BỒ
TÁT QUÁN THẾ ÂM
với
phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa
Thích
Thái Hòa
I.
Ý NGHĨA VÀ DUYÊN KHỞI
Ở
kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn là nói về Hạnh môn Pháp Hoa của
Bồ Tát Quán Thế Âm.
Phổ
Môn, tiếng Phạn là Samantamukha. Samanta là phổ biến, cùng
khắp. Mukha là cửa ngõ. Ngài La Thập, Trúc Pháp Hộ và Xà
Na khuất Đa, đều dịch Samantamukha là Phổ Môn.
Phổ
Môn nghĩa là cửa ngõ cùng khắp mọi nơi. Và là cửa ngõ
giúp ta đi vào mười như thị của mọi sự hiện hữu, để
thấy rõ bất cứ sự hiện hữu nào cũng có mười như thị,
gồm: Tướng như thị, tính như thị, thể như thị, lực như
thị, tác như thị, nhân như thị, duyên như thị, quả như
thị, báo như thị, bản mạt cứu cánh như thị1. Phổ Môn
là cánh cửa giúp ta đi vào thực tại, đi vào thực tướng
của mọi sự hiện hữu qua mười như thị ấy.
Lại
nữa, Phổ có nghĩa là cùng khắp; Môn là môi trường. Phổ
Môn là môi trường hoạt động cùng khắp của Bồ Tát Quán
Thế Âm.
Bồ
Tát Quán Thế Âm không phải chỉ hoạt động từ bi để diễn
thuyết và hoằng truyền kinh Pháp Hoa ở trong cửa ngõ vào
và ra của nhân thiên hay môi trường của nhân thiên, mà còn
diễn thuyết và hoằng truyền kinh Pháp Hoa cùng một lúc khắp
cả mười phương pháp giới. Trong đó có Lục Phàm và Tứ
Thánh.
*
Lục Phàm:
1.
Thế giới của Địa Ngục: Trong thế giới địa ngục cũng
có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả, chứ
không phải chỉ là một thế giới hay là một nhân duyên nghiệp
quả. Và mọi sự hiện hữu ở trong thế giới của Địa
ngục, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như
thị.
2.
Thế giới của Ngạ Quỷ: Trong thế giới của ngạ quỷ cũng
có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả, chứ
không phải chỉ là một nhân duyên nghiệp quả. Và mọi hiện
hữu ở trong thế giới của Ngạ quỷ, mỗi sự hiện hữu
đều có đầy đủ cả mười như thị.
3.
Thế giới của Súc Sanh: Trong thế giới súc sanh cũng vậy,
chúng cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp
quả, không có nhân duyên nghiệp quả của chủng loại súc
sanh nào giống chủng loại súc sanh nào, nghĩa là có vô số
thế giới của súc sanh. Và mọi hiện hữu ở trong thế giới
của súc sanh, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười
như thị.
4.
Thế giới của loài A Tu La: Trong thế giới của các loài quỷ
thần nầy, họ cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên
nghiệp quả. Và mọi hiện hữu ở trong thế giới của A Tu
La, mỗi sự hiện hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
5.
Thế giới của loài người: Trong thế giới của loài người
cũng có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả,
không có nhân duyên nghiệp quả của người nào giống người
nào, ngay cả trong một dòng dõi huyết thống, nhân duyên nghiệp
quả của mỗi người cũng không ai giống ai, mỗi người là
mỗi thế giới của nhân duyên nghiệp quả. Và mọi sự hiện
hữu ở trong thế giới loài người, mỗi sự hiện hữu cũng
đều có đầy đủ cả mười như thị.
6.
Thế giới của chư Thiên: Trong thế giới của chư Thiên cũng
có vô số thế giới, vô số nhân duyên nghiệp quả khác nhau.
Chư Thiên Dục giới không những nhân duyên nghiệp quả không
đồng với chư Thiên các cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới
đã đành, mà ngay nhân duyên nghiệp quả ở nơi các cõi trời
Dục giới, họ cũng không đồng nhau, và ngay nơi chư Thiên
của Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới; nhân duyên nghiệp
quả tự thân của mỗi vị cũng không đồng nhau. Tự thân
của mỗi thiên, mỗi nhân là mỗi thế giới. Và mọi sự
hiện hữu ở trong thế giới của chư thiên, mỗi sự hiện
hữu đều có đầy đủ cả mười như thị.
*
Tứ Thánh:
1.
Thế giới của các Thánh giả Thanh Văn: Mỗi Ngài lãnh hội
Tứ Thánh Đế mỗi cách tuỳ theo nhân duyên nghe pháp, nhân
duyên tri khổ, đoạn tận, chứng diệt, tu đạo của mỗi
vị. Nhân và Pháp ở trong thế giới của các Thánh giả Thanh
Văn, mỗi nhân và mỗi pháp cũng đều có đầy đủ cả mười
như thị.
2.
Thế giới của các Thánh giả Duyên Giác: Mỗi Ngài lãnh hội
lưu chuyển và hoàn diệt của giáo lý Mười hai duyên khởi
mỗi cách, cũng tùy theo nhân duyên thiền quán sâu cạn của
mỗi vị. Nên, mỗi vị cũng là mỗi thế giới tu chứng. Và
Nhân cũng như Pháp ở trong thế giới của các Bậc Thánh giả
Duyên Giác, mỗi nhân và mỗi pháp cũng đều có đầy đủ
cả mười như thị.
3.
Thế giới của Bồ Tát: Mỗi Ngài tùy theo năng lượng của
Bồ đề tâm mà phát khởi hạnh nguyện và tùy theo hạnh nguyện
mà tạo thành cách hành động và cảnh giới của mình. Và
Nhân cũng như Pháp ở trong thế giới của Bồ Tát, mỗi nhân
và pháp cũng đều có đầy đủ cả mười như thị.
4.
Thế giới của chư Phật: Cũng vậy, khi hành Bồ Tát đạo,
tùy theo hạnh nguyện tu tập của mỗi Ngài, mà tạo thành
cảnh giới tương ứng để giáo hóa. Và trong thế giới của
chư phật, mỗi sự hiện hữu cũng có đầy đủ cả mười
như thị.
Do
đó, trong mỗi pháp giới có nhiều thế giới, cho đến có
vô số thế giới. Và trong tự thân nhân duyên của mỗi loài,
hay của mọi sự hiện hữu đều có đầy đủ mười như
thị, và trong mỗi pháp giới đều có đầy đủ cả
Thập pháp giới.
Nên,
nói Thập pháp giới là nói tổng quát, và nói chi tiết thì
phải nói có vô số pháp giới hay vô số thế giới.
Vậy,
Phổ Môn là pháp hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, pháp hạnh
ấy là cùng một lúc mà có mặt cả toàn thể pháp giới,
cả mười pháp giới và cả vô số thế giới để đem hạnh
không sợ hãi mà hiến tặng cho tất cả Phàm Thánh, và diễn
thuyết Pháp Hoa cho tất cả sinh loại Thánh, Phàm cùng khắp
hết thảy pháp giới trong mười phương. Đối với Lục phàm
Bồ Tát Quán Thế Âm diễn giảng Kinh Pháp Hoa, khiến cho họ
tu tập không còn sợ hãi đối với những khổ đau do “Phân
đoạn sinh tử đem lại” mà khởi tâm Bồ Đề hướng tới
Nhất Thừa Đạo. Và đối với các Thánh giả, Bồ Tát Quán
Thế Âm diễn giảng Kinh Pháp Hoa, khiến cho các Thánh không
còn khởi tâm sợ hãi đối với khổ đau do “Biến dịch
sinh tử đem lại”, sẵn sàng buông bỏ các địa vị tu chứng
có tính cách tạm thời mà vững tâm tiến về Nhất Thừa
Phật Đạo.
Đối
với ai chưa mở được Phật tri kiến, thì Bồ Tát thuyết
pháp một cách thích ứng để cho họ mở Phật tri kiến, đối
với ai chưa thấy Phật tri kiến, thì Bồ Tát thuyết pháp
một cách thích ứng cho họ, để chỉ bày Phật tri kiến cho
họ. Đối với ai chưa giác ngộ phật tri kiến, thì Bồ Tát
thuyết pháp một cách thích ứng để giác ngộ Phật tri kiến
cho họ và đối với ai chưa thể nhập Phật tri kiến, thì
Bồ Tát hóa thân thuyết pháp một cách thích hợp để cho
họ thể nhập hoàn toàn Phật tri kiến.
Và,
nếu đối với ai không có khả năng để tin rằng, tự thân
mình có Phật tính và hết thảy chúng sanh đều có Phật tính;
và đều có khả năng thành Phật, thì đối với hạnh Phổ
môn, Bồ Tát Quán Thế Âm có thể biểu hiện thân thể và
thuyết pháp một cách thích ứng, khiến cho họ sinh khởi đức
tin rằng: “Ta và hết thảy chúng sanh đều có Phật tính,
và tất cả đều có khả năng thành Phật”.
Nếu
có bao nhiêu người cùng một lúc chưa có đức tin nầy, thì
Bồ Tát biểu hiện có bấy nhiêu thân thể cùng một lúc,
thích ứng để thuyết pháp, khiến cho tất cả họ, đều
cùng một lúc sinh khởi đức tin ấy.
Nên,
Phổ môn là pháp hành của Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát
Quán Thế Âm là người đang thực hành pháp môn phổ môn ấy.
Đối
với kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Dược Vương là tiêu biểu cho hạnh
môn về khổ hạnh và nhấn mạnh đến thân hành thanh tịnh
và đốt thân thanh tịnh để cúng dường Phật và pháp, nên
DượcVương Bồ Tát là tiêu biểu cho vị Bồ Tát bố thí
thân một cách tuyệt đối.
Bồ
Tát Diệu Âm đối với hạnh môn Pháp Hoa là tiêu biểu cho
ngữ hành thanh tịnh và đem ngữ hành thanh tịnh ấy mà phụng
sự chánh pháp, nên Bồ Tát Diệu Âm là tiêu biểu cho vị
Bồ Tát bố thí pháp một cách tuyệt đối.
Và
Bồ Tát Quán Thế Âm đối với kinh Pháp Hoa là vị Bồ Tát
tiêu biểu cho ý hành thanh tịnh và đem ý hành thanh tịnh ấy
mà phụng sự chánh pháp. Nên, Bồ Tát Quán Thế Âm là tiêu
biểu cho vị Bồ Tát bố thí nghị lực, bố thí ý chí hay
bố thí sự không sợ hãi một cách tuyệt đối.
Theo
kinh Bi Hoa, trong thời kỳ quá khứ, có thế giới tên là Tán
Đề Lam, thuộc kiếp Thiện Trì, bấy giờ có Phật ra đời
hiệu là Bảo Tạng, có vị Thái tử của vua Vô Lượng Tịnh,
phát Bồ đề tâm cúng dường Phật và Tăng tỷ khưu ba tháng
và phát nguyện, nếu có chúng sanh nào đang chịu khổ não
trong ba ác đạo, họ liền nghĩ đến tôi, xưng niệm danh hiệu
của tôi, tôi sẽ dùng thiên nhĩ nghe âm thanh của họ, dùng
thiên nhãn thấy họ mà họ không thoát khỏi khổ đau, tôi
nguyện không thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
Bấy
giờ, Đức Phật Bảo Tạng bảo với vị Thái tử ấy rằng:
“Người nhìn hết thảy chúng sanh là vì muốn đoạn trừ
hết thảy khổ đau cho họ, nên nay danh hiệu của Người là
Quán Thế Âm”. Và Thái tử tức là Bồ Tát Quán Thế Âm
đã được Đức Phật Bảo Tạng thọ ký thành phật trong
tương lai với bài kệ:
Đại
Bi công đức
kim
ưng hoàn khởi
địa
lục chấn động
cập
chư phật giới.
Thập
phương chư phật
dĩ
thọ nhữ ký
đương
thành vi phật
cố
ưng hoan hỷ”.2
Nghĩa
là:
Công
đức đại bi
nay,
nên khởi lại
đất
sáu chấn động
cùng
các cõi phật.
Các
phật mười phương
thọ
ký cho ngươi
tương
lai làm phật
nên,
hãy vui lên.
Và
ở trong Đại Bi kinh: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói với
Bồ Tát Tổng Trì Vương rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm từ
vô lượng kiếp đã thành tựu tâm đại từ, đại bi, có
khả năng thực hành vô lượng pháp môn, nắm giữ hết thảy
thiện pháp một cách thông minh. Vì muốn làm cho hết thảy
chúng sanh an lạc, nên mật phóng ra sức mạnh của thần thông
vĩ đại”. Và Bồ Tát Quán Thế Âm cũng đã thưa với Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: “Thần chú Đai Bi nầy, từ vô
lượng kiếp về trước, con đã được Đức Phật Thiên Quang
Vương Tịnh Trú trao truyền và dạy con rằng: Ngươi hãy hành
trì tâm chú nầy, để làm đại lợi ích cho khắp hết thảy
chúng sanh vào đời ác trược trong tương lai”. Và cũng ở
trong kinh nầy, Đức Phật Thích Ca đã nói với Tôn giả
A Nan và đại chúng lúc bấy giờ ở Núi Phổ Đà rằng:
“Oai lực của Bồ Tát Quán Thế Âm là không thể nghĩ bàn,
ở vô lượng kiếp trong quá khứ vị Bồ Tát nầy đã làm
Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, vì muốn phát khởi
nguyện lực đại bi cho hết thảy Bồ Tát và vì muốn thành
thục sự an lạc cho hết thảy chúng sanh mà hiện thân làm
vị Bồ Tát vậy”.3
Nhưng,
ở trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn nầy, Bồ Tát Vô Tận
Ý đã thưa hỏi đức Phật Thích Ca rằng: “Bồ Tát Quán
Thế Âm, vì do nhân duyên gì gọi là Quán Thế Âm?”.
Đức
Phật Thích Ca đã trả lời cho Bồ Tát Vô Tận ý như sau:
“Hỡi
Thiện Nam Tử! Nếu có vô số chúng sanh, bị nhận lấy mọi
sự đau khổ, họ nghe nói đến Bồ Tát Quán Thế Âm, liền
hết lòng xưng niệm danh hiệu của Ngài, ngay lúc đó, Ngài
nghe thấy âm thanh của họ và họ liền được giải thoát”.4
Đây
là sự giải thích của đức Phật Thích Ca cho Bồ Tát Vô
Tận Ý về ý nghĩa Bồ Tát Quán Thế Âm và duyên khởi phẩm
Phổ Môn nầy, cũng chính do Bồ Tát Vô Tận Ý thưa hỏi, và
nhân đó, đức Phật đã giải thích danh hiệu, cũng như hạnh
môn của Bồ Tát Quán Thế Âm cho đại chúng nghe.
1.
NỘI DUNG CHỦ YẾU:
Nội
dung của phẩm nầy là nói về Hạnh Môn và uy lực hóa độ
của Bồ Tát Quán Thế Âm. Hạnh Môn và uy lực hóa độ của
Ngài gồm có:
1-
Vượt thoát tám tai nạn:
1.1
Vượt Thoát Tai Nạn Của Lửa:
Kinh
nói: “Nếu có người chấp trì danh hiệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì vị ấy vào trong lửa dữ, lửa ấy không thể
đốt cháy, đó là do oai lực của Bồ Tát vậy”.
Lửa
ở đây có ba loại: Thứ nhất là lửa thuần về vật lý.
Thứ hai là lửa thuộc về hỏa đại ở trong các sinh thể
và thứ ba là lửa thuộc về phiền não của tâm. Ba thứ lửa
nầy có thể đốt cháy ta bất cứ lúc nào và ở đâu.
Do
uy lực trì niệm Bồ Tát Quán Thế Âm của ta, nên ba loại
lửa ấy không thể đốt cháy được phước đức của ta.
Mỗi khi đối diện với tai nạn, mà ta có phước đức, là
ta có điều kiện để thoát khỏi. Tại sao? Do khi nhất tâm
trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, ta niệm như vậy
đúng với định lực và nguyện lực của Bồ Tát nầy, nên
định lực từ bi, trí tuệ và phước đức trong ta phát khởi
tiếp xúc và giao cảm được với định lực và nguyện lực
từ bi, trí tuệ và phước đức vốn châu biến cả pháp giới
của vị Bồ Tát ấy, tạo ra một nguồn năng lượng nhân
duyên sinh động cực thiện, khiến thay đổi tình trạng của
tai nạn. Lửa không thể cháy, vì nhân duyên của lửa cháy
đã bị thay đổi. Nên, các loại lửa vật lý, lửa sinh thể,
lửa phiền não của tâm đều bị dập tắt khiến cho thân
tâm và hoàn cảnh của ta không bị đốt cháy bởi các thứ
lửa ấy.
1.2
Vượt Khỏi Tai Nạn Của Nước:
Kinh
nói: “Nếu bị nước lớn cuốn trôi, mà trì niệm danh hiệu
Bồ Tát Quán Thế Âm, tức khắc liền được chỗ nước cạn”.
Nước
ở đây cũng có ba loại: Thứ nhất, nước thuần vật lý.
Thứ hai, nước thuộc về thủy đại ở trong các sinh thể.
Thứ ba, nước là những chất liệu tham ái của tâm. Ba thứ
nước nầy có thể nhận chìm và cuốn trôi ta bất cứ lúc
nào và ở đâu.
Nước
vật lý có thể nhận chìm và cuốn trôi ta ở nơi mưa lũ,
thác ghềnh, sông biển.
Nước
ở trong sinh thể có thể nhận chìm và cuốn trôi ta vào 101
tai họa bệnh khổ của thân.
Và
nước tham ái của tâm cuốn trôi tất cả phước đức của
ta, nhận chìm ta trong biển cả sinh tử.
Khi
bị những tai nạn thuộc về nước như vậy, ta nhất tâm
niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, khiến cho các loại
nước ấy không thể nhận chìm và cuốn trôi phước đức
của ta.
Tại
sao? Tại vì ta nhất tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm, niệm như vậy là đúng với định lực và nguyện
lực từ bi, trí tuệ và phước đức của vị Bồ Tát nầy,
nên định lực từ bi, trí tuệ và phước đức trong ta sinh
khởi, tiếp xúc và giao cảm được với định lực và nguyện
lực từ bi, trí tuệ và phước đức vốn châu biến cả pháp
giới của vị Bồ Tát ấy, tạo ra một nguồn năng lượng
nhân duyên sinh động cực thiện, khiến thay đổi tình trạng
tai nạn của ta. Bấy giờ nước không thể cuốn trôi và nhận
chìm ta được, vì nhân duyên tai nạn do nước gây nên đã
hoàn toàn thay đổi. Nên, các loại nước gây tai nạn thuộc
về vật lý, sinh học và tham ái của tâm đều bị khô kiệt,
khiến cho thân tâm và hoàn cảnh của ta không bị cuốn trôi
và nhận chìm bởi các thứ nước ấy.
1.3
Vượt Thoát Khỏi Tai Nạn Gió Và Quỷ La Sát:
Kinh
nói: “Nếu có trăm ngàn vạn ức người, vì tìm cầu vàng
bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, và
những thứ quý báu cùng loại, khi đi vào biển cả, giả sử
bị trận gió u ám, thổi thuyền tàu tấp vào đảo quốc quỷ
La Sát, trong những người ấy, dẫu đến chỉ có môt người
trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì những người
ấy vẫn thoát khỏi được tai họa quỷ La Sát. Vì những
nhân duyên như vậy, nên gọi là Quán Thế Âm”.
Gió
u ám: Hán gọi là hắc phong. Hắc phong là gió chướng, gió
thổi mất bình thường, làm mờ mịt trời đất, khiến người
đi bộ, đi trên tàu, trên biển, đi trên máy bay, không còn
có khả năng định hướng để đi, nên rất dễ gặp tai nạn.
Gió cũng có nhiều loại:
+ Gió
là do thay đổi áp suất không khí, khiến cho không khí có
sự chuyển động. Nên, gió là do sự chuyển động của không
khí tạo nên. Gió nầy là gió thuộc về vật lý.
+ Gió
nghiệp là gió do ác nghiệp của chúng sanh tạo nên. Gió ấy
đẩy chúng sanh trôi dạt vào các ác đạo như địa ngục,
ngạ quỷ, và súc sanh.
+ Gió
phiền não là gió khởi lên từ tâm tham lam, sân hận, si mê,
kiêu ngạo, tà kiến và chấp ngã. Gió ấy thổi lên và
nhận chìm chúng sanh trong biển cả sinh tử.
+ Gió
danh lợi là gió thổi và bứng gốc rễ đạo đức, nhân ái
của chúng ta.
Nhưng,
ở trong phẩm kinh nầy, nói gió đen thổi mạnh và đẩy thuyền
tàu của những người đi vào biển tìm châu ngọc tấp vào
đảo quốc La Sát, mà nếu trong đó, có một người niệm
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì tất cả người trong thuyền
đều thoát khỏi tai nạn quỷ La Sát.
Quỷ
La Sát: là loài quỷ chuyên ăn thịt người, chúng có mặt
khắp nơi, nhưng thường trú ngay ở hải đảo. Những người
đi biển gặp phải gió xoáy đen làm mù mịt cả trời đất,
biển cả, thuyền tàu trôi dạt vào đảo quốc La Sát như
vậy, mà trong đó có một người nhất tâm trì niệm danh hiệu
Quán Thế Âm, thì tất cả mọi người trong thuyền đều thoát
khỏi tai nạn quỷ La Sát.
Niệm
danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm trong lúc ấy, làm sinh
khởi từ bi và định lực nơi ta và từ bi, định lực nơi
loài La Sát, khiến phước đức và lòng từ bi nơi ta sinh khởi
mãnh liệt, tác động vào hạt giống từ bi và trí tuệ nơi
quỷ La Sát, khiến cho trong giờ phút ấy, ác tâm của họ
không đủ điều kiện để sinh khởi; mà chỉ sinh khởi thiện
tâm, khiến cho quỷ La Sát đã không ăn thịt người mà còn
khởi lên từ tâm cứu giúp người thoát khỏi tai nạn.
Điều
nầy chứng tỏ rằng, thiện tánh hay ác tánh ở nơi hết thảy
chúng sanh không có nhất định, không có tự tánh. Nếu gặp
thiện duyên, thì thiện tánh sinh khởi, nếu gặp ác duyên
thì ác tánh phát sinh. Nên, khi đi vào biển cả bị gió xoáy,
gió chướng làm thuyền tàu tấp vào đảo quốc La Sát, ta
phải nhất tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, là tạo
nhân duyên tốt đẹp để thiện tánh nơi loài La Sát sinh khởi,
và để cho từ bi tâm nơi loài La Sát khởi sinh. Một khi thiện
tâm và từ bi tâm của quỷ La Sát sinh khởi qua danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát, do ta nhất tâm xưng niệm, thì loài quỷ La
Sát không khởi tâm hại ta, mà khởi tâm cứu ta là điều
chúng ta có thể hiểu được. Quỷ La Sát có thể là những
hạt giống bất như ý ở trong tâm thức ta khởi lên, hay nộ
khí xung thiên trong ta nổi dậy, ta muốn ăn tươi nuốt sống
người mà đã gây ra cho ta những bất như ý, chính lúc đó
ta không còn là ta, mà ta là quỷ La Sát.
Lại
nữa, quỷ La Sát là loài thích ăn thịt chúng sanh, nhất là
thịt người. Vì trong tâm thức của loài nầy chứa đầy
những hạt giống về nghiệp sát và hạt giống ấy luôn biểu
hiện thường trực trong đời sống của chúng.
Nên,
những loài thích ăn thịt chúng sanh, dù là ăn thịt bằng
bất cứ cách nào, cũng đều có hạt giống của loài quỷ
La Sát cả. Nếu những hạt giống ấy, khi có điều kiện
mà biểu hiện quá mạnh, thì giây phút đó, ta không còn là
người; ta là quỷ La Sát. Và nếu hạt giống ăn thịt của
ta không biểu hiện đủ mạnh như quỷ, để thành quỷ La
Sát, thì nó cũng biểu hiện sự thèm khát ăn thịt của loài
chúng sanh như chó sói, cọp, beo, mèo, chồn, và giây phút ấy
ta là những loài ấy. Bởi vậy, đối với quỷ La Sát chính
hiệu hay là quỷ La Sát trá hình, hoặc thuộc về dòng họ
quỷ La Sát, thì những hạt giống sát hại, nhân duyên sát
hại, hành động sát hại, quả báo sát hại nơi những người
ấy là những môi trường hoạt động thường trực của họ.
Trong môi trường ấy, rất cần sự có mặt của Bồ Tát Quán
Thế Âm, qua hình tướng, qua danh hiệu và nguyện lực từ
bi của Ngài để làm thay đổi nhân duyên của nghiệp sát,
khiến cho nghiệp sát trở thành hành động từ bi, chủng tử
sát trở thành chủng tử nhân từ, khiêm ái, khi ta niệm tiếng
Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, bằng tất cả tấm lòng tha thiết
đầy từ bi và nguyện lực của ta.
1.4
Vượt Thoát Khỏi Nạn Hình Sự:
Kinh
nói: “Nếu có người sắp sửa bị đem ra hành hình mà trì
niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì dao gậy trong
tay đao phủ tức khắc gãy ra từng đoạn và người bị hành
hình liền được thoát khỏi”.
Nạn
hình sự, cũng gọi là vương nạn, là tai nạn do quyền lực
của vua quan đem lại cho người dân và đem dân ra xử ở pháp
đình theo vương pháp, qua những khí cụ như đao, gậy, hoặc
để đâm chém cho chết, hoặc để đánh đập cho bị thương
tích, nên cũng gọi là Đao trượng nạn.
Hoặc
do oan mà rơi vào tai nạn hình sự, hoặc do tạo nhân hình
sự mà rơi vào hậu quả của hình sự, hoặc bị pháp đình
tuyên bố xử bắn, hoặc làm thương tích, hoặc bị kêu án
tù tội, trong những trường hợp ấy, người bị nạn trì
niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm với tâm chí thành
đều có hiệu quả tốt đẹp.
Tại
sao? Tại do năng lực trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm, khiến cho năng lực từ bi và trí tuệ châu biến
cả pháp giới của Ngài, tự xâm nhập vào tâm chí của người
niệm, tạo thành năng lực trí tuệ, từ bi có khả năng gia
trì, khiến cho người xử án đủ năng lực sáng suốt, để
xét xử vấn đề một cách phân minh. Nếu người bị xử
bị oan, thì sẽ được minh oan; Nếu người bị xử đúng
tội danh, đúng tội chủng, đúng tội tướng và tội hình,
thì tức thời được giáo huấn đạo đức, sớm phục thiện
và được giảm án hoặc được bồi thường bằng tài vật,
mà không bị tổn hại đến thân thể hoặc được tha bỗng,
tuỳ theo những trường hợp của vấn đề.
Nhưng,
chắc chắn khi bị đem ra xét xử, mà người bị xét xử do
niệm trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì không thể bị
gia hình, hoặc bị gia oan. Trái lại, tội nặng sẽ biến thành
tội nhẹ và tội nhẹ chuyển thành vô tội. Dù vậy, nhưng
công lý vẫn được tôn trọng. Tại tội do tâm, khi tâm đã
hối hận và thay đổi bằng cách chí thành niệm trì danh hiệu
của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì tội danh, tội chủng, tội
tướng và tội hình đều tùy thuộc theo sự thay đổi của
tâm người phạm, mà tự thay đổi, và tâm của quan tòa cũng
duyên theo tâm đổi thay của phạm nhân mà thay đổi cách xét
xử và mức độ của bản án.
Nên,
niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm mà vượt thoát
khỏi tai nạn hình sự là điều có thể xẩy ra và chúng ta
có thể kiểm nghiệm từ nơi các phạm nhân và phiên tòa,
dù rằng phạm nhân do niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm
mà thoát khỏi nạn hình sự, nhưng công pháp vẫn được tôn
trọng và công lý vẫn được bảo toàn.
1.5
Vượt thoát nạn quỷ Dạ Xoa:
kinh
nói: “Nếu giả sử cả thế giới tam thiên và đại thiên,
đầy cả quỷ Dạ Xoa, La Sát, những loài ấy muốn đến não
hại người nào, mà nghe người ấy, xưng danh hiệu của Bồ
Tát Quán Thế Âm, thì các loài quỷ dữ ấy, còn không thể
dùng mắt để nhìn người ấy, huống nữa làm hại”.
Không
những La Sát là loài quỷ dữ mà Dạ Xoa cũng là loài quỷ
dữ. Quỷ Dạ Xoa là loài quỷ hay gây bệnh cho chúng sanh và
thích hút tinh khí của người và chúng sanh.
Tại
sao niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì các
loài quỷ dữ nầy không thể dùng mắt dữ để nhìn người
niệm, huống là có hành động làm hại?
Tại
vì Bồ Tát Quán Thế Âm đối với hết thảy các loài thiên
nhân, thánh phàm, quỷ thần …, không những Bồ Tát có ân
đức cứu độ lớn đối với họ, mà còn có uy đức nhiếp
phục lớn đối với hết thảy chúng sanh nữa.
Đối
với chúng sanh nào, loài nào cần dùng ân đức để nhiếp
phục, thì Bồ Tát Quán Thế Âm sử dụng ân đức để nhiếp
phục và đối với những loài nào cần dùng uy đức để
nhiếp phục, thì Bồ Tát liền dùng uy đức để nhiếp phục,
và trong danh hiệu của Bồ Tát có chuyển tải đầy đủ cả
hai chất liệu ân đức và uy đức ấy, nên khi nghe, niệm
trì danh hiệu của Ngài, thì các loài quỷ nầy đã từng thọ
ân giáo hóa, hoặc sợ hãi uy đức, khiến cho các loài quỷ
ấy không dám đưa mắt dữ mà nhìn người đang trì niệm
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Và, vì người trì niệm danh
hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm là làm cho ân đức và uy đức
của vị Bồ Tát nầy, đang có mặt một cách đích thực ở
nơi thân tâm của người đang niệm, do uy đức đó, khiến
cho các loài quỷ ấy, không thể nào đưa mắt dữ mà nhìn
người đó, huống nữa là có hành động ám hại.
1.6
Vượt Thoát Khỏi Nạn Gông Cùm:
Kinh
nói: “Giả sử, lại có người có tội, hoặc không có tội,
mà thân thể của họ bị gông cùm, trói buộc, xiềng xích,
người ấy xưng trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì những
dụng cụ trói buộc, gông cùm, xiềng xích ấy, đều bị đứt
rã và người ấy liền được giải thoát”.
Đây
là thần lực giải cứu người đang bị bắt tù, dù người
đó là có tội hay không có tội. Người tù bị bắt trói
nơi tay gọi là nữu (杻), bị trói nơi chân gọi là giới
(械); bị trói ở cổ gọi là gia (枷); bị trói ở thân gọi
là tỏa (鎖).
Người
bị bắt tù dù có tội, không có tội, bị bắt trói bằng
bất cứ cách gì, người tù ấy biết khởi tâm giải thoát
đối với ái nghiệp, đối với ái kiến, đối với sự chấp
thủ ngã và khởi tâm sám hối đối với những tác nghiệp
hiện tại và dư báo từ đời trước, rồi nhất tâm niệm
danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách chí thành, làm
cho tự thân phát sinh định lực giải thoát và định lực
giải thoát ấy, lại tiếp xúc và hội nhập được với định
lực giải thoát châu biến pháp giới của Bồ Tát Quán Thế
Âm, khiến cho cai tù sinh khởi từ tâm và tự tháo gỡ cho
kẻ bị tù, hay làm cho người giám đốc nhà tù sinh khởi
từ tâm, mà ra lệnh phóng thích cho người ở tù, hoặc làm
cho cảnh nhà tù thay đổi, khiến hết thảy mọi sự gông
cùm tự nhiên đứt rã.
Bồ
Tát Quán Thế Âm còn gọi là Bồ Tát Quán Tự Tại, nên khi
bị gông cùm, tù đày, ta niệm danh hiệu của Ngài, khiến
cho những hạt giống tự tại phát khởi và lớn mạnh trong
tâm ta, trong mọi suy nghĩ của ta, trong lời nói và hành động
của ta, nên khi nhân duyên hội đủ, thì ta có sự tự do,
sự tự tại và ta thoát khỏi lao ngục, xiềng xích, gông cùm
một cách tự nhiên.
Và
trong khi trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm như
vậy, thân ta tuy đang bị gông cùm mà tâm ta đã bắt đầu
có sự tự do. Ta càng trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì sự tự do trong tâm ta càng mở rộng. Và mỗi
khi tâm đã có được sự tự do lớn, tâm sẽ giúp cho thân
có tự do và tâm sẽ có khả năng tháo gỡ mọi sự hệ luỵ
và gông cùm cho thân.
Mỗi
khi tâm ta đã có sự tự do, đã có giải thoát, thì việc
thân thể bị gông cùm, bị xiềng xích không còn là quan trọng
nữa. Trước sau gì thân cũng được tự do, giải thoát, bởi
vì mọi sự tự do và giải thoát của thân hoàn toàn tùy thuộc
vào sự tự do và giải thoát của tâm.
Đây
là một sự thật mà ta có thể thực tập để chứng nghiệm
lời dạy của Kinh.
1.7
Vượt Khỏi Nạn Giặc Cướp:
Kinh
nói: “Nếu trong tam thiên đại thiên thế giới đầy cả
giặc cướp, có một thương chủ cầm đầu đoàn đi buôn,
mang cầm vàng bạc quý trọng đi qua con đường hiểm; trong
đoàn có một người xướng lên rằng: Hỡi các thiện nam
tử, đừng sợ hãi, chúng ta hãy cùng nhau hết lòng xưng trì
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm! Vị Bồ Tát nầy có khả năng
ban cho chúng sanh sự không sợ hãi. Chúng ta chấp trì danh hiệu
của Ngài, thì sẽ thoát khỏi giặc cướp trên con đường
hiểm nầy. Đoàn người đi buôn nghe nói, tất cả đồng thanh
phát lên lời trì niệm Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm. Do xưng
trì danh hiệu của vị Bồ Tát nầy mà tức khắc vượt thoát
được nạn giặc cướp”.
Nạn
giặc cướp là nạn cướp của, giết người. Con đường
hiểm là trên con đường ấy, thường xẩy ra tai nạn giết
người, cướp của. Trong tình trạng đường hiểm, giặc cướp
đón đường mà trong đoàn có một người xướng lên rằng,
đừng sợ hãi, chúng ta cùng nhau xưng niệm Nam Mô Quán Thế
Âm Bồ Tát, thì chúng ta sẽ thoát khỏi hiểm nạn nầy. Vì
tất cả mọi người đều đồng thanh niệm danh hiệu Nam Mô
Bồ Tát Quán Thế Âm, tức thời họ đều thoát nạn.
Ở
đây, con đường hiểm là bóng đêm, giặc cướp là những
người thường hoạt động trong bóng đêm, chúng ta đi trong
bóng đêm mà có dụng cụ của ánh sáng, lại cùng nhau có
sức mạnh của đức Tin, có Niệm lực, có Tuệ lực và cùng
nhau biểu hiện đức tin, biểu hiện niệm lực, biểu hiện
tuệ lực, xưng niệm danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế
Âm, thì chẳng khác nào, đi trong bóng đêm lại có ánh sáng
bảo hộ, đối diện với giặc cướp lại có thiện pháp
và thiện thần bảo hộ, làm cho giặc cướp tự nó rút lui
không dám tung hoành, đây là điều mà chúng ta có thể lý
giải được.
Ở
mặt đạo lý, con đường hiểm là con đường sinh tử, giặc
cướp là những tâm sở bất thiện ngày đêm hoạt động
một cách tự do ở nơi tâm thức của mỗi chúng ta, chúng
cướp hết thảy thiện pháp nơi tâm ta và giết chết giới
thân tuệ mạng của mỗi chúng ta, khiến cho chúng ta không
đi đến nơi an lạc của Niết Bàn. Trong tình trạng ấy, ta
có bậc Thầy với Giới Định Tuệ vững chãi, khuyên ta nên
niệm trì danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, thì ta
có thể thoát khỏi sự quấy phá của đám giặc phiền não
trên con đường hiểm sinh tử ấy, để bảo toàn giới thân
tuệ mạng mà đi đến bờ bến Niết bàn.
Bậc
Đạo Sư dạy ta niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm
là giúp ta đưa chủ thể năng niệm nhập vào đối tượng
sở niệm, tức là nhập vào đại bi và đại trí của Bồ
Tát Quán Thế Âm, khiến cho chất liệu đại bi và đại trí
của Bồ Tát Quán Thế Âm có mặt trong tâm trí của ta, soi
chiếu vào tâm thức ta, khiến đám giặc phiền não trong tâm
thức ta tự tan biến, trả lại sự yên tĩnh và tự do cho
tâm hồn ta, khiến ta vượt qua được con đường hiểm của
sinh tử mà đi về quê hương Niết Bàn một cách như ý.
Như
vậy, niệm danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, không
những giúp ta vượt thoát được những tình trạng tệ nạn
của xã hội, mà còn vượt thoát khỏi tệ nạn của tâm thức
chúng ta nữa. Những tệ nạn của xã hội, chúng luôn luôn
gắn liền với những tệ nạn của tâm thức. Những tệ nạn
xã hội, chúng sinh khởi từ những tệ nạn của tâm thức,
nếu tâm thức cá nhân và cộng động hoạt động trong sự
yên tịnh và thương yêu, thì mọi sinh hoạt xã hội tự nó
đi về hướng tốt đẹp, và nhất định những tệ nạn của
xã hội càng ngày càng giảm thiểu và sẽ chấm dứt.
2.
Chuyển hóa ba căn bản phiền não:
Kinh
nói: “Nếu có chúng sanh tính nhiều dâm dục mà thường xuyên
niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách cung
kính, thì liền thoát được tính ấy.
Nếu
có chúng sanh tính nhiều sân hận, mà thường xuyên niệm trì
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm một cách cung kính, liền thoát
được tính ấy.
Nếu
có chúng sanh tính nhiều ngu si, mà thường xuyên niệm trì
danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách cung kính, thì
liền thoát được tính ấy”.
Tham
dục, sân hận và ngu si là ba thứ phiền não căn bản, liên
hệ trực tiếp với ý nghiệp và qua ý nghiệp tác động lên
thân nghiệp và ngữ nghiệp để tạo ra muôn ngàn tội lỗi
dẫn đến khổ báo.
Dâm
dục là một năng lực hoạt động sinh tồn của hết thảy
chúng sanh ở trong dục giới. Năng lực ấy hoạt động không
phải chúng do tác động và sinh khởi bởi những yếu tố
thuần sinh học, mà chính chúng được tác động bởi những
năng lượng hay ý chí sinh tồn, thèm khát và hưởng thụ có
nội dung tâm lý.
Chính
ý chí sinh tồn, thèm khát và hưởng thụ là tác nhân và những
năng lượng vật lý hay sinh học là tác duyên làm điều kiện
cho tác nhân sinh khởi.
Do
đó, ta phải biết quản lý khả năng sinh tồn của chúng ta,
ta không đẩy khả năng sinh tồn ấy đi về phía thấp kém,
mà phải biết cách chuyển hóa khả năng sinh tồn ấy đi lên
với những sinh hoạt cấp cao.
Ta
phải biết đưa khả năng sinh tồn trong ta đi lên theo lý tưởng,
bản hạnh và bản nguyện của Bồ Tát Quán thế Âm. Ta niệm
trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm một cách cung kính, là
ta có khả năng quản lý nguồn năng lượng sinh tồn của ta,
và đẩy nguồn năng lượng sinh tồn ấy, đi lên với lý tưởng
Từ bi, với bản nguyện cứu khổ, với bản hạnh độ đời
của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì năng lượng sinh tồn ấy, không
còn là năng lượng bức bách và não hại ta, mà nó giúp ta
thăng hoa trong cuộc sống.
Do
đó, ta phải biết chăm sóc năng lượng sinh tồn trong ta bằng
chất liệu Từ bi và Trí tuệ của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
chắc chắn tính dục, hay nguồn năng lượng sinh tồn trong
ta sẽ được chuyển hóa và sẽ nhập vào nguồn năng lượng
của đại bi và đại trí của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vấn
đề nầy, không phải là lý luận hay lý thuyết mà là vấn
đề của thực tập, thực nghiệm, chứng nghiệm và tự tri.
Nguồn
năng lượng dâm dục vốn không có tự tính, chúng sinh khởi
theo duyên, thì chúng tùy diệt hay chuyển hóa cũng theo duyên.
Niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, khiến cho các
duyên đại bi và đại trí, đại nguyện và đại hạnh sinh
khởi trong ta, làm thay đổi và chuyển hóa nguồn năng lượng
sinh học thấp kém trong ta là điều có thể nhìn thấy, tiếp
xúc và thực tập.
Sân
hận cũng là một nguồn năng lượng thuộc về những hạt
giống bất mãn đang vận hành trong tâm thức của mỗi chúng
ta. Người nào có nhiều năng lượng nầy, người đó trong
đời sống của họ có rất nhiều bất mãn và khổ đau. Và
chỉ có nguồn năng lượng của thương yêu, hỷ xả và bao
dung mới có thể dập tắt và hóa giải nguồn năng lượng
giận dữ của tâm thức nầy.
Sự
chấp ngã càng lớn, thì sự kiêu mạn và giận dữ càng nhiều.
Do đó, khi giận dữ khởi lên trong tâm thức ta, ta phải nhớ
ngay đến Bồ Tát Quán Thế Âm và niệm danh hiệu của Ngài
một cách cẩn trọng, để cho năng lượng Từ Bi, Hỷ Xả
và Bao Dung của Ngài xâm nhập vào tâm ta, tác động hạt giống
Từ Bi, Hỷ Xả và Bao Dung vốn có nơi tâm ta khởi dậy, để
chúng hóa giải nguồn năng lượng giận dữ đang hoạt động
và biểu hiện nơi tâm thức ta, khiến cho nguồn năng lượng
giận dữ ấy lắng yên và từ từ tan biến.
Tâm
ta không còn giận dữ, thì lời nói và hành động của ta
không còn tạo nên những oán kết và đổ vỡ cho bản thân,
gia đình và xã hội.
Nguồn
năng lượng giận dữ trong tâm ta, chúng vốn không có tự
tánh, chúng biểu hiện do sự liên hệ giữa những tác nhân
và tác duyên chấp ngã mà sinh khởi, do đó chúng sinh khởi
do duyên, thì chúng tùy diệt hay chuyển hóa cũng theo duyên
và do duyên.
Bởi
vậy, khi trong ta có quá nhiều tính sân hận, thì phải thường
xuyên niệm trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm là vị
Bồ Tát có nguồn năng lượng Trí tuệ và Từ bi bao trùm cả
pháp giới, khiến cho nguồn năng lượng ấy của Ngài, có
cơ hội đi vào tâm thức ta và chuyển hóa những hạt giống
giận dữ, sân hận trong tâm thức ta, thành Từ bi và Trí tuệ.
Năng
lượng Trí tuệ và Từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm châu biến
cả pháp giới là tha lực, là ngoại duyên, ta chấp trì danh
hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách thành khẩn để
hạt giống Trí tuệ và Từ bi trong tâm thức ta phát khởi
là tự lực, là nội nhân và nội duyên.
Tự
lực và tha lực, nội nhân và ngoại duyên tác động lên nhau,
phối hợp cùng nhau, chắc chắn những hạt giống giận dữ,
sân hận trong tâm thức ta sẽ được thay thế và hóa giải
bởi năng lượng Từ bi cao đẹp ấy.
Ngu
si cũng là một nguồn năng lượng ô nhiễm căn bản của tâm
thức. Tự mình sai lầm, không phân định được chánh tà,
thiện ác, chân vọng, người như vậy gọi là ngu. Làm cho
người khác mê lầm, không biết thế nào là chánh tà, thiện
ác, chân vọng, đúng sai, người như vậy gọi là si. Ngu mà
cọng với si, thì chỉ lao đầu vào bóng tối, rớt xuống
vực thẳm, nhảy vào vạc dầu sôi, sa vào lò lửa lớn để
tự thiêu, tự đốt, tự hại lấy mình.
Sống
với thân trâu ngựa, bị kéo cày, chở nặng, chết bị phanh
thây, chưa phải là khổ, cái khổ đích thực là do ngu si vô
trí đem lại.
Với
người nhiều ngu si như vậy, nếu chấp trì danh hiệu Bồ
Tát Quán thế Âm một cách thành khẩn, thì sự ngu và si ấy
cũng từ từ được chuyển hóa.
Tại
sao? Do ta tha thiết trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế
Âm, nên tâm ta từ từ có định, và mỗi khi tâm ta đã có
định lực, thì tuệ sẽ có cơ sở để sinh khởi.Ánh sáng
trí tuệ trong tâm ta phát sinh, thì sự ngu si trong tâm ta từ
từ xóa sạch.
Do
đó, nếu ta có quá nhiều ngu si, ta chỉ cần chấp trì danh
hiệu của vị Bồ Tát nầy, thì ta cũng phát sinh được trí
tuệ. Niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm là tác duyên
để cho tâm ta được đi vào thiền định và dẫn khởi trí
tuệ.
Như
vậy, chúng ta thấy, chấp trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế
Âm, không những giúp cho ta chuyển hóa khổ quả mà còn chuyển
hóa khổ nhân, không những giúp ta làm thay đổi Khổ đế
mà còn thay đổi Tập đế.
Bảy
tai nạn được đề cập ở trước là khổ quả hay Khổ đế,
ba căn bản phiền não gồm tham dục, sân hận, ngu si là khổ
nhân hay Tập đế.
Biết
khổ và muốn vượt thoát khổ đau là phải đoạn trừ nhân
duyên sinh khởi chúng. Biết bảy tai nạn gồm lửa, nước,
gió, quỷ La Sát, hình sự, quỷ Dạ Xoa, gông cùm tù tội,
oán tặc, là những tai nạn của sinh tử, thì ta phải nỗ
lực tu tập để đoạn trừ những độc tố căn bản của
tâm là tham, sân, và si, chính từ nơi ba độc tố nầy, mà
gây ra bảy tai nạn ở trên và có thể gây ra vô số tai nạn
khác nữa.
Bởi
vậy, ở phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa nầy, Bồ Tát Quán
Thế Âm không những mở rộng cánh cửa, đưa ta đi vào thế
giới của Khổ đế để thấy đủ thứ tai nạn, mà cũng
còn mở rộng cánh cửa của Tập đế, để giúp ta thấy rõ
những tập khởi của khổ đau, và cũng giúp ta thấy rõ con
đường diệt khổ tức là Đạo đế qua Tín căn và Tín lực,
Tấn căn và Tấn lực, Niệm căn và Niệm lực, Định căn
và Định lực, Tuệ căn và Tuệ lực.
Hãy
tin vào uy lực và bản nguyện hóa độ của Bồ Tát Quán Thế
Âm, đó là Tín căn và Tín lực; hãy nỗ lực nắm lấy danh
hiệu của Ngài để trì niệm, khiến cho những điều ác trong
ta chưa sanh, thì không thể sanh; khiến cho những điều ác
trong ta đã sanh liền bị hủy diệt; khiến cho những điều
thiện trong ta chưa phát sanh liền phát sanh và những điều
thiện trong ta đã phát sanh liền tăng trưởng liên tục, đó
là Tấn căn và Tấn lực; hãy nắm lấy danh hiệu của Ngài,
khiến danh hiệu ấy càng lúc càng hiện rõ và duy trì vững
chãi trong sự trong sáng của ý thức và biểu hiện cụ thể
qua các quan năng, và hãy duy trì nó qua các động tác đi đứng
nằm ngồi hay mọi phong thái hoạt động, đó là Niệm căn
và Niệm lực. Niệm căn và niệm lực như vậy, cho đến khi
tâm ta không còn bị hôn trầm, dao động, nghi ngờ và sợ
hãi, đó là Định căn và Định lực. Định căn và Định
lực như vậy, cho đến khi những khát ái, những chấp thủ,
những tạo tác, những chủng tử luân chuyển tử sinh không
còn hiện khởi, những vô minh và bóng dáng của nó đều bị
xóa sạch, bấy giờ thấy rõ tự thân của thực tại, ấy
là Tuệ căn và Tuệ lực. Và ngay khi đó, Thánh đạo vô lậu
sinh khởi, liền thoát khỏi tai nạn sinh tử và được giải
thoát, đó là thành tựu Diệt đế, bấy giờ Khổ đế và
Tập đế hoàn toàn vắng bặt.
Cho
nên, phẩm Phổ môn của kinh Pháp Hoa đã giúp cho ta có cách
nhìn từ cạn tới sâu, từ thấp tới cao, từ thô đến tế,
từ tinh đến diệu, và từ một điểm cho đến châu biến
cả pháp giới. Nên, ở trong pháp giới, ai cũng có thể thọ
trì đọc tụng thực tập kinh Pháp Hoa và ai cũng có thể trì
niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm cả, vì danh hiệu
ấy là danh hiệu của mọi pháp môn và là danh hiệu của Đại
Bi và Đại Trí, có năng lực nắm giữ và duy trì hết thảy
thiện pháp.
3.
Thỏa mãn hai ước nguyện:
Kinh
nói: “Giả sử, nếu có người nữ nào muốn cầu con trai
mà lễ bái cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì liền sanh
con trai, vừa có phước đức và vừa có trí tuệ”.
Giả
sử, nếu có người nữ nào muốn cầu con gái mà lễ bái
cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì liền sanh con gái đẹp,
đoan chánh, có gốc rễ phước đức đã gieo trồng từ trước
và đều được mọi người thương quý”.
Một
trong những nỗi khổ của người nữ là khi lập gia đình
mà không có con, hoặc có con mà chỉ là trai, hoặc chỉ là
gái, hoặc trai và gái đều không có phước đức, trí tuệ,
tướng hảo và đoan chính.
Như
vậy, dù có sinh con hay không sinh con vẫn không được như
ý muốn, vẫn đau khổ cả.
Bất
như ý là một trong tám nỗi khổ đau thuộc về Khổ đế.
Để
giải quyết Khổ đế nầy, phẩm Phổ môn kinh Pháp Hoa giúp
cho người nữ sinh con theo ý muốn, qua đức tin cúng dường
và lễ bái đối với Bồ Tát Quán Thế Âm.
Tín
và Kính là hai chất liệu quý báu vốn có nơi tâm thức của
mỗi chúng ta, nhưng do vọng niệm, do không có chánh niệm,
khiến cho hai chất liệu ấy không thể biểu hiện.
Nên,
khi người nữ tín và kính Bồ Tát Quán Thế Âm, biểu lộ
và nuôi dưỡng sự tín kính ấy của họ, qua sự lễ bái
và cúng dường đối với Ngài, thì phước đức, trí tuệ,
tướng hảo và sự đoan chánh của người nữ sẽ phát sinh
và lớn mạnh, cọng thêm sự gia trì lực của Bồ Tát Quán
Thế Âm, khiến cho người nữ ấy, có khả năng sinh con trai
hoặc con gái theo ý muốn.
Lại
nữa, từ nơi chất liệu tín và kính qua sự lễ bái, cúng
dường đối với Bồ Tát Quán Thế Âm của người nữ, khiến
cho phước đức, trí tuệ, tướng hảo và sự đoan chánh của
họ sinh khởi phối hợp với sức Từ bi và nguyện lực của
Bồ Tát Quán Thế Âm đang châu biến pháp giới làm tác duyên,
khiến cho trung ấm thân của những Thánh giả Nhất lai, hoặc
Thất lai, hoặc của những vị Bồ Tát muốn thác hóa vào
thân thể nhân loại để độ sinh, thì những vị ấy liền
thác sinh vào làm con trai phước đức, trí tuệ hoặc
là con gái tướng hảo đoan chánh của những người nữ có
lòng tín kính đối với Bồ Tát Quán Thế Âm ấy.
Đây
là điều không phải chỉ giải thích bằng đức tin mà ta
cũng có thể giải thích nó về mặt tâm học và khoa học
nữa.
Như
vậy, việc sinh con theo ý muốn đã được kinh Pháp hoa đề
xuất và có phương pháp thực hiện, nhưng với việc sinh con
theo ý muốn, gần đây khoa học mới đề xuất và đã có
những công trình thực nghiệm.
4.
Ba mươi ba ứng thân:
Phẩm
Phổ Môn của kinh Pháp Hoa có nêu ra Bồ Tát Quán Thế Âm biểu
hiện ba mươi ba ứng thân thích hợp với căn cơ, nghiệp chủng,
y báo, chánh báo của từng chủng loại trong mười pháp giới
chúng sanh để thuyết pháp, nhằm biểu thị rằng, Bồ Tát
Quán Thế Âm là vị Bồ Tát đã đạt đến Lý, Sự tương
dung. Nên đối với Lý tánh, hết thảy chúng sanh nương nơi
Ngài mà thể nhập và đối với sự tướng, thì hết thảy
chúng sanh nương nơi Ngài mà biểu hiện. Tuy, biểu hiện sự
tướng mà không làm trở ngại bất cứ một sự tướng nào
của chúng sanh trong toàn thể vũ trụ.
Kinh
nêu rõ ba mươi ba ứng thân thích hợp là chỉ tiêu biểu,
chứ thật ra chúng sanh trong mười phương pháp giới có bao
nhiêu thể loại, có bao nhiêu tánh chất, có bao nhiêu sắc
tướng, có bao nhiêu năng lực, có bao nhiêu nhân, có bao nhiêu
duyên, có bao nhiêu quả, có bao nhiêu nghiệp báo, thì Bồ Tát
Quán Thế Âm có khả năng biểu hiện bấy nhiêu thân thể
để diễn thuyết diệu pháp nhằm khai, thị, ngộ, nhập phật
tri kiến cho hết thảy họ.
Nên,
ở phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Vô Tận ý đã
hỏi đức Thế Tôn, việc du hóa của Bồ Tát Quán thế Âm
nơi cõi Ta Bà là như thế nào, và Bồ tát Vô Tận Ý đã được
đức Phật nêu ra cụ thể ba mươi ba ứng thân của Bồ Tát
Quán Thế Âm du hóa trong cõi Ta Bà.
Đức
Phật nêu rõ các ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm như vậy,
là nhằm biểu thị khả năng hoằng truyền kinh Pháp Hoa một
cách phổ cập và sinh động của vị Bồ Tát nầy. Đồng
thời không những giúp cho Bồ Tát Vô Tận Ý thấy rằng, chúng
sanh có bao nhiêu ý niệm thì Bồ Tát Quán Thế Âm có bấy
nhiêu hình thể thiền định để nhiếp phục ý niệm ấy.
Và nếu chúng sanh có vô tận ý, thì bản nguyện độ sinh
của Bồ Tát cũng vô cùng, mà ứng thân của Bồ Tát cũng
vô tận.
Nên,
trong bài học ứng thân của Bồ Tát Quán Thế Âm đã giúp
ta hiểu thêm các mặt như sau:
Bất
cứ hình thức nào ta cũng có thể giảng kinh Pháp Hoa.
Bất
cứ hình thức nào ta cũng có thể nghe kinh Pháp Hoa.
Bất
cứ hình thức nào ta cũng có thể sống và thực hành kinh
Pháp Hoa.
Vì
sao? Vì kinh Pháp Hoa là kinh chỉ rõ diệu pháp ở nơi các pháp
để cho chúng sanh thấy, biết mà ngộ nhập, nên kinh Pháp
Hoa là kinh của tất cả pháp và là kinh đem lại quyền lợi
cao nhất cho hết thảy chúng sanh, nên kinh ấy là kinh của
chúng sanh, và hết thảy chúng sanh đều có bổn phận phải
giữ gìn, đọc tụng, hành trì, tuyên thuyết và truyền bá
cùng khắp.
II.
PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH
Phẩm
Phổ Môn của kinh Pháp Hoa có nêu lên các phương pháp thực
hành như sau:
1-
Giới học Phổ Môn:
Bài
kệ sau đây là tiêu biểu cho giới học Phổ Môn:
“Bi
thể giới lôi chấn
Từ
ý diệu đại vân
Chú
cam lồ pháp vũ
Diệt
trừ phiền não diệm”.
Nghĩa
là:
Giới
pháp thể đại bi
Khởi
thân oai như sấm
Diệu
pháp tâm đại từ
Như
mây lớn phủ khắp
Rưới
mưa pháp cam lồ
Dập
tắt lửa phiền não.
Giới
pháp của Phổ Môn, giới pháp ấy từ nơi bản thể đại
bi do đại nguyện vô tận của ý, đại thệ vô tận của
ngữ và đại hạnh vô tận của thân mà sinh khởi và thành
tựu.
Nên,
Giới pháp nầy được gọi là Giới pháp Phổ môn. Giới pháp
Phổ Môn lấy tâm đại bi làm bản thể; lấy tâm đại từ
làm dụng, lấy hết thảy các tướng làm thân tướng cứu
độ và sử dụng hết thảy âm thanh làm đối tượng quán
âm để diễn bày diệu pháp.
Do
đó, Giới Học Phổ Môn không phải chỉ giới hạn trong một
thời mà tất cả thời. Không phải chỉ giới hạn trong một
xứ mà tất cả xứ; không phải chỉ giới hạn trong một
thân mà tất cả thân, không phải chỉ giới hạn trong một
chủng loại mà tất cả chủng loại.
Như
vậy, ta hành trì theo Giới Học Phổ Môn, thì bất cứ lúc
nào, bất cứ ở đâu và bất cứ biểu hiện thân gì, ta đều
hành động theo bản thể đại bi và theo tâm ý đại từ,
để dập tắt phiền não cho hết thảy chúng sanh, đem lại
sự an lạc cho muôn loài.
2-
Định Học Phổ Môn:
Bài
kệ sau đây là tiêu biểu cho Định Học Phổ Môn:
“Chân
quán, thanh tịnh quán,
Quảng
đại trí tuệ quán,
Bi
quán cập từ quán,
Thường
nguyện, thường chiêm ngưỡng”.
Nghĩa
là:
Quán
chiếu đúng sự thật
Quán
chiếu thật thanh tịnh
Quán
chiếu trí tuệ lớn
Quán
chiếu bằng đại bi
Quán
chiếu bằng đại từ
Thường
ước nguyện tu tập
Thường
chiêm nghiệm ngưỡng mộ.
Trong
bài kệ nầy đã đưa ra năm phương pháp thiền quán hay Định
Học Phổ Môn như sau:
2/1
Chân Quán:
Chân
là chân thật, sự thật. Quán là nhìn sâu vào đối tượng.
Đối tượng để cho ta nhìn sâu vào có thể là thân thể,
có thể là các cảm giác, có thể là chủng tử tâm hành,
có thể là các pháp ngoài tâm như sắc, thanh, hương, vị,
xúc và pháp, và cũng có thể là các pháp ở nội tâm, như
những ảnh tượng của sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp
đang tồn đọng trên tâm, hoặc đã thành chủng tử và đang
chìm sâu vào tàng thức. Và đối tượng để nhìn sâu ấy,
cũng có thể là tổng thể của năm uẩn hay tự thân của
mỗi uẩn.
Như
vậy, Chân Quán là nhìn sâu vào các đối tượng để phát
hiện sự thật đang có mặt ở nơi những đối tượng ấy.
Sự
thật ở nơi các đối tượng mà Chân Quán Phổ Môn phát hiện
là:
+ Hết
thảy pháp không có pháp nào có tự thể thực hữu.
+ Hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, và hạt giống Phật cũng
sinh khởi do duyên.
+ Giáo
pháp trong tam thừa là do đức Phật vận dụng, nên chúng là
giả lập.
+ Nhất
thừa pháp là pháp cứu cánh, pháp chân thật của chư Phật
giáo hoá.
+ Bản
thể chân như ở nơi các pháp đang sinh diệt của thế gian
là bất diệt, nên bản thể tịch diệt của thế gian là bản
thể thường trú, do đó đức Phật nói Nhất thừa để làm
cho chúng sanh thấy được bản thể chân như ấy mà ngộ nhập.
Nên,
Chân Quán là pháp quán của Phổ Môn, pháp quán ấy làm cho
hành giả Pháp Hoa thường ước nguyện tu tập, thường ngưỡng
mộ và thường chiêm nghiệm.
2/2
Thanh Tịnh Quán:
Thanh
Tịnh là trong sạch, trong sáng, không còn dơ bẩn.
Thanh
Tịnh Quán là sự quán chiếu có nội dung thanh tịnh. Sự quán
chiếu trong suốt, sự quán chiếu không còn bị vô minh, khát
ái, chấp thủ và nghiệp hữu làm vẩn đục. Và thanh tịnh
quán là quán chiếu để thấy rõ bản thể vắng lặng ở
nơi mọi sự hiện hữu.
Thanh
Tịnh Quán là sự quán chiếu trong suốt, không bị ngã tưởng
ngăn ngại.
Do
đó, Thanh Tịnh Quán là sự quán chiếu thấy rõ:
+ Giới
thể đại bi là giới thể hoàn toàn thanh tịnh và châu biến
pháp giới.
+ Báo
thân và ứng hóa thân từ nơi pháp thân thanh tịnh mà hiện
khởi để hóa độ chúng sanh.
+ Tích
môn và hạnh môn từ nơi bản môn mà hiện khởi.
+ Phật
tính là bản nguyên tự tánh thanh tịnh của hết thảy chúng
sanh.
+ Và
bản thể của các pháp xưa nay thường thanh tịnh và vắng
lặng.
Nên,
Thanh Tịnh Quán là pháp quán của Phổ Môn, pháp quán ấy là
xuyên suốt mọi pháp quán, khiến cho tâm của hành giả vẫn
thường trú trong Niết Bàn mà thân của hành giả thì phổ
biến cùng khắp cả mười phương để hóa độ chúng sanh
mà vẫn không rời đương xứ tịch diệt.
Do
đó, pháp quán nầy là pháp quán mà hành giả Pháp Hoa thường
ước nguyện tu tập, thường ngưỡng mộ và chiêm nghiệm.
2/3
Quảng Đại Trí Tuệ Quán:
Quảng
Đại Trí Tuệ là trí tuệ rộng lớn. Trí tuệ rộng lớn
là Đại Bát Nhã.
Quảng
Đại Trí Tuệ Quán là sự quán chiếu bằng trí tuệ rộng
lớn.
Quán
chiếu bằng trí tuệ rộng lớn, không những thấy tự tánh
của năm uẩn là không, mà còn thấy tự thân của mỗi uẩn
cũng đều là không, vốn không có tự tánh.
Do
đó, Quảng Đại Trí Tuệ Quán là sự quán chiếu thấy rõ:
+ Ngã
và pháp đều không
+ Thực
tướng của các pháp là tịch diệt tướng, vô tướng, hay
là không tướng.
+ Phiền
não và Bồ đề không phải là hai thực thể tách biệt.
+ Niết
Bàn và sinh tử, Phật và chúng sanh là hai mặt biểu hiện
của tâm.
2/4
Bi Quán:
Bi
là đại bi, là khả năng cứu độ rộng lớn. Khả năng cứu
độ ấy, không phải trong một chủng loại mà hết thảy chủng
loại, không phải trong một phương mà khắp cả mười phương,
không phải một pháp giới mà cả thập pháp giới. Khả năng
cứu độ như vậy gọi là đại bi
Như
vậy, Bi Quán là khả năng quán chiếu để thực hiện hạnh
nguyện cứu độ rộng lớn, cứu độ toàn diện và cùng khắp.
Nên,
Bi Quán là khả năng quán chiếu, để thấy rõ thể tánh chơn
như giữa chủ thể cứu độ và đối tượng được cứu
độ không phải là hai, chúng thiệp nhập vào nhau và nhất
thể.
Do
đó, Bi Quán là khả năng quán chiếu để xâm nhập vào thể
tính bất nhị của pháp giới; và thường trú trong thể tính
bất nhị ấy, mà biểu hiện thân tướng và bản nguyện để
cứu khổ chúng sanh khắp cả pháp giới. Do Bi Quán mà khởi
lên hạnh nguyện: “Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn
và đoạn trừ vô tận phiền não”.
Nên,
Bi Quán là pháp quán của Phổ Môn, pháp quán ấy làm cho hành
giả Pháp Hoa thường ước nguyện tu học, thường ngưỡng
mộ và chiêm nghiệm.
2/5
Từ Quán:
Từ
là đại từ, là khả năng thương yêu và hiến tặng niềm
vui rộng lớn cho tất cả muôn loài.
Khả
năng ấy, không phải chỉ đối với một chủng loại mà hết
thảy cả muôn loài; không phải chỉ đối với một phương
mà khắp cả mười phương; không phải chỉ đối với một
pháp giới mà khắp cả mười pháp giới. Khả năng thương
yêu và hiến tặng niềm vui như vậy, gọi là đại từ.
Như
vậy, Từ Quán là khả năng quán chiếu để thực hành hạnh
nguyện thương yêu rộng lớn, toàn diện và cùng khắp, đem
lại sự an lạc cho hết thảy chúng sanh.
Nên,
Từ Quán là khả năng quán chiếu và ôm ấp nỗi đau và Bi
Quán là khả năng quán chiếu để chuyển bạt nỗi đau thành
những chất liệu hạnh phúc an lạc cho chúng sanh.
Bi
Quán là bản thể cứu độ và Từ quán là tác dụng của
sự cứu độ; Bi quán có khả năng đoạn trừ Tập đế, từ
quán có khả năng đoạn trừ Khổ đế.
Do
đó, Từ Quán là khả năng quán chiếu để xâm nhập vào mọi
hiện trạng khổ đau của toàn thế chúng sanh trong pháp giới,
nhằm thấy rõ thể tính chơn như giữa chủ thể thương yêu
và đối tượng được thương yêu không phải là hai thực
thể tồn tại cá biệt, mà chúng tương tác lên nhau và có
mặt trong nhau.
Phân
đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử là những nỗi sợ hãi
thâm sâu, không phải là cá biệt mà là phổ biến cho hết
thảy muôn loài, nên Từ Quán là khả năng mở rộng tấm lòng,
mở rộng tầm nhìn và mở rộng vô số cánh tay để ôm ấp
hết thảy chúng sanh đang bị những nỗi sợ hãi ấy vào lòng,
vào nơi Từ nguyện của mình và dùng Từ tâm để xoa dịu
và soi sáng; đồng thời dùng Bi quán để chuyển bạt không
những những hạt giống vô minh, khát ái, chấp thủ tự ngã
nơi tâm thức chúng sanh, mà còn chuyển bạt những hạt giống
vô minh trụ địa, là những hạt giống lưu trú và lặn chìm
tận đáy sâu tâm thức, nơi gốc rễ chế tác ra những vô
minh, vọng tưởng về những ngã ái và pháp ái của chúng
sanh nữa.
Nên,
Từ Quán của Phổ Môn là khả năng biểu hiện vô số thân
tướng tươi mát để đối thoại, chia sẻ và cảm thông với
vô lượng nỗi khổ đau của chúng sanh, nhưng Bi quán của
Phổ môn lại có khả năng biểu hiện vô số thân tướng
hùng tráng để trực diện và thọc sâu vào tâm thức của
chúng sanh, nhằm đánh bạt những sào huyệt tập khởi của
chúng, nơi mà đã chế tác ra những chất liệu khổ đau.
Bi
Quán có khả năng xóa sạch mọi vết thương lòng, mọi cấu
uế của tâm và Từ quán lại có khả năng chăm sóc, khiến
cho vết thương lòng không tái phát, và những cấu uế của
tâm không còn điều kiện để biểu hiện.
Bởi,
Từ Quán và Bi Quán của Phổ Môn là vậy, nên hành giả Pháp
Hoa thường ước nguyện tu học, chiêm nghiệm và ngưỡng mộ
pháp quán ấy.
3.-
Tuệ Học Phổ Môn:
Tuệ
Học Phổ Môn, ta thấy được diễn tả trong bài kệ sau đây:
“Vô
cấu thanh tịnh quang
Tuệ
nhật phá chư ám,
Năng
phục tai hỏa phong
Phổ
minh chiếu thế gian”.5
Nghĩa
là:
Ánh
sáng trong không bẩn,
Mặt
trời tuệ phá ám,
Điều
phục nạn gió lửa,
Chiếu
sáng khắp thế gian.
Bài
kệ nầy nói lên Tuệ học của Phổ Môn.
Nói
rằng, Tuệ học của Phổ Môn thanh tịnh, không ô nhiễm, nên
không còn bị các phiền não làm chướng ngại và cũng không
bị vô minh làm chướng ngại tuệ giác.
Nên,
Tuệ học Phổ Môn có ba tác dụng cùng khắp và toàn diện:
3/1
Toàn diện đối với tâm:
Đối
với tâm Tuệ Học Phổ Môn có khả năng phá sạch hết phiền
não chướng, sở tri chướng, đưa tâm trở lại với bản
nguyên tự tánh thanh tịnh. Nên hai câu kệ đầu nói:
“Vô
cấu thanh tịnh quang
tuệ
nhật phá chư ám”.
“Vô
cấu thanh tịnh quang” (ánh sáng trong, không dơ bẩn), là bản
thể của tuệ giác, hay bản thể của tuệ học, và là bản
thể của Niết Bàn tịch tịnh.
Do
đó, “Vô cấu thanh tịnh quang” là một cách nói khác về
Diệt đế.
Còn,
“Tuệ nhật phá chư ám”, (mặt trời tuệ phá ám) là tác
dụng của bản thể tuệ giác, hay tác dụng của bản thể
tuệ học đối với các loại vô minh phiền não của chúng
sanh trong pháp giới.
Hay
nói cách khác, ấy là tác dụng của Diệt đế đối với
Tập đế.
3/2
Toàn diện đối với cảnh:
Đối
với cảnh, Tuệ Học Phổ Môn có khả năng tác động làm
thay đổi cảnh khổ đau thành cảnh an lạc, cảnh tai nạn
thành cảnh an toàn.
Nên,
câu kệ thứ ba nói: “Năng phục tai phong hoả” (điều phục
nạn gió, lửa). Chỉ có Tuệ giác Phổ Môn mới có khả năng
điều phục và chuyển hóa các tai nạn ở trong thế gian, mà
câu kệ nêu lên hai tai nạn tiêu biểu là gió và lửa, nhưng
tai nạn thâm sâu của thế gian là bị sinh tử, là sự sống
chết không có tự do.
Tai
nạn do lửa, nước, gió, qủy, thiên tai, địa chấn, binh đao,
vương nạn…, gốc vẫn từ nơi tham dục, sân hận, ngu si,
chấp ngã của con người mà sinh ra.
Nên,
điều phục và chế ngự các tai nạn ấy, chính là điều
phục và chế ngự tâm xấu ác của con người, bằng Tuệ
Giác Phổ Môn.
Với
Tuệ Học Phổ Môn, ta điều phục và chế ngự các tai nạn
thuộc Khổ đế bằng cách chế ngự và chuyển hoá những
hạt giống gây ra tai nạn đang được huân tập và sinh khởi
từ Tập đế.
Với
sự điều phục và chế ngự như vậy, là sự chế ngự và
điều phục tai nạn, điều phục Khổ đế có tính cách xuyên
suốt và phổ biến từ nhân tới quả.
Đó
là sự điều phục và chế ngự tai nạn của Tuệ Giác Phổ
Môn.
Hay
nói cách khác, đó là sự điều phục và chế ngự tai nạn
của Đạo đế đối với Khổ đế và Tập đế.
3/3
Toàn diện đối với cả tâm và cảnh:
Tuệ
Học Phổ môn soi chiếu cùng khắp tâm và cảnh của hết thảy
chúng sanh trong pháp giới, đem lại lợi ích cho cả thế gian
và xuất thế gian. Nên, câu sau cùng của bài kệ là “Phổ
minh chiếu thế gian” (chiếu sáng khắp thế gian), tuệ giác
ấy soi chiếu một cách bình đẳng đối với hết thảy chúng
sanh trong pháp giới không có kỳ thị, phân biệt, không bị
ngăn che bởi cái gì. Và ánh sáng ấy cũng soi chiếu một cách
bình đẳng đối với các bậc Hiền thánh ở trong các địa
vị tu chứng, nhưng chúng sanh và các bậc Hiền thánh, tuỳ
theo nhân duyên của mình, mà tiếp nhận và tiêu thụ ánh sáng
tuệ giác ấy để thay đổi tâm cảnh, chuyển hoá thân tâm,
nhằm trở thành và thể nhập hoàn toàn với tuệ giác ấy.
Do
đó, “Phổ minh chiếu thế gian” là tuệ giác soi chiếu cùng
khắp, nên cả chủ thể và đối tượng soi chiếu đã thiệp
nhập vào nhau và cùng khắp trong nhau, không còn có bất cứ
một sự ngăn ngại nào.
“Phổ
minh chiếu thế gian” là tuệ giác toàn diện, tuệ giác xuyên
suốt, từ bản thế đến hiện tượng, từ tâm đến cảnh,
từ pháp thân đến ứng hóa thân, từ nhân đến quả, từ
thể tính nhất như mà xuyên suốt hết thảy vạn tượng.
Bởi
vậy, Tuệ Học Phổ môn là tuệ học xuyên suốt và toàn diện
cả bản thể lẫn hiện tượng, cả tâm lẫn cảnh, cả Phàm
lẫn Thánh.
Ngoài
bài kệ trên, ta còn có bài kệ nói rõ về sự thực tập
Tuệ Học Phổ môn như sau:
“Diệu
âm, Quán Thế âm,
Phạm
âm, Hải Triều âm,
Thắng
bỉ thế gian âm,
Thị
cố tu thường niệm”.6
Nghĩa
là:
Tiếng
nhiệm, tiếng nhìn đời
Tiếng
phạm, tiếng hải triều
Tiếng
vượt hẳn thế gian
Nên
phải thường quán niệm.
Bài
kệ nầy giúp ta năm phương pháp quán chiếu của Tuệ học:
1.
Diệu Âm: là âm thanh mầu nhiệm, âm thanh tinh tế và sâu thẳm.
Mọi
âm thanh biểu hiện đều do duyên khởi không có tự tánh,
và do không có tự tánh, nên mọi biểu hiện của mọi âm
thanh đều là diệu hữu và vì là diệu hữu, nên âm thanh
ấy gọi là Diệu Âm. Và chỉ có Diệu Âm mới diễn xướng
diệu pháp.
Nên,
hành giả Pháp Hoa phải lắng nghe mọi âm thanh phát ra từ
các pháp duyên khởi, để thành tựu diệu trí, ngộ nhập
diệu âm mà diễn xướng diệu pháp, và phổ cập diệu pháp
đến cả muôn loài, nhằm khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến
cho họ.
2.
Quán Thế Âm: là âm thanh do nhìn cuộc đời mà diễn xướng;
do quán chiếu về duyên khởi, về vô thường, về vô ngã
mà nói ra; do quán chiếu về Khổ đế và Tập đế mà nói
ra; do quán chiếu về Diệt đế và Đạo đế mà nói ra; do
quán chiếu tính chất lưu chuyển và hoàn diệt của nguyên
lý Mười hai duyên khởi mà nói ra; do quán chiếu năm uẩn
đều không có tự tánh mà nói ra; do quán chiếu tự tánh thanh
tịnh của Lục độ mà nói ra; do quán chiếu Bồ đề hiện
khởi từ phiền não mà nói ra; do quán chiếu Niết bàn có
mặt ở trong sinh tử mà nói ra và do quán chiếu mà thấy hết
thảy chúng sanh đều có Phật tính và đều có khả năng thành
Phật mà nói ra. Tiếng nói phát ra từ sự quán chiếu như
vậy, gọi là Quán Thế Âm.
Như
vậy, Quán Thế Âm là tiếng nói nhìn vào cuộc đời mà nói,
trực diện với cuộc đời mà nói, nói đúng với tự thân
của mọi sự hiện hữu giữa cuộc đời.
Tiếng
nói như vậy là tiếng nói của chân trí đã thể nhập chân
lý. Và trí lý bất nhị.
Nên,
hành giả Pháp Hoa, phải học tiếng nói nhìn cuộc đời mà
nói, để ngay nơi tiếng nói ấy là tiếng nói của diệu pháp,
tiếng nói của Pháp Hoa, tiếng nói có khả năng khai, thị,
ngộ, nhập Phật tri kiến cho hết thảy muôn loài.
3.
Phạm Âm: là âm thanh giống Phạm thiên. Theo Bà La Môn giáo,
Phạm Thiên là chúa tể sinh ra muôn loài, nên âm thanh của
Phạm Thiên là âm thanh trong sạch và là khởi điểm của mọi
âm thanh.
Nhưng,
Phạm âm của Phổ Môn không phải hiểu theo nghĩa ấy.
Phạm
âm của Phổ Môn là tiếng nói chân thật, tiếng nói đúng
với thể tính chân như, đúng với giới thể đại bi, với
thân tướng đại từ, với những hành động đại hỷ và
đại xả.
Do
đó, Phạm âm là tiếng nói phát ra từ bản thể đại bi.
Ấy là tiếng nói của bình lặng và hùng tráng, có khả năng
khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho hết thảy muôn loài.
Đây
là tiếng nói mà hành giả Pháp Hoa phải thường học tập
và quán chiếu để thể nhập, nhằm tuyên diễn diệu pháp,
khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho hết thảy chúng sanh.
4.
Hải Triều Âm: là âm thanh của sóng biển, tiếng nói của
sóng biển, là tiếng nói sinh động phát ra từ pháp giới
trùng trùng duyên khởi. Nên, tiếng nói nầy, không làm trở
ngại tiếng nói kia, tiếng nói kia không làm trở ngại tiếng
nói nầy, chúng tương tác lên nhau mà âm thanh phát ra liên
tục và vô tận.
Âm
thanh như vậy, là đối tượng của trí quán, để phát hiện
ra tính không, không làm trở ngại hữu, và tính diệu hữu
không làm trở ngại không. Chính tính không là diệu hữu và
chính diệu hữu là tính không, chúng tương dung, tương nhiếp
với nhau.
Do
tuệ quán đối với âm thanh của sóng biển như thế, mà thành
tựu trí tuệ chân thật, trí tuệ toàn giác.
Đây
là tiếng nói mà hành giả Pháp Hoa phải thường học tập,
quán chiếu và thể nhập, để có khả năng diễn xướng diệu
pháp nhằm khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho muôn loài.
5.
Thắng Bỉ Thế Gian Âm: là âm thanh vượt hẳn mọi âm thanh
ở trong đời. Ấy là âm thanh xuất thế.
Như
đức Thế Tôn nói:
“Đây
là Khổ, đây là Tập, đây là Diệt, đây là Đạo. Đây là
Khổ nên biết, đây là Tập nên đoạn, đây là Diệt nên
chứng, đây là Đạo nên tu. Đây là Khổ đã biết, đây là
Tập đã đoạn, đây là Diệt đã chứng, đây là Đạo đã
tu.
Đây
là Mười hai duyên khởi, đây là phần lưu chuyển của Mười
hai duyên khởi, đây là phần hoàn diệt của Mười hai duyên
khởi.”
Hoặc
nói:
“Ta
có sức phương tiện
Khai
thị pháp tam thừa
Hết
thảy Đấng Thế Tôn
Đều
nói đạo Nhất thừa.
Nay
trong đại chúng nầy
Hãy
loại trừ nghi ngờ
Lời
chư Phật giống nhau
Chỉ
có pháp Nhất Thừa”.7
Nói
bằng âm thanh như vậy, chính âm thanh ấy là âm thanh vượt
hẳn mọi âm thanh của thế gian và xuất thế gian.
Những
âm thanh như vậy, được nói lên từ trí tuệ của Bậc Toàn
giác cho hết thảy chúng sanh và Hiền thánh trong pháp giới,
nên những âm thanh ấy hành giả Pháp Hoa cần phải lắng nghe,
học tập, quán chiếu để sinh khởi tuệ quán, nhằm khai,
thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho hết thảy chúng sanh trong
pháp giới.
Trong
năm loại âm thanh: Diệu Âm, Quán Thế Âm, Phạm Âm, Hải Triều
Âm, Thắng Bỉ Thế Gian Âm, là sự phân định âm thanh theo
từng loại đối tượng của tuệ quán.
Nhưng,
ta quán chiếu cho thật sâu sắc, thì chúng là những âm thanh
biểu hiện tùy theo mức độ thuần tịnh của tâm và mức
độ sâu cạn của tuệ quán.
Ta
lắng nghe và quán chiếu cho thật sâu sắc, ta sẽ nhận ra
trong Diệu Âm lại có mặt của Quán Thế Âm, Phạm Âm, Hải
Triều Âm và Thắng Bỉ Thế Gian Âm. Và ta lắng nghe và quán
chiếu thật sâu sắc, thì trong mỗi âm đều có đủ các âm
khác.
Do
đó, năm loại âm thanh nầy là đối tượng của tuệ quán
mà hành giả Pháp hoa phải luôn luôn ghi nhớ để thực tập,
nhằm sinh khởi tuệ giác Nhất thừa, hoằng truyền kinh Pháp
Hoa cho hết thảy căn cơ chúng sinh khắp mọi nơi chốn.
IV.
TIN, HIỂU VÀ CẢM NHẬN
Đọc
tụng, thọ trì và nghiên cứu Kinh Pháp Hoa, ta thấy rõ ở
kinh Pháp Hoa không phải chỉ diễn tả về Bản Môn và Tích
Môn, mà còn diễn tả về Hạnh Môn một cách linh hoạt và
sống động nữa. Có những Nhà nghiên cứu Kinh Pháp Hoa cho
rằng, mười bốn phẩm đầu là thuộc về Tích môn và tư
tưởng chủ yếu của Tích Môn được gói trọn ở phẩm Phương
Tiện, và mười bốn phẩm sau thuộc về Bản Môn, và tư tưởng
chủ yếu được gói trọn ở phẩm Như Lai Thọ Lượng, nhưng
ta đọc tụng, thọ trì và nghiên cứu kỹ, thì kinh Pháp Hoa
không phải chỉ đề cập đến Bản Môn và Tích Môn mà còn
đề cập đến Hạnh Môn nữa.
Phẩm
Phổ Môn là một trong những phẩm diễn tả về Hạnh Môn
của kinh Pháp Hoa. Và đọc tụng, thọ trì, nghiên cứu
kỹ kinh Pháp Hoa, ta thấy trong mỗi phẩm của kinh Pháp Hoa
đều hàm chứa đầy đủ cả Bản Môn, Tích Môn và Hạnh
Môn. Ngay ở trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa, sự có mặt
của Đức Phật Đa Bảo và Bảo tháp của Ngài là sự có
mặt của Bản Môn. Và Đức Phật Thích Ca trả lời những
câu hỏi của Bồ Tát Vô Tận Ý về hạnh nguyện và uy lực
của Bồ Tát Quán Thế Âm, đó là sự có mặt của Hạnh Môn
ở trong Tích Môn và Bản Môn. Sự có mặt của Đức Phật
Đa Bảo và Tháp của Ngài ở trong phẩm nầy là sự có mặt
của Bản Môn, để ấn chứng cho những gì đang diễn ra và
đang được trình bày của Đức Phật Thích Ca ở Tích Môn
là đúng với Bản Môn. Nghĩa là Đức Phật Đa Bảo là Đức
Phật Bản Môn đã ấn chứng cho những gì đức Phật Thích
Ca nói với Bồ Tát Vô Tận Ý, về Hạnh Môn của Bồ Tát
Quán Thế Âm là đúng như tự thân và bản thể của chính
nó.
Bồ
Tát Vô Tận Ý, sau khi nghe Đức Phật Thích Ca nói về Hạnh
Môn Pháp Hoa của Bồ Tát Quán Thế Âm, liền khởi tâm cung
kính, cỡi ngay chuỗi ngọc châu Anh Lạc giá trị trăm ngàn
lượng vàng mà cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng Bồ
Tát Quán Thế Âm đã một mực từ chối không nhận. Bồ Tát
Vô Tận Ý liền thưa với Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Thưa
Nhân giả! Xin Người hãy thương chúng tôi mà nhận chuỗi
ngọc châu Anh Lạc nầy!”. Và bấy giờ, Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni cũng nói với Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Bồ Tát
hãy thương Bồ Tát Vô Tận Ý nầy, cũng như hãy thương bốn
chúng gồm Ưu bà tắt, Ưu bà di, Tỷ khưu, Tỷ Khưu Ni, hãy
thương các Chúng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la,
Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Nhân và phi nhân…, mà
hãy nhận lấy chuỗi ngọc châu Anh Lạc!”
Bấy
giờ, Bồ Tát Quán Thế Âm, vì thương tứ chúng, cũng như
hết thảy chúng sanh, mà nhận chuỗi ngọc châu Anh Lạc, và
sau đó, Bồ Tát liền chia chuỗi ngọc châu Anh Lạc làm hai
phần, một phần dâng lên cúng dường Đức Phật Thích Ca
và một phần dâng lên cúng dường Tháp của Đức Phật Đa
Bảo”.8
Sự
cúng dường chuỗi ngọc châu Anh Lạc của Bồ Tát Vô Tận
Ý là nói lên sự tin, hiểu và cảm nhận sâu xa của mình
đối với Hạnh Môn Pháp Hoa của Bồ Tát Quán Thế Âm, sau
khi Bồ Tát Vô Tận Ý đã nghe, Đức Phật Thích Ca giảng dạy
về Hạnh Môn Pháp Hoa của vị Bồ Tát ấy. Và Bồ Tát Quán
Thế Âm, vì thương Bồ Tát Vô Tận Ý, cũng như thương hết
thảy chúng sanh, mà nhận chuỗi ngọc châu Anh Lạc và đã
đem chuỗi ngọc châu Anh Lạc ấy, phân làm hai, một phần
dâng lên cúng dường Đức Phật Thích Ca, và một phần dâng
lên cúng dường Tháp của Đức Phật Đa Bảo. Chính hành động
cúng dường ấy của Bồ Tát Quán Thế Âm, là để khai, thị,
ngộ, nhập phật tri kiến cho Bồ Tát Vô Tận Ý, khiến cho
vị Bồ Tát nầy, tin và hiểu rằng: Hạnh Môn Pháp Hoa của
Bồ Tát Quán Thế Âm, Bản Môn Pháp Hoa của Đức Phật Đa
Bảo và Tích Môn Pháp Hoa của Đức Phật Thích Ca là ba mặt
của Một Thực Tại Siêu Việt. Thực Tại Siêu Việt ấy,
chính là Nhất Thừa Phật Đạo.Và đồng thời cũng đã nói
lên rằng: Bồ Tát Quán Thế Âm đã nhận chuỗi ngọc châu
Anh Lạc từ Bồ Tát Vô Tận Ý, và Ngài đã dâng chuỗi ngọc
ấy, lên cúng dường Đức Phật Thích Ca và Tháp của Phật
Đa Bảo là để khai thị cho Bồ Tát Vô Tận Ý tin và hiểu
rằng: Giữa đức Phật Bản Môn, Đức Phật Tích Môn và Bồ
Tát Hạnh Môn chỉ là Một.
Trong
Bồ Tát Hạnh Môn có Phật Bản Môn và có Phật Tích môn;
trong Phật Bản Môn có Phật Tích Môn và có Bồ Tát Hạnh
Môn, trong Phật Tích Môn có Phật Bản Môn và Bồ Tát Hạnh
Môn, nên từ trong Bồ Tát Hạnh Môn, Bồ Tát Quán Thế Âm
đang biểu hiện Bản Môn và Tích Môn, nhận chuỗi ngọc châu
Anh Lạc cúng dường từ Bồ Tát Vô Tận Ý để dâng lên cúng
dường Đức Phật Thích Ca và Tháp Phật Đa Bảo, nhằm hướng
dẫn sự tu tập của vị Bồ Tát nầy hướng đến Nhất Thừa
Phật Đạo.
Bồ
Tát Vô Tận Ý ở trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa là tiêu
biểu cho Bồ Tát Thừa; và Tứ chúng Tỷ khưu, Tỷ
Khưu Ni, Ưu bà tắt, Ưu bà di là tiêu biểu cho Thanh văn Thừa,
cũng như hết thảy Đại chúng Trời, Người, A tu la…, là
tiêu biểu cho Thiên Thừa và Nhân Thừa, đều đã được Bồ
Tát Quán Thế Âm hướng dẫn phát tâm hướng đến Nhất Thừa
Phật Đạo. Và với Bồ Tát Hạnh Môn, Bồ Tát Quán Thế Âm
đã từ chối nhận sự cúng dường chuỗi ngọc châu Anh Lạc
của Bồ Tát Vô Tận Ý, nhưng đối với Bản Môn và Tích
Môn, Bồ Tát Quán Thế Âm đã nhận chuỗi ngọc châu
Anh Lạc để cúng dường Đức Phật Thích Ca và Tháp của
Phật Đa Bảo, nhằm hiển thị rằng, mọi hoạt động của
Bồ Tát là đều hướng đến Nhất Thừa Phật Đạo, mà không
bị mắc kẹt ở nơi nhân và pháp của Bồ Tát Thừa. Nên,
Bồ Tát Hạnh Môn chỉ là phương tiện của Phật Môn vậy.
Bởi
vậy, Hạnh Môn của Bồ Tát Quán Thế Âm là Hạnh Môn luôn
luôn gắn liền với hai chất liệu của Đại Bi và Đại Trí.
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là tiêu biểu cho Hạnh Môn Đại
Trí của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Bấy
giờ, Bồ Tát Quán Thế Âm ở ngay giữa đại chúng, gọi Tôn
giả Xá Lợi Phất mà tuyên thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm
Kinh với tất cả Đại Trí của mình. Theo Quảng bản Bát
Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh nói rằng: “Sau khi Bồ Tát Quán
Tự Tại nói thần chú Bát Nhã Ba La Mật Đa xong, liền gọi
Tôn giả Xá Lợi Phất và các vị Đại Bồ Tát mà nói rằng:
Đối với Bát Nhã Ba La Mật Đa thâm diệu, nên học như vậy,
nên hành như vậy”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn từ nơi hạnh phúc an lạc của thiền
định mà xuất, gọi Bồ Tát Quán Thế Âm mà ca ngợi rằng:
“Hỡi Thiện nam tử, thật tuyệt vời thay, thật tuyệt vời
thay! Đúng như lời Người nói: Bát Nhã Ba La Mật Đa là rất
thâm diệu, nếu hành trì, thì nên hành trì như vậy, hành
đúng như vậy. Và khi ấy các Đức Như Lai cũng đều hoan
hỷ”.
“Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói như vậy xong, Tôn giả Xá Lợi Phất,
Bồ Tát Quán Thế Âm và hết thảy hội chúng Trời, Người,
A tu la…, nghe Đức Thế Tôn dạy như vậy, đều đại hoan
hỷ, tín thọ và phụng hành”.9
Và,
Thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni, là tiêu biểu cho Hạnh Môn
Đại Bi của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Bấy
giờ, ngay giữa Đại chúng ở nơi Núi Phổ Đà, Bồ Tát Quán
Thế Âm bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Con có Thần chú
Đà la ni của tâm đại bi, nay muốn tuyên thuyết: Vì muốn
cho hết thảy chúng sanh có được sự an lạc; vì muốn loại
trừ hết thảy bệnh tật cho chúng sanh; vì muốn cho hết thảy
chúng sanh được sống lâu và giàu có; vì muốn diệt trừ
hết thảy ác nghiệp và trọng tội cho chúng sanh; vì muốn
cho hết thảy chúng sanh thoát ly chướng nạn; vì muốn tăng
trưởng các công đức của pháp thanh tịnh cho chúng sanh; vì
muốn cho hết thảy chúng sanh thành tựu tất cả thiện căn;
vì muốn cho hết thảy chúng sanh xa lìa tất cả những nỗi
sợ hãi và vì muốn cho hết thảy chúng sanh nhanh chóng thành
tựu mọi ước muốn, nên cúi xin đức Thế Tôn từ bi thương
xót, chấp nhận cho con tuyên thuyết thần chú!”.
Bấy
giờ, Đức Phật dạy với Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Hỡi
Thiện Nam Tử! Người vì tâm đại bi, muốn làm an lạc cho
hết thảy chúng sanh, nên tuyên thuyết thần chú, nay là đúng
lúc, cần phải nói một cách nhanh chóng, Như Lai tùy hỷ và
Chư Phật cũng vậy”.10 Như vậy, Thần chú Đại Bi Tâm Đà
La Ni là Hạnh Môn của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Đại
Bi và Đại Trí là hai chất liệu tạo nên Hạnh Môn của Bồ
Tát Quán Thế Âm. Hai chất liệu Hạnh Môn nầy của Bồ Tát
Quán Thế Âm là doThần chú Đại Bi và Bát Nhã Ba La Mật
Đa Tâm Kinh tạo thành, mà chính bản thân Bồ Tát Quán Thế
Âm trực tiếp tuyên thuyết cho đại chúng lúc bấy giờ và
đã được Đức Thế Tôn trực tiếp ấn chứng. Hai chất
liệu tạo nên Hạnh Môn của Bồ Tát Quán Thế Âm nầy, đã
ảnh hưởng toàn bộ lên đời sống tu học của hầu hết
Tăng Ni phật tử Á Châu theo truyền thống Bắc Phạn suốt
cả một chiều dài lịch sử.
Hiện
nay hầu hết nghi lễ tụng niệm của Tăng Ni Phật tử Việt
Nam, mở đầu là tụng Thần chú Đại Bi và kết thúc bằng
Bát Nhã Tâm Kinh, nghĩa là mở đầu bằng Đại Bi và kết
thúc bằng Đại Trí. Đưa Đại Bi đi tới với Đại Trí và
đưa Đại Trí rọi vào trong Đại Bi. Đại Trí và Đại Bi
không thể tách rời nhau trong đời sống tu tập của Tăng
Ni Phật tử.
Nên,
Đại Bi và Đại Trí không thể nào thiếu trong một thời
khóa nghi lễ, hay một thời khóa công phu tu tập, hoặc nơi
mỗi hành động xuất xử của Tăng Ni phật tử Việt Nam.
Nếu thiếu một trong hai, những hành xử của người tu sẽ
nghiêng về một phía, hoặc là quá siêu việt, hoặc là quá
thực dụng. Người nào tu tập mà nghiêng về một trong hai
phía, đời sống của người ấy, sẽ mất thăng bằng và
có thể bị gãy đổ. Nên, hai chất liệu Đại Bi và Đại
Trí gắn liền với nhau trong đời sống của một người biết
tu tập, giống như đôi cánh chim gắn liền nơi thân thể của
một con chim Đại Bàng.
Thần
chú Đại Bi và Bát Nhã Tâm Kinh là Hạnh Môn của Bồ Tát
Quán Thế Âm. Hạnh Môn ấy đã tạo thành những nét văn hóa,
đạo đức, tín ngưỡng và phương pháp tu tập, kết hợp
hài hòa độc đáo cho những người con phật. Và đó là Hạnh
Môn tu tập chuyển hóa tâm linh và độ đời một cách thiết
thực và thâm diệu của Tăng Ni phật tử Việt Nam đã trải
qua rất nhiều thế hệ, và chính nó cũng đã tạo thành thể
thống nhất, xuyên suốt, linh hoạt và độc đáo của Đạo
Phật Việt Nam.
Nên,
Hạnh Môn của Bồ Tát Quán Thế Âm được diễn tả ở phẩm
Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa là tiêu biểu cho tính thể
và tác dụng của một Đạo Phật xuyên suốt, thống nhất,
sống động, độc đáo, và siêu việt ngay trong thực tế.
T.T.H.
1 Mười
như thị là căn cứ vào phẩm Phương tiện của Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, bản dịch của Ngài Cưu Ma La Thập, tr 5, Đại
Chính 9. Ở phẩm Thiện Quyền của Chánh Pháp Hoa Kinh, bản
dịch của Ngài Trúc Pháp Hộ, tr 68, Đại Chính 9, không có
mười như thị cụ thể như bản dịch của Ngài La Thập,
nhưng chúng được diễn tả qua đoạn kinh như sau: “Như Lai
giai liễu chư pháp sở do, tùng hà sở lai chư pháp tự nhiên,
phân biệt pháp mạo chúng tướng, căn bản tri pháp tự nhiên
= Nghĩa là: Như Lai đều biết rõ nhân duyên của các pháp,
thể tính của các pháp do nhân duyên gì mà biểu hiện, biện
biệt rõ ràng các hình tướng, dung mạo và gốc rễ, biết
rõ tính thể của các pháp”. Trong Thiên Phẩm Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh, bản dịch của Ngài Xà Na Quật Đa, tr 138, Đại
Chính 9, cũng có đầy đủ Mười như thị như bản dịch của
Ngài La Thập. Dịch bản Anh ngữ của Burton Watson cũng
có đầy đủ cả mười như thị ( The Lotus Sutra, P 24, Columbia
University Press New york 1993).Thập như thị, trong bản Phạn văn
hiện có trong Buddhist Sanskrit Texts – No 6, trang 21, như sau:
Ye ca te dharmàh, yathà ca te dharmàh, yàdr’sàsca te dharmàh, yallaksanà’sca
te dharmàh, yatsvabhàvà ‘sca te dharmàh, ye ca yathà ca yàdr’scà
yallaksanà ‘sca yatsvabhàvà ‘sca te dharmà iti. Tesu dharmesu
Tathàgta evam pratyakso’ paroksah.
2 Kinh
Bi Hoa, bản Hán dịch của Đàm Vô Sấm, tr 185-186, Đại Chính
3. Tham cứu thêm Đại Thừa Bi Phân Đà Lợi Kinh, tr 251, Đại
Chính 3.
3 Đại
Bi Đà La Ni Kinh, bản Hán dịch của Già Phạm Đạt Ma, tr 106
– 110, Đại Chính 20.
4 Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh, tr 56, Đại Chính 9.
5 Những
kệ tụng tóm thâu mọi ý nghĩa của Giới Học Phổ Môn, Định
Học Phổ Môn, Tuệ Học Phổ Môn, được dẫn ra từ kệ tụng
Phổ Môn do Bồ Tát Vô Tận Ý toát yếu để trình lên Đức
Phật. Phổ Môn Phẩm, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Bản Hán dịch
của Ngài La Thập, tr 58, Đại Chính 9.
6
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh 7, tr 58, Đại Chính 9.
7 Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh, tr 8, Đại Chính 9.
8 Phổ
Môn Phẩm, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, tr 7, Đại Chính 9.
9 Đại
Chính 8, tr 850 – 852.
10
Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh, tr 106, Đại Chính 20.