TRANH
LUẬN GIÁO NGHĨA
trong
Tiểu thừa Bộ phái
Edward
Conze - dịch Việt: Hạnh Viên
(tiếp
theo phần 1)
2.
Phân tích tính vô thường. (a) Vô thường và tính tạm thời.
Phần
I đã đưa ra ba định đề tạo thành ý nghĩa căn bản của
‘vô thường’, đến đây chúng ta cần khảo sát sự phát
triển xa hơn của chúng. Việc này chủ yếu là tìm hiểu cặn
kẽ thời gian tồn tại thực sự của một dữ kiện, do đó
phải phân định thật chính xác thời điểm ‘khởi và diệt’
của nó. Nhiều người đã cố gắng lượng định các dữ
liệu và đạt đến ý niệm rõ ràng hơn về thời gian tồn
tại thực sự của chúng. Như chúng ta đã biết (Ch. Pháp và
vạn pháp, ts số 12) ‘trước lúc khởi hiện nó không từng
có’, ‘sau khi đã hiện nó không còn’, và khoảng giữa
lúc khởi và diệt đó, nói cách khác, khoảng thời gian hiện
hữu đích xác của nó, nói chung được mọi người đồng
ý là cực ngắn. Tuy nhiên vẫn có ý kiến dị biệt giữa
các bộ phái, chẳng hạn Sarvāstivāda và Theravāda cho rằng
thời gian đó là vài ‘sát-na’ (kshaṇa), Sautrāntika tin là
chỉ trong một ‘sát-na’.
Theo
quan điểm Sautrāntika,[1] một sự kiện tồn tục chỉ trong
một sát-na, vừa khởi tức diệt, sau khi đã đạt thành tự
thể (ātmalābha: đắc tự thể). Sự hoại diệt này là ngẫu
nhiên (ākasmika), không cần nhân. Bởi diệt không tồn tại
(abhāva) không phải là cái cần phải được tạo tác, nên
nó không phải là quả mà cần phải có nhân. Vạn vật tự
diệt, đơn giản vì đó là bản chất của chúng.
Song
Sarvāstivada và Theravāda lại cho rằng một pháp tồn tại trong
ba, bốn sát-na, hay thậm chí nhiều hơn. Với các pháp thuộc
tâm, Theravāda xác định thời hiện tại chính xác là thời
gian bao gồm ba sát-na khởi, trụ, và hoại diệt.[2] Còn theo
Hữu bộ, mỗi pháp hữu vi đơn biệt phải trải qua bốn sát-na
hay kỳ, (1) sinh, (2) trụ, (3) suy lão, và (4) vô thường (anityatā,
vināśa, vô thường, hoại diệt). Chúng được xem là bốn
yếu tố thực hữu và có tác dụng (tức các hành ṣamskāras)
chi phối mọi pháp hữu vi. Ví dụ, khi giai đoạn ‘trụ’
bắt đầu, tự nó sẽ tiếp diễn không xác định, liên tục
cho đến khi một lực mới, ‘suy lão’, sẽ lập tức xuất
hiện, làm tiêu hao lực ‘trụ’, và chuyển một pháp sang
lực cuối cùng khiến nó biến mất, hay đúng hơn là nó không
còn tác dụng. Có thể là những nhà Nam phuơng Thượng tọa
bộ (Theravāda) cổ xưa ở Tích lan đã bảo tồn một truyền
thống cổ khi luận sắc pháp khác với tâm pháp. Đối với
Hữu bộ, sắc pháp không những trải qua bốn kỳ như mọi
pháp khác, mà hơn thế[3] một sắc pháp còn tồn tại lâu
hơn một tâm pháp. Người ta cho rằng nó tồn tại trong mười
bảy sát-na, gồm nửa sát-na cho sinh khởi, mười sáu sát-na
trụ, và nửa sát-na hoại diệt.
Nếu
việc quán tưởng ‘sự khởi và diệt của các pháp’, vốn
là một trong những nền tảng thiền định Phật giáo, tùy
vào khả năng nắm bắt thực tế sự biến chuyển trong từng
sát-na, nó sẽ nằm ngoài tầm tay của hầu hết mọi người.
Để tâm trí quen thuộc với đề tài vô thường, nên[4] xét
đến các đơn vị rộng lớn hơn với thời gian tồn tại
dài lâu hơn. (1) Pháp có thể được xem là bắt đầu với
sự thụ thai và chấm dứt với cái chết; ‘thời khoảng
hiện tại’ như vậy là bao trùm cả đời người. Trong thực
tế điều này nhắm đến quán tưởng về sự chết.[5] (2)
Một pháp có thể được xem là một tiến trình liên tục
được thiết lập bởi một yếu tố đồng loại. (3) Có thể
xem hiện tại là cái đang diễn tiến trong một thời khoảng
cụ thể, dụ như nửa giờ, một giờ v.v., thời lượng được
chọn tùy ý.
Nhưng
vẫn còn câu hỏi: sát-na được cảm nghiệm như thế nào?
Đó là những đơn vị có thể quan sát được của thời gian
tri giác, hay những đơn vị có thể xác định bằng trí năng
của thời gian khái niệm, hay là những đơn vị được trực
nghiệm trước khi tri giác và khái niệm có công dụng? Câu
trả lời không hoàn toàn minh bạch như chúng ta mong đợi,
và chúng ta hoặc đã hiểu không đúng giáo nghĩa, hoặc đòi
hỏi độ chính xác cao hơn điều các Phật giáo đồ cần
đưa ra.
Trong
thời gian thuộc tri giác, các điều kiện cho sự tri giác phân
chia thời gian thành các phần đoạn, và thời ‘hiện tại
giả hữu’ – đơn vị nhỏ nhất ta có thể nắm bắt –
có lẽ bao gồm nhiều sát-na. Ngay cả khi tập trung quan sát
ta cũng không thể khám phá các sự kiện vừa hiện tức diệt.
Tuy nhiên các sát-na không phải là không liên quan đến thời
gian của đồng hồ, và các Phật giáo đồ đã cố gắng lượng
định trường độ của nó, dù với nhiều kết quả khác
nhau.[6] Một số lượng định này khá trùng hợp với thời
khoảng tối thiểu của các xung động của chu kỳ tâm thức
được đo đạc bởi tâm lý học hiện đại.[7] Tuy thế, rất
có thể không có sự thử nghiệm và quan sát nào dẫn đến
thành công, vì các sát-na tâm tồn tại cực ngắn. “Này các
tỳ-kheo, ta không thấy bất kỳ một pháp nào biến đổi nhanh
như tâm này.” Nếu lời này được kết hợp với kiến thức
ngày nay của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ không cố đo
lường một sát-na tâm. Bởi vì, nếu ánh sáng di chuyển với
tốc độ 186.000 dặm trong một giây, và nếu trong một giây
các điện tử xoay quanh các hạt nhân 1.000.000.000.000.000 lần,
thì sự di chuyển của tâm hẳn phải nhanh đến mức nào!
Người ta nói,[8] không có tỉ dụ nào có thể mô tả độ
cực ngắn của một sát-na tâm.
Trong
chừng mực nhất định, sát-na là một cấu trúc thuộc khái
niệm, nghĩa là một thời gian tồn tục vi tế, sự tồn tục
ngay trên điểm biến diệt của nó (tức sinh tức diệt). Nhiều
cố gắng thử tìm một tiêu chuẩn để phân biệt hiện tại
với quá khứ và vị lai.[9] Vasubandhu (Thế Thân) chấp nhận
giải pháp của Vasumitra (Thế Hữu), theo đó việc phân biệt
ba thời phải do quan hệ tác dụng (kāritra) của một pháp.
Nếu dụng chưa xảy ra, đó là vị lai; khi dụng đang hoạt
dụng, là hiện tại; quá khứ là khi dụng đã hoàn tất.
Các
pháp sát na diệt, tuy thế, không chỉ do suy luận, mà ‘được
thức giác’ trực tiếp trên cấp độ xúc giác (xúc) có trước
cả tri giác (thọ) và khái niệm (tưởng). Trên cấp độ này,
thế giới của các sự vật - của những cái tồn tại như
là tự tính của chúng, nghĩa là như những tia chớp năng lượng
trong khoảng sát-na, mỗi vật đơn nhất tồn tại cá biệt
trong tự thể của nó không liên hệ đến cái khác; thế giới
ấy ghi dấu lên tâm, rồi biến mất ngay tức khắc do sự
gán ghép của phân biệt vọng tưởng – những cấu trúc tư
tưởng tùy tiện và vọng tưởng. Chuỗi thời điểm sát-na
bất khả phân được hiển lộ ở đây là cái duy nhất trong
toàn vũ trụ không phải là một cấu trúc tưởng tượng,
nhưng nó lại là sở y hiện thực cho toàn bộ quan điểm sai
lầm của chúng ta về vũ trụ. Các dữ liệu trực kiến này
là không thể diễn thành lời; nói về chúng, chúng ta chỉ
có thể nói là ‘cái này’ hay ‘bây giờ’, và không có
ảnh tượng tri giác hay khái niệm nào có thể tương ứng
với chúng.[10]
Nếu
sự hữu của một vật trùng hợp với hiện tại nghiêm xác
của nó, thế giới này gần như là hư vô, vì thời hiện
tại là một thời điểm hầu như không có tồn tục. Một
pháp vừa hiện hữu là tức thì diệt. Vì là sự chuyển tiếp
liên tục giữa quá khứ vừa qua ngay và tương lai tức khắc,
nó sẽ là cái không chi nằm giữa hai cái không chi. ‘Trong
khoảnh khắc tiếp theo, không còn lại một chút gì cái đã
từng hiện hữu trong khoảnh khắc trước đó. Mọi khoảnh
khắc, tức mọi vật tạm thời đều biến diệt ngay khi xuất
hiện, vì nó không tồn tại trong khoảnh khắc tiếp theo.*
Trong ý nghĩa này, vạn vật biểu hiện sự hủy diệt chính
nó.[11]
2b.
Những thay đổi trong thuyết sát-na diệt
Lý
thuyết về sát-na diệt của mọi pháp hữu vi khá dễ hiểu
và dễ tán thành. Còn một điểm nữa không bị bối rối
bởi các nội hàm của nó. Đó là loại học thuyết hấp dẫn,
nhưng không thể bổ dưỡng lâu dài, vì chủ đề nói rằng
thế gian này bao gồm các pháp biệt lập và phân tán chúng
chỉ tồn tại trong khoảng khắc thoáng qua rồi biến mất
không còn gì, chủ đề ấy quả thực phủ nhận thế giới
như chúng ta nhận thức. Nó mang tính phá hủy không chỉ đối
với tục thức mà đối với cả thực hành trong đời sống
tâm linh. “Tục thức" có thể được bỏ qua như là sự mê
hoặc của phàm phu ngu muội không biết điều gì khá hơn.
Nhưng điều làm các luận sư lo lắng là chủ thuyết về tính
biến diệt phổ quát này tiêu mòn mọi tiền đề làm nền
tảng cho việc tu tập giải thoát. Khi đã trình bày tính tạm
thời và sát-na diệt của vạn pháp bằng công thức cực đoan
không nhân nhượng, Thượng tọa bộ (Sthaviras) phải đưa ra
các khái niệm mới để giải trừ tác hại họ đã gây ra.
Các khó khăn chủ yếu liên quan tới các điểm sau đây:[12]
1.
Đầu tiên bị đe dọa là học thuyết về nghiệp và dị thục.
Làm thế nào một pháp có thể tác thành hậu quả khi nó đã
hoàn toàn biến mất? Một ý nghĩ bất thiện vào lúc này sẽ
phải trả giá, cứ cho là, vào hai mươi năm sau. Nếu nó đã
diệt ngay khi khởi, nó dẫn đến hậu quả bằng cách nào
khi nó không còn đó nữa? Cái cầu nối qua khoảng thời gian
phân cách nghiệp và dị thục đó là gì?
2.
Hơn nữa, các bậc thánh đều được công nhận là có một
số sở đắc và thành tựu tồn tại trong ý nghĩa không biến
mất ngay khi thời khắc hiện tại trôi qua. Một vị Dự lưu
không bao giờ phải tái sinh trong ác đạo, như vậy là ngài
đã đạt được một phẩm tính mà ngài sẽ sở hữu mãi
mãi. Vị La-hán, theo một số quan niệm, không bao giờ thoái
thất, và sự chứng đắc Niết bàn là cứu cánh và quyết
định, không bao giờ có thể mất. Trạng thái ly dục của
Niết bàn có nghĩa là các pháp bất thiện một khi đã bị
đoạn trừ, đã được loại bỏ, vĩnh viễn không tái sinh
khởi trong tương lai. Làm sao một pháp vi tế sát na có thể
chuyển tải trọng lượng của những hậu quả xa vời và
dài lâu như vậy?
3.
Thứ ba, người ta thường nói đến các trạng thái tâm lý
chúng hình như tồn tại lâu hơn một sát-na, và xem ra có chiều
hướng tồn tại tương đối lâu dài, chẳng hạn như ‘gốc
rễ’ của những hành vi thiện và bất thiện, các ‘chủng
tử’ của những việc làm thiện và ác, hay các phiền não
tiềm phục, các xu hướng tiềm tàng (anuśaya, tùy miên). Cho
dù khi không nhận ra ngay trong thực tế, một vị thánh có
năng lực tùy ý thể nghiệm một chứng đắc nào đó, và
như vậy là sở hữu nó một cách tiềm tàng. Sự kiện một
trạng thái tâm được hoàn toàn xả bỏ hay hoàn toàn xác
lập, sự kiện ấy xảy ra bên ngoài chuổi sát na tương tục,
cũng vậy sự sở hữu thường trực hay sở hữu tiềm tàng
một thiện tâm. Nguời ta cũng nói về một người được
định tính (niyata) cho một điều kiện nào đó trong tương
lai, và khẳng định chắc chắn y sẽ đạt được. Chẳng
hạn, hạng người được nói là có ‘định tính Niết bàn’,
hay có định tính hướng đến giải thoát (samyaktva, chánh
định tụ) hoặc đọa lạc (mithyātva, tà định tụ). Như
vậy có vẻ như không chỉ các hiện hành mà những gì tiềm
ẩn cũng cần được thừa nhận là thực hữu. Người ta không
chỉ làm mà còn có ‘năng lực’ để làm hay không làm. Một
người có thể viện đến những năng lực như thế, cũng
giống như như một nguời được nói là ‘biết’ tiếng
Pháp, dù không có từ tiếng Pháp nào diễn ra trong thời khắc
hiện tại của ý thức. Rất khó duy trì quan niệm cho rằng
một người vào bất kỳ thời điểm cho sẵn nào cần được
đồng nhất với chính một pháp có trong y từ lúc này sang
lúc khác. Hơn nữa y là một ‘loại nguời’ nhất định
nào đó, hoặc ‘phàm phu’ hoặc ‘thánh nhân’.
Cũng
như sự khẳng định giáo điều về tính phi hữu của một
tự ngã phải đuợc bổ trợ bằng nhiều ‘giả ngã’ khác
nhau, sự khẳng định giáo điều về tính sát-na diệt chỉ
có thể tin đuợc bằng việc đưa ra một số giả thường
trú. Có ba học thuyết mà nguồn gốc phát xuất từ mong muốn
vô hiệu các nội hàm của thuyết sát-na diệt vốn đe dọa
tính chất đắc quả của đời sống tâm linh. Đó là (1) ‘Phiếm
thực luận’ (Nhất thiết hữu) của Hữu bộ, (2) thuyết
‘đắc’ và ‘phi đắc’ của họ, và (3) thuyết về chủng
tử (bīja), tập khí (vāsanā) của Kinh lượng bộ (Sautrāntika)
và các khái niệm cùng loại.
1.
Theo Hữu bộ, các pháp có thể được quan niệm như là những
hiện tượng xét về mặt hiện thực (pháp tướng), hoặc
như là thực thể trên mặt lý tưởng (pháp tánh). Chúng chỉ
hiển hiện trong thời phần chúng có tác dụng, nhưng tự bản
chất (in essentia) chúng còn tồn tại trước và sau đó.[13]
Một pháp, trong tự tính của nó, luôn luôn tồn tại, nghĩa
là trong mọi thời, và nó hình như du hành xuyên suốt cả
ba thời. Thuyết này y cứ trên truyền thuyết cổ cho rằng
một pháp là cái tồn tại lâu dài và vô hạn, chứ không
chỉ là một xung động yếu ớt của tác dụng, ngắn hơn
một hơi thở. Hữu bộ còn cố bám chặt truyền thống của
các Brahmanas ‘coi mọi nhân tố cấu thành cá thể như sự
tham dự vào một cái gì siêu nghiệm’.[14] Họ đưa ra bốn
lý do:[15] (1) đức Phật đã dạy điều này một cách rõ ràng.[16]
(2) Thức phát sinh từ sự tiếp xúc giữa tâm và đối tuợng
của nó (cảnh). Nếu các pháp quá khứ và vị lai không thực
hữu, chúng không thể dẫn khởi ý-thức vốn lấy chúng làm
đối tượng. (3) Không có đối tượng thức không thể phát
sinh, và mọi nhận thức của chúng ta sẽ chỉ giới hạn trong
hiện tại. (4) Nếu quá khứ không tồn tại, làm thế nào
một hành vi thiện hay ác kết thành quả trong tương lai? Bởi
vào lúc quả được tạo thì nhân của quả báo đã là quá
khứ.
‘Phiếm
thực luận’ này thuyết giảng rằng ‘sự hiện khởi các
pháp không phải là thật khởi và thật diệt, mà là sự lang
thang của các thực thể hằng hữu từ phần vị thời gian
này đến phần vị khác. Các thực thể có vẻ như mới phát
sinh, thực ra chúng lưu chuyển từ vị lai vào hiện tại và,
khi hoại diệt, chúng được chuyển vào quá khứ. Trong dòng
tương tục cá thể cũng vậy các sự kiện không sinh và diệt;
chuỗi tương tục đó là một dòng chảy từ vị lai vào quá
khứ. Giải thoát có nghĩa là dòng tương tục đó bị cắt
đứt và không còn tiếp diễn. Nó vĩnh viễn trôi vào quá
khứ. Không phải nó bị hư vô hóa, mà là đi đến chỗ ngưng
nghỉ.’[17]
2.
Hữu bộ còn cố gắng thêm nữa dẹp tan các trở ngại bằng
việc thừa nhận phạm trù ‘sở thuộc’ mà truyền thống
đã bác bỏ như là không tưởng, dưới hình thức mới cải
biến bằng tên gọi ‘đắc’ (prāpti).[18] Để cho pháp nào
cũng có thể xen vào dòng tương tục các pháp, hay ‘dòng tương
tục cá thể’ (santāna, một nhã ngữ thay cho từ ‘cá thể’),
người ta phải giả định một pháp biệt lập được gọi
là ‘đắc’ khác với ‘phi đắc’. ‘Đắc’ trong quy lệ
này là một thật vật (dravya-dharma, thực pháp), một thực
thể rốt ráo thực hữu, một tác nhân nhân quả xác định,
chứ không phải, như trong các trường phái khác, chỉ là một
pháp giả hữu (prajñapti-dharma).
Prāpti
được định nghĩa là ‘(1) sự thủ đắc cái mà trước
đó chưa có được (prāpta), hay có nhưng đã bị mất; (2)
sự sở hữu cái đã có mà chưa bị mất. Phản nghĩa của
nó là a-prāpti.’[19] Đắc và phi đắc áp dụng cho các pháp
hữu vi lẫn vô vi. Một người ‘đắc’ hay không ‘đắc’
các phiền não, hành vi, v.v., quá khứ, hiện tại hay vị lai.
Các pháp mà một người ‘đắc’ là những ‘cái đã rơi
vào dòng tương tục riêng của người đó’ (sva-santāna-papita),
khác với các pháp trong dòng tương tục của một cá nhân
khác, hay các pháp không thuộc về bất cứ chúng sanh nào.
Đắc hay chứng Niết bàn, một pháp vô vi,* phải được hiểu
theo nghĩa, bằng Thánh đạo, hành giả đắc quả ly hệ, bứt
ra khỏi những hệ phược của các pháp hữu lậu, hay đình
chỉ chúng. Khi một người ‘đạt được’ giải thoát, khi
người đó ‘an trụ’, ‘thành tựu’, hay ‘chứng ngộ’
bồ-đề hay Niết-bàn, Niết bàn trong một ý nghĩa nhất định
được gắn kết thường trực với dòng tương tục này, ít
nhất cho tới khi dòng tương tục hoàn toàn đình chỉ. Không
những có sự sinh khởi của Niết bàn mà còn có sở đắc
nó (tức sự sinh khởi được tái diễn nhờ đó mà một người
trở thành người tự tại chứng đạt), và cuối cùng là
đắc, hay sự sản sinh thường trực, của các thiện pháp
làm thành phần của Niết bàn. Cố gắng diễn đạt nó một
cách phi ngã[20] tức là nói rằng một người sở đắc sự
đình chỉ, diệt hay Niết bàn vào ngay giây phút đắc (prāpti)
của các pháp nhiễm ô bị cắt đứt, tức giây phút người
đó không còn bị chúng sở hữu.
Với
hạng từ ‘đắc’ một số tập hợp thường trực hơn giữa
các pháp và dòng tương tục cá nhân có thể được phát biểu
lại. Chẳng hạn ta có thể nói các pháp hữu lậu hoàn toàn
và rốt ráo bị đoạn trừ bởi sự nhận thức các thánh
đế (thánh đế trí), khi sự ‘đắc’ của chúng bị cắt
đứt bằng nhận thức đó, các điều kiện cần thiết cho
chúng sinh khởi hoàn toàn bị khuyết.[21] Tương tự, phẩm
tính phàm phu (dị sinh tính) chính là ‘phi đắc’ đối với
các thánh (ārya) pháp; mà phi đắc là một pháp hoạt dụng
như một lực ngăn cản sự sở đắc các thánh pháp. Nếu
duy chỉ các pháp sát na hiện tại là thực hữu, sẽ không
có sự khác nhau giữa phàm phu và một vị thánh khi vị này
khởi thế tục tâm. Tuy nhiên trong thực tế có sự khác biệt,
vì vị thánh dù khi khởi thế tục tâm, vẫn còn sở đắc
một số pháp vô lậu.[22]
Thật
khó đạt đến quyết định rõ ràng về giá trị triết học
của giải pháp khéo léo cho hàng loạt nan đề của lý thuyết
về pháp này. Sự hạn cuộc thực tại vào các pháp sát na
diệt có xu hướng cực vi hóa kinh nghiệm và tước mất sở
y của các đơn vị thường hằng. Hữu bộ đã bổ cứu bằng
cách đưa vào danh sách các pháp của họ một pháp đặc biệt
không có chức năng gì ngoài tác dụng như một chất keo gắn
kết các pháp lại với nhau thành các phần tử ít nhiều thường
tồn. Nhược điểm của giải pháp này rất hiển nhiên đến
mức các trường phái khác xem đó chỉ là một cách lãng tránh
vấn đề bằng ngôn tự, và đã khiêu khích Đại thừa có
phản ứng mạnh mẽ bác bỏ “đắc” cho là hoàn toàn vô
dụng và bất thực, mà họ ngờ nó chỉ là một hình thức
khác của ngã chấp và ngã kiến. Hạng từ prāpti rõ ràng
trôi dạt đến rất gần khái niệm về một ‘nhân xưng’
hay ‘tự ngã’. ‘Đắc’ là mối quan hệ kết hợp các
yếu tố của một dòng chảy của tư duy lại với nhau, hay
buộc một pháp vào một ‘dòng chảy của thức’, vốn chính
là thuật ngữ lập lờ che dấu một ‘nhân xưng’ ẩn bên
dưới nó. Tương tự, ‘phi đắc’ là mối quan hệ tách khỏi
dòng chảy hiện hành, và cùng lúc tách khỏi ‘nhân xưng’
đằng sau nó. ‘Đắc’ tất hàm ngụ một sở y hơn là một
trạng thái chốc lát từ thời phần này sang thời phần khác,
và trên thực tế nó là một loại nhân cách kéo dài, tức
dòng tương tục tự đồng nhất với nó, trong một đồng
nhất tính cá thể, mà ở đây được diễn giải là ‘tính
tương tục’.
3.
Thuyết về prāpti như vậy đã chứng tỏ là một ngõ cụt.
Kinh bộ cố gắng loại trừ các hệ quả không mong muốn của
lý thuyết về pháp bằng cách đưa thêm các khái niệm phụ
trợ về ‘chủng tử’, sự ‘huân tập’ và ‘chủng tánh’.
Các khái niệm này tỏ ra dễ chấp nhận hơn, và đã ảnh
hưởng nhiều trong tư tưởng Phật giáo sau này. Tuy nhiên trước
khi chuyển sang giải pháp của Kinh bộ, chúng ta cần nhấn
mạnh rằng, về ý hướng nó hoàn toàn khác với Hữu bộ.
Các nhà Hữu bộ cố gắng giải thích những gì thực sự
diễn ra trong thế giới pháp, trong khi Kinh bộ chỉ đề xuất
những điều mà ngày nay chúng ta gọi là ‘giả thuyết’.
Các thuyết Hữu bộ đòi hỏi được kiểm nghiệm bằng thiền
quán sâu nhắm vào sự tiếp xúc với thực tại, và khi được
phô diễn nó dẫn đến, như chúng ta đã thấy, các giải thích
quanh quẫn vụng về. Các thuyết của Kinh bộ, ngược lại,
được đưa ra chỉ là những mô tả tạm thời cho phép chúng
ta vận dụng ngôn ngữ một cách giản ước để giải thích
các pháp theo ngoại hiện của chúng. Các khái niệm mà họ
sử dụng là những giả thi thiết (prajñapti) rất hiệu quả
không liên quan tới thực tại tối hậu, không nên hiểu một
cách cứng nhắc, và chúng thuộc về môi trường thảo luận
hơn là thiền quán.
Mục
đích của ‘lý thuyết “chủng tử” là nhằm điều hòa
bản chất lưu tồn của santati (dòng tương tục) với tính
sát na diệt của các pháp’.[23] Kinh bộ không thừa nhận
rằng[24] khi phiền não được đoạn trừ hay chưa được đoạn
trừ thì prāpti của phiền não đó xuất hiện hay biến mất.
Họ giải thích lý do phủ bác này bằng một ‘nền tảng
y cứ (sở y)’[25] vững chắc. ‘Nơi các Thánh (Aryas), bằng
sức mạnh của Thánh đạo, sở y được biến đổi và trở
thành khác với nó trước kia. Khi đã bị đoạn trừ bởi
năng lực của Thánh đạo, phiền não không thể hiện hành
được nữa. Cũng như hạt giống, bị lửa đốt cháy, trở
thành cái gì khác với nó trước đó, không còn khả năng
nảy mầm, cũng vậy nói rằng Thánh giả (Arya) đã đoạn trừ
phiền não vì sở y của ngài không còn tích chứa các chủng
tử (bīja) có khả năng nảy sinh phiền não.’ Mặt khác, sở
y được nói là chưa đoạn phiền não nếu chủng tử phiền
não chưa bị đốt cháy hay hư hoại. Còn đối với ‘đắc’
của các thiện pháp, chúng hoặc do bẩm sinh (sinh đắc) hoặc
do nỗ lực đạt thành (gia hành đắc). Trong trường hợp đầu,
các chủng tử thiện căn trong thân sở y được thành tựu
mà không bị chướng ngại; trường hợp sau, các thiện pháp
đã phát sinh trong thân sở y, chúng có công năng tái sinh mà
không có gì trở ngại.
‘Đắc’
do đó không phải là một pháp biệt lập, mà là một ‘phần
vị’ (avasthā) có khả năng sinh ra một tác dụng nào đó.
Một ‘chủng tử’ được định nghĩa là một cơ quan tâm-vật
lý (danh-sắc), hay phức hợp của năm uẩn, chừng nào nó còn
khả năng sinh ra kết quả, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp,
bằng vào quá trình chuyển biến khi đạt đến cực điểm
(pariṇāma-viśeṣa: sai biệt chuyển biến) của dòng tương
tục tâm. Sự ‘chuyển biến’ ở đây là sự biến thái
(anyathātva) của dòng tương tục đó, theo đó, ngay khi sát-na
vừa sinh khởi nó liền đổi khác. ‘Cực điểm (sai biệt)’
của quá trình chuyển biến là ngay sát na mà chuổi tương
tục có khả năng sản sanh kết quả.[26]
Giả
thuyết này cũng giải thích các anuśayas (tùy miên), vốn là
các ‘chủng tử bất thiện’. Từ ngữ này có nghĩa là ‘một
thiên hướng, xu hướng, trạng thái kiên trì của tâm đang
tiềm phục dẫn đến mọi tư tâm sở bất thiện’.[27] ‘Hình
thái chủng tử này đơn giản là một công năng tiềm ẩn
của tâm sản sinh một phiền não (mới) mà gốc của nó xuất
sinh từ một phiền não trong quá khứ. Có thể so sánh nó với
năng lực tiềm ẩn làm nảy sinh của cây lúa tìm thấy trong
mầm non vốn cũng được nảy sinh từ hạt lúa.’[28] Các
nhà Hữu bộ chính thống kịch liệt phản đối thuyết ‘chủng
tử’, và phản biện chính của họ là một ‘chủng tử’
không thể đồng nhất cũng không thể dị biệt với tâm.
Kinh bộ vẫn không nao núng, cho rằng một ‘chủng tử’ quả
thật không đồng nhất với tâm, cũng không dị biệt tâm,
vì lý do đơn giản: nó không phải là một thực tại biệt
lập, mà chỉ là một pháp giả danh.[29]
Bên
trên dòng chảy của tâm trôi chảy từ sát-na này sang sát-na
khác, Kinh bộ còn đưa ra thuật ngữ āśraya (sở y), một nhã
ngữ nữa thay từ ‘nhân xưng’ mà trong từ này họ cho cắm
neo mọi tiềm năng của dòng tương tục này. ‘Sở y’ là
cơ quan tâm-vật lý, hay thân có căn, và là điểm tựa của
tâm và các tâm sở.[30] Cơ quan phức hợp này thuộc một phẩm
vị sai biệt, tức ở trong một trạng thái đặc thù[31], khiến
cho một số đường hướng phát triển được mở rộng, một
số khác thì khép kín. ‘Phẩm vị’ này giải thích căn cơ
thích hợp hay định hướng tu tập của một người.
Trên
cơ sở giả định này, dễ dàng cắt nghĩa bằng cách nào
một hành vi (nghiệp), dù đã quá khứ, có thể tạo thành
kết quả (dị thục) sau đó. ‘Một tư tâm sở huân tập
dòng tương tục của tâm và tạo ra cho nó một công năng.
Chính qua cực điểm của quá trình chuyển biến của công
năng này mà sau đó một kết quả xác định sẽ phát sinh.’[32]
Mặc dù hành vi (nghiệp) sát-na diệt, nhưng dòng tương tục
tâm, được ‘huân tập’ bởi hành vi (nghiệp) này, vẫn
có thể, qua quá trình chuyển biến đặc biệt của công năng
của nó, sản sanh quả tốt hay xấu. Điều này cũng giống
như một hạt giống, trải qua nhiều giai đoạn trung gian, sinh
ra một quả từ chính nó. Lý thuyết này của Kinh bộ được
Đại chúng bộ (Mahāsanghika) và Hóa địa bộ (Mahiśāsaka)[33]
chia sẻ trong chừng mực nhất định. Nó rất gần thuyết
của Chánh lượng bộ (Sammitīya), nói một hành vi tạo nghiệp
tạo ra một ‘tín vật bồi hoàn’ (avipraṇāśa: bất thất),
nghĩa là chứng khoán một món nợ để đến lúc đáo hạn
thì phải trả,[34] hay chính xác hơn, nó ký thác trong dòng
tương tục tâm một pháp đặc biệt, tự hữu, mà một số
gọi là ‘bất thất’ (avipraṇāśa), số khác gọi là ‘tích
lũy’ (upaccaya: tích tập hay tăng trưởng), và chính nhờ pháp
này mà quả trong vị lai được thể hiện.[35] Kinh bộ không
đồng ý với cách trình bày thuần ngữ nghĩa về sự chuyển
tiếp này bằng việc nhấn mạnh thí dụ về một phát triển
hữu cơ, mà chắc chắn là khá thích hợp. Về khía cạnh này,
họ chỉ khai triển những ẩn ý đã có sẵn trong khế Kinh
chứ không hề là những nhà canh tân triệt để.[36]
‘Huân
tập’ (vāsanā) trong ngôn ngữ thông thường có nghĩa là góp,
tụ lại một mùi hương. Trong thuật ngữ nó hàm nghĩa một
khuynh hướng, một ‘khả năng tự nhiên’,[37] hiệu quả
tồn đọng của một trải nghiệm trong quá khứ ‘xông ướp’
hay ‘thẩm thấu’ chuổi tương tục, ảnh hưởng của một
kinh nghiệm cũ nay đã thành thói quen, một cách sống hay nếp
suy nghĩ quen thuộc.[38] Hoặc cũng có thể nói đó là ‘vết
tích’ lưu lại của một ý chí, trở nên chín muồi rồi
một ngày nào đó phát sinh hiệu quả.
Cuối
cùng, một thuật ngữ nữa cần đề cập. ‘Chủng tánh’
(gotra) là từ đồng nghĩa với ‘chủng tử’, ‘năng tính
(sāmarthya) của tâm’, và ‘nguyên nhân xa’ (hetu).[39] Trong
mức độ nhất định, nó chỉ cho cái mà ta gọi là ‘tầng
lớp, giai cấp’. Những người thuộc tầng lớp thấp thì
có tâm cấp thấp, những người tầng lớp cao thì có tâm
cao, và trong cả hai trường hợp những tâm này đều là cái
hình thành tập quán, vì chúng ‘xông ướp dòng tương tục’.[40]
Nơi một hành giả, ý tưởng về một ‘phụ nữ’ liền
dẫn theo ý tuởng ghê tởm thân xác của nàng, trong khi người
thế tục lập tức nghĩ đến chồng hay con nàng, vì họ chính
là mẫu người đó. Ứng dụng cá biệt hơn, gotra xác định
ý nghĩa ‘gia tộc’, hay ‘nhóm’ mà một vị thánh thuộc
về, tùy thuộc vào phẩm chất các thiện căn của ngài, sự
nhạy bén của căn tính,[41] cũng như phương pháp tu tập, vị
ấy là Thanh văn, Duyên giác hay Phật. Trong Đại thừa gotra
bấy giờ được đồng nhất với ‘Pháp giới, là căn nguyên
và sở y cho các pháp của Phật, là yếu tánh chân thật của
Bồ tát’.[42]
3.
Khái niệm về tính nhân quả. (a) phạm vi các duyên
Ngoại
trừ Niết bàn, có thể luôn cả hư không, hết thảy các pháp
đều là hữu vi (saṃskṛita), nghĩa là ‘được tạo thành
bởi sự kết hợp và tương hợp của các điều kiện (duyên)’.[43]
Điều này xem ra khó bác bỏ, nhưng khó khăn sẽ đến khi chúng
ta thực sự thử quán sát bản chất duyên sinh của vạn vật
quanh ta, không phải lập tức ta biết nên tiên hành như thế
nào. Tuy thế kiến giải về các duyên được coi là công cụ
đáng giá giúp ta thoát khỏi sự chấp trước vào thế gian,
và hình thành một phần quan trọng trong tu tập thiền quán
của Tăng già.
Nghiên
cứu về duyên, trên thực tế, là điều quan trọng chủ yếu.
Một cách tinh tế, nó dần dà làm ta mất tin tưởng vào tính
ổn định và hiệu lực tuyệt đối của những phân biệt
do giác quan về các sự vật xung quanh ta. Tin rằng sự lành
mạnh của tâm tùy thuộc khả năng nó tiếp xúc với thực
tại hiện hành nằm sau các dữ liệu kinh nghiệm, các Phật
giáo đồ tìm hiểu xem một vật tự nó là gì, hay nói cách
khác, họ cố gắng tìm kiếm tự tánh (svabhāva) của nó. Việc
đó khó khăn hơn nhiều mà thoạt mới nhìn tưởng là dễ.
Một vật không bao giờ được tìm thấy đơn độc, mà phải
luôn luôn cùng với những vật ‘đứng quanh nó’ và tạo
thành ‘hoàn cảnh’ của nó. Khi chúng ta cố tìm hiểu một
vật kết thúc ở đâu và ‘hoàn cảnh’, hay các duyên của
nó, bắt đầu từ đâu, chúng ta không còn biết mình đang
đứng ở đâu.
Trước
hết, ta hãy khảo sát các điều kiện cho sự trình hiện một
đối tượng. Nếu bạn tiếp nhận bất cứ gì bạn nhìn thấy,
một đối tượng thị giác nào đó, như một bông hồng, lọ
hoa, hay một mẩu giấy, khi đó đối tượng thị giác không
bao giờ được tiếp nhận đơn độc, mà lúc nào cũng được
cắm vào vô số vật bên ngoài nó. Nó luôn luôn được nhìn
thấy trên một bối cảnh, và ngoại hiện của nó thay đổi
theo môi trường xuất hiện. Tính độc đáo của tâm lý học
hình thái (Gestalt psychology) đã đưa ra nhiều minh họa về
sự biến thể gần như hoàn toàn mà hình dáng biểu kiến
của một đối tượng trải qua khi bối cảnh thay đổi. Thêm
nữa, ngoại hiện còn tùy thuộc ánh sáng nơi một vật được
thấy, và nó thay đổi theo màu sắc cũng như cường độ của
ánh sáng. Bông hồng sẽ hoàn toàn khác hẳn dưới ánh sáng
đèn hay ánh sáng tự nhiên ngoài trời, hoặc trước màu xanh
hay màu đỏ, và thật khó quyết định loại ánh sáng nào
thể hiện bông hồng ấy trung thực. Cũng vậy, trong bóng tối
hoàn toàn ta không thể nói bông hồng ấy như thế nào, vì
phải có ánh sáng ở cường độ nhất định nào đó thì
bông hồng mới xuất hiện như một đối tượng thị giác.
Lại nữa, bông hồng ấy có vẻ như thế nào đối với chúng
ta còn vì cấu trúc của hệ thống cơ quan thị giác của chúng
ta, tức con mắt, hệ thần kinh thị giác, và những kết nối
não bộ của nó. Nếu chúng ta có con mắt theo cấu trúc nhiều
cạnh như mắt loài ong, hay nếu thần kinh thị giác biến đổi
các kích thích võng mạc ở trong não khác với hiện tại,
thì toàn bộ hình ảnh sẽ thay đổi. Và khi chúng ta tự hỏi
tính hiện thực của các đối tượng trước mắt được
phản ảnh chính xác hơn với con mắt hình thấu kính hay con
mắt nhiều cạnh hay không, chắc chắn ta không thể trả lời
chính xác.
Sự
khảo sát các duyên mà tùy theo đó một dữ liệu kinh nghiệm
được trình hiện cho thức từng chiếm vị trí trọng vọng
trong truyền thống thiền quán Phật giáo. Như chúng ta đã
đọc trong kinh Sālistamba:[44] ‘Thức con mắt phát sinh tùy
thuộc (ít nhất) năm yếu tố. (1) Phải có con mắt để y
cứ bên trong, (2) một đối tượng thị giác làm y cứ bên
ngoài, (3) ánh sáng để soi tỏ đối tượng, hay làm cho nó
khả kiến, (4) trường thị giác không bị ngăn ngại giữa
con mắt và đối tượng, và (5) sự tác ý thích hợp hướng
quá trình tâm thức đến vị trí đó. Khi bất cứ nhân tố
nào trên đây bị thiếu, hay bị mất tác dụng bởi các điều
kiện khác, nhãn thức không thể phát sinh. Sự phát sinh nhãn
thức là kết quả của tổ hợp năm nhân tố này.’ Với
sự hỗ trợ của ngành tâm lý học hiện đại về tri giác,
một nhận xét như vậy có thể trở thành phương tiện chứng
minh đầy ấn tượng về tính dễ nhầm lẫn của kinh nghiệm
cảm quan. Ở đây cần chỉ rõ, một đối tượng tri giác
luôn bị thu hút bởi các điều kiện vốn chi phối sự trình
hiện của nó, và nó không thể tách rời chúng.
Cũng
vậy khi chúng ta nhìn một sự vật không phải như một dữ
liệu mà là một tiến trình hay sự biến, và xem xét các điều
kiện tạo ra nó. Không có sự biến hay pháp nào được tạo
ra bởi một nguyên nhân duy nhất, mà phải có vô số nhân
duyên. Tục thức, quả vậy, có khuynh hướng hỏa mù thực
tế này khi phân biệt ‘nhân’ khác với ‘duyên’, mà nếu
suy nghĩ chính chắn hơn thì không thể chấp nhận được.
Giả
sử có một người bị bắn chết, vậy lý do thực tiễn,
nghĩa là để quy trách nhiệm pháp lý, chúng ta có thể đồng
ý rằng viên đạn và người đã bắn nó là ‘nguyên nhân’
của cái chết kia. Nhưng về mặt khách quan đối với thực
tế những gì đã xảy ra, thì không phải vậy. Viên đạn
là một điều kiện dẫn đến cái chết đó, nhưng chỉ là
một trong nhiều điều kiện. Nếu người đó không đứng
ngay làn đạn thì y đã không chết. Mà có nhiều nguyên nhân
khiến y đứng ngay cái chỗ đã đứng. Nếu trong quá khứ
y đã không thọ nhận một thân thể có chết, y đã không
chết. Tương tự, hẳn đã phải có nhiều lý do tại sao viên
đạn được bắn, và tại sao lúc ấy không có chướng ngại
vật nào đủ hiệu quả giữa nòng súng và người bị bắn.
Lúc ấy có chính cây súng, đã được chế tạo, được đưa
đến cửa hàng và bán đi; có người đã khai hỏa nó; với
tay, mắt, thần kinh và lý trí của y, tất cả đều có liên
quan đến việc đó. Như vậy, suy nghĩ kỹ chúng ta tất phải
thừa nhận, dù trong trường hợp đơn giản như vậy, vẫn
có khá nhiều nhân duyên đã kết hợp để dẫn đến một
sự biến. Còn nhiều duyên khác cũng thiết yếu đối với
sự biến đó như viên đạn, vì nếu không có chúng thì hiệu
quả của tính chất đặc thù cụ thể đó đã không thể
xảy ra. Thực tế là các duyên cho bất cứ sự biến đơn
độc nào cũng đều, nếu không tuyệt đối vô hạn, ít nhất
cũng là vô số.* ‘Chỉ có bậc nhất thiết trí mới có thể
biết rõ mọi nhân duyên cấu thành vẻ rực rỡ lấp lánh
nơi mỗi con mắt ở chóp đuôi một con công. Sự rực rỡ
biến thiên vô tận đó vượt ngoài tri thức của phàm phu.’[45]
Như
vậy, chúng ta định sẽ trải mạng lưới khảo sát các duyên
liên hệ của chúng ta đến tận đâu? Chúng không nhất thiết
phải nằm trong phạm vi không gian lân cận của bản thân sự
biến. Giả thử nhân vật của chúng ta bị bắn chết trên
chiến trường, rất có thể chúng ta phải lên cao tận mặt
trời để tìm ra một số nhân duyên nào đó của cái chết
đó. Nếu y bị bắn vào ban ngày, tất nhiên mặt trời đã
giúp người bắn nhìn thấy y, nhưng còn có nhiều điều khác
nữa. Nếu, như đa số nhà kinh tế học khẳng định, các
vết đen xuất hiện trên mặt trời là một trong những duyên
do cho một cuộc khủng hoảng kinh tế, và nếu cách tốt nhất
để đối phó với khủng hoảng kinh tế là cho nổ tung cả
con người lẫn hàng hoá thặng dư trong một cuộc chiến tranh
hiện đại, thì các điểm đen trên mặt trời đó có thể
được chứng minh là một trong các nguyên nhân của cái chết
của người bị bắn kia. Thậm chí chúng ta còn phải đi xa
hơn cả mặt trời - đến tận các vì sao. Bởi vì, liệu đó
thuần túy là một tai nạn khiến người kia chết ngay vào
giây phút ấy, hay biết đâu còn vì sự kết hợp chết người
nào đó ở các cõi trời mà người kia bị cọng hưởng bởi
đó là kết quả của số tử vi của y? Nhưng như vậy có
nghĩa là rời bỏ tính nhân quả tự nhiên để bước sang
lãnh vực thần bí, là điều ít có độc giả muốn theo dõi.
Nhưng
dù bác bỏ chuyện thần bí, bất cứ Phật giáo đồ nào cũng
phải vươn ra ngoài chuỗi tự nhiên của các sự biến để
tìm kiếm hai loại quan hệ nhân quả mà thông thường nằm
ngoài tầm hiểu biết của phàm nhân. Người Phật tử thấy
cần phải đặc biệt chú ý đến các điều kiện do nghiệp,
và điều kiện do tâm, của một sự biến. Điều kiện nghiệp,
hay vấn đề đạo đức, như chúng ta đã biết, có thể đến
từ quá khứ xa xôi, cả hàng muôn kiếp trước.
‘Đại
dương có thể cạn,
Núi
Tu-di có thể mòn,
Nhưng
nghiệp tạo từ muôn kiếp truớc
Không
bao giờ mất đi
mà
kết thành quả
Dù
vạn kỷ trôi qua,
Cuối
cùng vẫn phải trả.’
Quan
trọng hơn là điều mà vì thiếu một thuật ngữ chính xác
tôi tạm gọi là tính nhân quả theo ‘tâm’. Sự sinh là nhân,
còn viên đạn chỉ là duyên cớ cho cái chết nói trên. Việc
y sẽ chết là điều chắc chắn ngay từ giây phút y được
sinh ra, dù y sẽ chết vào lúc nào và như thế nào còn tùy
vào tập hợp các duyên chưa xác định khác. Và cái gì đã
quyết định y phải được sinh ra như thế? Các hành vi quá
khứ của y đã tạo điều kiện cho sự tái sinh với tình
trạng như thế. Và thế thì chúng ta phải quay về lại mười
hai chi của duyên sinh, từ ‘hữu’ cho đến ‘vô minh’ như
là nền tảng của tất cả.
Có
một khác biệt căn bản trong sự nghiên cứu về các duyên
từ những động cơ thế gian và siêu thế gian. Ở đâu các
duyên được nghiên cứu vì quan tâm đến sinh tồn, tiện nghi
hay thiếu thốn, nguy hiểm hay an ninh, ở đó các duyên nào
được coi là đáng quan tâm, có liên quan và có tính quyết
định nhất, là những duyên đặc trưng nhất cho sự biến
đã diễn ra. Trong ví dụ trên của chúng ta, viên đạn được
coi là đặc biệt quan trọng. Các điều kiện bao quát hơn,
như bầu không khí xung quanh, lực hấp dẫn của trái đất,
và đại loại, dường như là các trợ duyên rất ít liên
quan. Nó khác hẵn khi chúng ta quan tâm đến giải thoát, coi
việc chiêm nghiệm sự biến đó như một cơ duyên thúc đẩy
sự thoát ly toàn bộ thế gian này. Bấy giờ sự quan tâm phải
tập trung vào các nhân tố tổng quát hơn của nó. Các Phật
giáo đồ quán các duyên để giải thoát khỏi mọi pháp hữu
vi, bởi họ mong muốn loại bỏ chúng chừng nào chúng còn
là hữu vi, và bằng cách ấy, để chứng đạt Vô vi. Trong
cuộc sống hằng ngày chúng ta vì quá chuyên chú làm điều
gì đó cho mục tiêu đặc biệt này nên không trọng thị các
duyên tổng quát của nó, nhất là những cái trong chính bản
thân chúng ta, mà chúng ta có khuynh hướng coi là tự nhiên.
Chúng ta quá đắm mình vào những sự vật thế gian nên không
lưu ý đến khoảng cách giữa chúng với thực tại chân thực.
Trong thiền quán, dẫu sao, trọng tâm được đặt vào nội
tâm nhiều hơn ngoại giới, cũng như vào các duyên phổ quát
hơn các duyên đặc thù và cá biệt. Mỗi kinh nghiệm mới
luôn soi sáng cùng một vấn đề, nghĩa là một thái độ sai
lầm của một cá nhân sai lầm trước một biểu hiện sai
lầm. Từ quan điểm về giải thoát của chúng ta, sự thật
cốt yếu nhất về bất cứ kinh nghiệm thế tục nào cũng
là: một đối tượng như thế tất sẽ xảy ra với một bản
ngã biệt lập, vô tri và tự mê hoặc như thế. Các dị biệt
giữa hai khách thể, A và B, không quan trọng bằng sự kiện,
chung cho cả hai, theo đó chúng được dành cho một người
– một Linh hồn bất an – thấy mình đang trong một thế
giới luân hồi. Người thế tục quan tâm đến những hiệu
quả đặc biệt, thuận lợi hay bất lợi, mà các đối tượng
cá biệt có trong quãng đời của nó; người có cuộc sống
tinh thần thường xem nhẹ những thứ này. Thay vào đó y tập
trung vào một mẫu thức căn bản chung cho mọi kinh nghiệm
thế gian của y, mẫu thức ấy là những kinh nghiệm xảy ra
với người đã mất phương huớng, đã lầm đường lạc
lối và thấy mình đang đọa lạc.
Chúng
ta tìm kiếm nguyên nhân để xoá bỏ sai lầm. Thông thường
ta chú trọng các nguyên nhân đặc biệt mà xao lãng các nguyên
nhân tổng quát và thường lệ, xem chúng như hiển nhiên và
đã hiểu. Trong tu tập thiền quán chúng ta tập dửng dưng
trước các đối tượng nói chung, và đặc tính riêng của
chúng không thành vấn đề. Thay vì xử lý đối tượng này
và nắn khuôn nó lại cho thích hợp với mình, chúng ta xem
đó như một dịp để hoàn toàn thoát ra khỏi loại đối
tượng đó. Chúng ta tập trung vào sự kiện, được trình
bày cặn kẽ trong mười hai chi duyên khởi, rằng mọi kinh
nghiệm của chúng ta đều do sự mù quáng tự dối mình tạo
ra, và rằng nó bao hàm một tự ngã tự hình thành đối lập
thế giới bên ngoài, một tự ngã đắm chìm trong khổ đau,
bất an và vướng mắc do hậu quả của việc cá biệt hoá
của nó. Hết thảy mọi thực tế cốt lõi của tồn tại
và kinh nghiệm cá nhân của chúng ta đều có thể liên quan
với các chi duyên khởi, và sự liên quan này cho phép chúng
ta vừa hiểu chúng vừa khắc phục chúng.
3b.
Định nghĩa tính nhân quả
Như
vậy điều trước tiên cần nhớ là quy luật ‘đa duyên’.
Không sự biến nào chỉ có độc một nhân duyên, mà luôn
bao hàm sự phối hợp của vô số duyên.[46] Cái cần cho một
kết quả xảy ra là phải có sự hoà hợp (sāmagrī) giữa
các duyên. ‘Kết quả tự nó không là gì ngoài sự hiện
diện của tổng số các nhân của nó. Nếu hạt giống và
những hạng lượng cần thiết như không khí, đất, nhiệt
và ẩm độ đã hội đủ, mọi yếu tố còn lại khác không
cản trở, thì mầm tất nảy sinh. Kết quả không là gì ngoài
tổng số các nhân duyên của nó.’[47] Nếu tổng số các
tiền tố chưa hội đủ, chỉ cần thiếu một, không thể
thành kết quả. Do vậy, cho tới phút cuối cùng vẫn có thể
có trở ngại nào đó xen vào, và một trở lực bất kỳ nào
đó sẽ ngăn chặn kết quả. Không bao giờ có thể tin chắc
về tương lai, ta không nên hy vọng nhiều nơi nó, và chỉ
có bậc nhất thiết trí mới có thể nói về nó một cách
chắc chắn.[48] Đối với chúng ta, ‘việc thành tựu kết
quả luôn có thể bị huỷ hoại bởi một sự kiện không
tiên đoán được’[49] Ngược lại, quan niệm hiện đại
về tính nhân quả lại bị chi phối bởi lý tưởng dự đoán.
Tổng số cụ thể các sự biến được lưu giữ, vài khu vực
nào đó được ‘cách ly’ và quan sát riêng, với ý định
‘kiểm soát’ các sự biến. Các Phật giáo đồ theo đuổi
một con đường khác. Cùng sự miễn cưỡng đối đầu trước
các sự biến trong cá biệt tính cụ thể của chúng đã gây
nhiều khó khăn cho người châu Âu hiện đại đối với khái
niệm vô thường của Phật giáo, càng khiến họ khó nắm
bắt được cái mà ở đây có nghĩa là ‘nhân quả’. Khi
nói đến một nhân họ hàm ý nguyên nhân chung của loại sự
biến này, hiểu theo nghĩa trừu tượng, trong khi Phật giáo
quan tâm đến các duyên cụ thể của sự biến cụ thể cá
biệt này. Hiểu được điều đó, lý thuyết Phật giáo trở
nên rõ ràng.
Từ
‘duyên’ có nghĩa là ‘nơi mà cái này là (hay trở thành),
nơi mà cái kia là (hay trở thành)’.[50] Quy luật này áp dụng
cho tất cả mọi hiện tượng hữu vi, và xác định mối quan
hệ giữa năng duyên và sở duyên. Theo Buddhaghosa (Phật Âm),
duyên có chức năng ‘hỗ trợ’ hay ‘trợ giúp’ (upakāra,
nhiêu ích). Một duyên là một pháp giúp cho pháp khác tồn
tại hay phát sinh. Sở duyên lệ thuộc năng duyên, là cái phải
(hiện hữu) như thế để cho một cái khác có thể diễn ra.
Cho rằng nhân là một tác nhân chủ động làm cái gì đó
để ‘sinh ra’ hay ‘phát khởi’ kết quả là sai lạc.[51]
Thực ra, ngoại trừ việc ‘đang có ở đó’, nó hoàn toàn
không làm gì khác (avyāpara, akiṃcit-kara), còn kết quả phát
sinh tuỳ thuộc tác dụng của các duyên. ‘Không có cái gì
sinh; chỉ có sự tương duyên.’ Vào giây phút phát sinh quả
thì ‘nhân’ hết tác dụng, vì không một chút thực tại
nào còn lưu tồn trong khoảng khắc tiếp theo sau khi ‘nhân’
đã kết thúc. Ở đây không có chỗ để so sánh định nghĩa
của Phật giáo về tính nhân quả với các quan niệm khác
phổ biến ở Ấn độ hay châu Âu.[52] Ta chỉ cần nêu rõ:
đó chính là hệ quả tất yếu của học thuyết sát na diệt.
3c.
Phân loại nhân và duyên
Để
hướng dẫn thiền quán trong lĩnh vực này, Abhidhamma của Nam
phương Thượng toạ bộ đã kết tập một danh mục gồm hai
mươi bốn duyên (paccaya)[53], mà hành giả phải áp dụng đúng
phương pháp cho mọi dữ liệu kinh nghiệm của họ. Cần ghi
nhận là các dữ liệu này phần lớn liên quan đến các quá
trình tâm thức với các điều kiện của chúng vì tầm quan
trọng vượt trội của các thái độ tâm lý.
Có
bốn trong số các duyên này, thứ 2, 9, 13 và 21, được coi
là giáo pháp cơ bản[54] mà tôi muốn bắt đầu từ đó.
Thứ
2. Một pháp (dharma) làm duyên cho một pháp khác, hay hỗ trợ
nó bằng cách làm đối tượng, hay ‘sở duyên’ cho nó. Như
một người yếu đuối đứng dậy và có thể đứng thẳng
bằng cách chống vào gậy hay nắm vào dây kéo, tâm và các
tâm sở khởi lên thông qua sắc, v.v. cho đến các pháp vì
là sở duyên của chúng, và cũng thông qua những thứ này mà
chúng tồn tại. Không thể có thức (để phân biệt với tiềm
thức) nào không có đối tượng.
Thứ
9. Ảnh hưởng quyết định (upanissaya, cận y). Đây là duyên
có tác động mạnh mẽ mà cái sở duyên khó tránh khỏi sự
thúc dục của nó. Nó là bộ ba: (9a) ảnh hưởng quyết định
của đối tượng. Nghĩa là, trong khi tư duy về giới, thiện
xảo trong các định, v.v., ta nắm chặt một đối tượng,
phát triển nó, chú tâm trên nó cho tới khi nó vượt hẳn
mọi sự quan tâm khác và trở thành một sức mạnh lấn át
gần như không thể khiên cưỡng.* (9c) ảnh hưởng quyết định
của tập quán. ‘Tập quán’ (nghĩa đen ‘tự nhiên’, ‘bản
tánh’, pakata) có thể gồm cả thức ăn, khí hậu, v.v… mà
một người đã tập nhiễm, hoặc cũng có thể là những thói
quen tinh thần. Người đã thuần thục (nipphādito) trong sự
tu tập tín căn, như là kết quả của việc tu tập trong một
thời gian dài, sẽ dễ dàng có những hành vi của tín sâu
sắc hơn. Đối với những đức tính khác cũng vậy. Khi đã
trở thành quen thuộc chúng dễ hướng ta đến bố thí, trì
giới, khởi các định, các huệ, Thánh đạo và trí tuệ siêu
việt.**
Thứ
13. Nghiệp (kamma). Duyên này hoạt động qua loại hành vi nào
có sự dụng tâm (citta-payoga: gia hành tâm). (a) Các tư tâm
sở thế tục, thiện hay bất thiện, thể hiện thành các nghiệp
thân, ngữ hay ý, làm duyên cho các uẩn phát khởi sau này,
và kết quả từ chúng. (b) Các tư tâm sở câu sinh làm duyên
cho các hiện tượng tương ưng câu sinh.
Thứ
21. Sự hữu (atthi). Năng duyên đồng thời với sở duyên,
hỗ trợ và củng cố nó chỉ bằng sự hiện diện. Bằng
cách này mà bốn uẩn thuộc tâm hỗ trợ nhau, bốn đại chủng
hỗ trợ nhau cũng như các đối tượng vật chất kết sinh
từ chúng, nhãn giới hỗ trợ nhãn thức giới, v.v…
Các
duyên còn lại có thể được liệt vào ba nhóm sau: Nhóm I
liên quan đến các pháp (A) đồng thời, (B) tiền sinh, (C) hậu
sinh, và (D) cả ba.
IA.
(6) Câu sinh (sahajāta): năng duyên cùng phát sinh với sở duyên,
như ngọn đèn và ánh sáng đèn. (7) Hỗ tương: như ba chân
của cái kiềng, nương nhau mà trụ vững, cũng vậy năng duyên
và sở duyên tương trợ nhau, hỗ tương dẫn khởi và củng
cố lẫn nhau. (8) Sở y: các trạng thái câu sinh hỗ trợ những
cái khác bằng cách làm nền tảng, hay sở y, như cây thì có
đất là cơ sở sinh trưởng của chúng, một bức tranh sơn
dầu thì có khung vải làm nền. (19) Tương ưng: các trạng
thái tâm lý hỗ trợ nhau bằng cách có chung một sở y, sở
duyên, cùng sinh và cùng diệt. (24) Bất ly: một sự kiện hỗ
trợ sự kiện khác bằng sự duy trì hiện diện, bằng cách
không biến mất.
IB.
(10) Tiền sinh: một năng duyên có trước sở duyên, hỗ trợ
nó bằng cách tiếp diễn và duy trì hiện diện. Ví dụ, một
sắc pháp sinh khởi và tồn tại trong một lúc, có thể khiến
khởi lên nhãn thức giới. Không có sự khởi trước của
nhãn căn thì không thể có nhãn thức.[55] Ở đây năm căn,
năm cảnh và ‘tâm tàng’ có thể hoạt động như các duyên;
năm thức, cũng như ý và ý-thức, cùng các tương ưng của
chúng, là sở duyên.
IC.
(11) Hậu sinh: các trạng thái tâm lý sinh khởi sau yểm trợ,
hay là sở y, cho các trạng thái vật lý tiền sinh, ‘cũng
như tính háu đói của lũ kên kên con là điều kiện bảo
dưỡng thân xác chúng.’
ID.
(20) Bất tương ưng: nói về mối quan hệ giữa các pháp sắc
và vô sắc. Năng duyên hỗ trợ sở duyên không phải bằng
một trong các sắc sở y, v.v… (khác với khoảng 19- IA.). Bằng
cách này (a) các thiện pháp làm duyên cho sắc sinh từ tâm;
(b) các thiện pháp hậu sinh làm duyên cho thân này, trong chừng
mực nó là tiền sinh; (c) sáu sở y tiền sinh làm duyên cho
sáu thức.
Nhóm
II. Nhiều cách phan duyên khác nhau trong các môi trường khác
nhau: (1) căn nhân (hetu): mọi thiện pháp câu hữu đều bắt
rễ trong vô tham, vô sân, vô si, trong khi mọi thức câu hữu
bất thiện đều bắt rễ từ tham, sân và si. Các trạng thái
tâm thức có gốc rễ như vậy thì chắc chắn và bền vững,
như cây có rễ ăn sâu vào đất. Cái nào thiếu các căn nhân
đó thì kém ổn định hơn, như rong rêu không có rễ dài để
bám sâu. (14) Dị thục (vipāka): một pháp kết quả của nghiệp,
tự thân nó vô lực, tĩnh và thụ động, làm duyên cho các
pháp tương ưng với nó bằng cách gây ra trong chúng một trạng
thái thụ động và tĩnh chỉ. (15) Thực (āhāra): các loại
thức ăn thuộc sắc chi trì thân xác. Còn có ba loại thức
ăn phi sắc là xúc, ý tư và thức để chi trì, hay duy trì
các trạng thái tương ưng và các sắc phát sinh từ chúng.
(16) Căn (indriya) hỗ trợ bằng cách gây một ảnh hưởng chi
phối.[56] (17) Thiền định (jhāna): bảy chi của định[57]
giúp tạo ra trạng thái nhập định cùng các hậu quả thuộc
sắc của nó. (18) Đạo (magga): mười hai chi đạo được hiểu
theo nghĩa chúng dẫn đến xuất ly (nyyāna) khỏi đây đến
kia; ‘đây’ là thế gian, ‘kia’ là Niết bàn.*
Nhóm
III nói về các quan hệ giữa hai pháp khi chúng được coi như
một chuỗi liên tục của các tâm sát-na dẫn đến sự chín
muồi của một tâm thành mãn. Mỗi tâm như vậy – như chúng
ta sẽ thấy – dâng lên, như một cơn sóng, qua các cấp tri
nhận. Nhóm này có sáu duyên: (4) hai sát-na tâm được tạo
duyên bởi sự sát cận mà không có khoảng cách trung gian (antara)
nào giữa chúng. Những tâm sát-na này hoàn toàn không tiếp
nối nhau, mà chúng phát triển qua các giai đoạn đều đặn,
giai đoạn tiếp theo không thể đến khi giai đoạn trước
chưa qua hết. Như vậy giai đoạn trước hỗ trợ giai đoạn
tiếp theo bằng sự trực tiếp đi trước nó, vì không như
vậy thì trật tự của lộ trình tâm không thể được hoàn
tất, và tâm sát-na tiếp theo không thể khởi phát. ‘Đây
là trật tự cố định của tâm (cittaniyamo?) mà trước tiên
có nhãn thức, rồi có ý giới, đến ý thức giới; việc
này chỉ hoàn tất khi các niệm tiếp diễn nhau trong trật
tự đúng hạn, không thể khác; do đó một tâm pháp có năng
lực dẫn khởi một tâm pháp thích hợp tiếp ngay sau nó, là
một duyên bởi sự sát cận (vô gián, hay thứ đệ). (5) Đẳng
vô gián (samanantara), mà Phật Âm (Buddhaghosa) cho là cùng loại
duyên (4), duy nó nhấn mạnh sự nối tiếp không gián đoạn
(không có gì xen vào) giữa hai thời khắc[58]. (9b) ảnh hưởng
quyết định từ sự sát cận nói đến các thời điểm khi
tâm pháp trước rõ ràng khiến cho tâm pháp tiếp theo tức
thì khởi phát. (12) Sự tập hành (āsevana) làm thành tập quán,
giống như khi chúng ta học thuộc lòng. Với sự tập hành
như vậy, một tâm pháp hỗ trợ tâm pháp tiếp theo bằng cách
làm nó thành quen thuộc và mạnh mẽ hơn. Loại duyên này chỉ
ứng dụng ở mức độ tri nhận thứ bảy. Mỗi tư tâm sở
thiện tạo điều kiện xuất hiện một thiện tâm khác trực
tiếp theo sau nó. Với tư tâm sở bất thiện cũng vậy. Các
phản ứng đặc trưng do bởi sân giận, dâm dục, kiêu ngạo,
từ bi v.v… cũng vậy, có khuynh hướng trở thành tập quán.
Các thúc động lực thuần tuý chức năng cũng thế, có lẽ
theo hướng một kỹ năng nào đó dần hình thành. (22) Vắng
mặt (natthi, vô hữu) các sự kiện tâm lý vừa diễn qua hỗ
trợ sự kiện tiếp theo bằng cách nhường chỗ cho nó. Bằng
cách biến đi như vậy chúng cho các sự kiện sau cơ hội khởi
phát và tiếp diễn. (23) Ly (vigata) chỉ khác duyên (22) về
cách nói. Bằng cách rời bỏ, sự kiện đi trước nhường
chỗ cho sự kiện tiếp theo sau.
Ngay
cả cái nhìn tổng quát này cũng cho thấy trong Phật giáo thuật
ngữ ‘duyên’ có một ý nghĩa phong phú nhiều hơn ta vẫn
thường gắn cho nó. Để chắc chắn biết rõ tất cả các
duyên của một pháp, Theravāda hành động như các chiến binh
da đỏ Sioux, phi ngựa vòng quanh cỗ xe bị bao vây rồi bắn
thẳng các mũi tên của họ từ mọi phía và mọi góc độ.
Liệt
kê của Hữu bộ về các duyên tương đối ít phức tạp hơn.
Nó cho thấy sự tương đồng đối với bản liệt kê của
Nam phương Thượng toạ bộ đủ để chứng tỏ trong hình
thái nguyên thuỷ cả hai đã được luận ra trước khi hai
phái phân ly. Nó bộc lộ các khác biệt đủ để thấy bản
liệt kê suy luận đã được nghĩ ra sau sự phân phái của
họ. Ở đây bốn duyên (pratyaya) được phân biệt rõ với
sáu nhân (hetu)[59]. Bốn duyên gồm: 1) sở duyên, 2) đẳng vô
gián, 3) tăng thượng (adhipati), và 4) cọng tác duyên.[60]
Duyên
đầu tiên, chỉ đối tượng thích hợp của quá trình tâm
lý. Thứ hai, cũng chỉ áp dụng cho các pháp thuộc tâm, chỉ
sát-na ngay trước đó trong dòng tương tục của tâm biến
đi để tạo điều kiện cho tâm tiếp theo xuất hiện. Tất
cả tâm và tâm sở đều có tác động nhân quả này, trừ
tâm cuối cùng của vị La-hán trong giây phút Niết bàn, tịch
diệt không dẫn khởi bất cứ tâm nào nữa. Thứ ba là duyên
đặc biệt có tính quyết định, chi phối, là tác nhân (kāraṇa)
cho sự phát sinh cái khác, có lẽ là ‘dẫn sinh’ ra nó (jānaka,
sinh nhân), như căn con mắt và đối tượng của mắt sinh ra
thức con mắt, như hạt giống sinh ra mầm, v.v… Cuối cùng
là duyên ‘cộng tác’ được minh họa như sự đóng góp
mà ánh sáng v.v., tạo ra cho thị giác.
Sáu
‘nhân’ rất có thể là sự thêm vào sau này.[61] Đầu tiên
là nhân có tính bao hàm toàn diện, chung nhất và gián tiếp,
của một sự pháp. Mỗi pháp hữu vi đều là ‘nhân tổng
quát’ cho mọi thực thể ngoại trừ chính nó. Đó là nhân
đồng hiện diện, bao gồm tất cả các điều kiện “cho
phép” của một sự biến, không chướng ngại sự sanh khởi
của nó, không can thiệp đến dù chúng có thể, do đó hình
thành sự đe doạ liên tục từ hậu trường.* Thứ hai, chúng
ta có nhân câu hữu (sahabhū-hetu). Ở đây các pháp câu hữu
hỗ tương làm duyên cho nhau, như các đại chủng và sắc sở
tạo, như tâm và các tâm sở, hay như bốn tướng sinh, trụ
…, và các pháp chịu sự chi phối của chúng. Các pháp nào
đi theo một tâm (citta) thì đồng thời sinh, trụ, và diệt
như chính tâm đó, vì tâm và các tâm sở cùng sinh, cùng trụ
và cùng diệt; chúng có cùng kết quả và dị thục của nghiệp;
nơi nào mà tâm là thiện, bất thiện hay vô ký, thì ở đó
tâm sở cũng vậy. Kinh lượng bộ phản bác rằng nhân –
theo nghĩa thường dùng của từ này – phải có trước quả
của nó, mà không thể đồng thời với nó. Hữu bộ đã đáp
lại, bằng các ví dụ ngược lại, như ví dụ về đèn và
ánh sáng đèn như chúng ta đã thấy. Trong trường hợp các
pháp câu hữu, như đã được định nghĩa, nếu một pháp
hiện hữu thì tất cả đều hiện hữu, chỗ nào một pháp
mất đi thì tất cả đều mất. Nghĩa là chúng hỗ tương
làm duyên cho nhau, cũng như ví dụ về cái giá chống ba chân
nói trên đã minh hoạ sự tương trợ nhau của các pháp đồng
thời. Tư tưởng truyền thống này như vậy là rất xưa cũ.**
Tương
tự nhân ‘câu hữu’, nhân thứ ba là ‘tương ưng’, chỉ
áp dụng cho các pháp thuộc tâm. Như chúng ta đã thấy ở
trên, tâm (citta), dù là một pháp biệt lập, không bao giờ
diễn ra đơn độc, mà luôn kèm theo các sự kiện tâm lý khác
(caittā, tâm sở pháp). Citta và caittā liên quan nhau bằng sự
tương ứng nếu có cùng chung (abhinna, vô biệt) sở y. Ví dụ,[62]
tác dụng trong một sát na của căn con mắt có thể là sở
y không chỉ cho cho thức con mắt và còn cho cả thọ, v.v.,
những pháp tương ứng với nó. Cũng như những người đi
chung trong một đoàn lữ hành thì cùng dùng chung thức ăn,
thức uống như nhau; các pháp tương ưng thì có cùng sở y,
sở duyên, hành tướng, đồng thời và đồng sự.[63] Nhân
thứ hai và ba này rõ ràng nhằm thay thế phạm trù ‘bản
hữu’ của các triết thuyết khác ở Ấn độ.
Thứ
tư, ‘đồng loại’ nhân, dùng để ‘giải thích sự hiện
hành cùng loại của những điểm sát-na khơi gợi ý tưởng
về sự tồn tục và ổn định’ nơi đối tượng. Tương
tợ làm nhân cho các tương tợ, thiện pháp dẫn khởi các
thiện pháp, bất thiện pháp dẫn khởi bất thiện pháp, điều
này áp dụng cho tất cả pháp cùng bộ loại và cùng giới
địa, như lúa sinh ra lúa, đậu sinh ra đậu. Nhân này luôn
luôn đi trước quả. Cũng như những người đi chung trong một
đoàn lữ hành thì được an toàn vì bảo vệ lẫn nhau, các
pháp liên kết vì ‘tương tợ’ hay ‘đồng loại’ hỗ
trợ lẫn nhau.
Thứ
năm, ‘biến hành’ (sarvatraga) nhân, nói về tính nhân quả
chịu ảnh hưởng của các tùy miên, tức các xu hướng bất
thiện tiềm phục. Đây là đề tài khó, cần phải dựa vào
các văn tịch gốc,[64] và tôi tự giới hạn trong trích dẫn
tóm tắt của Stcherbatsky: ‘tên gọi này được hiểu là chỉ
cho các phiền não và các tập khí của tâm của phàm phu, ngăn
cản không cho thấy khổ và tập, tức nhìn thấy nguồn gốc
và yếu tính của thực tại thường nghiệm và do đó chướng
ngại Thánh đạo’. Cuối cùng là nhân thứ sáu, ‘dị thục’
(vipāka) nhân, bao trùm hết thảy pháp bất thiện, và các thiện
pháp hữu lậu, vì bản chất của chúng là dẫn đến kết
quả của nghiệp. Các thiện pháp vô lậu, vì không còn khát
ái, không chịu tác động của nhân này.
3d.
Duyên khởi.
Mười
hai khoen trong chuỗi quan hệ nhân quả, tức ‘duyên khởi’
(pratītyasamutpāda), được coi là tuệ vô thượng của một
vị Phật ngay trước khi thành chánh giác; đó là chủ đề
thiền quán thường xuyên, và hành giả không ngừng được
cảnh tỉnh bởi ‘vòng luân chuyển’ (saṃsāramaṇḍala),
còn được gọi là ‘bánh xe sinh tử’ thường được vẽ
nơi tiền đình các tự viện.[65] Công thức của học thuyết
này đã được đề cập trong cuốn Buddhist Meditation của tôi,
dẫn theo giải thích của Nam phương thượng tọa bộ (Theravāda),
xuất xứ từ Phật Âm (Buddhaghosa).[66] Về công thức này,
được nói một cách chân chánh là ‘nó sâu thẳm, và cũng
có vẻ sâu thẳm’, dễ viết thành một quyển sách dài. Vì
những giới hạn của không gian, tôi sẽ phải tập trung định
nghĩa mục tiêu chính xác của nó. Công thức rất được đề
cao nhắm hoàn tất điều gì, nó muốn giải thích gì? Ta cần
xem xét tám giá trị sau:
1.
Là một tương liên với tập đế và diệt đế, nó giải
thích nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, hay nói cách khác,
khả tính của giải thoát. Nó giải thích nguyên nhân tại
sao sự vật luôn lạc hướng đối với chúng ta, và chỉ cho
chúng ta biết nơi nào ta có thể hành sự một cách hữu hiệu
để đặt chúng lại cho đúng hướng, chủ yếu nhắm tấn
công trực diện vào vô minh và khát ái.
2.
Nó nhắc chúng ta rằng hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là
hoàn toàn không bình thường, rằng chúng ta đang ở trong tình
trạng có thể gọi là ‘đọa lạc’, và rằng bất cứ gì
chúng ta có thể nghĩ hay làm hết thảy đều bị nhũng lạm
bởi vô minh và khát ái. ‘Triền phược là do bám chặt vào
vô minh, giải thoát là rời khỏi nó.’ Xác tín rằng cuộc
sống chẳng qua là một cơn bệnh trầm kha được nêu lên
qua 12 thí dụ của Phật Âm[67] cho mười hai mắc xích: Khoen
đầu tiên ví như người mù không nhìn thấy gì trước mặt;
2) y vấp, 3) y ngã, 4) y bị một cục u, 5) cục u chín muồi
là mưng mủ, 6) mũ chèn ép khối u, 7) gây đau nhức; 8) y muốn
chữa trị, 9) kiếm nhầm thầy thuốc, 10) bôi sai thuốc, 11)
kết quả là cục u sưng tấy, và 12) cục u bị vỡ. Như vậy
học thuyết này đã biến đổi nhân cách quý giá và đáng
yêu của chúng ta thành thân phận một ‘ung nhọt’!
3.
Nó cho ta thấy rõ những gì ta gọi là ‘kinh nghiệm’ hay
‘nhận thức’ của chúng ta về thế giới này thực chất
gắn liền với vô minh, và rằng chỉ có sự hủy thể toàn
diện vô minh, dựa trên quán chiếu sáng suốt về tánh không,
là con đường duy nhất thoát ra khỏi mớ hỗn độn nhầm
lẫn này.
4.
Nó lý giải cơ cấu tái sinh. Trong ngữ cảnh này chúng ta cần
xét đến khả năng thuyết mười hai chi nhân duyên, như được
trình bày chính thống bởi Theravāda và Sarvāstivāda, là cách
giải thích kinh viện sau này hơi khác với lý thuyết nguyên
thuỷ. Người ta thường nhận thấy có một số kinh điển
đưa ra một phiên bản duyên khởi có phần khác với phiên
bản được tiếp nhận sau này.[68] Không những vô minh không
phải luôn luôn là nguyên nhân đầu tiên, mà nó khởi đầu
với upādhi (sinh y), hay phiền não (?) như trong Kinh tập bộ
(Suttanipāta), hay các lậu (āsava) trong Trung bộ (Majjhima Nikāya).
Thêm nữa, một số danh mục xưa hơn còn giới thiệu các duyên
không thấy có trong công thức điển hình sau này, chẳng hạn
như ‘tưởng' và các ‘hý luận' (papañca) vốn có vai trò
quyết định trong giải thoát luận của Đại thừa. Gác qua
các dị biệt, điều cốt yếu có lẽ là trong các công thức
xưa nhất có bốn chi bị bỏ xót. Đó là (4) danh-sắc, (5)
sáu xứ, (11) sinh, và (12) lão-tử. Chỉ còn lại (1) vô minh,
(2) hành, (3) thức, (6) xúc, (7) thọ, (8) ái, (9) thủ, và (10)
hữu. Đến đây, ta dễ dàng thấy bốn chi bị bỏ sót (4,
5, 11, 12) rõ ràng là những chi tác thành, hình như vậy, thân
để chịu luân hồi của cá nhân và chúng diễn đạt số
phận của cơ chế chịu luân hồi. Như vậy không phải không
có lý do để nói rằng khởi thủy công thức này không liên
hệ gì đến vấn đề tái sinh, và sự phối trí nó vào trong
ba đời là sự thêm thắt do các bộ phái sau này. Tám chi còn
lại (1-3, 6-10) có thể được diễn giải là chúng tác thành
các điều kiện tâm lý cơ bản mà khi hoạt dụng vào một
thời điểm nhất định chúng giải thích nguồn gốc của
khổ và các tà kiến. Rất có thể công thức ban đầu không
giải thích gì ngoài sự tập khởi và diệt tận khổ, không
trực tiếp luận đến chuổi liên tục tiếp nối của các
đời sống.
5.
Có điều chắc chắn là các bộ phái đã không cho rằng các
chi thuần tuý tiếp nối nhau, mà đồng thời hiện diện trong
và cùng một kinh nghiệm. Abhidharmakośa[69] nói trong cùng một
sát-na khi một người do phiền não chi phối phạm tội giết
người, hết thảy mười hai chi đều hiện hành. Đó là 1)
moha (si), tức trạng thái mê mờ của tâm, 2) tư hay hành động
cố ý, 3) thức liễu biệt đối tượng, 4) bốn uẩn câu hữu
với thức đó, 5) hoạt động của các giác quan, 6) các xúc
trong hoạt động của các căn, 7) cảm nghiệm từ xúc đó,
8) tham, 9) ‘ức chế’ (paryavasthāna, triền) tương ứng với
tham, như vô tàm, vô quý chẳng hạn, 10) các thân và ngữ nghiệp
đi trước, 11) sản sinh của tất cả các pháp này, và 12)
chín muồi rồi tan vỡ.
6.
Giáo pháp này khiến cho một người dứt bỏ hoài nghi về
số phận của mình, như thắc mắc ‘có thực tôi đã tồn
tại trong quá khứ? Tồn tại như thế nào, và tôi là ai?’
‘Tôi đến đây bằng cách nào, từ đâu đến?’ ‘Tôi sẽ
đi về đâu, bằng cách nào?’ ‘Tôi sẽ là ai, hay cái gì,
sau khi chết?’
7.
Nó giải thích bằng cách nào một cá thể có vẻ như hiện
hữu mà không tồn tại một tự ngã thường hằng, vốn là
chủ thể của những nghiệp và cảm thọ của y, là kẻ thọ
nhận khổ lạc như là kết quả của nghiệp đó. Ở mọi
thời điểm, các nhân tố phi ngã đều phát huy tác dụng,
và không có người biết, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão
và tử.
8.
Nó cho ta sự hiểu biết đầy đủ hơn về bản chất duyên
sinh của các pháp. Trong khế kinh, duyên khởi chỉ có nghĩa
là mười hai chi khởi đầu bằng vô minh hay là các nhân tố
quyết định sự tái sinh của một cá nhân. Các luận sư A-tỳ-đàm
đã phát triển ý nghĩa này thành một lý thuyết bao quát hơn,
khiến duyên khởi gần như đồng nghĩa với toàn bộ thực
tại hữu vi.*[70]
dịch
Việt: Hạnh Viên
[1]
AK iv 5-8. MCB v 1937, 148-59.
[2]
VM 431, 473.
[3]
VM 614-15.
[4]
VM 472-3, 431-2.
[5]
BM 86-95.
[6]
Mahāvibhāṣa: 1 ngày = 86.400 giây = 6.499.099.980 sát-na = 1/75.221
giây/sát-na. Theo AK: 2.880: 216.000 = 1/75 giây = 13 phần ngàn giây
(ms)/sát-na. Các bộ phái khác, do McGovern tham khảo 60-4. 500
= 1/75 giây.
[7]
Có nhiều khảo sát về điều này trong Woodworth. Một xung động
đơn về sự tác ý thông thường kéo dài trong một giây, nhưng
cũng có thể thay đổi từ 0,1 đến 5 giây. Thời gian phản
ứng cho một tác nhân kích thích là khoảng 100-150 ms. Trong
khi đọc, không có sự thay đổi cố định trong 100 ms. Giới
hạn vi phân thời gian thấp nhất cho tri giác của chúng ta:
thời lượng cần để nhận ra sự gián đoạn, hay giữa hai
tác nhân kích thích liên tiếp và riêng biệt: hai âm thanh tiếp
liền nhau, 10 ms (tiếng tíc-tắc của đồng hồ), hai lóe lửa
(thị giác) cách nhau, từ 50-100 ms, hai xúc giác, 25 ms. Một
tri giác cần 10 ms để phân biệt về hình dáng, 11-14 cho định
hình đường nét.
[8]
Asl. 60-1, AN i 10.
[9]
AK v 52-4.
[10]
Được giải thích kỹ trong BL, esp. I 78-118, 175, 179-80, II 14-46,
192.
* Bergson
(BL i 107), ‘Thế gian mà toán học đề cập đến là một
thế gian diệt và tái sinh trong từng khoảng khắc’. Như vậy
thảy đều không có thực thể (BL i 109).
[11]
BL i 95, căn cứ vào Śāntirakṣita (Tịch Hộ, 寂 護).
[12]
Xem thêm Mallishena, Syadvādamanjarī, ch. 18, bản dịch của F.W.
Thomas, 1960, có bản liệt kê rành mạch về các phản đối
rập khuôn thường khởi lên ở Ân độ chống lại tính biến
diệt của mọi thực thể.
[13]
Các pháp quá khứ và vị lai tồn tại như những sự thực
(dravya); tuy nhiên vì là hữu vi chúng không thường tồn, ở
chỗ chúng mang những đặc tính hữu vi.
[14]
AK v 50 sq. HBI 667.
[15]
AK V v. 25. HBI 666.
[16]
Samyuktāgama (Tạp a-hàm, 雜 阿 含) III 14.
[17]
F. 140-1.
[18]
Pra-āpti. āp: đến, đạt đến, thu được; ti: chỉ định
danh từ hành động giống cái. ‘Sự đạt, thu, nhận được.’
[19]
AK ii 36.
* Không
có sự sở đắc Hư không.
[20]
AK ii 55d.
[21]
AK i 247.
[22]
AK i 191, 197, 183.
[23]
Jaini, p. 244.
[24]
AK ii 183-5. Xem thêm The Sautrantika theory of bija, P. S. Jaini, BSOAS
xxii, 1959, pp. 236-49.
[25]
Āśraya (sở y). AK ii 5 và 6, 44d.
[26]
AK ii v. 35b, AK-cy 147-8.
[27]
Jaini, p. 239. Xem sđd. 239-41 về Hữu bộ và Nam phương Thượng
tọa bộ cố gắng tránh kết luận này.
[28]
Jaini, p. 242, căn cứ AK-cy, p. 444.
[29]
Jaini, pp. 242-3. Thật thú vị khi ta thấy Độc tử bộ cũng
tuyên bố pugala không khác cũng không đồng với các uẩn.
[30]
AK iii 41. G. M. Nagao, Connotations of the word āśraya in the Mahayana-sutralamkara.
Liebenthal Festschrift, 1957, pp. 147-55, phân biệt chín ý nghĩa
của thuật ngữ.
[31]
Avasthā AK I, p. 214.
[32]
KSP, 88-9.
[33]
KSP p. 81 ct.
[34]
KSP 86-7. Pras. 317-23. Lamotte KSP 86 viện dẫn một số tương
đương trong Cơ đốc giáo.
[35]
HBI 674 ct.
[36]
e.g. AN iii 404-9, một ‘thiện căn’ được ví như một ‘hạt
giống chưa hư, được gieo xuống cánh đồng đã cày xới,
có khả năng kết quả phong phú’.
[37]
BL ii 261.
[38]
Cf. BL ii 367-8
[39]
AK vi 168, vii 49. AK-cy 583-4: bījaṃ sāmarthyaṃ cetaso gotram iti
[40]
AK ix 282-3.
[41]
AK vi 252.
[42]
AAA 76.
[43]
BM 107
[44]
BM 150-1.
* Thuyết
đa duyên của Phật giáo xem ra khiến cho sự giải quyết vấn
đề ‘tự do ý chí’ thành không cần thiết. Nếu tổng số
các duyên là vô giới hạn, và hầu hết đều không biết
được, thì không thể nói duyên nào cần để dẫn đến sự
biến nào. Như vậy trong bất cứ trường hợp nào cũng không
bằng khảo sát mà có thể chứng minh một sự biến nhất
thiết phát sinh từ các duyên này và chỉ các duyên này. Tính
nhân quả do đó chỉ là phỏng đoán, và có nhiều khả năng
cho những sự huyễn hoặc và khác thường (như sự giáng sinh
từ đức mẹ đồng trinh của Chúa Christ, hay sự nhập thai
của đức Phật qua hình tượng con voi trắng). Sự hoài nghi
của thuyết Tất định về khả năng bất cứ sự kiện phi
thuờng nào không được chứng minh bằng định nghĩa về tính
nhân quả Phật giáo. Một số duyên nào đó ‘thông thường'
phải có để sản sinh một hiệu quả nào đó; nhưng quy tắc
là khả năng có các ngoại lệ, dù không chắc, không phải
là nhất thiết không thể xảy ra. Những thực tế được
quan sát không chỉ ra là tất định hay bất định. Do đó
khẳng định hay bác bỏ vấn đề tự do ý chí đều là điên
rồ. Tuy nhiên đây chỉ là quan điểm riêng của tôi, trái
ngược với những gì Stcherbatsky, một thẩm quyền tầm cỡ,
nói trong BL I, 131-4.
[45]
AK ix 284, BL i 130.
[46]
BL i 127. Để chứng minh thế giới này không bắt nguồn từ
một nhân duyên độc nhất, như Thượng Đế hay cái gì khác,
xem thêm AK ii 310-13.
[47]
BL i 131.
[48]
BL i 129. Cũng như Dhp. 286. antarāyaṃ na bujjhati.
[49]
BL i 131
[50]
Về ngữ nguyên của từ paccaya, xem VM 532; từ patīya VM 526,
AK ii, p. 78. Imasmiṃ sati idaṃ hoti được giải thích trong AK
ii 81.
[51]
BL i 119-21, 125, 157-8.
[52]
Đối với Ấn độ, xem e.g. BL i 122, 123 n. 2, ii Index s.v. cause
(nhân), v.v.; đối với châu Âu xem BL i 141-5.
[53]
Được trình bày chi tiết trong Paṭṭhāna, một tác phẩm
đồ sộ gồm 3.120 trang. Được giải thích tóm lược trong
VM xvii 66-100, và gần đây Nyanatiloka đề cập trong tác phẩm
của ông, ‘Guide through the Abhidhamma Pitaka’, 1938, pp. 97-109.
Cũng có chỉ dẫn hữu ích trong Paṭṭhān Sayadow U Withuddha,
An approach to Paṭṭhāna, Rangoon 1956. Ngõ hầu đọc giả có
thể kiểm tra sự tạm dịch của tôi, đây là các nguyên ngữ
Pali: 1) hetu, 2) ārammaṇa, 3) adhipati, 4) anantara, 5) samanantara,
6) sahajāta, 7) aññamañña, 8) nissaya, 9) upanissaya, 10) purejāta,
11) pacchājāta, 12) āsevana, 13) kamma, 14) vipāka, 15) āhāra, 16)
indriya, 17) jhāna, 18) magga, 19) sampayutta, 20) vippayutta, 21) atthi,
22) natthi, 23) vigata, 24) avigata, (1, nhân duyên; 2, đối tượng
hay sở duyên; 3, tăng thượng; 4, vô gián hay thứ đệ; 5, đẳng
vô gián; 6, câu hữu; 7, tương hỗ; 8, sở y; 9, cận y; 10, tiền
sinh; 11, hậu sinh; 12, tập hành; 13, nghiệp; 14, dị thục; 15,
thực; 16, căn; 17, thiền định; 18, đạo; 19, tương ưng; 20,
bất tương ưng; 21, hữu; 22, vô; 23, ly; 24, bất ly. – ND.)
[54]
Theo Abhidhammatasanghaha (Thắng pháp tập yếu luận)
* Mục
9b, ảnh hưởng quyết định do sát cận (vô gián), sẽ được
giải thích ở phần III.
**
Duyên thứ 9 là hình thức tập trung hơn của duyên 3, tức
ảnh hưởng vượt trội (tăng thượng duyên), ở đó một
sự kiện hỗ trợ sự kiện khác khi nó ‘ưu việt hơn’,
‘nổi bật’ hay ‘tốt nhất’. Loại này có hai: bằng cách
câu sinh hoặc là đối tượng. Cái trước có nghĩa sự tập
trung mong muốn hành động, sự tinh tấn, tư tưởng và
sự điều nghiên là những nhân tố lấn át vào lúc mà, trong
khi tu tập bốn lực căn bản, lực này hay lực kia trở nên
vượt trội. Cái sau (tương ứng với 9a) xảy ra khi một đối
tượng trở nên đặc biệt mạnh mẽ, được nhấn mạnh và
coi trọng, được xem như đáng chấp nhận nhất, đáng yêu
thích, và đáng quan tâm nhất.
[55]
Trừ phi lần đầu sinh ra; cảnh và nhãn thức giới cùng sinh
khởi.
[56]
Xem chi tiết, VM xvii 91.
[57]
gồm: tầm, tứ, hỷ, lạc, ưu, xả, định.
* 1)
tà kiến, 2) tà ngữ, 3) tà hạnh, 4) tà mạng khiến xa rời
Niết bàn; 5) huệ, 6) chánh tư duy (?, vitakka), 7) chánh ngữ,
8) chánh hạnh, 9) chánh mạng, 10) tinh tấn, 11) niệm, và 12)
định khiến viễn ly thế gian. Đây là một đề mục rất
khó mà tôi không dám khẳng định đã hoàn toàn hiểu rõ.
[58]
saṇṭhāna (chỉ tức) = diasthēma trong Ar. Phys. 213a. Tuy nhiên,
sau này dường như có sự bất định về điểm khác nhau chính
xác giữa (4) và (5). VM xvii 74-6.
[59]
Mc Govern, A manual of Buddhist philosophy, I 164-7, 184-205. CPB 170-2.
AK ii 244-331. BL i 130-1, 138-40. Các chủ trương khác, như lục
nhân của LS 83, và AK ii 277 n. 1 (5).
[60]
Ghi chú của DG: liệt kê bốn duyên nay không đồng nhất với
Hữu bộ; tác giả không ghi rõ xuất xứ. Câu-xá 6 (tr. 36b14):
nhân duyên (hetu-pratyaya), vô gián duyên (samanatara-pratyaya), sở
duyên duyên (ālambana-pratyaya), tăng thượng duyên (adhipati-pratyaya);
Tỳ-bà-sa 2 (tr. 11a05). AK (de La Vallee Poussin), vol. i. tr. 299.
[61]
BL i 138 và 140 n. 13.
* Nghĩa
là không có gì thiếu nhân duyên vào khoản khắc đã định
là nguyên nhân cơ bản để sự kiện diễn ra trong khoản khắc
đó. (BL I 131).
**
Trong AK ii 275, Hữu bộ còn nhấn mạnh năng duyên không nhất
thiết phải có trước sở duyên. Các pháp quá khứ và hiện
tại có thể là ‘biến hành’ và ‘tương tợ’; các pháp
hiện tại và tương lai có thể là ‘tương ưng’, ‘câu
hữu’ và ‘nghiệp báo’; các pháp hữu vi trong ba thời có
thể là các ‘năng tác nhân’. Nhân câu hữu và tương ưng,
cũng như sở duyên duyên, tác động lên pháp nào cùng phát
sinh với nó, đang hiện diện và trong quá trình biến diệt.
Cả ba tính, tương tợ, châu biến và nghiệp báo cùng tác
động vào một pháp vị lai, tức cái đang trong quá trình sinh
khởi, đó gọi là đẳng vô gián duyên. Xem thêm BL I 120.
[62]
AK ii 268-9.
[63]
AK ii 177-8.
[64]
AK ii 268-70.
[65]
Divy. 300.
[66]
BM 152-7. Các kinh có nói về hữu vi duyên sinh, xem F 27-60.
[67]
VM 582-3.
[68]
chẳng hạn, Sn 727-53, 862 sq., DN ii 62, MN i 48; Xem thêm chi tiết:
IC 197-9, AK iii 70-2, v.v.; P. Oltramare, La formule bouddhique des douze
causes, 1909, pp. 27-36.
[69]
III 24d.
* Một
số trường phái vẫn giữ quan điểm coi duyên khởi thuộc
về vô vi. Vì ta có thể nói không có gì thường tồn ngoại
trừ sự vô thường, thì ta cũng có thể nói không có gì là
vô vi ngoại trừ việc tất cả đều là hữu vi. Điều này
có hệ quả quan trọng cho tương lai.
[70]
BL i 135-6.