VÔ
VI
và
tiến trình giải thoát
Edward
Conze - dịch Việt: Hạnh Viên
1.
Niết bàn và hư không
Cái
Tuyệt đối thể hiện qua hình thức phi cá thể là ‘Vô vi’
hay ‘Niết bàn’, và trong hình thức một cá nhân cụ thể,
là đức ‘Phật’ hay ‘Như lai’. Các kinh đã nói về tính
siêu nghiệm của Niết bàn bằng ngôn ngữ được cảm nhận
sâu sắc của thi ca. Khối lượng văn tịch đồ sộ A-tỳ-đàm
nhắm phân tích về hữu vi. Các phát biểu về Vô vi khá hiếm
thấy và chủ yếu nằm trong ba đề tài chính. Thứ nhất là
các chủ đề đã được thảo luận chi tiết trong phần I,
nơi Niết bàn được định nghĩa trong tương quan với ba đặc
tính của mọi pháp hữu vi. Chủ đề thứ hai và thứ ba đề
cập sự liên hệ của Niết bàn với nhân quả và hiện hữu,
mà ở đây cần nói thêm vài điều. Chỉ có ở Đại thừa,
sự quan tâm rõ ràng chuyển hướng về Vô vi là cái hầu như
đã trở thành đề tài bàn luận duy nhất, tính siêu nghiệm
của nó được bảo vệ để tránh mọi hiểu lầm không những
bởi sự phủ định chất chồng lên phủ định, mà còn bởi
các nỗ lực không ngừng để minh xác ý nghĩa của những
quan điểm phủ định được sử dụng.
Chính
vì định nghĩa này mà Vô vi không những hoàn toàn siêu việt
tâm, nó còn vượt ngoài nghiệp và nhân quả. Trong Pháp tụ
luận (Dhammasangani)[1] thỉnh thoảng có nói đến một số thuộc
tính của ‘yếu tố vô vi’. Về tâm, ‘nó không sinh ra từ
tâm’, không phải là cái khởi hiện cùng với tâm, cũng không
tiếp nối theo tâm. Về nghiệp, nó là vô hạn, nghĩa là không
tạo ra nghiệp dù thiện hay ác; không phải là nghiệp báo
cũng không thể là dẫn nghiệp. Về nhân quả nó không phải
là một nhân, không có nhân câu hữu, không tương ưng với
nhân. Trong ‘Milinda vấn đạo’[2] cốt lõi của vấn đề
này đã được đặt ra một cách rõ ràng: Niết bàn không
phải là kết quả của một nguyên nhân (a-hetu-jam). Không có
nhân nào tạo ra Niết bàn, mà chỉ có Đạo tu tập để chứng
đắc nó. Niết bàn tự bản chất là không sinh khởi (anuppādaniya)
vì nó ‘tuyệt đối không do bất cứ gì tạo ra’. Ta không
thể nói nó đã được tạo ra hay đã không tạo ra, hay có
thể được tạo ra, hay nó thuộc về quá khứ, vị lai hay
hiện tại.
Vấn
đề đến đây thì tạm ổn. Nhưng một hệ thống học thuật,
theo đà phát triển của nó, luôn hướng đến tính chính xác
ngày càng cao hơn bằng các phân biệt thái quá ngày càng tinh
vi hơn. Trong chiều hướng đó mà các học giả Tây phương
ở thế kỷ mười sáu, so với sự đơn giản tương đối
của St. Thomas, đã đạt đến mức tinh vi về khái niệm gần
như không thể chấp nhận. Hậu quả là hệ thống của họ
đã trở thành nặng nề, chỉ hấp dẫn được hạng tầm
thường hay e ngại, và bị gạt qua một cách thô bạo bởi
những tính cách mạnh mẽ hơn như Martin Luther và Francis Bacon.
Trong A-tỳ-đàm cũng tương tự, khát vọng đáng ngưỡng mộ
đi tìm sự chính xác cao hơn trải qua hàng thế kỷ đã dẫn
đến tình trạng gần như hoàn toàn bế tắc. Vì các cấu
trúc tâm thức quân bình một cách tinh vi của họ ngày càng
mang lại ít hiểu biết sâu sắc hơn, các nhà Đại thừa đã
mất kiên nhẫn với họ và đã phản đối bằng các khẳng
định nghịch lý một cách mãnh liệt mà, trong khi nhấn mạnh
tính không thể tỷ giảo giữa Niết bàn và thế gian, đã
dẹp bỏ mọi cố gắng giải thích làm thế nào mà một người
lại có thể đạt đến Niết bàn. Như một viên gạch, dù
được đánh bóng đến đâu, cũng không thể thành gương;
thì cũng vậy, không có bất cứ sự tinh cần, tu giới, tu
định, tu huệ nào có thể từng đưa đến chứng đắc Niết
bàn. Thế nhưng, Niết bàn đã được chứng đắc, đang được
chứng đắc hay sẽ được chứng đắc. Theo chiều hướng
đó mà sự chối bỏ của Đại thừa đối với các nỗ lực
hoàn thiện hệ thống nhất quán của các nhà A-tỳ-đàm đã
khích lệ phương thức trái ngược tuyên bố về chân lý bằng
những phát biểu tự mâu thuẫn một cách táo bạo.
Trong
Abhidharmakośa,[3] rõ ràng ta thấy A-tỳ-đàm đã cố gắng định
nghĩa các sự kiện thần thông bằng các hạng ngữ toàn duy
lý, cố gắng ấy tất yếu tự nó sẽ thất bại và dẫn
đến các nan đề không thể vuợt qua. Mô tả chi li các hạng
ngữ này là việc làm tẻ nhạt, và tôi thấy chỉ cần đưa
ra đây đại ý điều Vasubandhu đã nói: Vô vi không có nhân
hay quả mà nó vừa là nhân[4] vừa là quả.[5] Nó không có
quả vì nó nằm ngoài ba thời. Không có nhân nào sinh ra nó,
và vì là vô tác, nó không thể sinh ra tác dụng. Vô vi không
thể có nhân vì cái vĩnh viễn diệt thì không bao giờ tái
sinh sau khi đã diệt.[6] Ta có thể phản bác rằng Niết bàn
là không thường hằng, vì cần phải có một yếu tố tiền
hành là quyết trạch huệ (pratisamkhyā, tư trạch), nếu không
thì không thể có nó. Tri kiến này đạt đến tột điểm
trong ‘vô sinh trí’. Sự ‘bất sinh’ này tự hữu. Ở đâu
không có vô sinh trí, các pháp có khởi sinh; ở đâu có vô
sinh trí, các pháp tuyệt đối không sinh khởi. Tính hiệu quả
của tri kiến này đối với sự bất sinh nằm ở hai điểm:
1) trước khi trí này xuất hiện, không có gì chướng ngại
sự sinh khởi của các pháp hữu vi; 2) khi trí này xuất hiện,
nó ngăn các pháp hữu vi không cho hiện khởi.’
Đó
là nói vì sao Vô vi không có nhân hay quả. Hệ luận tất nhiên,
tức việc nó vừa là nhân vừa là quả, là nó trở thành
đề tài nhiều tranh cãi. Một số phản đối cho rằng, nếu
Vô vi ‘là’ quả thì nó phải ‘có’ nhân, hay nếu nó ‘là’
nhân thì tất phải ‘có’ quả. Dẫu vậy Hữu bộ vẫn giữ
quan niệm rằng Vô vi là hiệu quả của Thánh đạo, vì bằng
năng lực của Thánh đạo mà sự ‘sở đắc’ việc đoạn
lìa (ly hệ) các pháp hữu vi được thành tựu. Tất nhiên,
Thánh đạo không ‘làm nhân’ cho sự đoạn lìa (ly hệ),
tuy thế đoạn lìa lại là ‘quả’ (ly hệ quả) của Thánh
đạo. Vì Thánh đạo đưa đến ‘sở đắc’ sự đoạn lìa.
Hơn nữa Vô vi là ‘nhân’ theo hai cách, vì 1) nó thuộc về
các nhân sinh khởi (sinh nhân) vốn không cản ngại sự sinh
khởi các pháp khác, 2) nó là duyên vì là đối tượng của
quán sát trí. Kinh bộ phản bác chủ trương nhân quả bị
giới hạn chỉ ở các pháp hữu vi và vô thường, và Hữu
bộ đồng quan niệm với họ rằng Niết bàn không phải là
nhân theo nghĩa dẫn sinh ra một cái gì đó. Sự tranh luận
trên thực tế suy thoái dần thành triết lý kinh viện, và
đánh mất tầm nhìn về các thực tại tâm linh mà nó cho là
đang bàn cãi.
Tiếp
theo cần nói thêm về sự liên hệ giữa Niết bàn với các
phạm trù ‘hữu’ và ‘phi hữu’. Vì bản chất yếu đuối
của con người, chúng ta không quá ngạc nhiên khi các Phật
giáo đồ sau này đã tranh cãi dông dài về vấn đề vốn
không thiết thực là Niết bàn ‘hiện hữu’ hay ‘không
hiện hữu’. Ý kiến khác biệt giữa một bên là Sarvāstivādas,
Theravādas và Mahīśāsakas, với bên kia là Sautrāntikas, đã
gây ra những tranh luận kéo dài về quan điểm Niết bàn là
một sự hữu (dravya) hay phi hữu (abhāva).[7] Với sự giản
dị quen thuộc, kinh Milinda vấn đạo (Milindapañha)[8] nói: ‘Niết
bàn hiện hữu; nó có thể nhận thức được bằng ý; với
tâm ý thanh tịnh, tịch tĩnh, thù diệu, chánh trực, không
bị che lấp, phi vật chất (nirāmisa) vị Thánh đệ tử đã
hành chánh đạo thì thực sự nhìn thấy Niết bàn.’ Ngược
lại, Sautrāntukas khẳng định Niết bàn không phải là một
vật thể riêng biệt, mà đơn giản là sự vắng mặt của
vật thể. Cũng như hư không không là gì khác ngoài nơi không
có vật thể khả xúc, Niết bàn chỉ là sự diệt tận tùy
miên, không còn khả năng tái sinh.[9] Nó đơn giản là sự
không hiện hữu của năm uẩn, và quy gán một sự hữu riêng
cho cái phi hữu này rõ ràng là phi lý.[10] Ta không thể nhận
thức được Vô vi bằng dấu hiệu cảm quan trực tiếp (pratyaksha,
hiện lượng), cũng không thể do suy luận một cách đoan chắc
(anumāna, tỷ lượng). Do đó nó không có tướng trạng nào
để có thể nhận thức được, và không hiện hữu như một
thực thể khả tri riêng biệt.[11] Ta có thể phản bác rằng,
Kinh nói có vị tỳ kheo ‘đã chứng đắc Niết bàn ngay trong
cuộc sống này’; nếu Niết bàn đơn thuần là không gì cả,
sao có thể nói là chứng đắc? Sautrāntika giải đáp, qua sự
phát triển của Thánh đạo, sau khi đạt được một đối
trị phần, hành giả đã có được sở y vốn trái nghịch
với các phiền não và sự tái sinh cho một cuộc sống mới.[12]
Cuối cùng, Kinh bộ viện đến khế Kinh trong đoạn nói về
vị Thánh đã hoàn toàn giải thoát, rằng ‘giống như sự
diệt tắt (nirvāṇam) của một ngọn lửa, sự giải thoát
của tâm (cetasaḥ) cũng như thế’, và hỏi làm sao ta có thể
xem sự tắt ngúm (aty-aya) của ngọn lửa như một việc trong,
hay bởi, chính nó.
Đìều
phức tạp hơn, như thường lệ, vẫn là lý thuyết của Hữu
bộ vốn dựa nhiều vào cả hai thuyết ‘đa nguyên thực tại
luận (nhất thiết hữu)’ và thuyết về ‘đắc’ của họ.
Họ phân biệt hai loại tịch diệt: thứ nhất là do lãnh hội,
bằng trí tuệ, bốn Thánh đế (pratisamkhyā: trạch diệt),
thứ hai diễn ra không qua nỗ lực có dự tính của trí năng
(phi trạch diệt), mà kết quả từ sự khiếm khuyết của
những ảnh hưởng cần hội đủ (do khuyết duyên). Loại đầu
là Niết bàn[13] được định nghĩa là một pháp dẫn đến
‘đắc’ đối sự ‘đoạn lìa’ (visamyoga: ly hệ) khỏi
các pháp nhiễm ô, sự đoạn lìa này tự nó thường hằng
và không do các nhân sinh ra. Loại tịch diệt (nirodha) thứ
hai là pháp làm cho, với người ‘đắc’ nó, tuyệt đối
không còn sự sinh ra pháp này hay pháp khác, và nó ngăn chặn
sự sinh khởi các pháp vị lai, không bằng trí tuệ, mà vì
sự bổ sung các duyên cần thiết đã bị làm cho bất toàn
và khiếm khuyết. Lấy ví dụ, khi một nhãn căn và ý căn
bị thu hút bởi một cảnh nào đó. Tất cả các đối tượng
khác về nhãn, nhĩ v.v... như vậy từ hiện tại sẽ đi vào
quá khứ. Kết quả là, các hành vi ý thức có thể có về
các âm thanh, cảnh vật này như là đối tượng của chúng
không thể phát sinh, vì một thức qua giác quan không thể nắm
bắt được đối tượng của nó khi đối tượng này đã
trôi qua. Bởi các nhân dẫn khởi của chúng không đầy đủ,
nên có một cản ngại tuyệt đối cho sự sinh khởi các hành
vi ý thức này. Loại ‘tịch diệt’ thứ hai do vậy được
giải thích như sự ‘đắc’ đối với việc dừng chỉ các
pháp vốn không bao giờ có thể, dưới mọi hoàn cảnh, phát
sinh trong tương lai, vì pháp ‘tịch diệt’ đã ngăn chặn
điều đó.
Sự
bất đồng giữa Kinh bộ và Hữu bộ do hai phái tuyên bố
tuy vậy lại ít hơn nó đuợc hình thành trong một số giáo
thư Tây phương. Ta nên lưu ý, trong bối cảnh này thì từ
‘hiện hữu’ có tác dụng là ‘không hiện hữu’, và cả
trong suốt các cuộc tranh luận các nhà Phật học đã không
bị vướng mắc vào các phạm trù lý luận đến mức bỏ
mất quan điểm về giáo pháp nguyên thủy theo đó đường
lối của đức Phật là trung đạo giữa ‘hiện hữu’ và
‘không hiện hữu’.[14] Như trong Satyasiddhiśāstra, Kinh bộ
nói: ‘Như vậy là không có Niết bàn chăng? Không phải vậy.
Vì nếu không có Niết bàn thì sinh - tử sẽ bất tận, và
không thể có giải thoát. Một cái bình vỡ hay một cái cây
đổ là những hiện thực, nhưng không phải là những thực
thể riêng biệt thật sự.’[15] Dẫu sao, các tranh luận này
không thể hiện đỉnh cao của các nhà lý thuyết Phật giáo.
Khi đức Phật giác ngộ, điều đó được ví như ‘một
ngọn lửa đã cháy hết chất đốt, nó tắt ngấm’.[16] Ích
lợi gì việc tranh cãi xem cái ngọn lửa ‘đã tắt’ này,
sau khi đã cháy hết chính nó, là hiện hữu hay không hiện
hữu?
Trong
vấn đề Niết bàn này, sự xung đột thật ra là giữa chủ
trương duy lý và chủ trương thần bí. Quan điểm của Kinh
bộ, trong chừng mực chúng ta có thể phán đoán, là cực duy
lý và gần như phi tôn giáo. Nó khó thể chia xẻ với những
người mà đối với họ Niết bàn là trung tâm các tình cảm
tín ngưỡng tha thiết chứ không phải chỉ là một khái niệm
triết học, và họ cảm thấy những tuyên bố phủ định
thẳng thừng không thể nhận định đúng chân giá trị siêu
việt của nó. Hữu bộ đã phản bác,[17] nếu cho là không
phải, vậy thì làm sao Niết bàn có thể gọi là ‘pháp tối
thắng (agra) trong hết thảy pháp hữu vi lẫn vô vi’? Trong
ý nghĩa nào mà nó có thể được gọi là tối thắng, nếu
không phải là đáng tán dương nhất, nổi bật nhất trong
tất cả những pháp đồng phi hữu khác? Một số người trong
Đại chúng bộ (Mahāsanghika) còn đi xa hơn, đã tự hỏi liệu
thực tại vi diệu của Niết bàn có cùng loại hiện hữu
như các pháp thông thường, ngắn ngũi và bị ô nhiễm khác
trong thế giới hữu vi? Cho rằng thực tại của vạn hữu
là một phẩm chất tăng trưởng theo giá trị của nó, họ
kết luận chỉ các pháp siêu việt thế gian mới thật sự
hiện hữu, các pháp thế tục thì không. Đó là lập trường
của thuyết Xuất thế bộ (Lokattaravāda), đã mở rộng các
khía cạnh này của lời dạy của đức Phật về cái Tuyệt
đối mà Thượng toạ bộ (Sthaviras) trong mưu tìm tính vững
chắc về mặt lôgic đã bỏ qua.
Niết
bàn và hư không (ākāśa) thường được coi là rất gần nhau.
Có sáu tông liệt ākāśa thuộc về các pháp vô vi[18], ba tông
không.[19] Phạm vi ngữ nghĩa của từ này khá bao quát, và
có phần khác với những gì chúng ta nghĩ. Ākāśa có nghĩa:
1) giới vực, và 2) không gian vô hạn. Nghĩa đầu là, a) khoảng
trống giữa các vật, b) đồng nghĩa với các từ ‘trời’,
‘bầu trời’ hay ‘khoảng cao trên không’. Ākāśa vô hạn
hoặc có nghĩa: a) không gian vô cùng tận, hoặc b) cái tương
tợ từ ‘ether’ (thinh không) của chúng ta.
(1a.)
Abhidharmakośa[20] định nghĩa không gian cục bộ (không giới)
như là một khoảng trống hay lỗ hổng nơi không có vật chất
nhưng, giống như lỗ miệng hay độ mở của cánh cửa, nó
gần chúng và có thể nhận thấy được. Theravāda đồng tình
qua cách miêu tả nó như là khoảng trống, kẽ hở, chân không,
lỗ hổng, khe mở v.v... diễn ra giữa những cái thấy được
v.v., như giữa những cánh cửa, cửa sổ, miệng hay lỗ mũi.
Trong đó không có gì được nhìn thấy hay cảm nhận, nhưng
chúng phân định hình sắc, ranh giới cho chúng, khuôn khổ
quanh chúng và làm chúng hiển hiện, là cơ sở cho các ý niệm
như ‘phía dưới/ phía trên’, ‘bên này/ bên kia’, v.v...
Không gian cục bộ chỉ không có vật chất, nó hữu hạn,
hữu hình và thuộc hữu vi. (1b.) Nơi chúng ta gọi là ‘trên
không trung’ hay ‘trên trời’, trong kinh văn Phật giáo gọi
là ‘trên hư không’ (hay thinh không, space), như trong đoạn
trích dẫn sau: ‘Vị thánh di chuyển trong Cảnh giới Niết
bàn (nibbānadhātu) như cánh chim bay ngang thinh không’.[21] Cách
diễn tả thường thấy này, dù mang tính ẩn dụ, càng củng
cố khuynh hướng xem ‘hư không’ và ‘Niết bàn’ là những
khái niệm có liên hệ mật thiết.
(2a.)
‘Hư không là cái không gây cản ngại.’[22] Bản chất cốt
lõi của nó là vô ngại, không cản trở hay không đối kháng.
Hư không không thể cản trở vật chất, mà cũng không thể
bị vật chất cản trở hay bị chuyển dịch. Vibhāsa[23] phân
biệt một cách rõ ràng hư không vô hạn với hư không cục
bộ khi diễn tả nó là (2a) phi vật chất, vô hình, không đối
kháng và vô vi, trong khi (1a) là một phần của sắc pháp. Là
một giới, ākāśa là vô hạn, cùng khắp và thường hằng.
Đối với Hữu bộ, nó là một thực thể (vastu, sự, vật,
căn bản), đối với Kinh bộ[24] nó là cái không thuần túy,
hoàn toàn không có vật thể khả xúc hay đối kháng (sa-pratigha-dravya).
(2b.) Nhưng đồng thời, và không một ý thức mâu thuẫn nào,
các Phật giáo đồ lại xem ākāśa là cái có tính chất hữu
hình và xác thực, một nguyên liệu vi tế, một lưu chất
siêu trần[25] vốn thường hằng và cùng khắp. Cái thinh không
này tự bản chất không y vào bất cứ gì (apratishthitam anālambanam),
nhưng là sở y cho tất cả các giới kia. Giới đầu tiên là
không khí (phong giới) y cứ trên nó, rồi đến nước và đất
y trên không khí ở dưới chúng.[26] Cuối cùng, các truyền
thống cổ xưa Ấn độ đã khiến các Phật giáo đồ nghĩ
rằng thinh không này tự nó tỏa sáng, và cho rằng ākāśa
có gốc từ động từ căn ‘kāś’, có nghĩa ‘chiếu sáng’.
Āryadeva (Thánh Thiên)[27] nói, sự vắng bặt vật chất được
gọi là ā-kāś-a, vì vạn vật ‘rực sáng’ ngay trong chúng,
và trong ý nghĩa này mà Sāramati[28] có thể nói Phật
tánh sáng ngời như mặt trời hay hư không.
Đồng
nhất với ākāśa là một trong những con đường có thể dẫn
đến giải thoát. Chứng đắc vô sắc đầu tiên phát sinh
từ sự chiêm nghiệm về hư không trống không (1a) cho đến
hư không vô hạn (2).[29] Theo công thức khế kinh, ākāśa nằm
ngoài ba thứ: a) hình tướng, b) hữu đối (patigha) và c) sự
đa dạng. Như vậy nó không có (a) những bất lợi gây phiền
não cho những người – như là kết quả của những tập
khí nghiệp cảm lâu đời – đã thọ nhận một thân cụ
thể;* (b) sự hữu đối bao gồm trong các tưởng;[30] và (c)
‘một cảnh giới (gocara) đa dạng trong đó các đối tượng
nhãn căn v.v., có những tự tánh khác nhau’.[31] Mặt khác,
hư không là không cùng tận (an-anta), vì không thể nhận thức
được sự phát sinh và biến diệt của nó,[32] và đối với
những người đã nhàm chán sắc tướng và các thứ liên quan,
nó hẳn là điều có sức thu hút nhất.
Văn
tịch Thượng tọa bộ đôi khi có so sánh[33] các thuộc tính
của Niết bàn và hư không. Cả hai đều thực hữu, mặc dù
hình thức, vị trí, thời gian và phạm vi giới hạn của chúng
không thể xác định. Cả hai đều vô ngại, vô y cứ và vô
hạn, không có khởi nguyên, sinh - tử, khởi - diệt. Trong thiền
quán, hư không có thể được chiêm nghiệm như một cái gì
tương đồng với tánh không là thực tại tối hậu. Một
dung lượng vô biên[34] mà không là gì cả. Không lệ thuộc
các duyên hay các giới hạn, vượt ngoài mọi cản trở và
chướng ngại, không thể bị cản ngại hay cản ngại. Trong
nó, không hiện diện bất cứ cái gì xúc đối, đối kháng,
ngọai nhập, ly gián, hay lệch hướng. Nó ở cùng khắp, và
chỗ nào cũng như nhau. Trong nó không có cái gì thiếu, không
có cái sở thuộc. Trong sự tĩnh lặng hòan toàn, tự bản
chất nó luôn nằm ngoài thời gian, biến dịch và hành động.
Không thể lấy cái gì để xác nhận nó, không có gì gắn
vào nó như là những thuộc tính.
Một
tương đồng thú vị ở châu Âu do Henry Moore[35], người chịu
ảnh hưởng của nền văn chương thần học Do thái vốn mô
tả Thượng đế như là ‘không gian của thế giới’,* đã
đồng nhất hư không với sự có mặt cùng khắp của Thượng
đế. Ông nói về nó như là ‘một sự trình bày khá lộn
xộn và mơ hồ về thể tính thần linh hay sự hiện diện
của thánh thể’,[36] một bản thể thánh linh vốn là ‘duy
nhất, đơn giản, bất động, vĩnh hằng, toàn hảo, độc
lập, tự hữu, tự tồn, vô nhiễm, tất yếu, bao la, vô thuỷ
vô chung, vô hạn, không thể lãnh hội, châu biến, vô hình
thể, dung nhập và dung chứa hết thảy vạn hữu, cái tồn
tại chủ yếu, cái tồn tại thực tế, thực tại nguyên thuần.’[37]
Đại
thừa sau đó đồng nhất vạn hữu với Niết bàn, như vậy
các đặc tính của chúng cũng được cho là tương đuơng với
các đặc tính của ‘hư không’ (ākāśa-sama).[38] Tuy nhiên
chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng, mọi phát biểu của Phật
giáo về ākāśa sẽ thành vô nghĩa và thiếu thuyết phục
nếu được hiểu như ‘không gian toán học’ mà ta thường
quen thuộc. Chúng nói về thứ ‘không gian vũ trụ’ của
các nhà thấu thị ngày xưa, và thật khó thiết lập được
mối liên lạc giữa các ý niệm ‘duy lý’ và ‘thần bí’
về ‘hư không’.
2.
Ba loại người giác ngộ
Tiếp
theo, chúng ta phải giải quyết vấn đề định nghĩa cái Tuyệt
đối trong hình thức ‘cá ngã’. Các ‘Thánh nhân’ (ārya)
là những người đã đạt đến ‘Thánh đạo’, tức những
người mà tư cách các ngài phần lớn đã được xác định
bởi sự thúc giục mạnh mẽ hướng về Vô vi (asaṃkrta-prabhāvita,
sở đầu vô vi).[39] Kết thúc giai đoạn tầm cầu đạo quả,
khi đã hoàn thành việc tu tập, các vị ‘Thánh’ trở thành
những bậc ‘vô học’. Các ngài hòa nhập vào cái Tuyệt
đối và mất những tính cách cá biệt ngã. Tuy nhiên, và điều
này gần như không thể lý giải, các ngài không phải hết
thảy đều như nhau, mà vẫn mang một số đặc tính riêng
biệt. Thượng toạ bộ có truyền thống về ba loại người
được xem như bậc ‘vô học’, hay ‘giác ngộ’, hay ‘chứng
đắc’ Niết bàn, là các vị A-la-hán (Arhat), Độc giác (Pratyekabuddha)
và Phật (Buddha).
Đầu
tiên là các vị Arhat. Trong các văn tịch cổ, từ ‘Arhat’
được sử dụng không với ý nghĩa thật chính xác. Đó có
thể là một trong những đức hiệu của Phật, hoặc tên gọi
dành cho người đã đạt quả vị cuối cùng trong ‘bát thánh
nhân’. Danh hiệu này đôi khi được phân biệt khác với
Pratyekabuddha. Tuy nhiên, có thời kỳ[40] Arhat còn có nghĩa là
vị Đệ tử (sāvaka) được ‘nghe’ giáo pháp (thanh văn)
từ đức Như Lai hay Độc giác Phật. Về từ nguyên, ‘Arhat’
có nghĩa là người ‘cao quý’, ‘đáng tôn kính và cúng
dường’, nhưng từ nguyên học Phật giáo[41] còn giải thích
nó theo nghĩa người đã giết chết (han) các kẻ thù (ari)
tức các nhiễm ô, hay là người có ‘đủ năng lực’ cứu
độ chúng sinh.
Vậy
thì chính xác, một vị Arhat được cho là đã thành tựu những
gì? Các văn tịch cho chúng ta hai hướng mô tả, thứ nhất
mang tính thi vị và tán dương[42], thứ hai có tính kinh viện
và nghiêm xác hơn. Công thức thông dụng nhất là bắt đầu
bằng sự ‘diệt tận hữu lậu’ (āsrava) của ngài, và như
vậy là sử dụng một thuật ngữ thông thường còn được
Kỳ na giáo (Jainism) dùng để chỉ các vị Arhat của họ. Dù
ý nghĩa của nó được quảng diễn như thế nào trong thời
đại đức Phật, theo giáo điều Phật giáo thuật ngữ ‘Arhat’
luôn gắn liền với Thánh đế thứ nhất. Bởi vì Arhat là
người đã hoàn toàn tận diệt mọi thứ ‘khổ’ được
mô tả trong Thánh đế đó. Trong nghĩa đó Arhat là nguời đã
đạt đến cứu cánh của mọi người con Phật, có thể được
gọi một cách xứng đáng là người ‘đã làm xong những
việc cần làm’. Abhidharma còn phân tích chính xác hơn hai
loại ‘trí’ là chỉ dấu của giai vị Arhat, sẽ dẫn đến
giác ngộ. Đó là ‘lậu tận trí’ và ‘vô sanh trí’.[43]
Loại đầu phát sinh ngay khi các dấu vết cuối cùng của hữu
lậu, như vô minh các thứ, hoàn toàn không còn nữa. Nó là
bằng chứng rõ ràng và xác đáng cho thấy đã đoạn tận
hữu lậu. Nếu, sau đó, vị thánh không thối thất và trở
thành ‘bất động chuyển’ (akopya),* ngài tiến lên[44] loại
‘trí’ khiến hữu lậu nơi ngài không thể phát sinh trong
tương lai. Trí thứ nhất cho ngài biết rằng công phu tu tập
đã hoàn tất, loại thứ hai cho biết từ nay không còn gì
phải làm.[45] Vị Arhat bấy giờ hoàn toàn làm chủ tâm tư
của mình, và ‘mọi thiện pháp đều hướng về ngài, như
thần dân cung kính hướng về vị thái tử sẽ trở thành
đấng quân vương tối thượng’.[46]
Các
truyền thống về Pratyekabuddha không phải lúc nào cũng rõ
ràng. Đó là[47] một vị Phật độc giác, là người, không
như Arhat, đã ‘tự giác ngộ’ (svayambhū),[48] bằng nỗ lực
tự thân chứ không qua sự chỉ giáo của người khác, nhưng
khác với chư Phật, ngài không tuyên thuyết chân lý giáo hoá
chúng sanh. Như từ ngữ cho thấy, đó là hợp thành của từ
Praty-eka, có nghĩa ‘đơn độc, riêng lẻ, cá nhân’. Cũng
như từ tương đương ‘rhinoceros’ (khaḍgin) nói về sự
sống đơn độc như của con ‘rhino’ (tê giác). Truyền thống
tu tập cá nhân luôn có trong mọi thời kỳ của lịch sử
Phật giáo, và hai loại người ‘vô học’ này tiêu biểu
cho lý tưởng cá nhân (tự tu tự ngộ) đó. Vốn thường trải
qua một cuộc sống đơn độc, sau khi giác ngộ, vị Pratyekabuddha
không muốn bị nhiễu loạn[49] bởi đám đông để tránh xao
lãng sự tập trung thiền định. Con người bản chất vốn
không khả ái, và sự tu định nói riêng có khuynh hướng làm
phát sinh, hay củng cố, tính chủ động không thích sự tụ
hội của đám đông,[50] như trường hợp Gulliver sau khi đến
viếng Houyhnhnms.+ Những bậc vô học này được thay thế bằng
tên gọi khác là Phật độc giác,[51] vì ‘các ngài mong cầu
tự chứng cứu cánh Niết bàn qua sự giác ngộ về lý nhân
duyên (pratyaya)’.[52] Nói cách khác, sở ngộ của các ngài,
tuy uyên thâm hơn của vị Arhat, vẫn nằm trong khuôn khổ Tứ
đế, chỉ khác là các ngài chuyên tâm quán sát hữu vi duyên
sanh - hệ quả tất yếu của Tập và Diệt Đế.
Việc
tạo ra hình tượng kết hợp này dường như cho thấy những
bộ phận rộng lớn trong cộng đồng đã quan niệm giáo pháp
của đức Phật như một phương thức tự tu tập, dựa trên
nền tảng bốn Thánh đế, vốn chủ yếu hữu ích cho những
người đã trải nghiệm nó, chứ không mang nội dung vị tha
nào đáng chú ý. Họ vẫn quan niệm ‘giải thoát’ là thuộc
về cá nhân, không phải là một thành tựu mang tính xã hội
hay quảng đại quần chúng, mà tự bản chất nó không bao
hàm sự liên quan tới người khác hay toàn khối cộng đồng.
Lôgic nội hàm của phương pháp này sẽ khiến họ khó giải
thích vậy tại sao đức Thế tôn thực tế đã tuyên thuyết
giáo pháp chứ không hành động như một vị Phật Độc giác.
Không có lý do đáng thuyết phục nào cho thấy tại sao bị
phiền nhiễu khi giáo hoá người khác, và hầu hết các văn
tịch thuộc kinh tạng đều viện dẫn đến phép lạ, tức
sự thỉnh cầu của Phạm thiên và Đế thích.[53] Chính sự
vị kỷ thái quá này đã khiến các nhà Đại thừa ca ngợi
tán thán hạnh lợi tha của hàng Bồ tát. Cần phải hiểu
học thuyết này như một phản ứng chống lại khuynh hướng
cá nhân chủ nghĩa mạnh mẽ trong Giáo đoàn, một phản ứng
mà, thường là quá đà, không phải không có lúc vượt quá
giới hạn. Đúng lúc quan điểm ấy thay đổi một cách toàn
diện đến mức, khi Tiểu thừa nhận thấy khó tin việc một
người đã giác ngộ lại thấy khó khăn khi thuyết giáo cái
không thể thuyết giáo, một số nhà Đại thừa đã cảm thấy
không thể có người chứng đắc chân lý mà không truyền
đạt nó. Do đó họ nói, các vị Pratyekabuddha giáo hóa thông
qua tâm truyền mà các Đệ tử phải tin tưởng,[54] và có
thể không cần dùng phương tiện thô thiển của ngôn tự.
Như vậy là cuối cùng bánh xe chánh pháp đã chuyển vận hoàn
toàn.
Giác
ngộ của đức Phật được phân biệt với sự giác ngộ
của hai bậc vô học trên bằng miêu tả là vô thượng (anuttara)
và toàn diện (sambodhi, chánh giác). Vì số vị Arhat trong cộng
đồng giảm thiểu, đương nhiên sự liễu đạt chân lý rốt
ráo của Phật trở thành điều cơ bản bảo đảm cho toàn
bộ sự nghiệp trí tuệ, và chắc chắn tầm vóc của đức
Phật ngày càng vươn cao qua thời gian. Ngày nay đã qua rồi
cái thời người ta có thể hài lòng cho rằng Phật là ‘bậc
đã thấu đáo điều cần thấu đáo, đã thuyết giảng điều
cần thuyết giảng, đã xả bỏ điều cần xả bỏ’*.[55]
Abhidharma phân định sự khác biệt giữa Phật và hai bậc
vô học kia bằng hàng loạt đức tính, là đặc trưng riêng
của ngài, hoặc là các đức hiệu mà các Arhat hay Pratyekabuddha
chưa xứng đáng. Các đặc tính thường thấy là mười tám
pháp bất cộng của Phật (āveṇika-buddha-dharma),[56] tức,
theo Vaibhāshika, là mười lực[57], bốn vô sở úy[58], ba niệm
trụ (cf. tr...) và đại bi. Về các đức hiệu, ngài được
tôn xưng là ‘Thế tôn’ (Bhagavan), bậc ‘hàng phục chúng
ma’, ‘Pháp vương', ‘Vô thượng sĩ’, ‘Như lai’, ‘Điều
ngự trượng phu’, v.v... Sự ưu việt của đức Phật còn
thể hiện qua năm phong cách liên quan đến (1) các pháp, (2)
chúng sanh, (3) vũ trụ, cả với (4) sắc thân và (5) các giai
đoạn gia hạnh của ngài.
1.
Trong mười tám pháp bất cộng, trừ pháp cuối cùng, còn lại
tất cả đều được coi như các trí, hay thành quả của trí.
Chứng ngộ thù thắng của Phật còn có thêm bốn loại trí
về các pháp.[59] (1) Nó được chứng đạt bằng nỗ lực
tự thân, và chân lý ngài thấy biết không phải do người
khác chỉ dạy (vô sư trí); (2) nó cùng khắp (sarvatra, châu
biến) ở chỗ ngài thấy biết hết thảy mọi dấu hiệu đặc
trưng cho mỗi và mọi pháp (nhất thiết trí); (3) biết hết
tất cả (sarvathā) mọi hành tướng, sai biệt (prakāra) của
hiện hữu (nhất thiết chủng trí); (4) nó tự tại ở chỗ,
chỉ cần ngài muốn biết, là lập tức biết rõ vạn pháp
(vô công dụng trí). Chúng ta cũng có thể nói đức Phật là
người có ‘nhất thiết trí’ (sarvavid) theo nghĩa các vị
Arhat không có. Định nghĩa chính xác hơn, nhất thiết trí
này biểu hiện (1) tuyên thuyết chân lý ngài chứng đắc và
(2) tự tại thuyết minh sự chứng đắc đó. Sự kiện thứ
nhất xác định rằng ‘nhất thiết trí’ theo nghĩa của
từ ngữ, tức là đức Phật biết rõ không chỉ yếu tính
của hết thảy mọi hiện hữu mà cả đến từng chi tiết
của nó. Sự kiện thứ hai gợi ý chẳng hạn như đức Phật
biết trước tuơng lai không phải do suy luận ra, hay do các
điềm triệu hoặc chỉ dấu khác nhau cho phép nhà tiên tri
ước đoán nó, mà do ngài trực tiếp nhìn thấy nó bằng con
mắt riêng của ngài.[60] Nhưng nói chung mọi người đồng
ý rằng Phật tri kiến là lãnh vực ‘bất khả tư nghì’,[61]
và không cố công giải thích xa hơn. Tuy vậy các nhà A-tỳ-đàm
ý thức sự khẳng định nhất thiết trí này hơi khó chấp
nhận, và để tin được nó cần phải có niềm tin lớn.[62]
Vasubandhu giải thích[63] chỉ có đức Phật Thế tôn là đã
diệt tận vô minh một cách toàn diện, và hoàn toàn thoát
khỏi những chướng ngại không nhìn thấy tự tính của vạn
vật. ‘Các vị Arhat và Pratyekabuddha đã tự giải thoát khỏi
sự mê muội bị ô nhiễm phiền não (nhiễm ô vô tri), nhưng
vẫn còn sự vô tri không bị ô nhiễm bởi các phiền não
(bất nhiễm ô vô tri). Các ngài chưa có những đức tính thù
thắng của Như lai, chưa biết được các đối tượng xa cách
về không và thời gian, cũng chưa biết được phẩm loại
vô hạn của vạn hữu.’ Vị Arhat bằng lòng với nhận thức
về mọi sự vật liên quan đến cá nhân ngài, vị Pratyekabuddha
hiểu biết thêm về lý duyên khởi, nhưng toàn thể pháp giới
vẫn còn nằm ngoài tầm hiểu biết của họ.[64]
2.
‘Đại bi’[65] khác với lòng thương cảm thông thường vì
nó quảng đại hơn. Nó rung cảm không những trước những
đau khổ hiển nhiên mà cả những đau khổ tiềm tàng, không
chỉ trước các đau khổ trong cõi dục giới mà cả trong sắc
giới và vô sắc giới. Hơn nữa nó được cảm nhận bình
đẳng với hết thảy chúng sanh, dù chúng có đau khổ hay không;
tâm ấy không còn sân hận và si mê, và lớn hơn lòng thương
cảm đơn thuần ở chỗ nó thực sự lo cho chúng sanh thoát
khỏi những nỗi sợ luân hồi. Đây là lý do vì sao trong nghệ
thuật Phật giáo thường có khắc họa chân dung Phật trong
tư thế ‘vô úy ấn’ (abhayamudrā). Phật có thể cứu độ
chúng sanh nhiều hơn vị Arhat có thể, và đem đến cho họ
nhiều phước lạc hơn. Ngài có thể giải thoát con người
một cách trọn vẹn khỏi những phiền não và đau khổ của
luân hồi, có thể đưa họ vào trong ba thừa hay tái sinh trong
những hoàn cảnh thuận lợi.
3.
Đối với vấn đề vũ trụ, đức Phật được tin là có
quyền năng tự tại (vaśitva) hay prabhāva, thần lực.[66]
Đạt đến địa vị tôn quý, tất cả các vị Thánh đều
được xem là có các loại thần lực mầu nhiệm.[67] Đức
Phật có thể tùy ý tạo ra, biến đổi hay bảo toàn vạn
vật ngoại giới, rút ngắn hay kéo dài thọ mạng của ngài,
đi xuyên qua các vật cản (vô ngại), du hành tự tại trong
không trung, thu nhỏ các vật thể, v.v... Về phương diện này,
chính vì bản chất của ngài mà ngài có khả năng thực hiện
vô số phép mầu.[68] Các sự kiện trọng đại trong đời
sống của ngài đều kéo theo những hiện tượng chấn động
toàn vũ trụ.[69] Một vị Phật không chỉ là bản thân một
cá nhân, xung quanh ngài còn có ‘quốc độ Phật’ (Phật-sát),
mà theo Buddhaghosa là bộ ba:[70] ‘quốc độ giáng sinh bao gồm
mười ngàn hệ thế giới sẽ chấn động khi đức Như lai
đản sanh’, thành chánh giác, và nhập Niết bàn. ‘Quốc
độ oai lực’ còn rộng lớn hơn. ‘Quốc độ cảnh giới’
của ngài thì vô biên vô lượng. Về phạm vi này, nó được
coi là “tùy vào ý muốn của ngài” (AN i 228), vì Như lai
liễu thông hết thảy mọi thứ ở mọi nơi nào ngài muốn’.
4.
Sắc thân của đức Phật có bốn đặc trưng hy hữu.[71] (1)
Nó được trang nghiêm bằng ba mươi hai diệu tướng và tám
mươi tướng phụ. (2) Nó có sức mạnh vô song, và theo một
số quan niệm, phải là vô hạn vì nếu không thì nó không
thể dung chứa một tri kiến vô hạn. Tương tự đặc tính
này, ta thường nghe nói[72] đức Phật chứng ‘kim cang định’
trên ‘kim cang tòa’ hay ‘chánh giác tòa (bồ đề tràng)’
ngay giữa cõi Jambudvīpa (Diêm phù đề) này, ‘vì không nơi
nào khác đủ kiên cố để chịu nổi sức mạnh của định
này’. (3) Khi được hỏa táng, nó kết tinh thành thể kim
cang bất hoại, được gọi là śarīra, hay ‘ngọc xá lợi’.
(4) Nó phát ra hào quang rực rỡ hơn một trăm ngàn mặt trời,
vì ánh sáng vinh quang của đấng Thế tôn xuyên suốt toàn
thể pháp giới.
5.
Giai đoạn gia hành Phật quả của đức Phật mới thật là
mênh mông. Ngay cả khi ngài đã được thọ ký - bởi đức
Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng) - sẽ đạt giác ngộ vô thượng,
ngài còn phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp làm Bồ tát cho
giai đoạn chuẩn bị viên thành Phật quả.
Tất
nhiên, hiểu đức Phật như một ‘cá nhân’ theo nghĩa thông
thường của nó là một sai lầm. Trong kinh điển Phật giáo
cổ, nhân cách của đức Phật không trọng yếu đến mức
tác phẩm kinh điển của H. Oldenberg chỉ đề cập đến trong
bảy trang trên 401 trang sách. Oldenberg thừa nhận rằng định
nghĩa giáo điều về đức Phật ‘có thể nói, được coi
như một ý tưởng đến sau (Anhang) so với các quan tâm khác
thiết yếu hơn’ là điều có vẻ lạ lùng, nhưng biện minh
cho quan điểm của ông là ‘trong hết thảy tinh hoa của nó,
giáo pháp đạo Phật vẫn giữ nguyên giá trị, dù cho khái
niệm về đức Phật có khiếm khuyết’.[73] Khác với các
nhà A-tỳ-đàm các văn tịch cổ cho thấy ít quan tâm đến
mức độ khác nhau giữa những người đã được giải thoát.
Giải thoát là tất cả vấn đề, và như vậy đức Phật
cũng chỉ là một primus inter pares (người đứng đầu giữa
những người đồng hạng) Nhưng cả trong A-tỳ-đàm nhân cách
Phật vẫn là nền tảng theo đúng nghĩa của nó. Hơn hẵn
một cá nhân, ngài là (1) một nguyên lý siêu hình phi cá thể,
(2) Một uy lực siêu nhiên, và (3) một biệt loại.
1.
Đức Phật tại thế trên thực tế là sự kết hợp giữa
nguyên lý pháp siêu hình phi cá thể với một ‘thân tứ đại
uế trược’, và hiển nhiên là cái nào trong hai là quan trọng.[74]
Đức Phật luôn luôn được gắn liền với Pháp, và ý nghĩa
hiện hữu của ngài chính là đường kênh chuyển tải Chân
lý (đẳng lưu chánh pháp). Vì lẽ các ‘cá nhân’, như ta
đã biết, không thực hữu, ngay cả việc ‘quy y’ Phật cũng
phải kể đến giáo pháp. Trên thực tế việc quy y đó[75]
là quy y những giáo pháp sẽ giúp người quy y tu thành Phật
đạo hoặc sẽ dẫn dắt người đó đến với một người
đuợc gọi là ‘đức Phật’. ‘Sắc thân của ngài, được
sinh ra từ cha mẹ ngài, là những pháp bất tịnh, không đáng
để quy về nương tựa; quy y là nương tựa vào chánh pháp
của bậc toàn giác, các pháp dẫn đến giác ngộ và tạo
thành Pháp-thân.’[76] Cũng có người cho rằng 18 pháp bất
cộng của Phật mới là sự quy y cần được tìm đến.
2.
Đức Phật, như ta đã biết, hiển nhiên ưu việt hơn một
cá nhân đơn độc đã lặng lẽ rời khỏi thế gian này. Những
việc làm, hay công hạnh của ngài, có ảnh hưởng vĩ đại
trên thế gian và cho mọi sinh linh sống trên đó.
3.
Khi đức Phật được gọi là ‘Như Lai’*, tính cách cá nhân
của ngài coi như không quan trọng. Chư Như Lai là những ‘điển
hình’ lần lượt thị hiện trên thế gian này vào một thời
điểm đã định nào đó, từ quá khứ vô cùng đến tương
lai vô tận. Thời kỳ thị hiện của mỗi vị Như Lai đều
được ấn định trước, đều trải qua quá trình phát triển
như nhau và đều theo cùng một Đạo lộ, cố định một lần
duy nhất. Chư vị Như Lai chỉ khác nhau ở các chi tiết thứ
yếu;[77] về bản chất, trong Phật-pháp của các ngài, tất
cả đều không khác.
Để
kết luận, chúng ta cần nhắc lại[78] rằng quan niệm độc
đáo về ba thân đã được gợi ý sẵn nơi kinh tạng. Đó
là (1) sắc thân có thể hư hoại, (2) ứng hay hoá thân cho
phép đức Phật thị hiện khắp các cõi trời v.v., và (3)
Pháp thân cũng chính là giáo pháp của ngài. Abhidharma của
Hữu bộ đã hệ thống hóa các gợi ý này, phân biệt ba thân
như sau: (1) thân thể vật chất tức sắc thân (rūpakāya) là
kết quả của nghiệp quá khứ. Nó có thể hư hoại dù trên
nhiều phương diện nó ưu việt hơn thân thể phàm phu (cf.
phần 4 nói trên). (2) Đức Phật có thể bằng thần lực của
ngài tạo ra các hóa thân (nirmāṇakāya) để ngài thị hiện
ở bất cứ nơi nào. (3) Cuối cùng là Pháp thân, bao gồm ‘ngũ
phần pháp’ để khiến dẫn một Bồ tát trở thành một
vị Phật. Dưới hình thức này học thuyết về Tam thân (trikāya)
đã được Mahāyāna tiếp nhận, ở đó nó được bổ sung
chi tiết hơn, một phần từ sự kết hợp của nó với chủ
thuyết huyễn ảnh (Phật thân vô lậu) của Mahāsanghikas, phần
khác từ ảnh hưởng của lý tưởng Bồ tát đạo và các
quan niệm mới về bản thể học của Mahāyāna.
3.
Lộ trình Thánh Đạo
1.
Thanh tịnh đạo luận của Buddhaghosa cho ta cái nhìn tổng quát
xuyên suốt về các giai đoạn khởi phát của trí tuệ. Nếu
không ai có thể hiểu biết nhiều hơn những gì mà mình đã
kinh nghiệm, trình độ và chiều sâu kiến giải của mỗi
người tất phải dựa vào mức độ toàn thiện tâm linh của
chính mình. Việc vạch ra biểu đồ các mức độ này giúp
ta có khả năng quyết định cái gì có thể và không thể
sở đắc vào những giai đoạn nhất định.
A-
Trí tuệ có hai gốc (mūla, căn) là giới thanh tịnh và tâm
thanh tịnh. Hai căn này tương ứng với năm thiện căn phải
có trước để trí tuệ thành thục. ‘Tâm thanh tịnh’ gốc
ở tám bậc định, tương ứng với định căn. ‘Giới thanh
tịnh’ bao gồm (1) ‘được chế ngự bởi giới bổn Patimokkha’,
tương ứng tín căn; (2) ‘mạng thanh tịnh’, (3) ‘phòng hộ
căn môn’, và (4) ‘không đắm trước các nhu yếu của cuộc
sống’,[79] tương ứng theo thứ tự với tấn, niệm và huệ
căn.
B-
Nền tảng (bhūmi, địa) của tuệ là hiểu biết căn bản
về các uẩn, xứ, giới, căn, (tứ) đế, và duyên khởi (các
ch. 14-17).
C-
Thể (sarīra) của tuệ được phân thành năm kiến giải (trí):
I.
Trí tuệ do học được[80] (phần B). Nó liên quan đến (1)
các tướng (vô thường, v.v.) mà vạn pháp tự chúng có sẵn[81],
và (2) thức liễu thông về danh sắc cùng các quan hệ nhân
duyên của chúng.[82]
(1)
Ch. 18. Kiến thanh tịnh. Danh và sắc được nhận thức theo
thực tánh,[83] và cũng theo cách đó mà vượt qua khái niệm
về một ‘chúng sanh’.[84] Ch. 19 (2) Đoạn nghi thanh tịnh
(vitarana). Thấu hiểu các duyên sở sanh thân tâm-vật lý,[85]
và định luật nhân quả (dhammaṭṭhiti).[86]
II.
Trí tuệ có giá trị phổ độ.[87] Lấy tổng tướng các pháp
làm đối tượng.[88] (3) ch. 20. Đạo phi đạo tri kiến thanh
tịnh. Ở đây hành giả hiểu các nhóm không phải là Đạo,
mà chính Niết bàn là Đạo. Các uẩn được quán sát đầu
tiên với 33, cho đến 200 trường hợp. Nếu chưa đủ thuyết
phục, còn có chín phương pháp tăng cường sự nhạy bén các
căn.[89] Lần lượt các nhóm được quán bằng cách áp dụng
ba tướng.[90] (4) Ch. 21. Đạo tri kiến thanh tịnh. Ở đây
hành giả tiến dần lên Thánh đạo. Bước đầu tiên là (a)
quán về sinh và diệt.[91]
III.
Trí dẫn đến xả (đoạn biến tri). Ở đây áp dụng ba tướng
cho tất cả mọi đối tượng. Sự áp dụng này có thể phân
thành 18 tuệ giác,[92] hay cũng có thể thay thế bằng tám trí
quán các đề mục sau: (b) trí quán (các hành là) hoại diệt,[93]
(c) bố uý trí (nhận thức bản chất hoại diệt của vạn
pháp là điều kinh khủng, đáng sợ),[94] (d) quá hoạn trí
(nhận thức sự khổ não, nguy hiểm đó),[95] (e) ly dục trí,[96]
(f) dục thoát trí,[97] (g) tư duy trí (trí quán sát, đánh giá
lại các thực trạng), (A) Quy gán ba tướng cho hết thảy pháp
phức hợp (các hành),[98] (B) quán về tánh không,[99] (h) hành
xả trí khi nhìn vạn vật hữu vi,[100] (i) thuận thứ trí.[101]
IV.
Trí chuyển tánh (dòng dõi). Hành giả bấy giờ ‘hồi quy
về Thánh đạo’.[102] Sau đó ông ‘ra khỏi dòng dõi, phạm
vi hay trình độ của phàm phu để gia nhập dòng dõi, phạm
vi hay trình độ các vị thánh’. Là kết quả của III (i),
mọi dấu hiệu của một đối tượng hữu vi diễn ra như
một thứ cản ngại, và như là kết quả của IV, hành giả
‘lấy Niết bàn làm sở y như là cái vốn vô tướng, vô
sinh, vô hành, và tịch diệt’. ‘Đây là sự hồi quy đầu
tiên, tác ý (ābhoga) đầu tiên, chuyên niệm đầu tiên (samannahāra)
về Niết bàn như là sở y, và nó thực hiện vai trò là duyên
cho Thánh đạo theo sáu cách, tức vô gián duyên, đẳng vô
gián duyên, tập hành duyên, cận y duyên, vô hữu duyên và
ly khứ duyên.’[103] Hành giả bấy giờ thấy Niết bàn như
một người có thể nhìn thấy ông vua ngự trên lưng voi; dù
ông ấy không thực sự ‘nhìn thấy’ y vì công việc của
y với vua chưa giải quyết xong. Cũng vậy, khi ta chưa làm xong
điều cần phải làm, nghĩa là xả ly mọi phiền não, ta không
thể nói về sự ‘liễu ngộ’ Niết bàn mà khởi điểm
là Thánh đạo.[104]
V.
Đạo trí khi ấy bắt đầu khởi sự tái sinh về tâm linh
nhờ đó vị thánh, trên bình diện xuất thế, có khả năng
thể nhập Chân lý. Vì chuyển từ đạo lộ này sang đạo
lộ kế tiếp, các tâm tánh bất thiện dần dần bị tiêu
trừ, và bốn ‘Thánh quả’ tuần tự xuất hiện. Nét đặc
trưng của tinh thần Phật giáo là các giai vị có thể được
miêu tả bằng những thứ đã chứng đạt không nhiều bằng
những thứ đã xả bỏ, cái sau là duyên cho cái trước. Buddhaghosa
phân biệt bốn loại ‘xả’*[105] (1) Do các tri kiến và trí
của C. I – III làm chất giải độc cho nhiều thiên kiến
sai lầm và tai hại được xả bỏ. (2) Ở phần C. V Đạo
trí nhổ bật gốc các phiền trược, v.v., với kết quả là
chúng được xả bỏ theo nghĩa không bao giờ còn tái diễn,
vì Thánh đạo đã đánh tan chúng như sét đánh bật gốc một
cái cây. (3) Bằng việc chứng đắc các đạo, các phiền não
được xả bỏ vì chúng đã hoàn toàn tịch diệt. (4) Khi đạt
đến Niết bàn, mọi thứ hữu vi được xả bỏ vì ta đã
vĩnh viễn thoát ly chúng.
Buddhaghosa
bằng lòng với cái nhìn tổng quan về các giai vị cao hơn,
vốn hoàn toàn vượt ngoài khả năng kinh nghiệm tâm linh của
các độc giả của ông, và chính ở điểm này mà ông khác
với các nhà Hữu bộ và Đại thừa. Đối với tư tưởng
Phật giáo quả thật không có chỉ dẫn nào tốt hơn Visuddhimagga
về khía cạnh thực tiễn.
2.
Abhidharmakośa, gần như cùng thời, lại trình bày sự việc
hơi khác với Visuddhimagga.[106] Nó phân ra năm giai vị tu chứng
Thánh đạo, gồm: (1) giai đoạn tích lũy dần các tư lương
đầu tiên (sambhāra-mārga, tư lương đạo/vị). Tiếp theo là
(2) giai đoạn nỗ lực (prayoga-mārga, gia hành đạo) được
định nghĩa là quá trình dụng công gia hạnh trước khi bước
vào Thánh đạo xuất thế (= (3)), tương ứng với C. I – IV
theo bảng sắp xếp của Phật Âm. Tuy nhiên ở đây nó lại
chia thành bốn Trợ pháp (nirvedha-bhāgīya, thuận quyết trạch
phần, 順 決 擇 分),[107] là hình thức tu quán cao hơn về
các pháp, ở đó không còn xem xét các tổng tướng và biệt
tướng của chúng, mà quán 16 hành tướng của bốn Thánh đế.
Theo thứ tự đó là bốn thế pháp: 1) noãn, 2) đãnh, 3) nhẫn,
và 4) thế đệ nhất; đến phiên mỗi pháp này lại được
chia ba giai đoạn: a) yếu, b) trung bình, và c) mạnh. Đây là
gần như tất cả những gì chúng ta biết, và dường như không
có bản liệt kê chi tiết nào của Hữu bộ về chủ đề
quan trọng này được lưu giữ.[108] Bước cuối cùng của
‘gia hành đạo’ là ‘vô gián định’ (ānantarya-samādhi)
cho biết đã hoàn toàn chứng đắc các pháp thế gian tối
thượng.
Tiếp
theo giai vị này là (3) Kiến đạo vị (còn gọi Thông đạt
vị), tri kiến xuất thế gian về các Thánh đế,[109] ở đó
tuệ đã thoát khỏi các lậu hoặc, đảo kiến,[110] và tham
ái, chỉ hướng về tổng tướng của các Thánh đế qua 16
hành tuớng của chúng, dần dần loại trừ các phiền não
về tri thức vốn có thể được xả bỏ bằng chánh tri kiến.
Giai vị này được phân thành 15 ‘sát-na tâm’: (1) được
gọi là ‘chấp nhận sự thực về khổ’ (khổ pháp nhẫn),
hiện quán khổ của dục giới. Ở đây hành giả kiên định
tin tưởng ‘hết thảy các pháp trong dục giới đều vô thường,
khổ, không, vô ngã.’ Đoạn hết các nghi hoặc về điểm
này,[111] từ bỏ các tham luyến thường theo sau việc chấp
chặc quan niệm trái ngược lại là đúng, hành giả bước
vào sơ vị đầu tiên, trở thành một ārya, và từ nay chắc
chắn sẽ có ngày chứng đạt Niết bàn.[112] Kiến giải này
được hoàn thiện bằng (2) sự tin tưởng vững chắc về
tính vô thường v.v... của vạn pháp ở dục giới, và giải
thoát đạo (vimuktimārga) đưa đến sự chấm dứt mọi tham
luyến;+ (3) hiện quán khổ của sắc giới và (4) hiện quán
khổ của vô sắc giới.++ Tương tự, từ (5-8) hiện quán ‘tập’,
(9-12) hiện quán ‘diệt’, và (13-15) hiện quán ‘Đạo’
cho đến cõi sắc. Các tham ái gắn liền với hữu thân kiến
bấy giờ đã bị diệt trừ, nhưng vẫn còn những thứ khác,
như lòng yêu, ghét, ham muốn cảm thọ lạc v.v., đeo bám theo
hành giả.
Sau
đó chúng ta tiến đến giai đoạn (4) ‘Tu Đạo vị’, mà
bước đầu tiên là sát-na tâm thứ 16 để quán ‘Đạo’
thuộc cõi vô sắc. Giai vị này tương ứng Quả vị đầu
tiên.[113] Từ đây chắc chắn sẽ tiến đến giải thoát,
và sau nhiều nhất là bảy kiếp, sẽ chứng đạt Niết bàn.
Tiến xa hơn trên Đạo lộ này hành giả vươn đến quả vị
Nhất lai (sakṛḍāgāmin, dịch âm Tư-đà-hàm, 斯 陀 含)[114]
tức chỉ còn một lần tái sinh nơi dục giới, rồi quả vị
Bất hoàn (anāgāmin, dịch âm A-na-hàm, 阿 那 含)[115] là người
không còn trở lại cõi dục. Đạo lộ này chi tiết hơn còn
được phân[116] thành 80 ‘thời/ phẩm tu tập’ dần dần
loại trừ các nhiễm ô còn sót lại. Chín phẩm đầu dành
cho dục giới, 36 phẩm kế tiếp dành cho các tầng trời tương
ứng bốn thiền, và 35 phẩm tương ứng bốn chứng đắc vô
sắc giới. Cuối cùng là (5) ‘Cứu cánh vị’ hay còn gọi
là ‘Vô học vị’ (aśaikṣa-mārga), nơi các nhiễm ô mờ
nhạt nhất liên quan đến đỉnh hiện hữu (bhavāgra, hữu
đỉnh) bị loại trừ. Sự chứng đắc quả vị này được
đánh dấu bằng kim cang dụ (vajropama) định,[117] biểu hiện
của tuệ giác bừng sáng là nền tảng cho hành giả chuyển
thành bậc ‘vô học’. Giờ đây ông đã giải thoát khỏi
mọi phiền não (kleśa) và lậu hoặc (āsrava) có thể có. Giai
vị này còn được gọi là viśeṣa-mārga (tối thắng đạo
vị),[118] và vị thánh bấy giờ là một Arhat, có được hai
trí đặc trưng của Arhat vị. Lúc này mục tiêu của các ngài
là ‘hữu đỉnh’, bình diện vi tế nhất của thực tại
mà các vị Arhat còn ràng buộc. Khi một người chết vì vết
thương bị nhiễm độc, cái chất độc ban đầu lan toả khắp
thân thể đến lúc chết tập trung phát tác ở vết thương.
Cũng vậy, trước khi đoạn tận tất cả, tuệ giác của hành
giả tập trung về mục tiêu cuối cùng mà ông cũng phải từ
bỏ, nghĩa là các skandhas của bhavāgra, và ông quán cái khổ
bức bách ông đó, cũng như cội nguồn của nó.[119]
Hai
việc có ý nghĩa về sự sắp xếp đã trở thành điểm khởi
đầu tư tưởng Đại thừa về chủ đề này: (1) các phạm
trù truyền thống được sắp xếp vào một lộ trình rõ ràng
bằng các phép hoán vị toán học mà không có bất cứ liên
hệ mật thiết nào với kinh nghiệm thực tế. (2) Tập trung
sự quan tâm vào các giai vị sau hơn các giai vị đầu. Trong
khi thực tế không có nhiều tài liệu về các ‘thuận quyết
trạch phần’, người ta dành nhiều chỗ để phân biệt tỉ
mĩ sự khác nhau của nhiều hạng Arhat và Anāgāmin. Giải pháp
của Abhidharmakośa về các giai vị Thánh đạo không phải là
một hướng dẫn để thực hiện, mà để cung kính chiêm nghiệm
các thành tựu của thánh nhân.
dịch
Việt: Hạnh Viên
[1]
Xem Rhys Davids, pp. 367-9.
[2]
268-71. BT số 98.
[3]
ii 257-8.
[4]
AK ii 50a.
[5]
AK ii 57d.
[6]
AK ii 292.
[7]
VM xvi 67-74 (=BT 99) tranh luận chống lại quan điểm Sautrāntika.
Đoạn văn được minh giải kỹ lưỡng qua phân tích của Dutt,
pp. 172-6.
[8]
p. 271.
[9]
AK ii 278-87. Quan điểm Sautrāntika được công bố rõ trong Satyasiddhiśāstra
(Thành thật luận), MCB v 1936-7, 208-10, F 136-9.
[10]
F 138.
[11]
AK ii 283, F 137.
[12]
AK ii 284
[13]
AK ii 291 sq.
[14]
cf. BT 108.
[15]
F 139.
[16]
Buddhacarita xiv 84. Cũng trong BT 107.
[17]
AK ii 282
[18]
Sarvāstivādins, Mahāsanghikas, Mahīśāsakas, Uttarāpathakas; Sautrāntikas,
Satyasiddhi; kể cả Yogācārins.
[19]
Theravādins, Vatsīputrīya, Śāriputrābhidharma.
[20]
AK i v. 28.
[21]
Mil. 271.
[22]
AK i v. 5. ākāśamanāvṛtiḥ.
[23]
75.
[24]
AK ii 279.
[25]
McGovern i 110, Heiler 27, Oldenberg, Vorwissenschaftliche Wissenschaft,
38 sq.
[26]
AK iii 139; Keith, p. 186.
[27]
AK i 8.
[28]
Rgv. II 3.
[29]
AK viii 143; nhưng VM x 1, câu cuối, có vẻ ngược với điều
này.
* Như
đói khát, tai ương tật bệnh, hay nhiều chịu đựng đau khổ
khác. VM x 1, Lamotte, Traité, 1032.
[30]
VM x 16.
[31]
VM x 20.
[32]
VM x 23. cy (PM 323) còn thêm, ‘nó không có sinh cũng không có
diệt, vì nó là pháp không có tự tánh’, Nyanamoli, p. 360.
[33]
e.g. Mil., pp. 268, 271. Đây nguyên thủy có lẽ là tác phẩm
của Hữu bộ. Xem thêm P 234-6.
[34]
cf. okāso, room, opportunity for life and movement; Rhys Davids Dhs xlviii.
Cùng trong Hui-neng, Sutra spoken by the sixth patriarch, 1930, p. 12.
[35]
Wolf, 666.
* Những
cơ sở thực nghiệm của khoa học hiện đại có thể có vẻ
đầy ấn tượng đối với một số người, tuy thế điều
khá kỳ lạ là Einstein và freud, hai nhà khoa học Do thái nhiều
ảnh hưởng nhất trong thế hệ vừa qua, chừng như đã lấy
các ý tưởng chủ yếu của họ từ một hệ thống rõ ràng
là ‘phi khoa học’ và dị thường chẳng kém Kabbala (môn
pháp thuật của dân Do thái. ND). Khó giải thích sự kiện
này trên các tiền đề của chủ nghĩa kinh nghiệm. Chưa kể
đến các bài giảng thời kỳ đầu của Einstein về ánh sáng,
‘không bao lâu trước khi mất’ ‘ông đã phát biểu một
cách hệ thống phần tinh hoa’ về thế giới quan của ông
qua những lời sau: ‘Hư không (space) đã nuốt chửng không
gian và thời gian (ether and time); dường như nó sắp nuốt gọn
cả trường (field) và các huyết cầu, sao cho chỉ còn mình
nó là phương tiện hiển bày thực tại.’ (R. Thiel, And There
Was Light, 1958, p. 345).
[36]
Ench. Met. viii 14.
[37]
Ench. Met. viii 7.
[38]
e.g. A i 24, viii 196-7, xxix 497, Sa 27a, P 231, 234, F. 289, Ad. 219a,
254a.
[39]
V 98-9, BWB 38-9.
[40]
śrāvaka (Thanh văn) là thuật ngữ Đại thừa thường dùng
để chỉ vị Arhat.
[41]
Traité 127, AK vi 230.
[42]
ví dụ, trong B 93-4.
[43]
AK vi 282.
* các
vị Arhat ở giai vị này vẫn có thể đánh mất những gì
đã chứng đạt hay không, là đề tài tranh luận bất tận,
và toàn bộ vấn đề về tính ‘bất thối’ (avaivartya, a-bệ-bạt-trí)
của các vị thánh đáng được đặc biệt nghiên cứu.
[44]
AK vi 240.
[45]
liên quan giữa hai loại trí này đối với tứ Đế, xem AK
vii 9-10; đối với thập lục tâm (hay trí), AK vii 27-8.
[46]
AK vii 62.
[47]
AK iii 194-6, VM viii 22, Enc Bu 57-63.
[48]
VM viii 22.
[49]
AK iii 196.
[50]
Bcv = BM 110-13. Giải đáp của Đại thừa cho cá tính này, xem
Mpps, Traité, p. 984.
+ [từ
do Jonathan Swift đặt ra để ám chỉ tiếng ngựa hí] Tỉ dụ
lấy trong tác phẩm Gulliver’s travels của Swift, về cuộc đua
ngựa với sức mạnh tranh luận và đạo đức con người.
– ND.
[51]
Edgerton 375-6.
[52]
SP ch. 3, p. 80. BS, p. 209.
[53]
e.g. Mv. iii 302 sq. BS 52.
[54]
AAA 155-6. aśabda-dharma-deśanā.
* abhiññeyam
abhiññatam
bhāvetabbañ ca bhāvitam
pahātabbam pahīnam me
tasmā Buddho’smi brāhmana.
[55]
Sn 558.
[56]
Các tông phái Đại thừa còn liệt kê 18 pháp bất cộng khác;
xem BT 145; AK vii 66-7.
[57]
xem BT 116.
[58]
xem BT 117. Trong các kinh điển nguyên thủy đôi khi chúng cũng
được gán cho Arhat. AK vii 74 n.
[59]
AK vii 82.
[60]
AK ii 303-5.
[61]
như trong Ekottarāgama (Tăng nhất a hàm) 18, 16.
[62]
xem Mpps 146-61 về nhất thiết trí của Phật.
[63]
AK i 2
[64]
xem thêm VM xiii 16, viii 23.
[65]
AK vii 77-9.
[66]
AK vii 83.
[67]
xem BS, p.131.
[68]
AK vii 83.
[69]
e.g. BS 63-4.
[70]
BT 120. VM xiii 31.
[71]
AK vii 84.
[72]
AK iii 145-6.
[73]
p. 339
[74]
BT 103.
[75]
AK iv 76-9.
[76]
Vibhāsha 34.
* Tathāgata,
là một trong nhiều thuật ngữ Phật giáo, như từ satkāyadṛsṭi
(tát-ka-da kiến, hữu thân kiến), Pratyekabuddha, pratisamvid (vô
ngại trí), hay từ parijaya (tối thắng), không tuân theo phân
tích ngữ pháp thích đáng. Ý nghĩa nguyên thuỷ của chúng
khá mông lung, và cách hiểu chúng thông thường không phản
ánh cách sử dụng nguyên thuỷ, mà tùy vào sự giải thích
của những nhà ngữ pháp và chú giải sau này. Là một thuật
ngữ Sanskrit, Tathāgata chỉ có thể là Tathā-gata hoặc là Tathā-āgata,
‘đã đi như thế’ hoặc ‘đã đến như thế’. ‘Như
thế’ theo truyền thống có nghĩa là ‘như chư Phật trước
đó’ đã đến hay đã đi. Nhưng từ này rất có thể là
một phương ngữ Prakrit, hoặc có thể kể cả thuật ngữ
tiền-Aryan mà nghĩa của nó ngày nay không ai biết (xem Mpps
126 n., Jas 1952, p. 266). Đôi khi cũng nên nhớ rằng Phật giáo,
theo chính các Phật giáo đồ, không hoàn toàn là sản phẩm
do đức Phật Thích-ca tạo ra, như một sự phục hồi các
quan niệm trở lui về buổi bình minh của lịch sử.
[77]
BT 115, AK vii 179.
[78]
HBI 689-90.
[79]
paccaya-sannissita-sīla (tư cụ y chỉ giới 資具依止戒).
[80]
ñāta-pariññā (biến tri trí)
[81]
VM 606.
[82]
VM 693
[83]
yathāva 587.
[84]
597.
[85]
598.
[86]
604.
[87]
tīrana-pariññā. (độ biến tri)
[88]
VM 607.
[89]
VM 613-18.
[90]
VM 618-28.
[91]
BM 158-60.
[92]
VM xx – 89 sq., xxii 113-21.
[93]
VM 640-5, BM 160-1.
[94]
VM 645-7, BM 162.
[95]
VM 647-50, BM 163-4.
[96]
VM 650-1, BM 164-5.
[97]
VM 651, BM 165-6.
[98]
VM 652-3, BM 166-7.
[99]
VM 653-6, BM 169-73.
[100]
VM 656-7, BM 167-8.
[101]
VM 669-70.
[102]
VM xxii 1.
[103]
VM xxii 5.
[104]
Asl 43
* Loại
thứ năm nói đến sự kềm hãm nhất thời của các chướng
ngại đối với định (VM xxii 111), không liên quan đến đề
tài của chúng ta ở đây.
[105]
VM xxii 111-22, Asl. 351-2.
[106]
HBI 678-86
[107]
Về văn chương, xem Lamotte, Somme, II 34.
[108]
AAA 63, Yogācāra cũng là một hướng dẫn về các khái niệm
của Hữu bộ. HBI 680 n.
[109]
AK vi 143-93.
[110]
V 9
[111]
AK vi 61 28, 65
[112]
samyaktva-niyāma-avakrānti. Xem AK vi 120.
+ (1)
khổ pháp trí nhẫn và (2) khổ pháp trí; hai tâm pháp này,
theo Hữu bộ, thuộc khổ đế ở dục giới. – ND.
++
(3) khổ loại trí nhẫn và (4) khổ loại trí, thuộc khổ đế
của hai cõi sắc và vô sắc. – ND.
[113]
v 5.
[114]
., vii 35c; xem v 43.
[115]
vi 34.
[116]
vi 33.
[117]
vi 44d.
[118]
v 61, vi 32, 65.
[119]
AK vii 6 n.3.