TRIẾT
HỌC THẾ THÂN
Ngôn
ngữ về những gì hiện hữu
Lê
Mạnh Thát
(tiếp
theo số trước)
Bhartṛhari
tiếp cận vấn đề từ hai cách khác nhau. Trước tiên, ông
tự hỏi một từ biểu trưng cho cái gì. Và câu trả lời
tức khắc là nó biểu trưng một vật. Như vậy, từ ‘ngựa’
đang biểu trưng một con vật nào đó bên ngoài có tên là
‘ngựa’. Hoặc từ ‘tai’ biểu trưng cái gì đó có tên
là ‘tai’ ở trên đầu của con ngựa, v.v. Cách trả lời
này cho đến bây giờ rõ ràng đã tỏ ra rất hiệu quả. Tuy
nhiên, khi có người nói “đây là tai-ngựa” thì câu trả
lời gãy đổ hoàn toàn, bởi vì từ ‘tai-ngựa’ không liên
quan gì đến từ ‘ngựa’ hay ‘tai’, nếu ta chủ trương
rằng các từ ‘ngựa’ và ‘tai’ phải biểu trưng các vật
mà chúng được cho là biểu trưng. Tương tự, từ ‘lừa-trắng’
trong tiếng Phạn không có nghĩa biểu trưng một màu có tên
là ‘trắng’ và một vật có tên là ‘lừa’. Từ “tai-ngựa”
là tên một loài cây, và “lừa-trắng” là tên một giống
lừa hoang. Vì thế, mỗi từ không nhất thiết phải biểu
trưng một sự vật.[1] Dĩ nhiên, chẳng có gì mới trong kết
luận đó, ngoại trừ đó là phát biểu công khai đầu tiên
về vấn đề này kể từ thời của Nyāyasūtra, một phát
biểu mà An Huệ đã lập lại như đã thấy. Vì thế, cách
tiếp cận thứ nhất của Bhartṛhari ít ra đã không mang lại
cho ông bất kỳ kết quả lôi cuốn nào.
Tuy
nhiên, cách tiếp cận thứ hai lại cho ông kết quả mỹ mãn
nhất, ít nhất qua sự phát triển trong tư duy của ông về
vấn đề tính thể của ngôn ngữ. Ông khởi đầu phương
cách này bằng các câu hỏi như thế này “Phát biểu ‘mầm
mộng nhú lên’ muốn nói cái gì?” Ông lập luận như sau.
Nếu từ ‘mầm mộng’ biểu trưng cái gì đó thật sự hiện
hữu ở bên ngoài thì có ích gì để nói là ‘nó nhú lên’,
bởi vì nói rằng cái gì đó nhú lên có nghĩa là cái đó
chưa hoàn toàn là nó, tức nó chưa hoàn toàn hiện hữu. Thật
vậy, nếu từ ‘mầm mộng’ thật sự biểu trưng cái gì
đó thật sự đang hiện hữu thì thật mâu thuẫn khi nói rằng
nó nhú lên. Hơn nữa, chỉ có hai khả năng để chọn trong
trường hợp của mầm mộng: hoặc là nó hiện hữu, hoặc
không hiện hữu. Trong cả hai trường hợp, đều phi lý để
nói là ‘mầm mộng nhú lên’. Bởi vì nếu nó hiện hữu,
tại sao lại nói là nó nhú lên, vốn chỉ cho cái gì đó hiện
hữu từ chỗ không hiện hữu; và nếu nó không hiện hữu,
tại sao nói nó nhú lên? Tương tự như thế, phát biểu “không
có mầm mộng” muốn nói lên cái gì? Nếu từ “mầm mộng”
biểu trưng cái gì đó thật sự hiện hữu ở ngoài đó thì
làm sao ta có thể nói “không có mầm mộng”? Bởi vì trong
trường hợp này, chỉ cần nói từ ‘mầm mộng’ là người
ta đã mặc nhiên thừa nhận có hiện hữu cái gì đó ở ngoài
được gọi tên là “mầm mộng”. Thật vậy, chỉ nghĩ rằng
mỗi từ phải biểu trưng một sự vật thì ta sẽ gặp ngay
mọi thứ khó khăn mà câu hỏi “phát biểu ‘mầm mộng nhú
lên’ muốn nói gì?” mới chỉ là khó khăn đầu tiên. Bởi
vì nếu bất cứ ai cố gắng thiết lập một hệ thống luận
lý dựa vào cách nghĩ đó, ta có thể chứng minh hệ thống
đó sẽ bị bẻ gãy một cách dễ dàng. Thật vậy, toàn bộ
Trung Luận của Long Thọ là để dành cho việc bẻ gãy này,
và lý luận trên của Bhartṛhari có thể truy nguồn từ chính
luận thư này.[2]
Trong
chương đầu của tác phẩm này, Long Thọ khảo sát vấn đề
liên hệ giữa nhân và quả. Ông chỉ ra rằng từ ‘nhân’
thường được định nghĩa là ‘mang cái gì đó vào sự hiện
hữu’. Thế nhưng, nếu chủ trương rằng mỗi từ phải biểu
trưng một vật đang thật sự hiện hữu ngoài đó, thì ngay
cả định nghĩa này cũng phi lý. Bởi vì từ ngữ cái gì đó
trong định nghĩa đó cũng nhất định phải biểu trưng cái
gì đó mà nó đang hiện hữu, vậy thì “mang nó vào sự hiện
hữu” để làm gì? Hơn nữa, nếu không hiện hữu cái gì
đó như thế thì lại càng phi lý hơn khi nói là mang nó vào
sự hiện hữu. Bởi vì, rốt cùng có cái gì ở đó để mang
vào sự hiện hữu? Vì thế, bằng lý luận đó, Long Thọ tiếp
tục phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ cấu trúc học
thuyết tiêu chuẩn về nhân quả của Tỳ Bà Sa và những thứ
tương tự của họ.[3] Như khi Long Thọ nói “một đối tượng
hiện hữu hoặc một đối tượng không hiện hữu đều không
thể có nhân về mặt luận lý, bởi vì nếu đối tượng
đó đang hiện hữu thì có nhân để làm gì? Và nếu nó không
hiện hữu thì nó là nhân của cái gì?”, thì ta có thể nhận
ra ngay âm hưởng của nó trong phát biểu của Bhartṛhari cho
rằng “sinh được định nghĩa là trạng thái của một hiện
hữu đang sở đắc cái có thể sở đắc sự sở đắc của
chính nó; vậy thì nếu cái hiện hữu đó hiện hữu, tại
sao nó lại được sinh ra? Nếu nó không hiện hữu, thì làm
sao nó có thể được sinh ra?”[4]
Và
chính ở đây mà đóng góp của Bhartṛhari đã trở nên rất
giá trị đối với hiểu biết của chúng ta về vị trí lịch
sử của tư tưởng Thế Thân. Nó cho chúng ta thấy được
lý do tại sao các thuật ngữ Long Thọ đã sử dụng để trình
bày triết học của ông lại dẫn Thế Thân đến việc đề
ra giải pháp theo cách của ông. Thật vậy, ta có thể nói
một cách chắc chắc rằng tư tưởng của Thế Thân là sự
kiện toàn triết học của Long Thọ, một sự kiện toàn được
tóm lược thật hàm súc trong quan điểm của Bhartṛhari về
yếu tính của ngôn ngữ. Tóm lại, khi đọc Bhartṛhari, ta
nhận ra tại sao Long Thọ đã khảo sát vấn đề nhân quả
và các chủ đề tương tự theo cách của ông, và tại sao
Thế Thân cảm thấy cần phải lập luận rằng sự chuyển
biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ và sự chuyển
biến đó phải đặt nền tảng trên mô tả về ngã và pháp.
Nói cách khác, khi Bhartṛhari hối thúc rằng ta phải xem từ
ngữ chỉ là những mô tả để tránh mọi khó khăn do khái
niệm từ ngữ phải biểu trưng sự vật gây ra đối với
những phát biểu như “mầm mộng nhú lên”, thì ông thật
sự đã tóm tắt toàn bộ kết quả tuyệt vời mà những tìm
tòi triết học đã sinh khởi kể từ thời của Long Thọ cho
đến Thế Thân.
Vậy
thì chẳng có gì ngạc nhiên khi Aśvabhāva đã thoải mái trích
dẫn Bhartṛhari trong sớ giải của mình về Tam Thập Tụng,
và tại sao Nghĩa Tịnh lại ghi rằng ông (Bhartṛhari) đã bảy
lần nỗ lực trở thành một vị tỳ kheo mà đều thất bại.
Thật vậy, ta còn có thể xem ông là đồ đệ ưu tú nhất
mà Thế Thân từng có. Và tư tưởng của ông không thể bị
đánh giá một cách nông cạn để rồi xem đó là “bà la
môn” hay “chống Phật giáo” như một số tác giả đã
làm.[5] Dĩ nhiên, ta không thể bàn đến vấn đề này ở đây,
vì nó không thuộc phạm vi chương này và Bhartṛhari là một
tư tưởng gia có tầm cỡ xứng đáng cho chúng ta bàn đến
một cách chu đáo hơn là những gì có thể làm trong khuôn
khổ những trang giấy này. Tuy nhiên, chừng này cũng đủ để
nói rằng với ý kiến trên của chúng ta, một điều chắc
chắn không thể nào phủ nhận được là những nghiên cứu
theo hướng này trong tương lai sẽ củng cố được cho phát
biểu của chúng ta hôm nay.
Vì
thế, thuyết mô tả được trình bày trong Tam Thập Tụng không
những cho thấy trả lời của Thế Thân đối với mối quan
tâm triết học tiên khởi của ông mà còn cả giải pháp của
riêng ông đối với vấn đề lâu đời mà Long Thọ đã không
thể đưa ra câu trả lời cho dù đã có những phê phán sáng
giá về nó. Vì thế, ta có thể nói rằng nó biểu trưng cho
đỉnh cao của quá trình nghiên cứu triết học lâu dài và
thường rất công phu của Thế Thân. Có lẽ chính do sự nối
kết lịch sử này giữa ông và các nhà tư tưởng quá khứ
mà ông cảm thấy không cần thiết phải nói rõ từ ngữ ‘mô
tả’ có nghĩa là gì trong tác phẩm của ông. Và sự khảo
sát của chúng ta về các tư liệu gốc ở trên có thể xác
chứng là từ ngữ đó đã được thời đại ông định nghĩa
rõ ràng. Thật vậy, nếu chúng ta áp dụng định nghĩa của
Nyāyasūtra vào một số trường hợp mà Thế Thân đã sử
dụng nó trong các tác phẩm của ông, ta sẽ thấy rằng định
nghĩa này phù hợp một cách chính xác như chúng ta mong muốn.
Một trong những lần hiếm hoi mà Câu Xá Luận đã sử dụng
đến từ ‘mô tả’, chúng ta đọc được như thế này:
Nếu
tự ngã không hiện hữu thì ý nghĩa của tạo nghiệp là gì?
– Đó là vì để tôi có thể hạnh phúc và để tôi không
phải đau khổ. Đối tượng của cái gọi là ‘tôi’ mà
ông nói đến là gì? – Đối tượng của nó là các uẩn.
Làm sao biết? – Bởi vì sự chấp trước của ‘tôi' đối
với chúng, có nghĩa là vì nó có chung chỗ với những ý tưởng
như trắng, v.v. Thí dụ, người ta nói “Tôi trắng”, “Tôi
đen”, “Tôi béo”, “Tôi ốm”, Tôi già”, “Tôi trẻ”,
v.v. Ý tưởng về “Tôi” nên được xem như có cùng chỗ
với những ý tưởng như trắng, v.v. Và các loại ý tưởng
này không nên được xem như thuộc về tự ngã. Vì thế đương
nhiên là ngã cũng chấp trước các uẩn. Ngay cả khi thân thể
này được phục vụ bởi [từ] ‘ngã’, để có được những
mô tả về ngã như “đó là những gì tôi là”, “đó chính
là những gì mà một vị quan là”, ngay cả trong việc phục
vụ như thế, thì [từ] ‘ngã’ cũng chỉ là một mô tả
mà không có ý tưởng về một cái ngã [đích thực].
Nay
nếu [từ ‘ngã’] có thân làm đối tượng, vậy tại sao
không phải thân của một người khác được dùng cho khả
năng đó? – Bởi vì không có quan hệ nào cả, tức vì ý
tưởng về ‘Tôi’ sinh khởi bất cứ nơi nào nó có một
quan hệ với một thân nào đó hay một tâm nào đó, mà không
phải một nơi nào khác. . .
Nhưng
nếu tự ngã không hiện hữu, thì ý tưởng về ‘Tôi’ thuộc
về ai? – Câu hỏi này đã được chúng tôi trả lời trong
khi bàn về niệm, trong đó đã chỉ rõ rằng người chủ của
niệm chính là nhân của niệm.
Nhưng
nhân là cái gì? Nó có khác biệt không? Nhân là loại thức
cấu nhiễm bị tác động toàn bộ bởi các ý tưởng về
‘Tôi’ trước đó và lấy dòng thức của chính nó làm đối
tượng.
Thế
nhưng, nếu tự ngã không hiện hữu, thì cái cảm nhận hạnh
phúc hay đau khổ là ai? – Hạnh phúc hay đau khổ sinh khởi
từ một nền tảng nào đó, giống hệt như người ta nói,
cây có hoa, rừng có trái.[6]
Không
cần nói rõ mô tả là gì, thì đoạn văn trên cũng cho chúng
ta những trình bày chi tiết nhất, có lẽ là trình bày chi
tiết duy nhất về những gì Thế Thân có trong đầu khi sử
dụng từ này trong tác phẩm của ông. Vì vậy, thật đáng
cho chúng ta xem xét định nghĩa của Nyāyasūtra có thể được
áp dụng ở đây không. Trong đoạn trên, Thế Thân lập luận
rằng từ ‘ngã’ là chỉ cho các uẩn, cái tạo thành một
con người và, theo Tỳ Bà Sa, có thể được phân tích thành
năm nhóm, đó là nhóm vật lý, nhóm cảm thọ, nhóm khái niệm
hóa, nhóm ý chí và nhóm tri nhận. Như vậy, rõ ràng từ ‘ngã’
đang được áp dụng cho những gì không phải là nó và nơi
không thuộc về nó. Bởi vì, theo Tỳ Bà Sa, mỗi một trong
các nhóm này đều có cơ cấu vận hành riêng của nó và không
cần đến bất cứ can thiệp nào nữa ngoài cơ cấu đó. Vì
vậy, giống như có người nói “cái bục thét lên” và điều
anh ta muốn nói là những người trên bục thét lên, thì khi
có người nói “tôi thấy”, anh ta cũng muốn nói là một
cơ cấu phức tạp của khối lượng thân thể nào đó nhìn
thấy chứ không phải cái gì khác hơn. Như vậy, từ ‘tôi’
trong câu nói “tôi thấy” đóng vai trò của từ ‘cái bục’
trong câu nói “cái bục thét lên”. Vì lẽ đó, tất nhiên
từ đó phải là một mô tả, như đã được Nyāyasūtra định
nghĩa. Tóm lại, từ ‘ngã’ mô tả tính chất một sự vật
nào đó, chứ nó không biểu trưng một sự vật đang thật
sự hiện hữu có tên là ‘ngã’. Không có một sự vật
như ‘ngã’ mà nó cảm nhận vui hay buồn, giống hệt như
trường hợp không có một sự vật như khu rừng có hoa. Chính
cây cối và cây bụi có hoa chứ không phải khu rừng. Nhưng
trong ngôn ngữ hàng ngày người ta hoàn toàn có thể hiểu
được khi nói “khu rừng có hoa” và điều này lại khiến
cho từ ‘rừng’ trở thành một mô tả. Nó được dùng để
mô tả một số các sự vật mà những sự vật này, vì tính
chất ngắn gọn trong giao tiếp, không cần phải liệt kê tất
cả. Vậy thì điều hiển nhiên là Thế Thân hẳn phải biết
rõ Nyāyasūtra và định nghĩa của nó về mô tả, và điều
này đã tự biểu lộ rõ ràng ngay từ đầu trong Câu Xá Luận.
Ở
điểm này, khi đã được trang bị một hiểu biết chính xác
về những gì từ ‘mô tả’ ám chỉ, nay ta có thể trở
lại vấn đề tại sao sự mô tả về ngã và pháp lại đặt
nền tảng trên sự chuyển biến của thức, một sự chuyển
biến được định nghĩa là cấu trúc ngôn ngữ và đã dẫn
đến luận đề nổi tiếng bất kỳ cái gì được cấu trúc
qua ngôn ngữ đều không thực hữu. Ta đã thấy rằng mô tả
được định nghĩa là “cái không phải nó và nơi không có
nó”. Ngoài ra, từ những phê phán của Long Thọ và Bhartṛhari,
ta còn biết rằng mọi từ ngữ đều chỉ là những mô tả,
nếu chúng có ám chỉ cái gì đó. Từ những quan niệm này
điều tất yếu là những gì được cấu trúc bằng ngôn ngữ
qua các mô tả đó không nhất thiết phải hiện hữu. Bởi
vì làm sao nó có thể hiện hữu khi nó được tạo thành bởi
những mô tả mà theo định nghĩa đều “ở vào tình trạng
không phải chính nó” hoặc “là cái được áp dụng cho
những gì không phải chúng và nơi chúng không thuộc về”?
Vì lẽ đó, nó chỉ là “cái khiến ta biết”, như Thế Thân
đã phát biểu. Thật vậy, giống như từ ‘cái bục’ được
dùng cho cái gì đó khác hơn chính nó, mọi cấu trúc ngôn
ngữ phải chỉ cho cái gì đó khác hơn chính nó theo cách tương
tự. Và giống hệt như cái bục trong câu nói “cái bục thét
lên” không hề hiện hữu, bởi vì trong đó từ ngữ này
đang chỉ cho con người chứ không phải cái bục, thì mọi
cấu trúc ngôn ngữ cũng đều phi hữu như thế, bởi vì tự
thân chúng chỉ bao gồm các mô tả.
Một
khi cấu trúc ngôn ngữ không hiện hữu, tất nhiên những gì
được cấu trúc bằng ngôn ngữ cũng không cần phải hiện
hữu. Nó không hiện hữu theo nghĩa nó không biểu trưng một
sự vật mà nó được gọi tên hay được cấu trúc ngôn ngữ
theo sự vật đó. Có nghĩa là sự không hiện hữu của nó
dự tưởng một hiện hữu của cái gì đó khác với chính
nó và là cái mà nó chỉ là một mô tả về. Thật vậy, trong
Trisvabhāvanirdeśa, Thế Thân đã nhấn mạnh rằng “thức không
tuyệt đối hiện hữu theo cách nó dựng thành chính nó qua
ngôn ngữ và theo cách nó dựng thành đối tượng qua ngôn
ngữ”.[7] Những ai có khuynh hướng luôn luôn muốn khẳng
định rằng đối với Thế Thân “thức là thực tại duy
nhất” hãy nên nhớ lấy phát biểu vừa dẫn. Điều nó muốn
nói rất đơn giản. Thức không hiện hữu, bởi vì làm sao
nó có thể hiện hữu khi mọi thứ tạo thành nó đều “ở
tình trạng không phải chính nó”, “được dùng cho cái không
phải nó và nơi không thuộc về nó”?
Nói
cách khác, thức không hiện hữu bởi vì nó là những gì không
phải là nó và nó không phải là những gì nó là. Cùng lúc
hãy lưu ý rằng từ ‘cái bục’ trong câu nói “cái bục
thét lên” cũng có thể được định nghĩa như thế: nó là
cái không phải là nó và không phải là cái nó là. Và một
điều trở thành hiển nhiên ở đây là lý do tại sao thức
trong tình trạng chuyển biến liên tục của nó lại được
đồng nhất với tiến trình của cấu trúc ngôn ngữ, và tại
sao sự mô tả về ngã và pháp lại căn cứ vào thức đó,
nếu không phải là đồng nhất với nó. Tóm lại, khi quan
niệm mô tả nói trên đòi hỏi từ ngữ phải chỉ cho các
sự vật khác hơn chính chúng và khi thức hoàn toàn bị qui
định bởi từ ngữ, thì không khó khăn để nhận ra rằng
tại sao “thức không hiện hữu tuyệt đối theo cách nó dựng
thành chính nó bằng ngôn ngữ và theo cách nó dựng thành đối
tượng qua ngôn ngữ”. Nhưng nếu thức không hiện hữu vì
nó là cái không phải là nó và không phải là cái nó là,
thế thì cái gì hiện hữu?
Trả
lời câu hỏi này, Thế Thân đề ra thuyết gọi là ba tánh
của ông. Trong Tam Thập Tụng, ông mô tả như sau:
Bất
cứ cái gì được cấu trúc bằng ngôn ngữ bởi bất cứ
cấu trúc ngôn ngữ gì cũng đều có một tự tánh ngôn ngữ
[mà tự tánh này] không thể được tìm thấy. Nhưng có tự
tánh tương đối sinh khởi từ các yếu tố qui định [dùng
làm nền tảng cho] cấu trúc ngôn ngữ và tự tánh này cũng
thuộc loại tự tánh tuyệt đối bất cứ khi nào nó được
tách rời thường xuyên với cấu trúc ngôn ngữ. Như vậy,
tự tánh tuyệt đối không phải là khác cũng không phải không
khác tự tánh tương đối. Cần phải xem như là vô thường,
v.v., khi cái này đã không được tri nhận, cái kia không được
tri nhận. [Tuy nhiên,] chính do tình trạng không có ba tự tánh
của ba tự tánh mà tình trạng không có ba tự tánh của mọi
sự vật được mật thuyết. Tự tánh thứ nhất là không
có tự tánh bằng chính đặc tánh của nó. Tự tánh thứ hai
là như thế vì nó không hiện hữu tự nó. Tự tánh thứ ba
là không có tự tánh vì nó là trạng thái sơ khởi nhất của
mọi sự vật và [là] cái như thế của chúng, và vì nó mãi
mãi như thế. Chỉ nó là “cái khiến ta biết”.[8]
Những
gì đoạn văn trên diễn tả thật hoàn toàn hiển nhiên. Mặc
dù ta có thể phân biệt sự vật ít nhất thành ba loại, tức
(1) những sự vật như ta cấu thành chúng qua ngôn ngữ, (2)
những sự vật như chúng hiện hữu phụ thuộc vào những
sự vật khác, kể cả cấu trúc ngôn ngữ, (3) và những sự
vật như chúng là, tuy nhiên vẫn có một sự kiện là các
sự vật chỉ hiện hữu như chúng là, bất kể có hay không
có một thức hay một cấu trúc ngôn ngữ.
Vì
vậy, trạng thái chúng là như thế chính là sự kiện duy nhất
đáng để ta biết, và chỉ có nó mới có thể làm “cái
khiến ta biết”. Nói cách khác, nguyên thủy chỉ có các sự
vật, tức tình trạng nguyên sơ nhất của các sự vật. Rồi
từ trạng thái đó các sự vật khác sinh khởi nhờ phụ thuộc
vào chúng. Và cuối cùng, có các cấu trúc ngôn ngữ về chúng.
Cấu trúc ngôn ngữ hiển nhiển là chỉ cho chúng, vì thế,
đối với các sự vật, chắc chắn nó không hiện hữu bằng
tự tánh của nó, bằng chính đặc tánh của riêng nó. Còn
lại là các sự vật và trạng thái uyên nguyên nhất của
chúng. Chúng đồng nhất, vì trạng thái uyên nguyên nhất này
chỉ có thể hiện hành qua sự xuất hiện của nó trong các
sự vật, và các sự vật chỉ có thể xuất hiện qua sự
phụ thuộc vào trạng thái đó. Tóm lại, chúng giống như
trạng thái vô thường của một sự vật. Chúng ta không thể
nhận ra sự vô thường của một đóa hoa nếu không nhìn thấy
đóa hoa, và cũng như thế, chúng ta không thể nhìn thấy đóa
hoa mà không nhận ra vẻ tươi đẹp của nó phai tàn nhanh như
thế. Vì thế, dù ta có thể nói về ba tự tánh nhưng cũng
chỉ có một tự tánh, và tự tánh này tự nó thì “không
có tự tánh bởi vì nó là trạng thái uyên nguyên nhất của
mọi vật và là cái như thế của chúng và vì nó mãi mãi
như thế”. Thật ra, điều Thế Thân muốn nói qua định nghĩa
này là mọi vật hiện hữu như chúng là trong trạng thái nguyên
sơ nhất này của chúng, bất kể chúng có thể thay đổi thành
cái gì và thay đổi như thế nào. Vì thế, để trả lời
câu hỏi “Vậy cái gì thực sự hiện hữu?” ở trên, có
lẽ Thế Thân đã nói rất rõ rằng, đó là sự vật.
Lời
đáp này còn rõ ràng hơn trong Trisvabhāvanirdeśa, một luận
thư nhằm trình bày một cái nhìn bao quát về thuyết ba tánh.
Trong đó, Thế Thân cho chúng ta biết thuyết đó cần được
hiểu như thế nào như sau:
Tự
tánh tuyệt đối không khác với tự tánh ngôn ngữ, vì cái
sau có tự tánh của nó là tánh chất nhị nguyên mà không
hiện hữu trong khi cái trước có tự tánh của nó là sự
không có tánh chất nhị nguyên đó. Ngược lại, tự tánh
ngôn ngữ được biết là không khác với tự tánh tuyệt đối
vì cái sau có tự tánh của nó là tánh chất nhị nguyên mà
không hiện hữu.
Tự
tánh tuyệt đối cũng nên được xem không khác tự tánh tương
đối, vì cái sau không hiện hữu theo cách nó xuất hiện trong
khi cái trước có tự tánh của nó là sự không hiện hữu
của cách xuất hiện đó. Ngược lại, tự tánh tương đối
nên được biết là không khác tự tánh tuyệt đối, vì cái
sau có tự tánh của nó là một tánh chất nhị nguyên không
hiện hữu trong khi cái trước có tự tánh của nó là một
cách xuất hiện không hiện hữu. . .
Như
vậy ba tự tánh này nên có tánh chất bất nhị và bất khả
tri, vì tánh thứ nhất không hiện hữu, tánh thứ hai không
hiện hữu theo cách nó hiện hữu, và tánh thứ ba có tự tánh
của nó là sự không hiện hữu của tánh thứ nhất. Nó giống
hệt như hình ảnh ảo về sự xuất hiện của một con voi
do năng lực của câu thần chú, nhưng thật ra không hiện hữu
một con voi nào cả mà chỉ là một hình bóng. Ở đây, con
voi là tự tánh ngôn ngữ, hình bóng trên đó con voi xuất hiện
là tự tánh tương đối; và tự tánh tuyệt đối là sự không
hiện hữu của con voi đang xuất hiện trên hình bóng đó.
Từ thức căn bản, cấu trúc ngôn ngữ vốn không hiện hữu
lại xuất hiện như một tự ngã đôi. Tự ngã đôi này không
hiện hữu. Vì thế chỉ hiện hữu hình dáng trên đó tự
ngã này xuất hiện. Ta có thể ví thức căn bản với câu
thần chú, ‘cái như thế’ với phiến gỗ [trên đó con voi
xuất hiện], cấu trúc ngôn ngữ với hình thể trên đó [con
voi xuất hiện], và tự ngã đối với con voi.[9]
Trình
bày này không để lại chút nghi ngờ nào về quan điểm của
Thế Thân đối với vấn đề cái gì hiện hữu. Ông nhấn
mạnh rằng tự tánh tuyệt đối không khác với tự tánh ngôn
ngữ hay tự tánh tương đối của một sự vật. Như vậy,
một vật hiện hữu không chỉ nhờ phụ thuộc trạng thái
của những gì nó là mà còn phụ thuộc vào những sự vật
khác. Hơn nữa, nó hoàn toàn có thể được cấu thành bằng
ngôn ngữ, bởi vì “tự tánh tuyệt đối không khác với
tự tánh ngôn ngữ”. Và đây là những gì thu hút chúng ta.
Bởi vì nó chỉ rõ rằng đối với Thế Thân, mặc dù cái
được cấu thành bằng ngôn ngữ không hiện hữu, nhưng nó
chỉ không hiện hữu khi nào nó được quan niệm là biểu
trưng cho một vật thật nhất định nào đó ở nơi nào đó
thuộc ngoại cảnh. Thật ra nó vẫn hiện hữu khi nó được
xem như là một sự mô tả nhằm mô tả cái gì đó bên ngoài,
bởi vì những gì được cấu thành qua ngôn ngữ cũng phải
chỉ cho cái gì đó khác hơn chính nó. Vì thế, để đồng
nhất tự tánh tuyệt đối của một sự vật với tự tánh
ngôn ngữ của nó, Thế Thân chứng minh rõ rằng ngôn ngữ
không phải không có nghĩa của nó, bởi vì nếu không thì
làm thế nào một sự đồng nhất như thế có thể thực hiện
được? Dĩ nhiên, điều này chẳng có gì mới lạ phải ngạc
nhiên. Cái mới lạ là suy luận rằng, đối với Thế Thân,
ngôn ngữ đặt nền tảng trên sự kiện chứ không phải trên
sự vật. Căn cứ trên sự kiện có nghĩa là mô tả trạng
thái của một sự vật vào một thời điểm nhất định nào
đó và một nơi chốn nhất định nào đó. Khi ngôn ngữ được
quan niệm như thế, thì tự nhiên mọi từ ngữ phải được
xem như những mô tả. Và cái gọi là cấu trúc ngôn ngữ chính
là cấu trúc các mô tả.
Vì
thế, Thế Thân đã xem sự chuyển biến của thức là một
cấu trúc ngôn ngữ. Cấu trúc ngôn ngữ là một cấu trúc
các mô tả. Vậy thì, nay chúng ta đã có thể bàn về lý do
tại sao chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ
và tại sao thức tự chuyển biến trước tiên, một lý do
cho đến lúc này vẫn chưa được bàn đến kể từ khi chúng
ta đụng đến khái niệm mô tả. Nyāyasūtra định nghĩa mô
tả là “cái ở trạng thái không phải là chính nó”, và
hơn nữa sự chuyển biến của thức còn được nghĩ là cấu
trúc của các mô tả. Ngoài ra, người ta còn lập luận rằng
bất cứ cái gì được cấu trúc qua ngôn ngữ bởi cấu trúc
của các mô tả thì không khác với sự vật mà cấu trúc
ngôn ngữ chỉ đến. Có nghĩa là kết quả của cấu trúc
ngôn ngữ thật sự là sự vật ở nơi nào đó bên ngoài.
Như vậy, nếu chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn
ngữ và kết quả của cấu trúc ngôn ngữ không khác với
sự vật ngoại giới, thì điều tất nhiên là chuyển biến
của thức ám chỉ cái gì đó khác hơn chính nó và được
duy trì bới chính sự vật đó, một sự vật không thể bị
tách ly. Nhưng nếu thức ám chỉ cái gì đó khác hơn chính
nó trong suốt tiến trình chuyển biến thì chính sự hiện
diện của “cái gì đó khác hơn chính nó” này đã bắt
đầu trước tiên trong tiến trình chuyển biến của nó, và
sự chuyển biến này, đến lượt nó, lại là lý do tồn tại
của thức. Tại sao? Bởi vì nó ám chỉ cái gì đó khác hơn
chính nó thì nó phải dành chỗ cho cái đó theo cách nào đó
để cho sự ám chỉ này có thể thực hiện được. Và điều
đó nhất thiết đòi hỏi phải có sự thay đổi nào đó trong
chính nó. Tóm lại, nó phải chuyển biến như thế nào đó.
Đó là lý do tại sao trước tiên thức tự chuyển biến. Nó
tự chuyển vì tự thân nó ám chỉ một cái gì đó khác hơn
chính nó và điều này đòi hỏi nó phải tự chuyển để
sự vật đó hiện khởi. Vì vậy, nếu tôi tri nhận một cuốn
sách, thì tri nhận đó chỉ có thể có nếu thức của tôi
đã tự chuyển biến từ bất kỳ trạng thái nào mà nó đã
là sang trạng thái của một thức về cuốn sách. Tương tự,
từ một thức về cuốn sách, nó lại tự chuyển biến thành
một thức mới để tôi có thể đọc được nhan đề cuốn
sách đó, chẳng hạn. Như vậy, thức ở trong tình trạng chuyển
biến và thay đổi thường xuyên. Hãy nhớ rằng, mọi ý thức
về cái gì đó đồng thời cũng là ý thức về chính nó.
Nhưng
nếu thức luôn luôn ở trạng thái thay đổi và chuyển biến
thường xuyên thì nó luôn luôn thuộc cái gì đó khác hơn
chính nó, bởi vì chính sự hiện diện của “cái gì đó
khác hơn chính nó” này đã bắt đầu trước tiên trong hoạt
động chuyển biến của nó. Vì vậy, thức phải luôn luôn
là thức về cái gì đó, bởi vì nếu không có cái gì đó
thì trước tiên nó sẽ không hiện hữu. Nói cách khác, không
có cái gọi là thức thuần túy. Thức cần phải và nhất
định là thức về cái gì đó. Nhưng nếu thức cần phải
và nhất định là thức về cái gì đó thì đó là vì nó
luôn luôn bị qui định bởi ngôn ngữ. Nếu tôi thấy một
bông cúc dại thì bông cúc đó phải nằm trong bụi trong vườn
tôi. Nó không thể di chuyển vào thức của tôi, và cũng không
hiện hữu trong đó. Vậy những câu nói như “tôi thấy một
bông cúc” có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là khi tôi thấy một
bông cúc, thì một thông tin nào đó được cung cấp cho một
quan năng thuộc thị giác, rồi quan năng này khởi động một
loạt chuyển biến khiến cho quan năng này không chỉ nhận
biết chính nó mà còn nhận biết cái gì đó khác hơn chính
nó, cái mà trong trường hợp này được diễn tả là “bông
cúc” nhờ vào một ngôn ngữ được cho.
Như
vậy, những gì bông cúc thực hiện thì rất đơn giản. Khi
có điều kiện đúng, nó tác động, nhờ một tiến trình
vật lý-hóa học nào đó, lên một quan năng thị giác riêng
biệt, và, để tránh rườm rà, quan năng này được gọi tên
là ‘tôi’, và từ đó chính những vận hành của quan năng
này sinh khởi những câu nói như “tôi thấy một bông cúc”.
Tuy nhiên, nếu bông cúc tác động nhờ vào một tiến trình
vật lý-hóa học nào đó thì nó chỉ tác động như vậy chừng
nào nó là một nguồn thông tin, bởi vì nó ở đó, nó không
di chuyển vào thức của tôi hay làm bất cứ điều gì thuộc
loại đó. Kết quả, tri nhận của tôi về bông cúc sẽ chỉ
xảy ra chừng nào ngôn ngữ của tôi, dù ngôn ngữ nói hay
dạng nào khác, cho phép tôi diễn đạt được điều đó.
Bởi vì không phải bông cúc chuyển vào thức tôi. Trái lại,
chính thông tin về nó đã khởi đầu tri nhận của tôi trước
tiên, và thông tin đó chỉ có thể hiện hữu đối với tri
nhận ở dạng này hay dạng khác của một ngôn ngữ đã cho.
Ý nghĩa về vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển của
một thức như vậy rất hiển nhiên. Thật vậy, khó có thể
quan niệm sự hiện hữu của một thức mà không có ngôn ngữ,
như Thế Thân đã sớm nhận ra vào những năm ông viết Câu
Xá Luận, trong đó ông nói rõ rằng “tất cả các thức thân
đều luôn luôn kèm theo cái gọi là ngôn ngữ của ý”.
Như
vậy, đã là thức thì bắt buộc phải luôn luôn là thức
về cái gì đó và phải là cấu trúc ngôn ngữ về cái đó.
Vì thế không có cái gọi là thức tự nó. Chính sản phẩm
của các điều kiện phát khởi nó. Tóm lại, như Thế Thân
đã nói, “thức không hiện hữu tuyệt đối theo cách nó
tự cấu thành bằng ngôn ngữ và theo cách nó cấu thành đối
tượng bằng ngôn ngữ”. Thức không hiện hữu, không phải
vì không có thức, bởi vì luôn luôn có một thức về cái
gì đó. Nó không hiện hữu vì không có một thức như thế.
Nó buộc phải luôn luôn là thức về cái gì và luôn luôn
là một cấu trúc ngôn ngữ về cái đó. Vì thế, sự chuyển
biến của thức không là gì cả mà chỉ là một cấu trúc
ngôn ngữ thuộc loại này hay loại khác.
Từ
kết luận đó, câu hỏi sự mô tả về ngã và pháp có phải
là sự chuyển biến của thức hay chỉ dựa vào chuyển biến
đó đã trở nên hầu như lỗi thời. Nếu chuyển biến của
thức là một cấu trúc ngôn ngữ như vừa được định nghĩa,
thì sự mô tả về ngã và pháp vừa là sự chuyển biến đó
vừa dựa vào sự chuyển biến đó. Có nghĩa là sự chuyển
biến có thể xảy ra chính là do sự mô tả, và sự mô tả
là một mô tả do chính sự chuyển biến. Dĩ nhiên, điều
này không có ý dùng làm một giải pháp chiết trung cho vấn
đề ngữ ngôn học thuần túy về dạng nguyên thủy của luận
đề trong Tam Thập Tụng của Thế Thân là gì, tức có phải
nó được diễn đạt là “sự mô tả về ngã và pháp...
‘là sự chuyển biến của thức’ hay sự mô tả về ngã
và pháp... ‘là dựa vào sự chuyển biến của thức’”.
Về vấn đề này, chúng tôi đã đưa ra ý kiến riêng của
mình ở chương trước, phát biểu phần nào về việc nên
chọn dạng đầu thì hay hơn. Vấn đề ngữ ngôn học đó,
mặc dù có những ẩn nghĩa rất thú vị của nó, nhưng trên
thực tế, thì vẫn có thể xem như đã được giải quyết.
Khi
nói rằng sự chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn
ngữ, Thế Thân đã không để lại nghi hoặc nào về vị trí
của mô tả trong sự chuyển biến đó. Vì thế, vấn đề
mang tính ngôn ngữ học đó, dường như vốn nhất định vượt
ra ngoài bất kỳ bàn luận ngôn ngữ học thuần túy nào, đã
được cung cấp các dữ liệu giá trị vào lúc này. Các dữ
liệu này có khuynh hướng lập luận vừa ủng hộ vừa chống
lại phát biểu cho rằng sự mô tả về ngã và pháp là sự
chuyển biến của thức hoặc phát biểu cho rằng nó đặt
nền tảng trên sự chuyển biến đó. Các dữ liệu nói trên
hiển nhiên xuất phát từ các nhà luận giải và phiên dịch
Thế Thân trong nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trong trường hợp
nào đi nữa, chúng tôi nghĩ rằng hướng lập luận của riêng
ông trong Tam Thập Tụng rõ ràng ủng hộ cho cách hiểu sự
mô tả về ngã và pháp là sự chuyển biến của thức, bởi
vì kết luận cuối cùng của ông là chuyển biến đó là một
cấu trúc ngôn ngữ; và cấu trúc ngôn ngữ đó không gì khác
hơn cấu trúc của các mô tả, như đã thấy. Hơn nữa, sự
mô tả không hiện hữu như thế, và cả thức cũng vậy, bởi
vì những gì được cấu trúc qua ngôn ngữ bằng chính cấu
trúc ngôn ngữ thì không hiện hữu. Nó không hiện hữu vì
nó không khác với sự vật nó nhắm đến. Vì thế, giống
như thức không hiện hữu vì nó buộc phải luôn luôn là thức
về một cái gì đó, thì mô tả cũng không hiện hữu như
thế, bởi vì đã là mô tả thì nó buộc phải ở vào trạng
thái không phải luôn luôn là chính nó.
Một
trong số vài thí dụ hiếm hoi mà ông đưa ra để minh họa
điều ông muốn nói, Thế Thân đã cho thí dụ sau, một thí
dụ có ý nghĩa rất đặc biệt để hiểu được tư tưởng
ông trong khoảng thời gian còn lại của đời ông. Ông nói:
“Giống hệt như do năng lực của một câu thần chú mà một
hình ảnh ảo hiện ra như một con voi, nhưng chỉ hiện hữu
một hình dạng mà không có con voi nào cả. Ở đây, voi là
tự tánh ngôn ngữ, hình dạng trên đó voi xuất hiện là tự
tánh tương đối, và tự tánh tuyệt đối là sự không hiện
hữu của con voi xuất hiện trên hình dạng đó.” Và ông
nói thêm: “Ta có thể ví thức căn bản với câu thần chú,
‘cái như thế’ với phiến gỗ trên đó con voi xuất hiện,
cấu trúc ngôn ngữ với hình dạng trên đó con voi xuất hiện,
và tự ngã đối với con voi”. Những gì hai phát biểu trên
diễn đạt thật quá hiển nhiên. Không có thức xuất hiện
như một tự ngã đôi, vì thức đó đã bị dùng vào việc
tạo ra tự ngã đôi đó trước tiên. Hơn nữa, trong sự dính
líu này, nó đánh mất chính nó trong tiến trình cấu trúc
ngôn ngữ, tiến trình sinh khởi hình dạng trên đó tự ngã
đôi có thể chấp trước. Và hình dạng đó xảy ra chỉ vì
có một ‘cái như thế’, tức là phiến gỗ trong trường
hợp của con voi huyễn thuật, và nó có thể đồng nhất với
cái đó. Nói cách khác, giống hệt như câu thần chú và con
voi ảo hiện hữu vì có sự hiện hữu của phiến gỗ, thì
thức và cấu trúc ngôn ngữ của nó cũng hiện hữu như thế,
bởi vì có ‘cái như thế’, tức những sự vật như chúng
là. ‘Cái như thế’ này được Thế Thân gọi là “chỉ
là cái khiến ta biết”, và đó là điều ông thúc giục chúng
ta hãy tìm hiểu để có thể đạt được sự hiểu biết
nào đó về nó.
Như
vậy, thông điệp Thế Thân muốn chuyển tải trong Tam Thập
Tụng và trong Trisvabhāvanirdeśa rất rõ ràng và đơn giản.
Ông muốn nói rằng dù thức của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc
vào ngôn ngữ để hoạt động, nhưng chính những sự vật
như thế đã sinh khởi thức đó trước tiên và chúng ta phải
trở lại những sự vật đó để có được bất cứ hiểu
biết chính xác nào. Nếu phát biểu này có vẻ hiển nhiên
một cách bình dung, nếu không phải là vô tích sự, thì trước
hết chúng ta không được quên rằng ngay cả thời nay một
phần lớn các hành vi và cư xử của con người trong hầu
hết các trường hợp đều được quyết định bởi một
loại cấu trúc ngôn ngữ nào đó mà nó không có nền tảng
nào cả, dù qua sự kiện hay sự vật. Và tình trạng này phải
là phổ biến và lan tràn nhiều hơn vào thời của Thế Thân.
Vì thế, cho dù nó có hiển nhiên một cách rất bình thường
như thế nào đi nữa thì điều may mắn là Thế Thân đã giải
thích cho chúng ta tại sao cần phải nói lên điều đó một
cách mạnh mẽ và ông đã thật sự làm thế như đã hứa.
Và chúng ta phải tri ân sâu sắc về điều đó.
dịch
Việt: Đạo Sinh
[1]
Bhartṛhari, Vākyapadīya II, ed. Raghunātha Stharmā, Varaṇasi: Saravastī
Bhavan Granthamālā, 1968, ad 13-40, 34-92.
[2]
Bhartṛhari, Vākyapadīya II, ed. K. A. Subramania Iyer, Poona: Deccan
College Postgraduate and Research Institute, 1963, ad 39-51: 150-158.
[3]
Nāgārjuna, Madhyamakakārikā I. 3-16. cf. Lê Mạnh Thát, “Đưa
Vào Việc Nghiên Cứu Luận Lý Học Trung Quán Của Nāgārjuna”,
Tư Tưởng I (1967): 53-83.
[4]
Nāgārjuna, Madhyamakakārikā I. 8: naivāsato naiva sataḥ pratyayo’rthasya
yujyate/ asataḥ pratyayaḥ kasya sataśca pratyayena kim//. Cf. Madhyamakakārikā
IV. 4: rūpe satyeva rūpasya kāraṇaṃ nopapadyate/ rūpe ’satyeva
rūpasya kāraṇaṃ nopapadyate//. Bhartṛhari, Vākyapadīya III. 43.
[5]
Biardeau, Théorie de la connaissance et philosophie de la parole dans
le brahmanisme classique, La Haye: Mouton & C0, 1964; Nakamura, Vedanta
tetsu gaku no hatten, Tokyo: Iwanami shoten, 1957; Subramania Iyer, Bhartṛhari:
A Study of the Vākyapadīya in the Light of the Ancient Commentaries,
Poona: Deccan College Postgraduate and Research Institute, 1969; Nakamura,
Kotoba no keijijōgaku, Tokyo: Iwanami shoten, 1957, pp 55-140.
Độc
giả nên đọc tác phẩm cuối trong số này, đặc biệt các
trang vừa cho, để thấy được các tác giả này đã hiểu
Bhartṛhari nông cạn như thế nào, đó là chưa nói đến các
học thuyết và sắc thái phong phú của Phật giáo. Thật ra,
người ta không thể xem nhẹ trần thuật của Nghĩa Tịnh về
quan hệ của ông với Bhartṛhari cho dù hình như đã có ngộ
nhận về ngày mất của người sau. Chúng tôi nói ‘hình như’,
bởi vì các nhầm lẫn về in ấn và sao chép không nên bị
loại trừ, một điều mà các tư liệu Trung Hoa, cả Phật
giáo cũng như không phải Phật giáo, đều không thiếu chứng
cứ chứng minh. Biardeau đã có thể nhận ra mối quan hệ gần
gũi giữa Thế Thân và Bhartṛhari về vai trò đặc biệt của
khái niệm vikalpa trong các luận thư của họ. Tuy nhiên, do
ảnh hưởng thống lĩnh của môn tâm lý hiện tượng học,
điển hình ở Pháp như Merleau Ponty, Sartre, v.v., mà bà đã
không thể nắm bắt đúng đắn ý nghĩa của nó và vì thế
đã thất bại không nhìn thấy sự nối kết của nó với
khái niệm upacāra mà Bhartṛhari đã dành một chỗ đáng kể
để bàn đến trong kanda thứ ba của luận thư Vākyapadīya
của ông, một khái niệm chỉ nhận được những nhận xét
rất hời hợt trong tác phẩm của bà. Triết học Bhartṛhari
cần có những khảo cứu mới. Về một trình bày những problematics
của nó, hãy xem Lê Mạnh Thát, Bhartṛhari và Cao Đỉnh của
Triết Học Ngôn Ngữ Phật Giáo, Bản đánh máy, 1970, Saigon.
[6]
Abhidharmakośa IX p 476: ātmany asati kim arthaḥ karmārambhaḥ/ aham
sukho syām aham duḥkho na syām ity evam arthaḥ/ ko’sāv ahaṃ
nāna yad viṣayo’yam ahaṃkāraḥ/ skandhaviṣayaḥ/ kathaṃ jñāyate/
teṣu snehāt/ gaurādibuddhibhiḥ sāmānādhikaraṇyāt tu/ gauro’ham
ahaṃ śyāmaḥ sthūlo’ham ahaṃ kṛṣaḥ jīrṇo’ham aham
yuveti gaurādibuddhibhiḥ samānādhikaraṇo’yam ahaṃkakāro dṛśyate/
na cātmana ete prakārā dṛśyante/ tasmād api skandheṣv ayam iti
gamyate/ ātmana upakārake’pi śarīra ātmopacāro yathā ya
evāyaṃ sa evāhaṃ sa evāyaṃ me bhṛtya iti bhavaty upakārake’pi
ātmopācāro na tv ahaṃkāraḥ/ sati śarīrālambanatve paraśarīrālambano’pi
kasmān na bhavati/ asambandhāt/ yenaniva hi sahāsya sambandhaḥ kāyen
ittena vā tatraivāyam ahaṃkāra utpadyate nānyatra/ anādau saṃsāra
evam abhyāsāt/ kaś ca sambandhaḥ/ kāryakāraṇabhāvaḥ/ yady ātmā
nāsti kasyāyam ahaṃkāraḥ/ idaṃ punas tad evāyātaṃ kim arthaiṣā
ṣaṣṭhīti/ yāvady evāsya hetus tasyaivāyam iti/ kaś cānyo hetuḥ/
pūrvāhaṃkāraparibhāvitaṃ svasamtativiṣayaṃ sāvadyaṃ cittam/
asaty ātmani ka eṣa sukhito duḥkhito vā/ yasminn āśraye sukham
utpannaṃ duḥkhaṃ vā/ yathā puṣpito vṛkṣaḥ phalitaṃ vanam
iti//. Cf. Abhidharmakośa IX p 472-3.
[7]
Trisvabhāvanirdeśa ad 5, ed. de La Vallée Poussin, MCB II (1932-1933)
147-161.
[8]
Triṃśikā ad 20-25: yena yena vikalpena yad yad vastu vikalpyate/ parikalpita
evāsau svabhāvo na sa vidyate// paratantrasvabhāvas tu vikalpaḥ pratyayodbhavaḥ/
niṣpannas tasya pūrvena sadā rahitatā tu yā// ata eva sa naivānyo
nānanya paratantrataḥ/ anityatādivad vācyo nādṛṣṭe’smin sa
dṛśyate// trividhasya svabhāvasya trividhāṃ niḥsvabhāvatām/
saṃdhāya sarvadharmānāṃ deśitā niḥsvabhāvatā// prathamo lakṣaṇenaiva
niḥsvabhāvo’paraḥ punaḥ/ na svayambhāva etasyety aparā niḥsvabhāvatā//
dharmānāṃ paramārthaś ca sa yatas tathatāpi saḥ/ sarvakālaṃ
tathābhāvāt saiva vijñaptimātratā//
[9]
Trisvabhāvanirdeśa ad 18-30: asaddvayasvabhāvatvāt tadabhāvasvabhāvataḥ/
svabhāvāt kalpitāj jñeyo niṃpanno’bhinnalakṣaṇaḥ// advayatvasvabhāvatvād
dvayābhāvasvabhāvataḥ/ niṣpannāt kalpitaś caiva vijñareyo’bhinnalakṣaṇaḥ//
yathākhyānam asadbhāvāt tathāsattvasvabhāvataḥ/ svabhāvāt paratantrākhyān
niṣpanno’bhinnalakṣaṇaḥ// asaddvayasvabhāvatvād yathākhyānāsvabhāvataḥ/
niṣpannāt paratantro’pi vijñeyo’bhinnalakṣaṇaḥ// kramabhedaḥ
svabhāvānāṃ vyavahārādhikārataḥ/ tatpraveśādhikārāc ca vyutpattyarthaṃ
vidhīyate// kalpito vyavaharātmako’paraḥ/ vyavahāra-samucchedaḥ
svabhāvaś cānya iṣyate// dvayābhāvātmakaḥ pūrvaṃ paratantraḥ
praviśyate/ tataḥ praviṣyate tatra kalpamātram asaddvayam// tat dvayābhāvabhāvo
niṣpanno’tra praviṣyate/ tathā hy asāv eva tadā asti nāstīti
cocyate// trayo’py ete svabhāvā hi advayālabhyalakṣaṇāḥ/ abhāvād
atathābhāvāt tadabhāvasvabhāvataḥ// māyākṛtaṃ mantravaśāt
khyāti hastyātmanā yathā/ ākāramātraṃ tatrāsti hastī nāsti
tu sarvathā// svabhāvaḥ kalpito hastī paratantras tadākṛtiḥ/
yas tatra hastyabhāvo’sau pariniṣpanna iṣyate// asatkalpas tathā
khyāti mūlacittād dvayātmanā/ dvayam atyantato nāsti tatrāsty ākṛtimātrakam//
mantravan mūlavijñānaṃ kāṣṭhavat tathatā matā/ hastyākāravad
eṣṭavyo vikalpo hastivad dvayam//.
