nầy
Thiện nam tử! Vì nhân duyên đó, nên nay ta đổi tên cho ngươi
là Phổ Hiền”.
Sau
đó, Đức Phật Bảo Tạng thọ ký cho Bồ tát Phổ Hiền thành
Phật trong tương lai, tại thế giới Tri thủy thanh tịnh công
đức ở phương Bắc, với danh hiệu Trí Cang Hống Tự Tại
Tướng Vương Như lai, bằng bài kệ thọ ký như sau:
Ngươi
khởi Đạo sư lành
đã
đạt như sở nguyện
giỏi
điều phục chúng sanh
đều
khiến được nhất tâm.
Vượt
khỏi sông phiền não
lìa
xa pháp xấu ác
làm
đèn sáng tương lai
Bậc
Đạo sư trời người.
(Nhữ
khởi thiện đạo sư
dĩ
đắc như sở nguyện
thiện
năng điều chúng sanh
giai
linh đắc nhất tâm.
Độ
ư phiền não hà
cập
thoát chư ác pháp
lai
thế tác đăng minh,
chư
thiên thế nhân sư).1
Đối
với kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Phổ Hiền là một vị Bồ tát
tu tập không những có khả năng thể nhập “Lý sự vô ngại
pháp giới” mà còn có khả năng thể nhập “Sự sự vô
ngại pháp giới” nữa. Nghĩa là Bồ tát Phổ Hiền có khả
năng thấy rõ mọi lý tính và sự tướng trong toàn thể vũ
trụ không những không đối ngại nhau mà còn tương dung, tương
nhiếp với nhau và có mặt trong nhau; không những vậy mà Bồ
tát còn thấy rõ mọi sự hiện hữu trong toàn thể vũ trụ,
không có một sự hiện hữu nào hiện hữu có tính cách đơn
điệu, chúng hiện hữu là để hỗ dung nhau mà không phải
là đối ngại nhau, nên trong một sự hiện hữu có tất cả
mọi sự hiện hữu và trong tất cả mọi sự hiện hữu
có mặt một sự hiện hữu. Để chứng ngộ điều nầy, Bồ
tát Phổ Hiền đã nói với các vị Đại Bồ tát ở trong
kinh Hoa Nghiêm là phải an trú mười trí 2 mới có khả năng
thành tựu mười Phổ nhập như sau:
Tất
cả thế giới nhập vào trong một lỗ chân lông và trong một
lỗ chân lông lưu xuất vô số thế giới.
Tất
cả thân chúng sanh nhập vào trong một thân và nơi một thân
lưu xuất vô lượng thân.
Vô
số kiếp nhập vào trong một niệm, khiến một niệm nhập
vào vô số kiếp.
Tất
cả Phật pháp vào trong một pháp, khiến một pháp vào tất
cả pháp.
Tất
cả nhập vào trong một nhập, khiến một nhập vào tất cả
nhập.
Tất
cả căn vào một căn, khiến một căn vào tất cả căn.
Tất
cả căn nhập vào một pháp không phải căn, pháp không phải
căn nhập vào tất cả pháp.
Tất
cả tướng nhập vào một tướng, một tướng nhập vào tất
cả tướng.
Tất
cả ngữ âm nhập vào một ngữ âm, một ngữ âm nhập vào
tất cả ngữ âm.
10-Tất
cả ba đời nhập vào một đời, một đời nhập vào tất
cả ba đời.3
Như
vậy, ở Kinh Hoa Nghiêm Bồ tát Phổ Hiền là vị Bồ tát sắp
sửa bước vào địa vị Toàn giác. Tức là sắp sửa bước
vào biển tính giác ngộ của thế giới Tỳ Lô Xá Na.
Ở
Kinh Pháp Hoa, Bồ tát Phổ Hiền là một vị Bồ tát đã ngộ
nhập được lý Nhất Thừa, nên khởi hạnh nguyện hộ trì
kinh Pháp Hoa và hộ trì những hành giả Pháp Hoa bất cứ ở
đâu và bất cứ lúc nào.
Bồ
tát Phổ Hiền tiếng Phạn là Samantabhadra Bodhisattva, hoặc
là Vibvabhadra Bodhisattva.
Samanta
nghĩa là phổ cập, cùng khắp; bhadra nghĩa là Hiền trí và
Hiền đức.
Hán
phiên âm là Tam Mạn Đa Bạt Đà La Bồ tát. Và dịch là Phổ
Hiền Bồ tát hoặc là Biến Cát Tường Bồ tát.
Phổ
Hiền là vị Bồ tát tu tập đã đạt đến địa vị Đẳng
giác, sắp sửa bước lên địa vị Diệu giác và Phổ Nhãn,
và là vị có khả năng biểu hiện Hiền Trí và Hiền Đức
cũng như sự an lành đến cùng khắp mọi nơi, mọi lúc và
mọi chủng loại.
Bồ
tát Văn Thù là vị Bồ tát thông đạt chân lý qua Trí chứng.
Bồ tát Phổ Hiền là vị Bồ tát thông đạt chân lý qua hạnh
chứng.
Bồ
tát Văn Thù là tiêu biểu cho lý và trí bất nhị hay là lý
trí viên dung; Bồ tát Phổ Hiền là tiêu biểu cho lý và hạnh
bất nhị hay là hạnh lý viên dung.
Hai
vị Bồ tát nầy luôn luôn đứng hai bên đức Phật Thích
Ca để yểm trợ Ngài hoằng truyền chánh pháp.
Bồ
tát Văn Thù làm sáng và đẹp cuộc đời bằng đại trí;
Bồ tát Phổ Hiền làm sáng và đẹp cuộc đời bằng đại
hạnh.
Nên,
Bồ tát Văn thù đã có mặt ngay trong buổi đầu đức Phật
Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa bằng ngôn ngữ đại định và
đã chuyển tải ngôn ngữ ấy qua ngôn ngữ quy ước của thế
giới con người.
Và
phẩm cuối cùng của kinh Pháp Hoa, Bồ tát Phổ Hiền xuất
hiện từ phương Đông đến núi Linh Thứu để giải ngộ
lý Nhất Thừa và thể nhập lý ấy, không thông qua ngôn ngữ
mà chính ngay ở nơi hành động và cuộc sống.
Như
vậy, Bồ tát Văn Thù xuất hiện ở phẩm Tựa kinh Pháp Hoa
là tiêu biểu cho trí môn. Bồ tát Phổ Hiền xuất hiện ở
phẩm cuối cùng của kinh Pháp Hoa là tiêu biểu cho hạnh môn,
hay phương tiện môn.
Trí
môn và hạnh môn của Pháp Hoa không những chỉ có mặt bên
nhau để hoằng truyền kinh Pháp Hoa mà còn có mặt trong nhau
để cùng hội nhập vào thể tính Nhất Thừa hay Phật Thừa.
Nên,
phẩm kinh nầy được gọi là Phổ Hiền khuyến phát. Khuyến
phát của Bồ tát Phổ Hiền, nhưng được đức Phật Thích
Ca ấn chứng.
Khuyến
phát có hai ý nghĩa. Một, tự mình nỗ lực để phát khởi
và thành tựu tuệ giác Pháp Hoa. Hai, khuyến khích, yểm trợ
người khác tu tập phát khởi và thành tựu tuệ giác Pháp
Hoa.
Nếu,
ai mà khuyến phát đối với kinh Pháp Hoa và hành giả Pháp
Hoa như vậy, thì Bồ tát Phổ Hiền sẽ có mặt với người
đó và ở trong người đó bất cứ lúc nào và bất cứ ở
đâu để yểm trợ cho vị ấy thành tựu.
Do
đó, Bồ tát Phổ Hiền đã dùng hạnh đức để giữ gìn
Kinh Pháp Hoa và hỗ trợ người thọ trì Pháp Hoa, để trang
nghiêm cuộc đời và làm nên cõi Phật ngay giữa cõi chúng
sanh.
Bồ
tát Phổ Hiền đến với kinh Pháp Hoa là do nguyện và cảm
mà đến từ thế giới của đức Phật Bảo Uy Đức Thượng
Vương ở phương Đông, cách thế giới Ta Bà nầy với vô
số thế giới. Bồ tát đến thế giới Ta Bà nầy để trực
tiếp lắng nghe Đức Phật Thích Ca nói kinh Pháp Hoa và tiếp
nhận. Sau đó, Bồ tát đã thưa với đức Thế Tôn rằng,
sau khi Như lai diệt độ, có thiện nam tử hay thiện nữ nhân
nào muốn thành tựu Pháp Hoa, thì họ phải làm thế nào để
thành tựu? Nhân đó, Đức Thế Tôn đã dạy cho Bồ tát Phổ
Hiền về bốn pháp thành tựu Pháp Hoa là:
Một
là được chư Phật hộ niệm. Hai là đã từng gieo trồng
gốc rễ của những công đức. Ba là đã đứng vào trong đoàn
thể có lập trường kiên định đối với chánh pháp. Bốn
là phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh.
Đó
là ý nghĩa và duyên khởi của phẩm nầy và phẩm nầy chủ
yếu là nói về phần lưu thông kinh Pháp Hoa, khiến cho kinh
nầy không bao giờ bị mai một, và khiến hạt giống Phật
tiếp diễn vô tận.
Trong
Pháp Hoa Phạn văn phẩm nầy xếp vào phẩm số 26.
II.
Nội Dung Chủ Yếu:
Nội
dung chủ yếu của phẩm nầy là nói về sự hộ trì và truyền
bá kinh Pháp Hoa cùng khắp của Bồ tát Phổ Hiền và được
đức Phật Thích Ca ấn chứng.
1.
Hộ Trì Kinh Pháp Hoa:
Hộ
trì kinh Pháp Hoa chủ yếu có bốn điểm:
1.1.
Phật Hộ Niệm:
Kinh
Pháp Hoa được chư Phật giữ gìn, đúng thời mới nói, đúng
cơ mới trao. Và những vị nào, những thính chúng nào được
chư Phật nói Kinh Pháp Hoa cho nghe, trao cho cái thấy, cái biết
của kinh Pháp Hoa để hành trì và ngộ nhập, vị ấy gọi
là được chư Phật hộ niệm.
1.2.
Thực Chúng Đức Bổn:
Biết
gieo trồng gốc rễ của các thứ công đức. Tin rằng, ta có
Phật tính và tất cả chúng sanh đều có Phật tính, nên ta
và hết thảy chúng sanh đều có khả năng thành Phật.
Đức
tin như vậy là đức tin căn bản của Đại Thừa, và Nhất
Thừa. Đức tin nầy là căn bản làm sinh khởi các loại phước
đức và trí tuệ.
Ta
gieo trồng đức tin ấy vào trong tâm thức ta và tâm thức
của hết thảy chúng sanh gọi là “thực chúng đức bổn”.
Đức
tin ấy là căn bản của mọi thứ công đức. Đức tin ấy
sẽ làm sinh khởi giới thân, thiền định và tuệ quán trong
ta, làm căn bản cho mọi thứ phước đức và trí tuệ sinh
khởi, và sẽ cho ta hoa trái giác ngộ hoàn toàn hay là hoa trái
của Pháp Hoa.
1.3.
Nhập Chánh Định Tụ:
Tụ
là nhóm hoặc chúng. Chúng hay đoàn thể tu học và thực hành
kinh Pháp Hoa với chất liệu tín giải kiên cố, không còn
bị dao động đối với con đường hội nhập Phật tri kiến,
gọi là chánh định tụ4. Theo Bồ tát Anh Lạc kinh, chánh định
tụ là chúng Bồ tát thuộc hàng Thập trú trở lên.
Tu
tập, giữ gìn và khuyến khích hành trì kinh Pháp Hoa phải
được thiết lập trên nền tảng của Bồ đề tâm.
Mặt
hướng thượng của Bồ đề tâm là trí tuệ, nên ta tu tập,
giữ gìn kinh Pháp Hoa là tu tập và giữ gìn trí tuệ của
Phật trong ta, và phát triển trí tuệ ấy đến mức toàn diện.
Mặt
rộng của Bồ đề tâm là từ bi, tức là sự thương yêu
và cứu độ mọi loài, không phân biệt kỳ thị, có thể
sử dụng mọi phương tiện để khai thị Phật tính cho chúng
sanh khiến cho họ ngộ nhập.
Đó
là cách phát tâm để cứu và hộ chúng sanh bằng tinh thần
kinh Pháp Hoa. Nên kinh nói:
“Thiện
nam tử hay thiện nữ nhân nào, thành tựu bốn pháp như vậy,
thì sau khi Như Lai diệt độ, chắc chắn có được kinh Pháp
Hoa” 5.
Có
được kinh Pháp Hoa là có được tuệ giác của Phật. Tuệ
giác ấy thường trú ở trong “thực tướng không tướng”
của vạn hữu, mà vận khởi trí và bi để hoá độ chúng
sanh.
2.
Hộ Trì Hành Giả Pháp Hoa:
Bồ
tát Phổ Hiền hộ trì hành giả Pháp Hoa như sau:
2.1.
Hộ Trì Trừ Ngoại Nạn:
Bồ
tát Phổ Hiền hộ trì người thọ trì, đọc tụng, diễn
giảng kinh Pháp Hoa, khiến cho các tai nạn đến từ bên ngoài
không thể xâm nhập vào hành giả Pháp Hoa.
Bồ
tát đã thưa với đức Thích Ca Thế Tôn điều nầy như sau:
“Bạch
đức Thế Tôn, năm trăm năm sau, trong thời kỳ xấu ác, có
người thọ trì kinh Pháp Hoa, con sẽ giữ gìn và yểm trợ
người ấy, loại trừ những tai họa suy thoái cho họ, khiến
cho họ được an ổn. Con sẽ làm cho bất cứ ai muốn tìm
kiếm những sơ suất của vị hành trì Pháp Hoa nầy để quấy
phá đều không thể thuận lợi.
Nếu
là ma, con trai của ma, con gái của ma, dân chúng của ma, kẻ
bị ma ràng buộc; hoặc các loài quỷ như: Quỷ ăn thịt người
(Dạ Xoa), quỷ ác độc thô bạo (La Sát), quỷ ăn tinh khí
(Cưu Bàn Trà), quỷ điên cuồng (Tỳ Xá Xà), quỷ thây chết
(Kiết Giá), quỷ hôi thối (Phú Đơn Na), kẻ dùng chú thuật
(Vi Đà La)…, những loại não hại loài người ấy, đều
không thể thuận lợi”6.
Năng
lực ngoại hộ của Bồ tát Phổ Hiền sẽ yểm trợ cho hành
giả thọ trì kinh Pháp Hoa sau năm trăm năm, kể từ khi nghe
Phật Niết Bàn, khiến cho các loài người xấu ác và các
loài quỷ quấy phá vị hành trì Pháp Hoa dưới bất cứ hình
thức và nội dung nào đều không thể thuận lợi.
Không
những Bồ tát Phổ Hiền hộ trì khiến cho người xấu ác,
quỷ xấu ác không thể xâm nhập để quấy hại vị hành
trì Pháp Hoa, mà còn khiến cho sáu căn của hành giả Pháp
Hoa khi tiếp xúc với sáu trần, không bị sáu trần xâm nhập
thu hút làm mê hoặc tâm trí của hành giả.
2.2.
Hộ Trì Thân Ngữ:
Bồ
tát Phổ Hiền hộ trì thân ngữ của vị hành trì kinh Pháp
Hoa, khiến cho thân ngữ của vị ấy, luôn luôn an trú ở trong
Lục độ. Bồ tát biểu hiện bằng cách cỡi voi chúa trắng
sáu ngà đến ở nơi vị ấy để cúng dường, che chở khiến
cho thân và ngữ của hành giả Pháp Hoa không bị rơi vào trong
môi trường sinh hoạt xấu ác, như Bồ tát Phổ Hiền đã
bạch với đức Thế Tôn như sau:
“Những
hành giả Pháp Hoa hoặc đi, hoặc đứng đọc tụng kinh Pháp
Hoa, thì bấy giờ con cỡi voi chúa trắng sáu ngà cùng với
chúng đại Bồ tát đến tại chỗ của vị ấy, mà tự biểu
hiện thân hình để cúng dường, giữ gìn và an ủi tâm của
vị ấy và cũng để cúng dường kinh Pháp Hoa”.
Đây
là phần nói về hộ trì thân và ngữ hành giả Pháp Hoa của
Bồ tát Phổ Hiền trực tiếp bằng Lục độ.
2.3.
Hộ Trì Ý:
Bồ
tát Phổ Hiền không những chỉ hộ trì thân ngữ cho vị hành
trì Kinh Pháp Hoa mà còn hộ trì ý cho vị nầy, khiến cho ý
của vị nầy luôn luôn an trú ở trong Lục độ mà nhất là
thiền định độ và trí tuệ độ, không bị quên mất bất
cứ một câu hay một bài kệ nào của kinh Pháp Hoa.
Điều
nầy, Bồ tát Phổ Hiền đã bạch với đức Thế Tôn như
sau:
“Nếu
những hành giả Pháp Hoa ngồi mà tư duy, thì bấy giờ con
cũng lại cỡi voi chúa trắng sáu ngà, hiện ra ở trước mặt
những người ấy, và hoặc người ấy đối với kinh Pháp
Hoa, nếu có quên mất một câu, một bài thi kệ, thì con sẽ
chỉ dạy và cùng với họ đọc tụng, khiến cho họ thông
suốt lại như cũ”7.
Đây
là Bồ tát Phổ Hiền hộ trì ý bằng Thiền định độ hoặc
Trí tuệ độ cho hành giả Pháp Hoa.
2.4.
Hộ Trì Sự Tinh Cần Bằng Pháp Tổng Trì:
Bồ
tát Phổ Hiền lại hộ trì sự tinh cần cho hành giả Pháp
Hoa, Bồ tát thưa với đức Thế Tôn như sau:
“Bấy
giờ những người thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa thấy
được thân con, họ vô cùng hoan hỷ và lại càng tăng thêm
sự tinh tấn. Và do thấy được thân con mà họ liền thành
tựu thiền định và các loại nguyên tắc nắm giữ được
hết thảy những điều tốt đẹp như: Nắm giữ được những
điều tốt đẹp xoay chuyển; nắm giữ được những điều
tốt đẹp xoay chuyển trăm ngàn vạn ức; nắm giữ những
điều tốt đẹp về phương tiện của những âm thanh thuyết
pháp, chứng đắc các cách nắm giữ những điều tốt đẹp
đồng loại như vậy.
Bạch
đức Thế Tôn, nếu đời sau, sau năm trăm năm, ở trong đời
xấu ác, các tỷ kheo, tỷ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ,
những vị nào mong cầu, thọ trì, đọc tụng, sao chép và
muốn tu tập theo kinh Pháp Hoa, thì họ nên nhất tâm tinh tấn
trong suốt hai mươi mốt ngày. Hai mươi mốt ngày hoàn mãn,
con sẽ cỡi voi chúa trắng sáu ngà, cùng với vô lượng Bồ
tát tự nhiễu quanh họ, con sử dụng thân tướng mà hết
thảy chúng sanh ai cũng thích ngắm nhìn, hiện ra trước mặt
những người ấy, mà thuyết pháp chỉ bày những hạnh phúc
và lợi ích cho họ.
Con
cũng lại cho họ một bài thần chú Tổng trì. Được thần
chú nầy, thì họ sẽ không có bị kẻ phi nhân nào có thể
phá hoại, cũng không bị người khác phái làm cho nhiễu loạn,
mê hoặc. Bản thân con cũng thường trực hộ trì người ấy.
Kính
bạch đức Thế Tôn, cho phép con tuyên thuyết thần chú Tổng
trì ấy.
Ngay
trước đức Thế Tôn, Bồ tát Phổ Hiền liền tuyên thuyết
thần chú rằng:
A
đàn địa, đàn đà bà địa, đàn đà bà đế, đàn đà cưu
xá lệ, đàn đà tu đà lệ, tu đà lệ8, tu đà la bà để,
Phật đà ba chiên nể, tát bà đà la ni, a bà đa ni, tát bà
bà sa a bà đa ni, tu a bà đa ni, tăng dà bà lý xoa ni, tăng dà
niết dà đà ni, a tăng kỳ, tăng dà ba dà địa, đế lệ a
đọa tăng dà đâu lược, a ra đế bà ra đế, tát bà tăng
già tam ma địa dà lan địa, tát bà đạt ma tu ba lỵ sát đế,
tát bà tát đỏa lâu đà kiêu xá lược a nâu dà địa, tân
a tỳ cát lỵ địa đế.9
Thần
chú Phạn văn phiên âm La tinh:
Adaṇḍe
daṇḍapati daṇḍāvartani daṇḍakuśale daṇḍasudhāri sudhārapati
buddhapaśyane sarvadhāraṇi āvartani saṃvartani saṃghaparīkṣite
saṃghanirghātani dharmaparīkṣite sarvasattva-rutakauśalyānugate
siṃhavikrīḍite anuvarte vartani vartāli svāhā.
Thần
chú Phổ Hiền nầy, Ngài Pháp Hộ đã dịch ở trong Chánh
Pháp Hoa Kinh như sau:
“Vô
ngã trừ ngã nhân ngã phương tiện. Tân (thấn) nhân hòa trừ
thậm nhu nhuyến nhu nhược cú, kiến chư Phật, nhân chư tổng
trì hành chúng, chư thuyết cái (thiện) hồi chuyển tận tập
hội, trừ chúng thú, vô ương số kế, chư cú tam thế
số đẳng, việt hữu vi, cử (học) chư pháp, hiểu chúng sanh
âm sư tử ngu lạc”.11
Tạm
dịch:
“Vô
ngã loại trừ nhân và duyên (tác nhân và điều kiện) sinh
khởi ngã. Hoà hợp yêu thương quyện vào nhau loại trừ những
trường hợp quá yếu đuối và hèn mọn. Thấy chư Phật và
do thực hành các pháp tổng trì, những lời nói làm xoay chuyển
hội chúng đang hiện hữu một cách tốt đẹp, loại trừ
sự trói buộc không còn tính hệ số ương luỵ, cả thảy
số lượng ba đời. Học tập các pháp, siêu việt nhân duyên
sinh khởi. Hiểu rõ âm thanh của hết thảy chúng sanh. Vui niềm
vui sướng như sư tử!”.
Căn
cứ vào sự hộ trì tinh cần bằng Thần chú của Bồ tát
Phổ Hiền tuyên thuyết, qua bản Hán dịch của Ngài Pháp Hộ
ta thấy có những điểm sau:
- Vô
Ngã Chính Là Đà La Ni:
Vô
ngã là tự thân của thực tại, hay là tự thân của mọi
sự hiện hữu. Nên, tiếng nói vô ngã là tiếng nói có năng
lực loại trừ các tác nhân và tác duyên sinh khởi ý niệm
hữu ngã.
Tác
nhân sinh khởi ý niệm ngã là vô minh và các chủng tử tâm
hành. Tác duyên sinh khởi ý niệm ngã là những nhận thức
sai lầm đối với thực tại, đối với tự thân.
Do
đó, tiếng nói vô ngã là tiếng nói của Đà La Ni. Tiếng
nói ấy, làm rơi rụng hết thảy ý tưởng hữu ngã, làm rơi
rụng hết thảy các tham ái, chấp thủ nơi tâm thức người
nghe. Và có năng lực giữ gìn chánh kiến và chánh tư duy,
khiến cho các thiện căn vô tham, vô sân, vô si nơi tâm thức
hành giả sinh khởi và lớn mạnh trong đời sống và hoà nhập
với thực tại toàn diện.
- Hoà
Hợp Và Thương Yêu Chính Là Đà La Ni:
Tự
thân của thực tại là sự hòa điệu tuyệt đối với nhau
một cách tự nhiên. Và sự hiện hữu nầy không làm trở
ngại sự hiện hữu kia và sự hiện hữu kia không làm trở
ngại sự hiện hữu nầy. Sự hiện hữu của mắt không làm
trở ngại sự hiện hữu của tai hay miệng, sự hiện hữu
của tay không làm trở ngại sự hiện hữu của chân và sự
hiện hữu của tay trái không làm trở ngại sự hiện hữu
của tay phải, sự hiện hữu của trái tim không làm trở ngại
sự hiện hữu của dạ dày…, cũng vậy, sự hiện hữu của
mặt trời không làm trở ngại sự hiện hữu của mặt trăng,
sự hiện hữu của biển không làm trở ngại sự hiện hữu
của núi. Mọi sự hiện hữu là hiện hữu trong một quy luật
trật tự nhân duyên, nhân quả của nó. Nhưng, những trật
tự ấy trở nên vô trật tự và rối loạn là do tâm thức
vô minh hay tâm thức chấp ngã của con người hay tâm thức
chấp ngã của chúng sanh tác động, khiến cho thực tại toàn
diện bị phân cắt từng mảnh.
Tuy
rằng, với tâm thức hữu ngã, con người muốn biến thực
tại trở thành thực tại của tâm thức cá nhân và tâm thức
cộng đồng, nhưng những gì được biến hiện bởi tâm thức
đều là hư ảo và bất thực, vì sao? Vì ngã là cái đại
ảo của nhận thức và do nhận thức tạo thành.
Nhận
thức đã là ảo, nên càng nhận thức là càng tạo ra những
ảo giác về cái tôi. “Tôi” là như thế nầy, tôi không
thể là như cái kia”. Từ nhận thức và quan điểm ấy, làm
cho con người không thể đi tới với nhau. Và nếu có đi tới
với nhau là để khống chế và thanh toán nhau mà không phải
giúp nhau sống trong hoà bình.
Tự
thân của con người là một sự hòa điệu tuyệt đối, một
sự an lạc hạnh phúc tuyệt đối, nhưng do con người khởi
lên một ý niệm về “ cái tôi”, cái của tôi”, nên đã
tạo ra sự rối loạn trong đời sống con người và đã
đẩy con người đi vào phương trời đọa đày và lận đận.
Từ
một con người sáng trong và toàn diện, con người đã thành
con người khuyết tật. Khuyết tật tâm hồn và nhận thức,
khuyết tật tư duy và hành động, khuyết tật về ngôn ngữ
và sự đối xử với nhau, đời sống con người trở nên
độc ác và lạc loài, trở nên yếu đuối và hèn mọn.
Nên,
con người chỉ sống hòa bình với nhau, thương yêu nhau, khi
nào con người cùng nhau cương quyết buông bỏ mọi ý niệm
“về tôi và của tôi”. Và sự thảnh thơi của con người
đích thực có mặt, khi ý niệm về cái tôi và cái của tôi
không còn vận khởi. Do đó, tiếng nói vô ngã là tiếng nói
của Đà la ni, có năng lực thương yêu, đưa con người
trở lại với sự hòa điệu tuyệt đối mà con người
đã bị vô minh làm đánh mất từ thuở hồng hoang.
Mọi
sự hiện hữu không làm trở ngại nhau mà chỉ hỗ tương
cho nhau, tại sao? Là vì tự thân của mọi sự hiện hữu là
không có tự tánh, nên mọi sự hiện hữu không những có
mặt để hỗ trợ nhau mà còn liên thông với nhau và có mặt
trong nhau giúp nhau tồn tại liên tục và toàn diện.
Tự
thân thực tại là vậy, nhưng nếu ta vọng tưởng về một
bản ngã, là ta tự tách rời ta ra khỏi thực tại, nhưng tự
thân thực tại không bao giờ tách rời ta.
- Thực
Hành Đà La Ni Là Thực Hành Vô Vi Pháp:
Vô
Vi pháp là pháp tịch diệt của Niết bàn. Pháp ấy siêu việt
nhân duyên sinh khởi.
Nên,
thực hành pháp Đà la ni dẫn hành giả đi vào cảnh giới
Niết bàn tuyệt đối của chư Phật. Thấy được chư Phật
và thành tựu tuệ giác của các ngài.
Tiếng
nói của Đà la ni là tiếng nói sinh khởi từ đại định,
tiếng nói ấy có năng lực xóa sạch mọi tập khởi của
sinh tử, không phải một đời mà nhiều đời, không phải
nhiều đời mà nhiều kiếp của chúng ta.
- Đà
La Ni Là Ngôn Ngữ Của Mọi Ngôn Ngữ:
Do
thực hành Đà la ni mà đi vào đại định, đoạn trừ hết
thảy phiền não và tập khí ở nơi tự tâm, khiến tuệ giác
sinh khởi, mắt có thể nhìn xuyên suốt mọi sự hiện hữu,
từ bản thể đến hiện tượng, từ nhân đến quả, từ
một điểm đến vô số điểm, từ gốc rễ đến ngọn ngành.
Tai có thể nghe và hiểu hết thảy mọi thứ thanh âm, ngôn
ngữ của hết thảy chúng sanh thuộc hữu tình và vô tình.
Và tai có thể nghe và hiểu hết thảy mọi ngôn ngữ diễn
đạt theo quy ước và vượt khỏi quy ước.
Bởi
vậy, Đà la ni là ngôn ngữ của hết thảy ngôn ngữ, và mọi
ngôn ngữ từ nơi ẩn ngữ mà biểu hiện. Do đó, Đà la ni
là ẩn ngữ của mọi ngôn ngữ, mọi ngôn ngữ đều từ ngôn
ngữ của Đà la ni mà hiển bày.
Bồ
tát do thành tựu ngôn ngữ của Đà la ni, nên có khả năng
hiểu rõ mọi thứ ngôn ngữ của hết thảy chúng sanh, và
có thể sử dụng vô số ngôn ngữ để giáo hóa chúng sanh,
làm cho họ đạt tới niềm vui sướng chân thật. Niềm vui
ấy là niềm vui sướng của Nhất Thừa, biết rõ mình có
Phật tính, mình được Phật giáo hóa, được các thiện tri
thức hộ niệm, thì nhất định tương lai sẽ thành Phật.
Thần
Chú Bồ tát Phổ Hiền Phạn Văn Theo Bản Phiên Âm Hán Của
Ngài La Thập:
A đàn
địa. Đàn đà bà địa. Đàn đà bà đế. Đàn đà cưu xá
lệ. Đàn đà tu đà lệ. Tu đà lệ. Tu đà la bà để. Phật
đà ba chiên nể. Tát bà đà la ni. A bà đa ni. Tát bà bà sa
a bà đa ni. Tu a bà đa ni. Tăng dà bà lý xoa ni. Tăng dà niết
dà đà ni. A tăng kỳ. Tăng dà ba dà địa. Đế lệ a đọa
tăng dà đâu lược. A ra đế bà ra đế. Tát bà tăng dà tam
ma địa dà lan địa. Tát bà đạt ma tu ba lỵ sát đế. Tát
bà tát đỏa lâu đà kiêu xá lược a nâu dà địa. Tân a tỳ
cát lỵ địa đế.
Tạm
dịch theo bản phiên âm Hán:
“Hỡi
Người chủ hình phạt, hãy miễn hình phạt; hãy xoay chuyển
hình phạt; hãy thông minh đối với hình phạt; hãy giữ an
toàn hình phạt; hãy gìn giữ an toàn; hỡi Người chủ
duy trì an toàn!
Thấy
chư Phật, hãy làm xoay chuyển bằng tất cả Tổng trì; hãy
xoay chuyển tất cả sự hiểu biết; hãy xoay chuyển an toàn;
hãy cùng nhau đạt ngộ; hãy cùng nhau vượt qua; hãy chứng
nghiệm chánh pháp; hãy giải thoát từ sự trói buộc; hãy
cùng nhau vượt qua sự trói buộc; hãy vượt qua sự trói buộc
cả ba đời; hãy cùng nhau vượt qua mọi sự trói buộc; hãy
chứng ngộ hết thảy pháp cao thượng; hãy hiểu rõ âm thanh
của hết thảy chúng sanh; hãy xoay chuyển nhanh chóng như sư
tử; hãy xoay chuyển theo, xoay chuyển, xoay chuyển, chào mừng
thành công!”.
Thần
chú Phổ Hiền bằng Phạn văn La tinh theo bản dịch của ngài
La Thập trong phần ghi chú trang 61, Đại chính 9:
Adaṇḍe
daṇḍapati daṇḍavartani daṇḍakuśale daṇḍasudhāri sudhāri
sudhārapati buddhapaśyane sarvadhārani āvartani sarvabhāsyāvartane
su-āvartani saṃghaparīkṣaṇi saṃgha-nirghātani (saddharmasu-parīkṣite)
asaṃge saṃgāpāgate tṛ-adhvasaṃgatulya sarvasaṃga samatikrānte
sarvadharmasu parīkṣite sarvasattvarutakauśalyānugate siṃhavikrīḍite
anuvarte vartani vartāli svāhā.12
Thần
Chú Phổ Hiền Phạn Văn Bằng Devanagari ở Buddhist Sanskrit Texts-No
6-p 265, Phiên Âm Bằng Phạn Văn La Tinh như sau:
Adaṇḍe
daṇḍapati daṇḍāvartani daṇḍakuśale daṇḍasudhāri sudhārapati
buddhapaśyane sarvadhārani āvartani saṃvartani saṃghaparīkṣite
saṃghanirghātani dharma parīkṣite sarvasattva-rutakauśalyānugate
siṃhavikrīḍite anuvarte vartani vartāli svāhā.
Tạm
dịch theo bản Phạn văn ở trong tạng Buddhist Sanskrit Texts:
“Hỡi
Người chủ hình phạt, hãy miễn hình phạt, hãy xoay chuyển
hình phạt, hãy thông minh đối với hình phạt, hãy gìn giữ
an toàn hình phạt, hỡi Người chủ duy trì an toàn!
Thấy
chư Phật, hãy xoay chuyển bằng tất cả tổng trì, hãy cùng
xoay chuyển, hãy cùng nhau đạt ngộ, hãy cùng nhau vượt qua!
Hãy
chứng ngộ pháp, hãy hiểu rõ âm thanh hết thảy chúng sanh,
hãy xoay chuyển nhanh chóng như sư tử, hãy xoay chuyển theo,
xoay chuyển, xoay chuyển , chào mừng sự thành công!”
Thần
chú Bồ tát Phổ Hiền ở Phạn bản phiên âm của ngài La
Thập và Phạn bản hiện có ở trong tạng Sanskrit Texts có
nhiều đoạn khác nhau, nhưng nội dung chính là chuyển hóa
hình phạt, thực hành pháp Tổng trì để thấy chư Phật,
chứng ngộ pháp và vượt qua sinh tử. Bản dịch của ngài
Pháp Hộ nội dung có nhiều đoạn khác hẳn với bản của
ngài La Thập và Phạn bản ở trong tạng Sanskrit Texts, No 6,
p 265.
Thần
chú Phạn văn của ngài La Thập và Phạn văn hiện có, nội
dung đề cập đến chuyển hóa hình phạt bằng sự thực hành
pháp Tổng trì.
Hình
phạt ở đây, chính là sinh tử và nguyên nhân gây ra hình
phạt là vô minh và sự chấp ngã về nhân và pháp.
Do
đó, Thần chú nầy giúp ta phá hủy những hình phạt do sự
chấp ngã về nhân và pháp đem lại. Vượt qua sự chấp ngã
về nhân và pháp mới thành tựu Phật Thừa.
Ta
kẹt ở nơi ý niệm về ngã là ta kẹt ở trong sinh tử và
sẽ bị sanh, già, bệnh, chết hành hạ và trừng phạt, ta
không có tự do đối với chúng. Và ta bị mắc kẹt vào pháp,
thì ta không thể nào đi tới được bảo sở hay thành tựu
được tuệ giác hoàn toàn.
Bởi
vậy, ở phẩm nầy, Bồ tát Phổ Hiền không những yểm trợ
hành giả Pháp Hoa thực hành Lục độ, qua sự hiện ra voi
trắng sáu ngà, mà còn yểm trợ bằng năng lực thọ trì,
đọc tụng diễn giảng và sống cuộc đời bằng Pháp Hoa.
Bồ
tát Phổ Hiền không những hộ trì cho những hành giả kinh
Pháp Hoa bằng những sự biểu hiện trực tiếp của thân tướng
Lục độ mà còn hộ trì cho những hành giả Pháp Hoa bằng
Thần chú Đà la ni hay bằng pháp Tổng trì nữa.
Như
vậy, Bồ tát Phổ Hiền yểm trợ những hành giả Pháp Hoa
bằng thần chú Đà la ni là yểm trợ toàn diện khiến cho
thân, ngữ và ý của vị đó luôn luôn an trú ở trong thiền
định của Pháp Hoa để có thể vượt qua mọi chướng ngại
của tâm và cảnh, nhằm đi đến sự thể nhập tuệ giác
Pháp Hoa hoàn toàn.
Ở
phẩm nầy, ngoài sự khuyến phát lưu thông kinh nầy của Bồ
tát Phổ Hiền, ta còn thấy thần lực của Ngài đối với
sự giữ gìn kinh Pháp Hoa. Và độc đáo hơn nữa là đức
Phật Thích Ca đã ấn chứng cho lời phát nguyện hộ trì kinh
Pháp Hoa của Bồ tát Phổ Hiền và lại còn đem thần lực
của Ngài mà giữ gìn cho những người trì niệm danh hiệu
Phổ Hiền, như kinh nói:
“Bấy
giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni tán dương rằng, nầy Phổ
Hiền, tốt lắm, tốt lắm! Đại sĩ đã có khả năng giữ
gìn, yểm trợ kinh Pháp Hoa, khiến cho chúng sanh nhiều lợi
ích an lạc. Đại sĩ đã thành tựu công đức không thể nghĩ
bàn, và lòng từ bi rộng lớn sâu xa.
Đại
sĩ đã phát tâm Vô thượng Bồ đề từ xa xưa liên tục cho
đến hôm nay, mà nay vẫn tiếp tục đem hạnh nguyện của
thần lực để giữ gìn kinh Pháp Hoa!
Như
Lai sẽ đem thần lực của Như Lai mà giữ gìn cho những ai
có khả năng thọ trì danh hiệu của Bồ tát Phổ Hiền”.13
3.
Tiếp Xúc Với Phật Qua Kinh:
Kinh
Pháp Hoa là kinh mà đức Phật trình bày cho thính chúng đầy
đủ cả sự tướng và lý tánh, cả phương tiện và cứu
cánh, cả lý tưởng và hành động, cả lịch sử và siêu
lịch sử, cả bản môn và tích môn, cả bản hóa và tích
hóa, và đầy đủ hơn hết là cả Phật pháp thân, Phật báo
thân, và Phật ứng hóa thân, và không những bổn sự của
Phật mà còn trình bày đầy đủ bổn sự của các vị Thanh
văn và Bồ tát nữa, nên ta thọ trì đọc, tụng, biên chép,
diễn giảng, hành trì theo kinh Pháp Hoa là ta có thể tiếp
xúc được, sự lý, thể tánh, tướng dụng, năng lực, nhân
duyên, quả báo, gốc rễ và ngọn ngành của hết thảy các
pháp, hết thảy bản nguyện và bản hạnh của chư Phật và
Bồ tát, và có thể tiếp xúc được pháp thân của Phật,
nghe Phật báo thân thuyết pháp ở đỉnh núi Linh Thứu, nghe
và thấy Phật ứng hoá thân đang thuyết pháp khắp cả muôn
nơi, được Ngài lấy tay xoa đầu, lấy pháp y mà trùm lên
cho, đúng như lời đức Phật Thích Ca Mâu Ni báo thân đã
nói với Bồ tát Phổ Hiền như sau:
“Nầy
Phổ Hiền! Nếu có người nào thọ trì, đọc tụng, sao chép,
nhớ nghĩ chính xác, thực hành đúng theo kinh Pháp Hoa, thì
phải biết rằng, người ấy thấy Thích Ca Như Lai, trực tiếp
nghe kinh Pháp Hoa nầy từ miệng của Như Lai; phải biết rằng,
người ấy đang cúng dường đức Thích Ca Như Lai; phải biết
rằng, người ấy đang được đức Thích Ca Như Lai ca ngợi;
phải biết rằng, người ấy đang được đức Thích Ca Như
Lai đưa tay xoa lên đỉnh đầu; phải biết rằng, người ấy
đang được đức Thích Ca Như Lai lấy pháp y mà bao trùm lên
cho”.14
Như
vậy, khi đọc tụng, thọ trì, thực hành theo kinh Pháp Hoa
một cách sâu sắc là ta có thể tiếp xúc không những sự
tướng Tam Bảo, lý tánh Tam Bảo mà còn tiếp xúc được đồng
thể và nhất thể Tam Bảo nữa, và không những chỉ tiếp
xúc với Phật ứng hóa thân mà còn tiếp xúc đầy đủ cả
Phật tam thân trong từng khoảnh khắc của sự sống.
4.
Chuyển Hóa Nhân Duyên:
Đọc
tụng, thọ trì, thực hành theo kinh Pháp Hoa, là để tiếp
xúc thường trực với Phật pháp thân, Phật báo thân và Phật
ứng hoá thân, khiến cho ta thay đổi phàm tâm thành thánh tâm,
chúng sanh tâm thành Phật tâm, thay đổi thời đại của chúng
sanh bằng thời đại của Phật; thay đổi cái thấy, cái biết
của chúng sanh bằng cái thấy, cái biết của Phật; thay đổi
những hạt giống đau buồn, khổ não và hệ luỵ của chúng
sanh bằng những hạt giống từ bi, trí tuệ, giải thoát và
vô ngại của Phật; thay đổi cách hành xử của chúng sanh
bằng những hành xử và phong thái của Phật; thay đổi sinh
mệnh và đời sống của chúng sanh bằng sinh mệnh và đời
sống của Phật.
Những
chuyển hóa nầy ta có thể thấy đức Thế Tôn nói với Bồ
tát Phổ Hiền ở trong phẩm nầy như sau:
“Người
ấy không còn ham thích các lạc thú thế tục; không ưa thích
kinh sách, văn bút của ngoại đạo và giao tiếp với những
giáo sĩ và những người văn bút ấy; không ưa thích gần
gũi với những người chuyên sống bằng những nghề ác như
kẻ làm thịt, kẻ chăn nuôi heo dê gà chó, kẻ thợ săn, kẻ
buôn bán sắc nữ,…
Người
ấy tâm ý chân thực, ngay thẳng, có chánh niệm, có sức mạnh
của phước đức.
Người
ấy không bị ba chất độc của tâm làm não loạn, không bị
các thứ tâm lý ganh tỵ, kiêu mạn về bản ngã, kiêu ngạo
đối với những nhận thức và hành động sai lầm, kiêu ngạo
đối với những sở đắc không có thực chất làm não hại.
Người
ấy sống với đời sống ít ham muốn, biết vừa đủ, có
khả năng thực hành theo hạnh nguyện Phổ Hiền.
Nầy
Phổ Hiền! Nếu sau khi Như Lai diệt độ, sau năm trăm năm,
nếu có người nào thấy kinh Pháp Hoa mà thọ trì, đọc tụng,
thì nên nghĩ rằng, người ấy không bao lâu sẽ đi đến đạo
tràng, phá dẹp các bọn ma quân, chứng đắc Tuệ giác vô
thượng, chuyển vận bánh xe chánh pháp, gióng lên tiếng trống
chánh pháp, thổi lên tiếng loa chánh pháp, mưa trận mưa chánh
pháp, ngồi trên pháp tòa sư tử giữa đại chúng chư thiên
và loài người”.15
Như
vậy, ta thấy con đường chuyển hóa chúng sanh tâm thành Phật
tâm, chúng sanh trí thành Phật trí, chúng sanh hạnh thành Phật
hạnh, chúng sanh nguyện thành Phật nguyện và chúng sanh quả
thành Phật quả chính là con đường Pháp Hoa.
Nên,
kinh Pháp Hoa được chư Phật giữ gìn cho chúng sanh, được
các vị Bồ tát tuyên dương đến hết thảy chúng sanh, và
hết thảy chúng sanh đã, đang và sẽ tiếp nhận, thọ trì,
đọc tụng, in ấn giữ gìn và hành trì theo, vì sao? Vì đó
là quyền lợi có giá trị cao nhất của họ, và nếu có ai
xâm phạm đến danh dự của những người đang thực hiện
quyền lợi ấy, thì sẽ bị các quả báo không có tốt đẹp
như:
Đời
đời không có mắt.
Bị
phong hủi trong đời hiện tại.
Bị
răng niếu thưa và thiếu.
Bị
môi xấu, mũi xẹp.
Tay
cong, chân quẹo.
Mắt
lé thân thể hôi thối, ghẻ mụt, máu mủ, hung thũng, hơi
hụt, bị bệnh nặng và dữ.
Nên
đức Thế Tôn đã nói với Bồ tát Phổ Hiền rằng: “Nếu
thấy người thọ trì kinh Pháp Hoa, thì hãy đứng dậy mà
cung đón từ xa, phải kính trọng như kính Phật vậy”.16
Và,
chính lời dạy nầy của đức Phật Thích Ca, lại là lời
khuyến phát không những đối với Bồ tát Phổ Hiền mà còn
đối với bất cứ ai đã, đang và sẽ thọ trì đọc tụng,
diễn giảng và sống theo tinh thần Pháp Hoa nữa, khiến cho
kinh Pháp Hoa từ một xứ mà trở thành muôn xứ, từ chư Phật
trải rộng đến muôn loài và bất hủ đối với mọi thời
gian.
III.
Phương Pháp Thực Hành:
Thực
hành theo Bồ tát Phổ Hiền ta có những phương pháp như sau:
1.
Giới học Phổ Hiền:
Đối
với giới học Phổ Hiền ta thấy có những điều như:
1.1.
Tránh xa lạc thú thế tục
1.2.
Tránh xa kinh sách và văn bút của ngoại đạo.
1.3.
Tránh xa bản thân của những nhà giáo sĩ ngoại đạo và những
nhà văn bút thế tục.
1.4.
Tránh xa những kẻ đồ tể.
1.5.
Tránh xa những kẻ chăn nuôi heo, dê, gà, chó.
1.6.
Tránh xa những kẻ thợ săn.
1.7.
Tránh xa những kẻ buôn bán nữ sắc.
2.
Tâm Học Hay Định Học Phổ Hiền:
Đối
với tâm học Phổ Hiền ta thấy những điểm như sau:
2.1.
Tâm ý ngay thẳng
2.2.
Tâm ý có chánh niệm
2.3.
Tâm ý có sức mạnh phước đức
2.4.
Tâm ý không bị ba độc tố tham, sân, si não hại.
2.5.
Tâm ý không bị ganh tỵ làm não hại.
2.6.
Tâm ý không bị kiêu ngạo làm não hại.
2.7.
Tâm ý không bị những kiêu ngạo về nhận thức sai lầm làm
não hại.
2.8.
Tâm ý không bị những kiêu ngạo về những sở đắc không
có thực chất làm não hại.
2.9.
Ít ham muốn và biết vừa đủ.
2.10.
Không tham lam y phục, đồ nằm, đồ ngồi, đồ ăn uống và
các tiện nghi vật chất hỗ trợ đời sống.17
Ngoài
ra, Định học Phổ Hiền là còn hành trì các Đà la ni, tức
là các pháp Tổng trì như sau:
- Triền
Đà La Ni:
Do
chứng đắc kinh Pháp Hoa, thấy được bản thể thường hành
của Bồ tát Phổ Hiền ở nơi hết thảy pháp, xoay lại với
bản nguyện, gọi là Triền Đà la nihay là Đà la nixoay chuyển.
- Trăm
ngàn vạn ức Triền Đà La Ni:
Chứng
đắc được bản thể của Phổ Hiền ở nơi bản thể của
hết thảy pháp gọi là bản thể của tổng trì, nên có năng
lực xoay chuyển ngọn ngành trở lại với gốc rễ, lại xoay
chuyển bản thể nhập vào tác dụng, và xoay chuyển từ một
hạt bụi, một pháp biến thành khắp mọi không gian, biến
thành khắp mọi thời gian, sử dụng mọi phương tiện làm
lợi ích cho chúng sanh, tự tại giữa mọi thuận nghịch, nên
gọi là trăm ngàn vạn ức Triền Đà la ni. Triền Đà la ni
nầy gọi là hạnh biến thể cùng khắp mọi không gian của
Bồ tát Phổ Hiền.
Nên,
trăm ngàn vạn ức Triền Đà la nigọi là Phổ Hiền đại
hạnh (Phổ hiền biến nhất thiết xứ chi hạnh).
- Pháp
âm phương tiện Triền Đà La Ni:
Đà
la ni làm cho hành giả có khả năng thuyết pháp thích ứng
với mọi đối tượng.
Như
vậy, Triền Đà la ni là bản thể Phổ Hiền. Trăm ngàn vạn
ức Triền Đà la ni là tác dụng của Phổ Hiền, và pháp âm
phương tiện Đà la ni tướng trạng và ngôn ngữ thuyết pháp
thích ứng của Phổ Hiền.18
3.
Tuệ Học Phổ Hiền:
Tuệ
học Phổ Hiền ở trong phẩm nầy, chính là tuệ học Pháp
Hoa. Thực hành theo tuệ học nầy, chính là thực hành cái
thấy, cái biết của Phật. Biết rằng, tự bản thân có hạt
giống Phật và có khả năng thành Phật, nếu có nhân duyên
tác động như được Phật trực tiếp giáo hóa, dìu dắt
bằng những phương tiện thiện xảo, hoặc được các thiện
tri thức tác động yểm trợ, bằng những phương tiện thiện
xảo, thì hạt giống Phật sẽ nẩy sinh và tự biết sẽ làm
Phật.
Và
biết rằng, hết thảy chúng sanh đều có hạt giống Phật
và họ đều có khả năng làm Phật, nếu họ gặp Phật và
được Phật sử dụng mọi phương tiện để giáo hóa, hoặc
họ gặp các bậc thiện tri thức dùng các phương tiện thiện
xảo để hiển thị, khai mở Phật tính cho họ và tạo mọi
điều kiện thích hợp để cho họ ngộ nhập hoàn toàn Phật
tính.
Nên,
tự bản thân lắng nghe diễn giảng kinh Pháp Hoa từ các Phật
hay các vị Pháp sư là Văn tuệ; chiêm nghiệm nghĩa lý kinh
Pháp Hoa là Tư tuệ; đọc tụng thọ trì theo kinh Pháp Hoa là
Tu tuệ.
Văn-Tư-Tu
theo kinh Pháp Hoa như vậy, thì nhất định sẽ thành tựu tuệ
giác của Phật. Như ở phẩm nầy, đức Phật đã nói với
Bồ tát Phổ Hiền như sau:
“Nầy
Phổ Hiền! Nếu sau khi Như Lai diệt độ, sau năm trăm năm,
nếu thấy có người đọc tụng, thọ trì kinh Pháp Hoa, phải
nghĩ rằng, người ấy không bao lâu sẽ đến đạo tràng,
phá sạch các chúng ma quân, chứng đắc Tuệ giác vô thượng,
chuyển vận bánh xe chánh pháp, gióng lên tiếng trống chánh
pháp, thổi lên tiếng loa chánh pháp, mưa những trận mưa chánh
pháp, ngồi trên pháp tòa sư tử giữa các đại chúng trời
và người”.19
Như
vậy, tuệ học Phổ Hiền chính là tuệ học Pháp Hoa.
Đức
Phật Thích Ca đã nói với Bồ tát Phổ Hiền, muốn chứng
đắc kinh Pháp Hoa hay tuệ giác của Phật phải thành tựu
đủ bốn mặt:
a.
Phải được chư Phật hộ niệm.
b.
Đã từng gieo trồng các căn bản phước đức.
c.
Đã ở vào trong đoàn thể kiên định đối với chánh pháp.
d.
Phát khởi tâm cứu độ hết thảy chúng sanh.20
- Được
chư Phật hộ niệm là Tuệ học.
- Đã
từng gieo trồng căn bản phước đức là bao gồm cả Giới
học.
- Đã
ở vào trong đoàn thể kiên định đối với chánh pháp là
Định học, và phát khởi tâm cứu độ hết thảy chúng sanh
là Thệ và Nguyện của kinh Pháp Hoa. Thệ và Nguyện nầy hoàn
toàn được thiết lập trên nền tảng của Giới, Định và
Tuệ. Từ Giới, Định và Tuệ của Pháp Hoa mà những Thệ
Nguyện của Pháp Hoa sinh khởi.
Bồ
tát Phổ Hiền đã chứng đắc kinh Pháp Hoa qua bốn điểm
nầy, nên đã phát tâm hộ trì kinh Pháp Hoa, yểm trợ sự
tồn tại của kinh Pháp Hoa dưới nhiều hình thức và cũng
hộ trì, yểm trợ những người thọ trì và hoằng truyền
kinh Pháp Hoa dưới nhiều hình thức, đồng thời cũng khuyến
khích những ai đã và đang thọ trì, diễn giải hoằng truyền
kinh Pháp Hoa, thì càng nỗ lực lên, và ai chưa thì nên phát
tâm để thực hiện tuệ giác Pháp Hoa và sẽ được Ngài
yểm trợ mọi mặt.
Như
vậy, Bồ tát Phổ Hiền đến với kinh Pháp Hoa bằng sự cảm
ứng và hạnh nguyện. Nên, Ngài đã dùng hạnh đức để
yểm trợ và phát triển kinh Pháp Hoa, khiến cho kinh nầy lưu
thông mãi không bị dứt tuyệt, nên phẩm nầy thuộc về phần
hạnh môn lưu thông của kinh Pháp Hoa không những chỉ là Lục
độ mà còn cả hạnh môn Tổng trì nữa.
T.T.H.
1 Bi
Hoa Kinh 4, bản Hán dịch của Đàm Vô Sấm, tr 191-192, Đại
Chính 3.
2 Mười
trí gồm có: 1-Trí biết rõ tâm và tâm hành của chúng
sanh. 2-Trí biết rõ các loại nghiệp báo của chúng sanh. 3-Trí
soi chiếu cùng khắp hết thảy Phật pháp. 4-Trí đạt được
thứ đệ phương tiện đối với Phật pháp. 5-Trí biết rõ
hết thảy pháp môn nắm giữ đầy đủ thiện pháp. 6-Trí
thành tựu hết thảy văn tự biện tài. 7-Trí
biết rõ hết thảy ngôn ngữ của chúng sanh một cách xảo
diệu. 8- Trí biết rõ biểu hiện thân thể cùng khắp
thế giới. 9- Trí soi chiếu đầy đủ cùng khắp tất cả
chúng sanh. 10- Được trí biết rõ tất cả đối với
tất cả mọi điểm đi đến. – Hoa Nghiêm Kinh 33, Hán, Phật
đà bạt đà la dịch, tr 607, Đại Chính 9.
3 Hoa
Nghiêm Kinh 33, Hán, Phật đà bạt đà la dịch, tr 607, Đại
Chính 9.
4 Theo
Cát Tạng tụ có ba loại: Tà định tụ: Nhóm người cố định
theo tà kiến. Chánh định tụ: Nhóm người cố định
theo chánh pháp. Bất định tụ: Nhóm người chưa quyết định
theo tà pháp hay chánh pháp. (Tục Tạng Kinh 42, tr 497A).
Theo
Pháp Hoa Khoa Chú 7: - Chánh định tụ là chỉ cho các bậc Thánh
nhân. - Tạo ngũ nghịch là tà định. - Bất định là phàm
phu.
5 Đại
Chính 9, tr 61A.
6
Đại Chính 9, tr 61A.
7
Đại Chính 9, tr 61 A-B.
8 Trong
Phạn bản của Buddhist Texts – No 6, P 265, không có từ nào
tương đương với Tu Đà Lệ.
9 Phạn
văn phiên âm Hán nầy, Ngài La Thập đã phiên âm từ bản
Phạn văn gồm sáu ngàn bài kệ, được tàng trử tại cung
vua Karmir. Phạn văn phiên âm Hán hiện có trong Đại Chính
9, Tr 61B.
11
Phạn văn Hán dịch nầy, Ngài Pháp Hộ đã dịch từ bản
Phạn văn được cất giữ tại cung vua nước Kotan (Vu điền).
Phạn văn Hán dịch nầy hiện có ở trong Chánh Pháp Hoa Kinh
10, tr 133B, Đại Chính 9.
12-
Adaṇḍe: Miễn hình phạt, được hưởng tự do, không bị
ràng buộc bởi bổn phận và trách nhiệm gì cả. Bản Ngài
La Thập phiên âm a đàn địa.
- Daṇḍapati: Pati động từ gốc của nó là pat, nghĩa là
rơi xuống và nó cũng có nghĩa là ông chủ. Vậy, daṇḍapati
là làm cho hình phạt rơi xuống, hay là ông chủ hình phạt.
Bản Ngài La Thập phiên âm là đàn đà bà địa.
- Daṇḍāvartani: Āvartani đi từ động từ gốc của nó là
ā-vrit xoay chuyển. Nên, daṇḍāvartani nghĩa là xoay chuyển
hình phạt. Bản Ngài La Thập phiên âm là đàn đà bà đế.
- Daṇḍakuśale: Kuśale là hãy thông minh, hãy khéo léo; daṇḍakuśale
là hãy thông minh đối với hình phạt, hãy khéo léo với hình
phạt. Bản Ngài La Thập phiên âm đàn đà cưu xá lệ.
- Daṇḍasudhāri: Sudhāri, đi từ động từ gốc su- DHṚ, nghĩa
là giữ gìn an toàn. Nên, Daṇḍasudhāri là hãy giữ gìn an
toàn hình phạt. Bản Ngài La Thập phiên âm đàn đà tu đà
lệ.
- Sudhāri: Giữ gìn an toàn. Bản Ngài La Thập phiên âm tu đà
lệ.
- Buddhapaśyane: Thấy chư phật. Bản Ngài La Thập phiên âm
phật đà ba chiên nể.
- Sudhārapati: Ông chủ giữ gìn an toàn. Bản Ngài La Thập phiên
âm tu đà la bà để.
- Sarvadhāraṇi: Tất cả tổng trì, tất cả minh chú. Bản
Ngài La Thập phiên âm tát bà đà la ni.
- Āvartani: Hãy xoay chuyển, hãy chuyển hóa, hãy thay đổi.
Bản Ngài La Thập phiên âm a bà đa ni.
- Sarvabhāsyāvartane: Động từ gốc của nó bhās là chiếu
sáng, hiểu biết, ngẫm nghĩ, suy xét. Nên, Sarvabhāsyāvartane
là hãy xoay chuyển tất cả sự hiểu biết. Bản Ngài La Thập
phiên âm tát bà bà sa a bà đa ni.
- Su-āvartane: Hãy xoay chuyển an toàn. Bản Ngài La Thập phiên
âm tu a bà đa ni.
- Saṃghaparīkṣaṇi: Động từ gốc là naśe, đạt được
thành công, đến mục đích. Nên, Saṃghaparīkṣaṇi nghĩa
là cùng nhau đạt mục đích, cùng nhau đạt ngộ. Bản Ngài
La Thập phiên âm tăng già bà lý xoa ni.
- Saṃghanirghātani: Hãy cùng nhau vượt qua. Bản Ngài La Thập
phiên âm tăng già niết già đà ni.
- Asaṃge: Tự do từ sự trói buộc. Bản Ngài La Thập phiên
âm a tăng kỳ.
- Saṃgāpāgate: Cùng nhau vượt qua sự trói buộc, cùng nhau
giải thoát. Bản Ngài La Thập phiên âm tăng dà ba dà địa.
- Tṛ-adhvasaṃgatulya: Cùng nhau vượt qua sự trói buộc cả
ba đời. Bản Ngài La Thập phiên âm đế lệ a đọa tăng dà
đâu lược.
- Sarvasaṃgasamatikrānte: Hãy cùng nhau vượt qua mọi sự trói
buộc. Bản Ngài la Thập phiên âm tát bà tăng dà tam ma địa
dà lan địa.
- Sarvadharmasuparīkṣite: Hãy chứng ngộ hết thảy pháp cao
thượng. Bản Ngài La Thập phiên âm tát bà đạt ma tu ba lỵ
sát đế.
-
Sarvasattvarutakauśalyānugāte: Hãy hiểu rõ âm thanh hết thảy
chúng sanh. Bản Ngài La Thập phiên âm tát bà tát đỏa lâu
đà kiêu xá lược a nâu dà địa.
-
Siṃhavikrīḍite: Vikrīḍite, động từ gốc là krìd, đùa
chơi, đùa vui, chuyển động nhanh chóng; nên siṃhavikrīḍite,
chuyển động một cách nhanh chóng như sư tử. Bản Ngài La
Thập phiên âm tân a tỳ cát lỵ địa đế.
- Anuvarte:
Chuyển động theo, xoay chuyển theo.
-
Svāhā: Chào mừng sự thành công!
13
Đại Chính 9, tr 61C.
14
Đại Chính 9, tr 61C-62A.
15
Đại Chính 9, tr 62A.
16
Đại Chính 9, tr 62A.
17
Như trên.
18
Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ 10, Tục Tạng 51, tr 491B-492A.
19
Đại Chính 9, tr 62A.
20
Đại Chính 9, tr 61A.
