TRIẾT
HỌC THẾ THÂN
Ngôn
ngữ về những gì hiện hữu
Lê
Mạnh Thát
Từ
những gì đã nói, rõ ràng Thế Thân đã quan niệm chuyển
biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ, qua đó bất cứ
cái gì được cấu trúc bằng ngôn ngữ đều không tồn tại
và chỉ có tác dụng của “cái khiến ta biết”. Một câu
hỏi lập tức được nêu lên về lý do tại sao chuyển biến
đó có thể được quan niệm như thế và nó đã cấu trúc
cái gì bằng ngôn ngữ để nó có thể được mô tả như
thế. Để trả lời câu hỏi này, ta không cần phải tìm đâu
xa ngoài Tam Thập Tụng, bởi vì một giải đáp đã được
đề ra trong đó. Giải đáp này không chỉ giúp giải quyết
câu hỏi trực tiếp vừa nêu, mà còn cho ta một cái nhìn rõ
ràng về câu trả lời của Thế Thân đối với mối quan tâm
triết học ban đầu của ông. Hãy lưu ý rằng ông đã khởi
đầu với một vấn đề rất đơn giản, đó là, có phải
đối tượng của thức chỉ là tên gọi, một vấn đề xuất
phát từ nghiên cứu có phê phán của ông về hệ tư tưởng
Tỳ Bà Sa. Trong hệ tư tưởng này, sau khi loại bỏ một số
danh tự giả tưởng được biết như “thần”, “ngã”,
v.v., ra khỏi thế giới biện giải của họ, Tỳ Bà Sa đã
chủ trương mọi danh tự khác còn lại phải có khả năng
chỉ thị một vật thật nằm đâu đó ở thế giới bên ngoài.
Như vậy, theo Tỳ Bà Sa, phải có tồn tại các thực thể
như sinh, hoại, quá khứ, vị lai, v.v., bởi vì đã tồn tại
các từ ngữ tương ứng với chúng trong thế giới biện luận
của họ.
Khi
Thế Thân tiếp cận hệ thống này, ông lập tức tự hỏi
có thể đối tượng của thức chỉ là một danh tự mà không
cần phải giả định sự tồn tại của bất cứ thực thể
nào không, và điều này đã dẫn dắt ông một cách hứng
thú đến thuyết mô tả. Ông chỉ ra rằng nếu Tỳ Bà Sa chủ
trương cần phải mặc định sự tồn tại của môt thực
thể như sinh, chẳng hạn, để có thể xác chứng ý nghĩa
của những câu nói như “Tôi biết sự sinh ra của con trai
tôi qua điện thoại”, trong đó chữ “sinh” là đối tượng
của hành động “biết”, thì người ta có thể vạch ra
một cách qua đó chữ “sinh” có thể được loại bỏ dễ
dàng mà không đánh mất bất cứ đơn vị có nghĩa nào của
câu nói. Thí dụ, ta có thể nói “Tôi biết con trai tôi đã
ra đời qua điện thoại”, hoặc còn rõ ràng hơn, “Qua điện
thoại tôi biết cái gì đó đang hiện hữu đã chưa từng
hiện hữu trước đây và cái đó là con trai tôi”, v.v. Vì
thế, rõ ràng chữ “sinh” có thể được loại bỏ mà không
đánh mất những gì câu nói trên có ý nói ra. Vậy thì, điều
tất nhiên là ngay cả đối với những tên gọi được chấp
nhận trong thế giới biện luận của Tỳ Bà Sa, ta vẫn có
thể chứng minh rằng không cần phải giả định cho chúng
bất kỳ loại thực thể nào cả, bởi vì chúng cũng có thể
được thay thế bằng các cách diễn tả khác mà những cách
này không đặt tên và cũng không đòi hỏi bất kỳ sự vật
nào tương ứng với chúng. Nói cách khác, những chữ như sinh,
hoại, quá khứ, vị lai, v.v., chỉ là những biểu tượng bất
toàn. Chúng chỉ là những mô tả, và vì chỉ là những biểu
tượng bất toàn cho nên có thể dễ dàng thay thế chúng khi
tình huống cần đến. Vì thế, ta có thể nói “Tôi biết
sự sinh ra của con tôi” mà không sợ phạm phải về mặt
bản thể luận một giả định về sự tồn tại của bất
cứ thực thể nào có tên là “sinh”; bởi vì, với công
cụ mô tả mới này, ta cũng có thể nói “Tôi biết con trai
tôi đã ra đời”, trong đó không có một từ như “sinh”
xảy ra hay cần đến.
Từ
thuyết mô tả đó, Thế Thân tiếp tục tìm hiểu thêm về
thể tính của ngôn ngữ và kết quả là các thuyết luận
lý mới đã được khám phá, đặt nền tảng cho sự phát
triển của luận lý học Ấn độ của rất nhiều người
nối tiếp ông. Trong số các thuyết mới này, có lẽ thuyết
có giá trị trường cửu nhất là quan niệm cho rằng giá trị
của một chứng cứ chỉ có thể được xác định trên cơ
sở của chính nó chứ không phải của bất cứ cái gì khác.
Khái niệm này đã thúc đẩy ông tái khảo sát vấn đề tri
nhận, bởi vì nếu giá trị của một chứng cứ có thể được
xác định trên cơ sở của chính nó, thì cái gì là chứng
cứ của việc tri nhận các sự vật, một điều mà cho đến
thời ông vẫn được cho là thẩm quyền phán xét độc nhất
của bất kỳ lập luận nào. Việc tái khảo sát vấn đề
này đã giúp ông biết được rằng tri nhận phải được
định nghĩa bằng ngôn ngữ mà nó được diễn tả nếu muốn
thoát khỏi những cạm bẫy mà rất nhiều thuyết được đề
ra vào thời ông về vấn đề này đã mắc phải. Thế nhưng,
một khi tri nhận được định nghĩa như vậy, điều hiển
nhiên là phải tìm ra một cơ cấu để có thể giải thích
điều này. Và ở đây, Thế Thân buộc phải tìm hiểu không
chỉ tri nhận mà còn cả toàn bộ đời sống phức tạp của
thức sinh khởi một tri nhận riêng biệt, và kết quả là
một quan niệm về sự tự tri phải được giả định để
có thể lý giải mọi tri nhận nhất thiết phải là một sự
tự tri. Có nghĩa là khi thấy cái gì đó, tôi không chỉ thấy
nó mà còn phải biết được sự kiện tôi thấy nó.
Khi
giả định một khái niệm như thế, điều tất nhiên là phải
khảo sát để quyết định xem nó bắt nguồn từ đâu và
hoạt động như thế nào. Và điều này đã mang lại nhận
thức rằng không chỉ tri nhận phải được định nghĩa qua
ngôn ngữ nó được diễn tả, mà ngay cả thức cũng phải
được định nghĩa như vậy, bởi vì tự thân của thức chỉ
là một sự chuyển biến, và sự chuyển biến này lại là
một cấu trúc ngôn ngữ. Một lần nữa, nếu thật sự chuyển
biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ, thì ta phải đưa
ra một giải thích tại sao nó lại như thế. Giải thích đó
sẽ không những giúp trả lời câu hỏi vừa nêu mà đồng
thời còn cho chúng ta một giải đáp trọn vẹn về quan tâm
triết học tiên khởi của Thế Thân. Tại sao? Bởi vì, mặc
dù một điều hiển nhiên là mọi vấn đề triết học đã
nối nhau thu hút sự chú ý của ông có thể được truy nguyên
từ chính thuyết mô tả, vốn là câu trả lời đầu tiên
của ông về quan tâm triết học tiên khởi của ông, nhưng
vẫn không có lý do rõ ràng nào được đưa ra để giải thích
tại sao thuyết mô tả này nhất định đúng và hoàn toàn
phù hợp, có nghĩa là tại sao luật thay thế cơ bản có thể
có giá trị.
Trở
lại thí dụ trên, ta có thể hỏi: Tại sao có thể thay phát
biểu “Tôi biết sự sinh ra của con trai tôi” bằng “Tôi
biết con trai tôi đã ra đời” mà không đánh mất đơn vị
có ý nghĩa của nó? Những câu trả lời cho câu hỏi này cũng
như những câu tương tự cho đến nay đã không tìm thấy mặc
dù chúng rất quan trọng cho việc hiểu đúng thuyết mô tả.
Vì thế, để giải đáp vấn đề tại sao chuyển biến của
thức là một cấu trúc ngôn ngữ, Thế Thân đã đề ra một
số câu trả lời thuộc loại trên, như sẽ thấy. Vậy, tại
sao chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ?
Chúng
ta đã nói rằng phát biểu sự chuyển biến của thức là
một cấu trúc ngôn ngữ là một kết luận được rút ra từ
luận đề được trình bày trong Tam Thập Tụng. Vì lẽ đó,
bất kỳ xác chứng nào có được về nó thì xác chứng đó
phải được tìm thấy trong luận thư này. Luận đề phát
biểu “sự mô tả về ngã và pháp, vốn có tác dụng theo
nhiều cách, đều dựa vào sự chuyển biến của thức”.[1]
Về mặt lịch sử, phát biểu này có thể hiểu theo hai cách.
Thứ nhất, nó có ý khẳng định mô tả về ngã và pháp là
chuyển biến của thức. Thứ hai, nó hàm ý chuyển biến của
thức là nền tảng hoạt động của mô tả về ngã và pháp.
Cách nào trong hai cách trên là đúng sẽ không phải là chủ
đề thảo luận của chúng ta hôm nay; bởi vì dù cách nào
đúng, sự thật vẫn là sự mô tả về ngã và pháp được
quan niệm là nối kết bất khả phân với chuyển biến của
thức, bất luận nó đang được nối kết bất khả phân bằng
cách nào. Nói cách khác, dù mô tả về ngã và pháp có đồng
nhất với, hay đặt cơ sở trên, sự chuyển biến của thức,
thì sự thật vẫn là sự mô tả được nối kết bất khả
phân với chuyển biến của thức. Vì thế, chừng nào ta chưa
biết được từ ngữ “mô tả” có nghĩa chính xác là gì,
ta vẫn chưa thể quyết định cách hiểu nào trong hai cách
trên phản ánh rõ hơn ý nghĩa mà Thế Thân muốn nói. Vậy,
mô tả có nghĩa là gì?
Để
trả lời câu hỏi này, một lần nữa chúng ta lại không có
một giải đáp cho sẵn của chính Thế Thân. Và đây là một
điều kỳ lạ bởi vì từ ngữ này vốn có một vai trò quan
trọng trong luận đề trên. Thật vậy, nó xuất hiện rất
sớm trong các tác phẩm của ông. Chẳng hạn, chúng ta có thể
tìm thấy trong Câu Xá Luận, nhưng dĩ nhiên là không có định
nghĩa nào về nó.[2] Kết quả, chúng ta phải giả thiết một
lần nữa là từ “mô tả” đã được dùng rất phổ biến
vào thời ông và những người sử dụng đã hiểu chính xác
từ này mà không cần phải nói gì thêm về ý nghĩa của nó.
Độ chính xác của giả thiết này có thể dễ dàng chứng
minh qua việc thăm dò các tài liệu gốc chúng ta có được
ngày nay về từ ngữ này. Như vậy, nó đã xuất hiện với
một nghĩa rất rõ ràng và xác định trong một số văn bản
thuộc những gì thường được gọi là “Upaniṣad Tiểu Bản”.[3]
Tuy nhiên điều đáng tiếc là ta không thể xác định thỏa
đáng ngày tháng xuất hiện của các bản này. Có người cho
rằng chúng thuộc về đời sau này, trong khi có người lại
rộng lượng hơn khi giả thuyết một tính chất cổ xưa nào
đó cho chúng.[4]
Chúng
ta không thể bàn về vấn đề này ngay ở đây, vì nó không
thật sự phù hợp với chủ đề của chúng ta. Trong bất cứ
trường hợp nào, cho dù chúng ta có bàn đến thì nhiều lắm
chúng ta chỉ đạt được một giả thuyết mới không chắc
chắn nào đó, một giả thuyết có lẽ không khả quan hơn
bất cứ giả thuyết nào đã cho. Vì thế, chúng ta sẵn sàng
chấp nhận những gì Upaniṣad Tiểu Bản đã nói về từ “mô
tả”, và quay sang các nguồn tư liệu khác mà ta thừa nhận
đã xác định đúng niên đại của chúng và, trong vài trường
hợp, có thể cho những thông tin tốt hơn về cách dùng mà
từ ngữ này có thể đã có. Nguồn tư liệu đầu tiên không
gì khác hơn Mahābhāṣya của Patañjali.
Khi
bàn về Pānini I.1.1, Kātyāyana đã đặt ra câu hỏi làm thế
nào ta biết được vṛddhi là chỉ cho ā, āi, và āu, mà không
phải trường hợp ngược lại, và rồi ông trả lời bằng
phát biểu rằng ta có thể biết được sự khác nhau “từ
cách dùng của Sư, như đã tìm thấy trong những gì có liên
quan đến ngôn ngữ Vệ đà và ngôn ngữ phổ thông”. Bàn
về câu trả lời này, Patañjali hỏi: “Nhóm từ ‘từ cách
dùng của Sư’ có nghĩa gì?” Và đây là trả lời của ông:
Từ
sự mô tả của Sư, thì nó giống như những gì được thực
hiện trên thế gian và trong các bộ Vệ đà. Trên thế gian,
khi một đứa bé sinh ra, cha mẹ ở phòng bên đặt tên cho
nó là Devadatta, Yajñadatta. Từ sự mô tả về những tên gọi
này, người khác biết rằng nó chỉ cho đứa bé. Tương tự,
trong Vệ đà khi một vị tế quan đặt tên các dụng cụ tế
lễ của ông ta như sphya, yūpa, casāla, v.v., thì từ sự mô
tả của các tên gọi đó bởi những vị tôn kính đó, người
khác biết rằng chúng chỉ cho các dụng cụ đó. Đó cũng
[là trường hợp] ở đây. Ngay cả ở đây có người nói
rằng chữ vṛddhi là cái chỉ thị, và ā, āi và āu là những
cái được chỉ thị, trong khi những người khác đọc sūtra
suci vṛddhiḥ [Pānini VII.2.1] và minh họa nó bằng ā, āi và
āu. Vì vậy, chúng ta hiểu rằng, cái mà cùng với nó một
cái khác được đề cập đến là một cái chỉ thị và những
cái mà chúng được đề cập đến là những cái được chỉ
thị.[5]
Qua
đoạn văn trên, rõ ràng đối với Patañjali mô tả là một
cách dùng được chấp nhận của một tên gọi nào đó. Khi
tôi gọi một bông hoa là cúc, thì những người khác chỉ
biết nó là bông cúc nhờ sự mô tả này, tức cách dùng của
cái tên “cúc” đó. Tính chất đồng nghĩa của hai từ “mô
tả” và “cách dùng” được chấp nhận rộng rãi thật
lâu sau thời của Patañjali và vẫn còn được dùng ngay cả
sau thời của Thế Thân. Trong luận giải của mình về Nyāyasūtra,
Vātsyāyana ít nhất đã một lần xem như đồng nhất hai từ
“mô tả” và “cách dùng” một cách đặc biệt,[6] cho
dù chính Nyāyasūtra đã định nghĩa từ “mô tả” theo cách
khác.
Trong
đó, từ này xuất hiện đến chín lần, tức Nyāyasūtra I.2.11,
14, 15; II.2.14, 30, 61, 62, 64; và IV.1.54, trong số đó chỉ có
một lần là không được hiểu theo cách Nyāyasūtra định
nghĩa chúng. Đó là trường hợp ngoại lệ chúng ta vừa chỉ
ra, liên quan đến Nyāyasūtra II.2. 62, trong đó Vātsyāyasūtra
diễn giải mô tả có nghĩa là “cách dùng”. Vậy, Nyāyasūtra
định nghĩa, và Vātsyāyana hiểu, các trường hợp còn lại
như thế nào? Chuỗi xuất hiện đầu tiên của từ này chủ
yếu nói về các loại “bẫy” luận lý khác nhau do cách
dùng mơ hồ của ngôn ngữ. Nyāyasūtra định nghĩa các bẫy
này như sau:
Bẫy
luận lý là sự phản bác về một phát biểu bằng cách đưa
ra một cấu trúc ngôn ngữ về một đối tượng, và nó có
ba loại: bẫy từ ngữ, bẫy tương tự và bẫy mô tả. Bẫy
luận lý từ ngữ là cấu trúc ngôn ngữ về một đối tượng
khác với cái được dự định của người nói khi đối tượng
đó được anh ta nói đến một cách mơ hồ. Bẫy luận lý
tương tự là cấu trúc ngôn ngữ về một đối tượng không
thật bằng cách nối kết nhiều sự tương tự với đối
tượng đó hơn là cái nó thật sự có. Bẫy luận lý mô tả
là phủ nhận hiện hữu thật sự của một đối tượng trong
khi đưa ra một cấu trúc ngôn ngữ về một vật [thay chỗ
nó]. Nay, có phải bẫy luận lý mô tả chỉ là một bẫy luận
lý từ ngữ do chúng không khác nhau? Không, không phải, bởi
vì chúng có các loại đối tượng khác nhau. Hơn nữa, nếu
chúng không khác nhau, vậy tất yếu là chỉ có một bẫy luận
lý, bởi vì cả ba loại trên cùng chia sẻ một loại thuộc
tính chung nào đó.[7]
Đó
là lời bàn đầy đủ về vấn đề các bẫy luận lý mà
Nyāyasūtra đưa ra. Nó được dịch trọn ở đây, không chỉ
vì nó bàn đến từ “mô tả” đang là chủ đề khảo cứu
của chúng ta, mà còn vì sự tương tự giữa ngôn ngữ nó
đã sử dụng để bàn đến vấn đề đang được nó nói
đến và ngôn ngữ chính Thế Thân đã dùng trong các tác phẩm
của ông, đặc biệt là Tam Thập Tụng. Như vậy, khi Nyāyasūtra
định nghĩa bẫy luận lý mô tả là “sự phủ nhận hiện
hữu thật sự của một đối tượng trong khi đưa ra một
cấu trúc ngôn ngữ về một vật thay chỗ nó”, ta không thể
không nghĩ ngay đến phát biểu của Thế Thân “chuyển biến
của thức là một cấu trúc ngôn ngữ” và “chuyển biến
đó là sự mô tả về ngã và pháp”. Dĩ nhiên sự quá giống
nhau về ngôn ngữ không tạo thêm điều gì cả, ngoài việc
nó bảo đảm cho chúng ta sự chính xác của cách tiếp cận
của chúng ta với vấn đề định nghĩa những gì mà tự thân
Thế Thân đã bỏ lững không định nghĩa. Có nghĩa, nếu Thế
Thân không để ý đến hoặc không bỏ công định nghĩa bất
kỳ từ ngữ nào có ý nghĩa rất quan trọng đối với chúng
ta ngày nay để hiểu được tư tưởng ông, thì chúng ta có
thể giả định một cách an toàn là vì ông nghĩ rằng đã
có người khác làm việc đó và không cần phải lập lại.
Lời
bàn được Nyāyasūtra đưa ra ở trên hiển nhiên không phải
là một định nghĩa rõ ràng về mô tả là gì. Điều muốn
nói là nó cho chúng ta một cái nhìn sơ bộ về vị trí mà
định nghĩa đó chiếm lĩnh trong thế giới biện giải của
con người. Chẳng hạn, nó chỉ ra rằng có người chủ trương
cạm bẫy luận lý mô tả hoàn toàn không khác với cạm bẫy
từ ngữ. Chúng thuộc cùng loại bẫy luận lý như nhau. Mặc
dù qua nhiều thế kỷ, Nyāyasūtra cùng với các nhà bình giải
nó đã không chỉ ra chính xác ai là người chủ trương như
thế, nhưng chúng ta ngày nay biết rằng ít nhất cũng có một
trong các tác giả của Carakasaṃhitā đã chủ trương như thế.[8]
Vì vậy, ở khía cạnh này chúng ta có thể chắc chắn rằng
mô tả là một dạng, nếu không phải là dạng độc nhất,
của ngôn ngữ có thể được xem như đồng nhất với chính
ngôn ngữ, bất luận mô tả có thể được định nghĩa như
thế nào. Kết quả là ngay cả khi không có cố gắng nào nhằm
định nghĩa mô tả một cách minh nhiên thì Nyāyasūtra, qua
việc trình bày nhiều quan điểm khác nhau về tương quan giữa
bẫy luận lý từ ngữ và bẫy luận lý mô tả, rõ ràng đã
định đặt giới hạn cho các mô tả và định vị chúng một
cách dứt khoát trong các biên giới của ngôn ngữ. Vì lẽ
đó, không có chút mơ hồ nào về vị trí chúng phải có,
chừng nào chúng vẫn còn được nối kết với từ ‘cấu
trúc ngôn ngữ’, và khi mà chúng được dùng với từ đó.
Ngoài
ra, qua việc định vị các mô tả như thế, Nyāyasūtra rõ
ràng đã cố gắng minh định chính xác những gì chúng bao
gồm. Ở đây, để đánh giá đúng cố gắng này, ta phải
biết bẫy luận lý từ ngữ và mô tả là gì. Vātsyāyana cho
chúng ta biết bẫy luận lý từ ngữ thuộc kiểu sau đây.
Khi có người nói “navakambalo ’yaṃ mānavakaḥ”, một câu
nói tiếng Phạn có thể được hiểu theo hai nghĩa: “thằng
bé này có một cái mền mới” hoặc “thằng bé này có chín
cái mền” vì từ nava trong đó có nghĩa là mới hoặc chín,
thì người đó đã dựng lên một cái bẫy luận lý từ ngữ
cho chính anh ta, một cái bẫy mà đối thủ của anh ta có thể
dẫn anh ta vào cuộc tranh luận bằng cách chỉ ra rằng nếu
thằng bé chỉ có một cái mền, tại sao anh ta nói nó có chín
cái. Mặt khác, nếu thằng bé có chín cái mền, tại sao anh
ta lại nói nó có một cái mền mới. Vì thế, khi một câu
nói có khả năng tạo ra nhiều câu hỏi khác nhau thuộc loại
này, nó sẽ thuộc nhóm các bẫy luận lý từ ngữ.[9]
Về
bẫy luận lý mô tả, Vātsyāyana đưa ra các thí dụ kiểu
sau. Khi có người nói “cái bục thét lên” thì anh ta đã
mắc phải bẫy luận lý mô tả, bởi vì đối thủ của anh
ta có thể phản ứng, “những người trên bục thét lên chứ
cái bục không thét lên”. Trong trường hợp này, những gì
đối thủ của anh ta làm là phủ nhận “hiện hữu thật
của đối tượng”, đối tượng mà câu nói của anh ta nhắm
đến và ở đây có nghĩa là những người ở trên bục, trong
khi đặt vào chỗ của nó “một cấu trúc ngôn ngữ về một
vật”, một cấu trúc có thể khiến cho câu nói “cái bục
thét lên” có nghĩa chính xác như những gì mà mỗi một từ
cấu thành nó nói ra, tức “cái bục thét lên” chứ không
phải gì khác hơn.[10]
Vậy,
rõ ràng là cả hai loại bẫy luận lý đều được thực hiện
bằng cách bóp nắn từ ngữ.[11] Mặc dù Nyāyasūtra phân biệt
sự khác biệt vi tế giữa bẫy luận lý từ ngữ và bẫy
luận lý mô tả bằng cách chỉ ra rằng trong khi loại đầu
chỉ liên quan đến sự bóp nắn nghĩa chính của một từ,
thì loại sau lại chỉ nói đến nghĩa phụ của nó,[12] nhưng
chừng đó cũng đã đủ cho mục đích của chúng ta ở đây
để thấy rằng cả hai loại này đều xảy ra thông qua một
loại bóp nắn từ ngữ nào đó, không kể là nó liên quan
đến nghĩa chính hay phụ. Như vậy, mô tả bao gồm các từ
ngữ thuộc một kiểu nào đó. Vì thế, chúng không những
được định vị trong lãnh vực ngôn ngữ mà còn được biểu
trưng bởi một loại từ ngữ của riêng chúng. Các thành phần
của mô tả vì thế được chỉ định rõ ràng. Và từ đây
trở đi, sẽ không còn câu hỏi về mô tả có nghĩa là gì,
và chúng ta không chờ đợi lâu mới có một trả lời về
nó.
Ở
chương kế tiếp, khi bàn đến vấn đề đối tượng của
từ ngữ là một vật riêng rẽ hay một nhóm các vật, Nyāyasūtra
thấy rằng cần phải nói rõ, theo quan điểm của nó, mô tả
là gì. Ý nghĩa của việc chọn thời điểm đó để đưa
vào quan điểm của nó về mô tả sẽ không bị bỏ qua, như
sẽ thấy; và lý do tại sao nó quyết định làm thế ở giai
đoạn đó cũng sẽ rất rõ ràng sau đó. Điều lôi cuốn chúng
ta ở điểm này là nó đã định nghĩa từ ‘mô tả’ như
thế nào. Nó nói: “mô tả là cái ở tình trạng không phải
chính nó do sự kết hợp của nó, vị trí của nó, ý nghĩa
của nó, hành động của nó, sự ước tính của nó, sự trực
thuộc của nó, môi trường của nó, sự nối kết của nó,
sự cho quả của nó và năng lực của nó, như trong trường
hợp các từ ‘bà la môn’, ‘cái bục’, ‘cái mền’,
‘nhà vua’, ‘bữa ăn lúa mạch’, ‘đàn hương’, ‘sông
Hằng’, ‘vải’, ‘đồ ăn’ và ‘con người’.”[13]
Những gì định nghĩa này nói về từ ‘mô tả’ thì rất
rõ ràng. Theo đó, mô tả là bất cứ từ nào không chỉ cho
chính nó, mà cho một cái khác. Các thí dụ trên được Vātsyāyana
giải thích thêm như sau:
Nói
mô tả là cái ở tình trạng không phải là chính nó tức
nói rằng việc đặt tên của một từ không áp dụng cho chính
nó bởi chính từ đó. Điều này vì (1) sự kết hợp của
nó, như khi có người nói, ‘ai đó bẻ cong cây gậy’ thì
anh ta có ý chỉ cho vị bà la môn làm điều đó, [vì] bà la
môn luôn luôn được kết hợp với cây gậy. Hoặc vì (2)
vị trí của nó, như khi có người nói, ‘cái bục thét lên’
tức anh ta có ý chỉ cho những người trên bục làm thế.
Hoặc vì (3) ý nghĩa của nó, như khi có người nói ‘ai đó
làm một tấm thảm’, tức anh có ý chỉ cho một tấm thảm
rơm, vì tấm thảm có nghĩa là một sự trải ra của rơm.
Hoặc vì (4) hành động của nó, như khi có người nói ‘cái
chết là vua’, ‘của cải là vua’, tức anh ta có ý nói
những thứ này hành động như một ông vua. Hoặc vì (5) sự
ước tính của nó, như khi bữa ăn lúa mạch được đo bằng
một adhaka, người ta nói ‘bữa cơm lúa mạch bằng một adhaka’.
Hoặc vì (6) sự trực thuộc của nó, như khi gỗ đàn hương
được giữ trong một bó cỏ, người ta nói ‘đàn hương
của bó cỏ’. Hoặc vì (7) môi trường của nó, như khi có
người nói ‘những con bò quanh quẩn trên sông Hằng’, tức
anh ta có ý nói ‘chúng quanh quẩn ở những nơi gần sông
Hằng’. Hoặc vì (8) sự nối kết của nó, như khi có người
nói ‘vải đen’, tức anh ta có ý nói tấm vải được nối
kết với màu đen. Hoặc vì (9) sự cho quả của nó, như khi
có người nói ‘thức ăn là cuộc sống’. Hoặc vì (10) năng
lực của nó, như câu nói ‘người đàn ông này là vương
quốc’, ‘người đàn ông này là giòng tộc’. Ở điểm
này, ta có thể nói rằng ngay cả từ ‘loại’ cũng sẽ chỉ
thị một vật thể riêng biệt do sự kết hợp hay sự nối
kết của nó.[14]
Với
giải thích của Vātsyāyana, ý nghĩa của câu nói “mô tả
là cái ở tình trạng không phải là chính nó do sự kết hợp
của nó, vị trí của nó, v.v.,” thật quá rõ ràng. Một từ
là một mô tả khi nó không chỉ cho chính nó mà cho cái khác.
Như vậy, khi có người nói “cái bục thét lên”, từ ‘bục’
là một mô tả vì nó không chỉ thị một vật thể có tên
là ‘bục’, mà chỉ cho cái khác, trong trường hợp này là
những người đứng trên bục. Tương tự, câu nói ‘những
con bò quanh quẩn trên sông Hằng’ không có nghĩa là những
con bò đang đi đi lại lại trên mặt nước sông Hằng, mà
là chúng đi lại ở những nơi ở gần hoặc dọc theo sông
Hằng. Vì thế, cụm từ “trên sông Hằng” là một mô tả,
vì nó không chỉ cho cái mà lẽ ra nó phải chỉ, tức nước
sông Hằng, nhưng thay vì thế nó lại chỉ một cái khác, tức
những nơi gần nó. Ý nghĩa của từ “mô tả” vì thế hoàn
toàn được xác định và định nghĩa rõ ràng.
Ta
có thể nói, mô tả là bất cứ từ ngữ nào không chỉ cho
vật thể mang từ đó, mà thay vì thế lại chỉ cho một vật
thể khác nào đó không mang từ ngữ này. Một khi được định
nghĩa như thế, ta có thể thấy ngay tại sao định nghĩa về
mô tả lại được đưa vào việc bàn luận rằng đối tượng
của một từ có phải là một vật riêng rẽ hay một nhóm
sự vật; và từ đó, ta có thể đánh giá sự chính xác trong
hiểu biết của Vātsyāyana về Nyāyasūtra khi ông giải nghĩa
từ ‘mô tả’ là ‘cách dùng’, như đã chỉ ra ở trên.
Ta
đã thấy rằng Nyāyasūtra dùng từ ‘mô tả’ một vài lần
trước khi cố gắng nói rõ ý nghĩa của nó vào thời điểm
mà sự thảo luận về đối tượng của một từ là gì đã
đạt đến điểm cao của nó với luận đề cho rằng một
sự vật riêng lẻ thật sự là đối tượng của một từ.
Biện luận đó như sau:
Vẫn
còn nghi ngờ về liên hệ giữa [từ ngữ] và các sự vật
riêng lẻ, hình dạng và chủng loại, bởi vì [sự có mặt]
của các mô tả. [Có người cho rằng đối tượng của một
từ là một] sự vật riêng lẻ do có các mô tả, nơi mà chữ
‘đó’, nhóm, sự cho, sự sở hữu, số lượng, sự tích
tập, sự suy giảm, màu sắc, tổ hợp và huyết thống đều
được áp dụng cho mỗi sự vật riêng lẻ. [Chúng tôi trả
lời], không phải như vậy bởi vì điều đó sẽ là một
diễn tiến vô cùng (progressus ad infinitum). Mô tả là cái ở
trạng thái không phải chính nó do sự kết hợp của nó, vị
trí của nó, ý nghĩa của nó, hành động của nó, sự ước
lượng của nó, sự thuộc về của nó, môi trường của nó,
sự nối kết của nó, sự cho quả của nó và năng lực của
nó như trường hợp các từ ‘bà la môn’, ‘cái bục’,
‘tấm thảm’, ‘nhà vua’, ‘bữa ăn lúa mạch’, ‘đàn
hương’, ‘sông Hằng’, ‘tấm vải’, ‘thức ăn’, và
‘con người’. [Vậy thì], hình dạng phải là [đối tượng
của một từ], vì ta có thể dựa vào nó để thiết lập
sự xác định của mỗi hữu thể. [Chúng tôi trả lời rằng
không phải như vậy] vì nó không dùng được cho việc hiến
cúng, v.v., như trong trường hợp của con bò bằng đất sét,
nơi ngay cả [những yêu cầu của] sự vật riêng lẻ và của
hình dạng được thực hiện chính xác. [Vậy thì, đối tượng
của một từ là] chủng loại của một vật. [Chúng tôi trả
lời rằng] không phải như vậy, vì sự hiển bày của chủng
loại là nhờ sự phụ thuộc của nó vào hình dạng và sự
vật riêng lẻ. Vì vậy, đối tượng của một từ đồng
thời cũng là một vật riêng lẻ, một hình dạng và một
chủng loại.[15]
Đọc
hết đoạn này, ta có thể thấy rõ chính do các mô tả mà
đã xuất hiện những nghi ngờ về đối tượng của một
từ là gì. Vì lẽ đó cần phải minh định mô tả là gì
để có thể khiến cho những người tham dự thảo luận này
nhận thức rõ ràng các ý nghĩa được hàm chứa trong quan
niệm mô tả đối với vấn đề đối tượng của một từ
là gì. Nếu chủ trương rằng đối tượng của một từ là
mỗi sự vật riêng lẻ, thì ta có thể nói gì về những từ
như “cái bục” trong câu nói “cái bục thét lên”, trong
đó đối tượng của phát biểu không phải là một cái bục
như ta tưởng mà là những người trên cái bục đó? Cuối
cùng, nếu nói rằng đối tượng của một từ là chủng loại
của một sự vật thì cũng gặp phải khó khăn trên, bởi
vì làm thế nào ta có thể sắp xếp những người trên bục
và cái bục vào cùng một loại? Với những khó khăn này,
thật không ngạc nhiên chút nào nếu ta có thể kết luận
rằng từ ngữ chỉ là những mô tả và đối tượng chỉ
là cái được từ ngữ mô tả chứ không phải biểu trưng.
Chúng ta không ngạc nhiên, bởi vì đó là một kết luận độc
nhất, chính xác và có thể có. Thế nhưng, điều kỳ dị
là Nyāyasūtra chỉ bằng lòng lập lại những gì đã rất
phổ biến từ thời của Pānini. Một điều tệ hơn là trong
khi Pānini đã thành công đưa ra một giải đáp chính thức
cho vấn đề này, và vì thế thoát khỏi mọi nghi vấn kèm
theo có thể sinh khởi từ đó, thì Nyāyasūtra lại thất bại
trong cố gắng này. Như vậy, theo Patañjali, để giải đáp
thắc mắc “Đối tượng của một từ là hình dạng hay sự
vật?”, Pānini đã đề nghị câu trả lời sau đây:
Ông
ta nói cả hai. Làm sao biết được điều đó? Bởi vì các
kinh điển đều thừa nhận hai quan điểm trên đã được
viết ra. Như Kinh I. 2. 58 nói rằng số nhiều có thể đồng
thời xem như số ít khi nó biểu thị một chủng loại, có
nghĩa hình dạng là đối tượng của một từ; trong khi Kinh
I. 2. 64 nói rằng khi các từ có cùng dạng và có cùng phần
đuôi thì một trong số chúng vẫn giữ nguyên, có nghĩa, vì
dựa vào khái niệm về cái giữ nguyên nên đối tượng của
một từ là một sự vật.[16]
Vậy
thì, với Pānini, vấn đề xác định đối tượng một từ
là gì hình như rất đơn giản, nếu không muốn nói là quá
đỗi bình thường. Ông đề ra một số quy tắc chính thức
để ta có thể dễ dàng chứng minh đối tượng của một
từ có phải là một sự vật hay một chủng loại sự vật.
Vì lẽ đó bất cứ khi nào áp dụng quy tắc I.2.58 của ông
thì từ ngữ được nói đến có đối tượng của nó là
một chủng loại. Và bất cứ khi nào quy tắc I.2.64 được
dùng thì từ đó lại biểu trưng cho một sự vật. Ta có thể
thấy Pānini đã khôn khéo né tránh vấn đề mà nó có thể
nhận chìm ông một cách hiển nhiên vào mọi loại câu hỏi
khó chịu bằng cách nương vào một giải pháp hoàn toàn chính
thức, giải pháp mà ta phải thừa nhận là rất thỏa đáng
đối với chủ đề của ông.
Tuy
nhiên, khi vay mượn thuyết của Pānini, hình như Nyāyasūtra
không biết rằng nó không có được điểm thượng thặng
mà Pānini có. Vì thế, nó không đưa ra được bất kỳ chỉ
dẫn rõ ràng nào về vấn đề làm thế nào có thể xác định
khi nào đối tượng của một từ là một sự vật, một hình
dạng hay một chủng loại, hay cả ba cùng một lúc, một vấn
đề mà như đã nói có thể được giải quyết không chút
khó khăn bằng sự thử nghiệm chính thức do Pānini cung cấp.
Và đây có lẽ là thất bại đáng kể nhất của Nyāyasūtra
trong thuyết minh thú vị của nó về vấn đề đối tượng
của từ ngữ. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi đưa vấn
đề mô tả vào sự thảo luận về vấn đề đó, chắc chắn
Nyāyasūtra đã cho thấy rằng vào thời của nó khái niệm
mô tả đã đặt ra một thách thức mạnh mẽ cho mọi giải
pháp có thể có về đối tượng của từ ngữ là gì. Thật
vậy, như đã chỉ ra trước đây, qua việc định nghĩa mô
tả là “cái ở vào trạng thái không phải chính nó”, thì
khái niệm đó có thể thách thức nghiêm trọng tất cả các
giải pháp truyền thống, kể cả giải pháp của Pānini cũng
như rất nhiều giải pháp khác. Vì thế, ít ra ở điểm này,
ta phải xem đó là một trong những đóng góp nổi bật nhất
của Nyāyasūtra cho sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử
tổng quát của khái niệm mô tả. Nó nhận ra ý nghĩa của
khái niệm đó ngay cả khi những người luận giải về nó
qua bao thế kỷ đều thất bại không nắm bắt được một
cách đúng đắn.
Vào
lúc Vātsyāyana viết luận thư tiêu chuẩn của ông về Nyāyasūtra,
mặc dù ông đã dành một chỗ đáng kể để bàn về đối
tượng của một từ là gì với một mô tả toàn bộ các
quan điểm truyền thống ông biết đến, nhưng hầu như ông
đã không nói gì về từ ‘mô tả’. Hơn nữa, ông lại giải
nghĩa nó là “cách sử dụng” hay “sự sử dụng”, một
giải thích cho thấy ông không đánh giá đầy đủ ý nghĩa
quan trọng của từ này, bởi vì, như chúng ta thấy, chính
do các mô tả mà sự nghi ngờ về mối liên hệ giữa từ
ngữ và sự vật, hình dạng và chủng loại đã sinh khởi.
Chính do chúng mà toàn bộ thảo luận về chủ đề được
nói đến đã xảy ra. Ngoài ra, ngay cả việc giải nghĩa nó
là “cách sử dụng” hay “sự sử dụng” hình như cũng
không được thực hiện trọn vẹn. Vātsyāyana đã bình giải
như sau về phát biểu của Nyāyasūtra nói rằng “có người
chủ trương đối tượng của một từ là một sự vật riêng
lẻ bởi lẽ có những mô tả mà trong đó từ ngữ ‘cái
đó’, nhóm, sự cho, sự sở hữu, số lượng, sự gia tăng,
sự suy giảm, màu sắc, tổ hợp và huyết thống, tất cả
đều được dùng cho mỗi sự vật riêng lẻ”:
Đối
tượng của một từ là một sự vật riêng lẻ. Tại sao?
Vì có các mô tả như từ ngữ ‘cái đó’ được áp dụng
cho một sự vật riêng lẻ. Ở đây, mô tả có nghĩa là cách
sử dụng. Một câu nói như ‘con bò đó đứng’, ‘con bò
đó đang nằm’, không phải là một chỉ thị về một chủng
loại bởi vì không có phức tính trong đó. Nhưng nếu có phức
tính, thì nó lại là một biểu thị về một vật. Nếu có
phức tính, thì một diễn tả như “một nhóm các con bò”
là tên của một sự vật chứ không phải của một chủng
loại, bởi vì không có phức tính đối với chủng loại.
Câu nói “ông ta trao con bò cho người thầy thuốc” có nghĩa
rằng thật sự có việc từ bỏ một sự vật chứ không phải
từ bỏ một chủng loại bởi vì chủng loại không phải là
vật chất và không thể được trao đổi bằng cách này hay
cách khác. Tính sở hữu có nghĩa là có một quan hệ sở hữu
như trong các câu nói “con bò của Kaundinya”, “con bò của
người bà la môn”. Vì thế đương nhiên là ta có thể có
quan hệ phức tính với các sự vật được gọi tên nếu
có nhiều sự vật. Nhưng người ta nói rằng chủng loại không
có phức tính, có nghĩa là không thể phân chia. Số có nghĩa
là mười con bò, hai mươi con bò, v.v. Như vậy, chính nhiều
sự vật được đếm chứ không phải chủng loại, bởi vì
không có phức tính đối với chủng loại. Gia tăng có nghĩa
là sự tích tập các phần của một sự vật được tạo
ra, như trong câu nói “con bò lớn lên”. Nhưng người ta nói
chủng loại không có thành phần. Suy giảm cũng như thế, được
giải thích tương tự. Màu sắc thì như trong các câu nói “con
bò màu trắng”, “con bò màu nâu”, ..., vì thế tính chất
được gắn vào một sự vật mà không phải vào một đặc
tính chung chung. Tổ hợp thì như trong cách nói “tốt cho con
bò”, “thoải mái cho con bò”,..., nơi mà các từ “tốt”,
v.v., được nối kết với một sự vật chứ không phải với
chủng loại. Huyết thống có nghĩa là một chuỗi sinh đẻ
liên tục của cùng một loại như con bò sinh ra một con bò,
và sự sinh đẻ này không dành cho một chủng loại. Vì thế,
đối tượng của một từ không gì khác hơn một vật thật,
một vật thật riêng lẻ.[17]
Bình
giải trên của Vātsyāyana rõ ràng cho thấy ông không phải
dựa vào khái niệm mô tả như Nyāyasūtra định nghĩa nó,
có nghĩa mô tả là cái ở trạng thái không phải chính nó
do sự kết hợp, v.v. Thay vì thế, ông chỉ diễn giải nó
là “cách sử dụng” như truyền thống của Patañjali đã
làm, theo đó vấn đề đối tượng của một từ là gì chỉ
có thể được quyết định theo cách dùng của nó. Vì thế,
ở đây hình như Vātsyāyana ít ra cũng tin rằng Nyāyasūtra
đã vay mượn không chỉ câu trả lời của Pānini về vấn
đề đối tượng của một từ mà còn vay mượn cả cách
thử nghiệm chính thức của ông để xem câu trả lời này
có phù hợp hay không. Đây có phải là lý do Nyāyasūtra chỉ
bằng lòng lập lại điều Pānini đã nói về đề tài đó?
Dù sao đi nữa, chúng ta biết chắc rằng Nyāyasūtra đã công
nhiên định nghĩa chính xác mô tả là gì, và định nghĩa
đó vẫn thịnh hành vào thời của Vātsyāyana, như đã được
chứng thực trong trích dẫn của ông về nó.[18]
Như
vậy, vấn đề họ đã rút ra từ đó một kết luận sai hay
đúng là điều không quan trọng, mặc dù về mặt luận lý
ta vẫn nghĩ là họ đã làm như thế. Và với điều này, họ
đã làm chúng ta quá thất vọng. Ngoài ra, khi đưa khái niệm
mô tả vào thảo luận về đối tượng của từ ngữ, Nyāyasūtra
đã chứng thực rằng nó biết rõ tính chất bất khả thi
của nhiều giải pháp liên quan đến vấn đề này. Vì thế,
sự thất bại đã không rút ra được một kết luận chính
xác càng trở nên đáng tiếc hơn. Thật vậy, trước thời
Thế Thân, khái niệm mô tả đã nhận được rất ít sự
chú ý đến độ nó bị xem như chẳng có giá trị nào trong
việc giúp giải quyết nhiều vấn đề khác nhau mà khoa ngữ
học cao cấp của Ấn độ đặt ra. Và sau thời Thế Thân,
cũng chỉ có Bhartṛhari và An Huệ để ý đến khái niệm
này trong tư duy triết học của họ, mặc dù vẫn không rút
ra được nhiều điều từ đó do sự khác biệt về quan điểm
triết học của họ. Thế nhưng, nhờ quan tâm đến khái niệm
này mà họ đã đưa ra nhiều thuyết minh hiếm thấy và giá
trị không những về chính triết học Thế Thân mà cả những
người trước ông; và nhờ thế, chúng ta có thể thấy được
tư tưởng của ông đã phát triển như thế nào về mặt lịch
sử. Đồng thời, chúng ta cũng phải thừa nhận đó là đóng
góp quý báu nhất của họ trong việc làm sáng tỏ triết học
phong phú của Thế Thân, có lẽ là trong nỗ lực hoàn trả
món nợ mà họ đã vay của Thế Thân.
Vì
thế, sau khi lập lại định nghĩa tiêu chuẩn về mô tả là
gì qua phát biểu mô tả là cái được áp dụng cho những
gì không phải là nó và ở những nơi không có nó, An Huệ
đã thuyết minh vấn đề mô tả, qua định nghĩa đối tượng
của từ ngữ là gì, như sau:
Nhưng
có người khác nói rằng nếu không có ngã và pháp dùng làm
ý nghĩa đầu tiên của một từ, thì không hợp lý để nói
đến mô tả. Vì một mô tả chỉ có giá trị khi có đủ
ba điều kiện: nếu thiếu một trong số đó sẽ không có
mô tả. Ba điều kiện là: (1) một đối tượng dùng làm ý
nghĩa đầu tiên của một từ, (2) một đối tượng khác tương
tự như đối tượng đó và (3) sự tương tự giữa chúng.
Chẳng hạn, lửa là đối tượng đầu tiên dùng làm ý nghĩa
ban đầu của từ đó. Rồi, đứa con trai là một đối tượng
khác tương tự với lửa. Và cuối cùng có một đặc tính
chung giữa chúng, đó là trạng thái chúng đều đỏ hay ấm.
Vì thế, ta có thể tạo ra một mô tả ‘đứa con trai lửa’.
Về
điểm này chúng tôi hỏi: lời mô tả ‘đứa con trai lửa’
mô tả một chủng loại hay một sự vật? Trong cả hai trường
hợp đều không có sự mô tả. Vì ở đây đặc tính chung
chúng đều đỏ hoặc ấm không thuộc một chủng loại; và
khi không tồn tại một đặc tính chung, thì không đúng để
nói về sự mô tả một chủng loại qua đứa con trai đó,
do sự vượt quá ý nghĩa của nó. Nếu [người ta lập luận
rằng] cho dù một chủng loại không hiện hữu trong một đặc
tính chung, thì trạng thái có màu đỏ và ấm vẫn được
nối kết bất khả phân nhờ vào một chủng loại; vì thế,
vẫn có thể nói về mô tả một chủng loại qua đứa con
trai đó; lúc đó ta có thể đáp rằng một khi [đã thừa nhận]
một chủng loại không hiện hữu trong một đặc tính chung,
thì không đúng để chủ trương rằng trạng thái có màu đỏ
và ấm được nối kết bất khả phân như những gì được
nhìn thấy ở đứa con trai. Hơn nữa, trong trường hợp chúng
được nối kết bất khả phân, sẽ không có mô tả vì một
chủng loại thật sự hiện hữu ở đứa con trai và lửa.
Vì thế, một mô tả chủng loại đối với đứa con trai thì
không thể được.
Một
mô tả về pháp cũng không thể được bởi lẽ không có đặc
điểm chung. Bởi vì tính chất có màu đỏ hay hơi ấm của
lửa không giống như cái được tìm thấy ở đứa con trai.
Thật vậy, chúng hoàn toàn khác nhau, vì sự đặc trưng hóa
này gắn liền với các thực thể riêng của chúng. Và nếu
không có tính chất của lửa thì không hợp lý để áp dụng
một mô tả về lửa cho đứa con trai. Nếu lập luận rằng
vẫn hợp lý bởi vì sự tương tự giữa tính chất của lửa
và tính chất của đứa con trai, thì vẫn hoàn toàn hợp lý
để áp dụng tính chất đỏ và ấm của lửa cho tính chất
đỏ và ấm của đứa con trai, thế nhưng không hợp lý để
áp dụng một mô tả về lửa cho đứa con trai vì sự tương
tự về tính chất không đòi hỏi một quan hệ cần thiết
giữa chúng. Vì thế, một mô tả về vật cũng không hợp
lý.
Ngoài
ra, không có tồn tại đối tượng của một từ có thể dùng
làm ý nghĩa đầu tiên của từ đó, bởi vì hình thể riêng
của nó nằm ngoài lãnh vực của mọi hiểu biết và diễn
đạt. Thật vậy, sự hiểu biết và diễn đạt chỉ có tác
dụng đối với ý nghĩa đầu tiên của một từ nhờ vào
hình thể tính chất của nó, vì chúng không có bất cứ tiếp
xúc nào với chính hình thể của đối tượng được nói
đến. Nói cách khác, điều tất yếu là tính chất chẳng
có công dụng gì cả. Thật vậy, không có phương tiện nào
khác hơn sự hiểu biết và diễn đạt để định nghĩa hình
thể riêng của đối tượng của một từ. Và vì hình thể
riêng của đối tượng dùng làm ý nghĩa đầu tiên của một
từ thì nằm ngoài sự hiểu biết và diễn đạt, cho nên tất
yếu là không có đối tượng của một từ dùng làm ý nghĩa
đầu tiên của từ đó. Như vậy, đối với từ ngữ, không
có tồn tại sự hiểu biết cũng như sự diễn đạt bởi
lẽ không có tồn tại một quan hệ cần thiết. Vì vậy, do
không tồn tại tên gọi và cái được gọi tên, cho nên cũng
không có đối tượng của một từ dùng làm ý nghĩa đầu
tiên của từ đó. Vì lẽ đó, mọi sự vật đều được
gọi tên theo tính chất của chúng; không đối tượng nào
dùng làm ý nghĩa đầu tiên của một từ. Bởi vì tên gọi
chỉ tính chất có tác dụng ở nơi mà hình thể riêng của
một đối tượng không được tìm thấy, và mọi từ ngữ
đều có tác dụng trên đối tượng mà nó chỉ có thể dùng
làm ý nghĩa đầu tiên của một từ nhờ vào hình thể tính
chất không được tìm thấy ở đó. Kết quả, không có bất
kỳ đối tượng nào có thể dùng làm ý nghĩa đầu tiên cho
một từ.
Về
điểm này, thật không đúng để nói rằng nếu không có ngã
và pháp dùng làm ý nghĩa đầu tiên của một từ thì không
hợp lý để nói về mô tả.[19]
Những
gì An Huệ nói ở trên nay giải thích cho chúng ta tại sao Nyāyasūtra
lại nói về điều “vẫn còn nghi ngờ về quan hệ giữa
từ ngữ và sự vật, hình thể và chủng loại do các mô tả”.
Người ta nghĩ rằng mỗi từ phải biểu trưng một sự vật
hoặc hình thể hoặc một chủng loại các sự vật. Tuy nhiên,
khi ta dùng các từ như “đứa con trai-lửa” thì từ ‘lửa’
có liên quan gì với từ ‘đứa con trai’? Cả hai đều không
có quan hệ nào với nhau, bất kể ta nghĩ đối tượng của
một từ phải là gì. Nếu nghĩ rằng đối tượng của nó
là một sự vật riêng rẽ thì lửa là một vật và đứa
con trai là một vật khác. Cả hai khó có thể có cái gì chung.
Thật vậy, nếu thằng bé không cẩn thận, nó có thể bị
lửa đốt chết. Tương tự, thằng bé cũng có thể dập tắt
lửa. Một mặt, nếu ta nghĩ rằng chính hình thể, tức cấu
trúc của một vật làm đối tượng của từ thì lại không
có gì chung giữa hình thể của lửa và hình thể của thằng
bé. Như vậy, thật phi lý để nói về một “thằng bé-lửa”
về mặt này. Mặt khác, nếu viện lẽ đối tượng của một
từ là chủng loại của nó thì chủng loại của lửa có liên
quan gì đến chủng loại thằng bé. Chắc chắn chúng không
thuộc cùng loại. Từ phân tích như thế, ta chỉ có thể rút
ra một kết luận duy nhất, đó là, những từ như “lửa”,
“thằng bé”, v.v., phải là những mô tả, bởi vì là mô
tả thì chúng mới có thể được dùng cho những gì không
phải chúng và cho những nơi không thuộc về chúng, và vì
thế không cần phải đáp ứng bất kỳ điều kiện nào mà
phân tích dẫn trên nêu ra. Nói cách khác, đối tượng của
từ không phải là một sự vật, một hình thể, cũng không
phải chủng loại; nó không có đối tượng nào cả. Nó chỉ
là một mô tả có thể mô tả một tính chất nào đó, một
khía cạnh nào đó của đối tượng tùy theo cách nó được
sử dụng, và như thế có thể giúp nhận ra đối tượng đó.
Vậy, rõ ràng mọi từ ngữ đều là những mô tả do cách
chúng được sử dụng. Có lẽ, do lý luận này mà Vātsyāyana
và người trước ông là Patañjali đã diễn giải sự mô tả
là sự sử dụng hay cách sử dụng.
Đối
với An Huệ, trong trường hợp nào đi nữa thì từ ngữ không
biểu trưng một đối tượng, mà được dùng để ám chỉ
nó qua một số các tính chất của nó. Mô tả vì thế có
nghĩa là mô tả tính chất một đối tượng và không còn
gì khác. Vì vậy, bàn luận trên của An Huệ cho ta một khái
niệm chính xác tại sao Nyāyasūtra lại đưa định nghĩa của
nó về mô tả vào phần trình bày đối tượng của một từ
là gì, đồng thời cho thấy từ ‘mô tả’ chính xác có
nghĩa gì đối với những ai tiếp tục ủng hộ truyền thống
tư tưởng của Thế Thân. Vì lẽ đó, trong một phạm vi đáng
kể nó rất hữu ích, nhất là trong việc xác định rằng
định nghĩa của Nyāyasūtra về từ đó được chấp nhận
một cách thoải mái và được sử dụng ngay trong phạm vi
triết học của chính Thế Thân. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng
khi thuyết minh như thế về vấn đề trên, An Huệ đã không
vào được phần trọng tâm của nó. Cần chấp nhận một
sự thật là khi những diễn tả như “đứa con trai-lửa”
được dùng đến, giống như trong ngôn ngữ hàng ngày mà ai
cũng có thể hiểu được, thì ta không thể không kết luận
rằng một tên gọi chỉ là một mô tả và chỉ có thế. Nhưng
kết luận đó cũng chỉ là sự khái quát hóa có giá trị
đáng ngờ, bởi vì có thể vẫn còn một từ nào đó không
chịu sự phân tích đã được áp dụng cho những loại diễn
tả như “đứa con trai-lửa”, v.v… Và ở đây, tìm hiểu
của Bhartṛhari về vấn đề mô tả đã đưa ra những kết
quả thú vị nhất. (còn tiếp)
dịch
Việt: Đạo Sinh
[1]
Triṃśikā ad I: ātmadharmopacāro hi vividho yaḥ/ vijñānaparināme’sau
parināmaḥ sa ca tridhā//.
Cf.
Sum cu paḥi tshig leḥur byas pa, TT 5556 p 231b3-4: bdag daṅ chos
su ñer ḥdogs pa/ sna tshogs dag ni gaṅ byuṅ ba/ de ni rnam par śes
par gyur/ gyur pa de yaṅ rnam gsum ste//
Và
Duy Thức Tam Thập Luận Tụng, Taishō 1586 p 60a27-28:
由假
説 我 法 有 種 種 相 轉
彼依
識 所 變 此 能 變 唯 三 .
Như
vậy, từ thế kỷ thứ bảy trở lại đây ít nhất đã có
hai cách đọc khác nhau câu tụng thứ ba: (1) vijñānaparināmo’sau
mà chứng cứ của nó còn tìm thấy trong bản dịch Tây Tạng
“de ni rnam par śes par gyur” trong đó không thấy dùng vị
trí cách; hoặc (2) vijñānaparināme’sau, đã được dịch sát
ra Hán văn. Cũng nên lưu ý, mặc dù người ta cho rằng có
các quan điểm dị biệt giữa An Huệ và Pháp Hộ nhưng một
sự vụ thật đáng ngạc nhiên là cả hai đều đọc theo cách
sau.
[2]
Abhidharmakośa IX p 476.
[3]
Bhāvanopaniṣad 3, ed. A. Mahādeva Śastri, in The Śākta Upaniṣads,
Adyar.
[4]
Xem J. A. B. van Buitenen, The Maitrāyanīya Upaniṣad
with
the Commentary of Śrī Upaniṣad - Brahma-Yogin, Adhyar:
The
Adhyar Library, 1950: 101.
[5]
Patañjali, The Vyākaraṇa-Mahābhāṣya of Patañjali I, ed. F. Kielhorn,
Poona: The Bhandarkar Oriental research Institute, 1962 (3rd edition):
38: saṃjñāsaṃjñyasamdehaś ca// kriyamāne’pi saṃjñādhikāre
saṃjñāsaṃjñinor asamdeho vaktavyaḥ/ kuto hy etad vṛddhiśabdaḥ
saṃjñādaicag saṃjñina iti na punar ādaicaḥ saṃjñā vṛddhiśabdaḥ
saṃjñīti// yat tāvad ucyate saṃjñāraḥ kartavyaḥ saṃjñāsampratyayārtha
iti na kartavyaḥ/ ācāryācārāt saṃjñāsiddhiḥ ācāryācārāt
saṃjñāsiddhir bhaviṣyati/ kim idam ācāryācārād iti/ ācāryānām
upacārāt/ yathā laukikavaidikeṣu// tadyathā laukikeṣu vaidikeṣu
ca kṛtānteṣu/ loke tāvan mātapitarau putrasya jātasya samvṛte’vakāse
nāma kurvāte devadatto yajñadatta iti/ tayor upacārād anye’pi jānatīyam
asya saṃjñeti/ vede yājnikāḥ saṃjñāṃ kurvanti sphyo yupaś
casāla iti/ tatra bhavatām upacārād anye’pi jānantīyam asya saṃjñeti/
evam ihāpi/ ihaiva tāvat ecid vyācakṣāṇā āhaḥ/ vṛddhisabhaḥ
saṃjñādaicaḥ saṃjñina iti/ apare punaḥ sici vṛddhiḥ ity
uktvākāraikārānudāharanti/ te manyāmahe yayā pratyāyyante sā saṃjñā
ye pratīyante te saṃjñina iti//.
[6]
Nyāyasūtra II. 2. 61.
[7]
Nyāyasūtra I. 2. 10-17: vacanavighāto’rthavikalpopapatyā chalam//
tat trividhaṃ vākchalaṃ sāmānyachalam upacārachalaṃ ceti// aviśeṣābhihite’rthe
vaktur abhiprāyād arthāntarakalpanā vākchalam// sambhavato’rthasyāti-sāmānyayogād
asambhūtārthakalpanā sāmānyachalam// dharmavikalpanirdeśe’ rthasadbhāvaprtiṣedha
upacārachalam// vakchalam evopacārachalaṃ tadaviśeṣāt// na tad
arthāntarabhāvāt// aviśeṣe vā kiñcit sādharmyād ekachalaprasaṃgaḥ//.
[8]
Carakasaṃhitā, Vimānasthānam VIII. 56.
[9]
Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 12.
[10]
Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 14.
[11]
Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 15.
[12]
Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 16.
[13]
Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 64:
sahacaraṇasthānatādarthyavṛttamānadhāraṇasamīpyayogasādhanādhipatyebhyo
brahmanamañcakatarājasaktucandana gaṅgāśāṭakānnapuruṣeṣv
atadbhāve’ pi tad upacāraḥ//.
[14]
Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 64: atadbhāve’pi tad upacāra ity atacchabdasya
tena śabdenābhidhānam iti/ sahacaraṇāt yaṣṭikāṃ bhojaya iti
yaṣṭikāsahacarito brāhmano’bhidhāyata iti/ sthānāt mañcāḥ
krosantīti mañcasthāḥ puruṣā abhidhīyante/ tādarthyāt katārtheṣu
vīraṇeṣu vyūhyamāneṣu kataṃ karotīti bhavati/ vṛttād yamo
rājā kubero rājeti tadvad varttate iti/ mānād ādakena mitāḥ saktavaḥ
ādakasaktava iti/ dhāraṇāt tulāyāṃ dhṛtaṃ candanaṃ tulācandanam
iti/ sāmīpyād gaṅgāyāṃ gāvaś caratīti deśo’bhidhīyate sannikṛṣṭaḥ/
yogāt kṛṣṇena rāgena yuktaḥ sātakaḥ kṛṣṇa ity abhidhīyate/
sādhanāt annaṃ prāynāḥ iti/ ādhipatyāt ayaṃ puruṣaḥ kulam
ayaṃ gotram iti/ tatrāyaṃ sahacaraṇād yagād vā jātiśabdo vyaktau
prayujyata iti//.
[15]
Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 61-68: vyaktyākṛtijātisannidhāv upacārāt
saṃśayaḥ// yāśabdasamūhatyāgaparigraha-sankhyāvṛddhyapacayavarṇ-asamāsānubandhānā
vyaktāv upacārād vyaktiḥ// na tadanavasthānāt// sahacaranasthānatādarthya-vṛttamānadhāranasāpīpya-yogasādhānā-dhipatyebhyo
brāhmaṇamañcakatarāja-saktucandanagaṅgāśāṭakānnapuruṣeṣv
atadbhāve’pi tad upacāraḥ// ākṛtiḥ tadapekṣatvt sattvavyavasthānasiddheḥ//
vyaktyākṛtiyukte’py aprasamgāt prokṣaṇādīnāṃ mṛdgavak
jātiḥ// na ākṛtivyaktyapekṣatvāj jātyabhivyakteḥ/ vyaktyākṛtijātayas
tu padārthaḥ//.
[16]
Patañjali, The Vyākaraṇamahābhāṣya of Patañjali I, p 6: kiṃ
punar ākṛtiḥ padārtha āhosvid dravyam/ ubhayam ity āha/ kathaṃ
jñāyate/ ubhayathā hy ācāryena sūtrāni paṭhitāni/ ākṛtiṃ
padārthaṃ matvā jātyākhyāyām ekasmin bahuvacanam anyatarasyām
ity ucyate/ dravyaṃ padārthaṃ matvā sarūpānām ity ekaśeṣa ārabhyate//.
cf.
I, p 246. The Vyākaraṇamahābhāṣya of Patañjali, ed. F. Kielhorn,
Poona: The Bhandarkar Oriental Research Institute, 1956 (3rd Ed.): 255.
[17]
Nyāyasūtrabhāṣya II. 2. 61: vyaktiḥ padārthaḥ/ kasmāt yāśabdaprabhṛtīnāṃ
vyaktāv upacārāt/ upacāraḥ prayogaḥ/ yā gaus tiṣṭhati yā
gaur nisanneti nedaṃ vākyaṃ jāter abhidhāyaktam abhedāt/ bhedāt
tu dravyābhidhyāktam/ gavāṃ samūha iti bhedād dravyābhidhānaṃ
na jāter bhedāt/ vaidyāya gāṃ dadātiti dravyasya tyāgo na
jāter amūrtatvāt pratikramānukramānupapatteś ca/ parigrahaḥ svatvenābhi-sambandhaḥ/
kauṇdinyasya gaur brāhmaṇasya gaur iti dravyābhidhāne dravyabhedāt
sambandhabheda ity upapannam/ abhinnā tu jātir iti/ sankhyā iti/ vṛddhiḥ
kāraṇavato dravyasyāvayavo-pacāyo’vardhata gaur iti/ niravayavā
tu jātir iti/ etenāpacayo vyākhyātaḥ/ varṇaḥ suklā gauḥ kapilā
gaur iti dravyasya guṇayogo na sāmānyasya/ samāso gohitaṃ gosukham
iti dravyasya sukhādiyogo na jāter iti/ anubandhaḥ sarūpaprajana nasantāno
gaur gāṃ janayatīti/ tad utpattidharmakatvād dravye yuktaṃ na jātau
viparyayād iti/ dravyaṃ vyaktir iti hi nārthāntaram//.
[18]
Nyāyasūtrabhāṣya I. 2. 14.
[19]
Sthimarati, Triṃśikāvijñaptibhāṣya, ed. Lévi, ad Ic: 16-18. Cần
lưu ý rằng nỗ lực của An Huệ nhằm giản lược tất cả
các danh từ vào nhóm chỉ tính chất là để đáp lại yêu
cầu chung của quan niệm triết học của ông về tính chất
vô thường của mọi vật. Và trong việc làm này chắc hẳn
ông đã rút tỉa sức mạnh từ Patañjali, The Vyākaraṇa-Mahābhāṣya
of Patañjali I, p 246.