TOÀN
NHẬT THIỀN SƯ
với
những nẻo đường cát bụi của Quê hương
Thích
Phước An
Thiền
sư Toàn Nhật, theo giáo sư Lê Mạnh Thát “là một nhà văn,
nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà
tư tưởng lớn, có những quan điểm độc đáo đầy sáng
tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ 18, và cũng là
một vị Thiền Sư đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt
Nam”[1] Nhưng vẫn theo Giáo sư thì: “cho đến nay, tên tuổi
và sự nghiệp của ông đã bị chìm vào quên lãng”.
Nhưng
trước khi đi vào những tác phẩm của vị Thiền sư bị quên
lãng đã gần 2 thế kỷ này, tôi muốn nhân đây nói lên một
chút cảm nhận của mình đối với 3 tập Lịch Sử Phật
Giáo Việt Nam (LSPGVN) cũng của giáo sư Lê Mạnh Thát. Dù mới
có đến đời Trần Thánh Tông (1278) nhưng đã gần 3000 trang
rồi. Nếu chỉ có thông kim bác cổ thôi thì cũng vẫn chưa
đủ, mà theo tôi, phải có một hoài bảo, một tấm lòng không
chỉ riêng cho Phật Giáo mà cho cả dân tộc nữa, thì Giáo
sư mới có đủ kiên nhẫn để cống hiến một công trình
đồ sộ đến như vậy.
Chúng
ta những người Phật Tử Việt Nam hôm nay, vẫn thường tự
hào rằng dân tộc này, đất nước này có được như ngày
hôm nay chính là do sự đóng góp lớn lao của những người
Phật Tử từ những ngày đầu lập quốc cho đến bây giờ.
Bởi
vậy, Phật giáo là dân tộc, và dân tộc đương nhiên là
Phật giáo. Đúng như lời ca của một thi nhân:
Việt Nam và Phật giáo
Phật giáo và Việt Nam
Ngàn năm xương thịt kết liền
Tình sông nghĩa biển
Mối duyên mặn nồng
Cây đa bến cũ
Hình bóng con đò
Thiết tha còn nhớ câu hò
Cây đa bến cũ con đò năm xưa.
Trang sử Việt Nam yêu dấu
Thơm ướp hương trầm
Nghe trong tim Lý Lê Trần
Có năm cánh đạo nở bừng nguy nga
(Trụ Vũ)
Làm
sao mà một dân tộc đang bị chiếm đóng bởi một kẻ láng
giềng khổng lồ ở phương Bắc, lại có thể từng bước
đứng dậy, để dành lại được chủ quyền từ tay của
kẻ xâm lược để rồi cuối cùng đã trở thành một quốc
gia Đại Việt độc lập và có chủ quyền?
Và
chắc cũng không phải ngẫu nhiên mà thời nào cũng có những
bậc anh hùng xuất chúng như Lý Bôn, Ngô Quyền, Lê Đại Hành,
Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn
Huệ… đứng ra bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc?
Chắc
chắn phải có một sức mạnh tinh thần nào đó đằng sau
hun đúc để đất nước Đại Việt mới tạo nhiều bậc
anh tài như vậy.
Không
còn hồ nghi gì nữa, trong những ngày đầu mới du nhập vào
Việt Nam, những người Phật tử Việt Nam đã cùng với dân
tộc Việt Nam tạo ra sức mạnh kỳ vĩ ấy.
Ta
sẽ thấy đó là điều nổi bật nhất mà giáo sư Lê Mạnh
Thát muốn trình bày với những bằng chứng hiển nhiên trong
suốt ba tập LSPGVN của Giáo sư.
Nơi
Trang 503, tập 2, Lê Mạnh Thát viết: “có người đã từng
nói ‘không có tư tưởng cách mạng, thì không có vận động
cách mạng’, cũng thế, đất nước ta vào những ngày đấu
tranh sống chết với kẻ thù để bảo vệ nền độc lập
của Tổ quốc, nếu không có một hệ tư tưởng chỉ đạo,
thì không thể nào có cuộc vận động chính trị thành công”
[2]
Và
nơi trang 523: “vì lịch sử là một sự vận động có ý
thức của con người, thì con người phải chuẩn bị một
cách có ý thức cho cuộc vận động đó xảy ra theo ý hướng
của mình”
Chắc
chắn có một số người sẽ lập luận rằng, Phật giáo dù
sao cũng chỉ là một hiện tượng văn hoá đến từ nước
ngoài, nếu Phật giáo vạch ra một lý thuyết rồi đứng ra
chỉ đạo cuộc vận động đó thì tất nhiên Phật giáo cũng
mang một ý đồ áp đặt một nền văn hoá ngoại lai lên đầu
lên cổ dân tộc Việt mà thôi chăng?
Phật
giáo đúng là cũng từ nước ngoài du nhập vào, như Khổng
giáo vào Lão giáo chẳng hạn, nhưng sở dĩ Phật giáo thành
công là vì: “Phật giáo khiêm tốn khép mình, không lên tiếng
dạy đời, không bắt người Việt Nam bỏ hết phong tục tập
quán bản địa, mà vẫn tiếp thu quá khứ của người Việt,
uốn nắn quá khứ đó lên để biến thành hiện tại có lợi
cho cả hai. Cho nên người Việt Nam chấp nhận Phật giáo như
là một yếu tố bản địa và không xem là phần tử ngoại
lai. Những người ngoại quốc đến Việt Nam như các nhà sư
Ấn độ, Chiêm thành, Khang Cư đều cũng phải khép mình vào
văn hoá Việt, yêu thương đất nước Việt như đất nước
họ. Quan hệ đó dần dần tự kết chặt họ vào mảnh đất
này và Việt hoá họ.”
Sự
đau đớn thống khổ của dân tộc và nhân loại kéo dài trong
suốt thế kỷ 20 vừa qua bắt buộc chúng ta phải đi đến
một sự khẳng định mạnh mẽ rằng, một cuộc xâm lăng
ồ ạt bằng quân sự của một cường quốc khổng lồ vào
một quốc gia nhỏ bé nào đó, tất nhiên phải gây ra đau
khổ và tang tóc cho dân tộc đó rồi. Nhưng sự đau khổ tang
tóc vì bạo lực không nguy hiểm bằng sự đau khổ, tang
tóc do nọc độc của chủ thuyết hay giáo điều cuồng tín
gây ra, vì một lý do dễ hiểu là quân chiếm đóng bằng bạo
lực không thể nào ở mãi trên đất nước mà họ chiếm
đóng được. Còn ý thức hệ hay giáo điều cuồng tín thì
có thể ở lại lâu dài trong tâm hồn của những kẻ bệnh
hoạn, những kẻ khát khao quyền lực. Những kẻ này sẽ cấu
kết lại với nhau để thực hiện cho bằng được cuồng
vọng của mình bất chấp sự thống khổ của đồng loại.
Bởi
vậy, một sử gia không có nghĩa là chỉ: “tìm thấy cái
thú kể lại những thăng trầm của các dân tộc, các tư tưởng,
hay chép lại những chuyện buồn về cái chết của các vua
chúa, mà sứ mạng của một sử gia phải là: “giúp chúng
ta nhìn thấy hiện tại dưới ánh sáng của dĩ vãng”
như Will Durant đã nói như vậy.
Tác
giả LSPGVN, với tư cách là một người con đã sanh ra và trưởng
thành trên đất nước đau khổ này đã làm tròn sứ mạng
đó khi tác giả nghiêm khắc cảnh cáo: “bất cứ hệ tư
tưởng nào không tôn trong hệ văn hoá tư tưởng bản địa
của người dân Việt thì trước sau gì cũng phải bị đào
thải, dù có hiện diện trên đất nước này bao lâu đi chăng
nữa. Hệ tư tưởng ấy tất yếu là phải kết hợp với
nền văn hoá bản địa của người Việt nếu muốn tồn tại”.
Vậy
những người Phật giáo đã cùng với dân tộc Việt thời
bấy giờ đã phải làm những gì để dân tộc có đủ sức
mạnh tinh thần nhằm giành lại chủ quyền và nền độc lập
trong những ngày đầu lập quốc?
Nếu
một dân tộc bị một nước láng giềng chiếm đóng và đặt
nền thống trị lâu dài, muốn khẳng định nền độc lập
của mình bằng những ranh giới do thiên nhiên quy định không
chưa đủ, mà trước tiên phải khẳng định được rằng
dân tộc mình có một nền văn hoá, phong tục, tập quán hoàn
toàn khác biệt với nước đang đặt ách thống trị trên
đất nước mình.
Bây
giờ ta thử xem tổ tiên của chúng ta có đủ khả năng để
khẳng định sự độc lập đó không?
Sau
khi đánh bại được cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào
năm 43 sau dương lịch, Mã Viện đã phải vội vã về lại
Trung Quốc đưa lên lời tấu trình với Thiên triều Hán rằng:
“Hơn 10 điều luật của Việt luật khác với Hán luật”.
Tác giả LSPGVN đưa ra nhận xét rằng, có một bộ luật riêng,
thế cũng có nghĩa là bộ máy công quyền dựa trên pháp luật
đã được hoàn chỉnh.
Ngoài
Việt luật ra, còn có bài Việt ca, được Lưu Hướng ghi lại
trong Thuyết Uyển.
Bài
Việt ca này rất phổ biến không chỉ trong giới quý tộc
mà còn lan tràn đến giới bình dân của Trung Quốc vào thời
đó nữa.
Tác
giả LSPGVN cho rằng, bài Việt ca này không thể nào xuất hiện
chậm hơn năm 16 trước DL.
Từ
đó, tác giả đưa ra một khẳng định quan trọng rằng: “Vào
thời Hùng Vương đã xuất hiện một ngôn ngữ Việt Nam, mà
ta có thề tìm thấy trong Lục Độ Tập Kinh, trong đó còn
bảo lưu trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn
pháp tiếng Việt, cung cấp cho chúng ta một số lượng đáng
kể các tá âm cho việc nghiên cứu tiếng Việt cổ và phục
chế lại diện mạo tiếng nói ấy cách đây 2000 năm”.
Không
chỉ phục chế lại diện mạo tiếng Việt thôi, mà Lục Độ
Tập Kinh còn: “Tập thành những chủ đề lớn của dân tộc
như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước… làm
cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống
văn hoá Việt Nam. Lục Độ Tập Kinh được Khương Tăng Hội
dịch vào thời Tam Quốc, từ nguyên bản Lục Độ Tập Kinh
bằng tiếng Việt, gồm cả thảy 91 truyện”
Nếu
Lục Độ Tập Kinh được Khương Tăng Hội dịch từ một
bản tiếng Việt, thì chắc chắn trước đó đã có một dịch
giả nào đó dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Việt hay ít
nhất cũng cải biên những mẫu chuyện Phật giáo từ tiếng
Phạn sang tiếng Việt chăng?
Sau
khi tiến hành nghiên cứu ngữ pháp tiếng Trung Quốc và tiếng
Việt, nhất là khi so sánh sự khác biệt về chữ Nhân, về
tín ngưỡng, và đặt biệt là sự khác nhau giữa lịch pháp
Trung Quốc và Ấn Độ tác giả đi đến kết luận rằng:
“Việc hình thành Lục Độ Tập Kinh là cả một quá trình
cải biên kinh sách Phật giáo nhằm phục vụ cho yêu cầu vừa
truyền bá Phật pháp vừa thực hiện chức năng gửi gấm
chủ trương đấu tranh độc lập cho đất nước đến với
dân tộc”.
Sự
cải biên quan trọng nhất là truyền thuyết về trăm trứng:
“Truyện
này ta thấy có tương đương trong thiên anh hùng ca Mahàbharatà
của văn học Ấn Độ. Truyền thống Ấn Độ thì gọi là
100 cục thịt (mamsapesi); đến truyện trăm con của Avadana -
Jataka thì vẫn giữa nguyên lại 100 cục thịt này, mà Chí
Khiêm dịch thành nhục đoàn trong truyện Bách Tử Đồng Sản
Duyên của soạn tập Bách Duyên Kinh 7, thực hiện khoảng năm
230 SDL. Thế mà truyện 23 này của Lục Độ Tập Kinh thì vẫn
giữ nguyên là 100 trứng (Noãn bách mai). Vậy thì truyền thống
về bà Âu Cơ sanh trăm trứng này dứt khoát phải tồn tại
trước thời Hai Bà Trưng khi biến cố năm 43 xảy ra”.
Vì
sao lại phải cải biên từng 100 cục thịt (Mamsapesi) thành
100 trứng (Noãn bách mai);
“Đứng
trước hiểm hoạ diệt vong và các truyền thống đó bị mai
một, nên truyền thống này đã được lồng vào khung cảnh
Phật giáo, và các yếu tố bản địa Việt Nam như thế xuất
hiện khá nhiều trong các truyện của Lục Độ Tập Kinh hiện
còn”.
Đấy
phải chăng là dụng ý của các nhà cải biên?
Vậy
là cái truyền thuyết 100 trứng, cái truyền thuyết Con Lạc
Cháu Hồng vẫn luôn luôn là biểu tượng cho sự thương yêu,
đùm bọc lấy nhau của dân tộc lại được rút ra từ Lục
Độ Tập Kinh, một bộ kinh đã được Khương Tăng Hội mang
từ Việt Nam qua Trung Quốc và sau đó chính Khương Tăng Hội
lại dịch sang tiếng Trung Quốc một nước đang chiếm đóng
nước ta.
Và
truyền thuyết thiêng liêng ấy luôn luôn được những người
con ưu tú của dân tộc dùng đến để nhắc nhở, để thức
tỉnh mỗi khi dân tộc đang đứng trước họa diệt vong của
ngoại xâm, như Phan Bội Châu đã từng làm như thế khi phúng
điếu cho cái chết của nhà ái quốc Phan Chu Trinh: Dân địa
linh, con Lạc cháu Hồng
Và
cái thông điệp ấy, thông điệp về lòng từ bi không điều
kiện ta thấy cứ được nhắc đi nhắc lại hoài trong Lục
Độ Tập Kinh:
“Yêu
nuôi người vật, thương xót lũ tà, vui hiền, giúp người
độ lượng, cứu giúp chúng sanh, vượt cả đất trời, thấm
khắp biển sông, bố thí chúng sanh, người đói cho ăn, kẻ
khát cho uống, lạnh cho mặc, nóng cho mát, bệnh cho thuốc,
xe ngựa thuyền bè, các vật châu báu, vợ con đất nước,
ai xin liền cho”.
Chỉ
bày tỏ lòng thương không chưa đủ, Lục Độ Tập Kinh còn
kêu gọi mỗi người hãy nên nuôi dưỡng lý tưởng Bồ Tát
trong chính mình. Một người nuôi dưỡng lý tưởng Bồ Tát
thì phải làm gì?
“Bồ
Tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông mình vào nơi chính
trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than”.
Chính
từ bản tuyên ngôn quan trọng này của Lục Độ Tập Kinh
mà ta thấy sau khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng
thất bại (39 - 43 SDL), lịch sử của dân tộc đã ghi lại
không biết bao nhiêu những người Phật tử Việt Nam cả xuất
gia lẫn tại gia thực hiện lý tưởng Bồ Tát, nghĩa là “Gạt
lệ xông vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân cứu nước
ra khỏi cảnh nô lệ lầm than”. Đó là Lý Nam Đế, là các
Thiền sư Định Không, La Quý, Khuôn Việt, Pháp Thuận, Vạn
Hạnh, là những Phật tử tại gia, Bồ Tát giới Lý Công Uẩn,
Lý Thường Kiệt, là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Hưng
Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, là Ức trai Nguyễn Trãi,
là Hải Lượng Thiền Sư Ngô Thời Nhiệm.
Nhưng
lôi cuốn nhất vẫn là việc Lục Độ Tập Kinh của Phật
giáo Việt Nam đã viện dẫn tư tưởng Phật giáo để
tiến hành phê phán Nho giáo, một hệ tư tưởng vẫn được
xem là tiêu biểu nhất và thực dụng nhất trong việc “Tề
gia, trị quốc, Bình thiên hạ”:
“Tôi
ở đời lâu năm, tuy thấy Nho sĩ chứa đức làm lành, há
có bằng được đệ tử của Đức Phật quên mình cứu người
mà không nêu tên”.
Với
lời nhận định trên của Lục Độ Tập Kinh, ta thử làm
một cuộc so sánh giữa những người Phật tử Việt Nam và
các Nho sĩ của Khổng giáo từ những thế kỷ đầu lập quốc
đến thời cận đại để xem lời nhận định trên có chính
xác hay không?
Có
hai câu thơ sau đây của một Nho sĩ đồng thời cũng là một
thi sĩ nổi tiếng ở thế kỷ 19 có thể làm sáng tỏ thêm
cho lời phê phán trên của Lục Độ Tập Kinh;
Làm
trai đứng giữa trong trời đất
Phải
có danh gì với núi sông
(Nguyễn
Công Trứ)
Vậy
là đã rõ, mục đích chính của các nhà Nho là “Phải có
danh gì với núi sông”, trong khi đó đại nguyện của những
người Phật tử là “Gạt lệ xông vào nơi chính trị hà
khắt để cứu dân ra khỏi nạn lầm than”. Cho nên cũng chẳng
có gì lạ, khi ta thấy trong suốt lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc lịch sử gần như vắng
bóng những nhà Nho dám hy sinh quên mình để cứu dân cứu
nước ra khỏi chốn lầm than, ngoại trừ hai nhà Nho tiếng
tăm lừng lẫy là Nguyễn Trãi ở thế kỷ 15 và Ngô thời
Nhiệm ở thế kỳ 18. Nhưng cả hai, Nguyễn Trãi và Ngô thời
Nhiệm đều thấy sự bế tắc và chán ngán của cái học
“Phải có danh gì với núi sông” của Nho giáo và đã trở
về với Phật giáo để tháo gỡ cái bế tắc ấy.
Ngô
Thời Nhiệm đã tự nhận là Hải Lượng thiền Sư, và đã
vứt bỏ “Ngu Trung” của Nho giáo để giúp cho Quang Trung
Nguyễn Huệ, một người nông dân, đánh tan 29 vạn quân Thanh.
Còn Nguyễn Trãi, dù không nhận mình là Thiền sư như Ngô
Thời Nhiệm, nhưng qua sự nghiệp thơ văn và nhất là cả
cuộc đời hy sinh quên mình “thấy dân kêu ca, gạt lệ xông
vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân ra khỏi nạn lầm
than”.
Và
ta có thể xem Nguyễn Trãi là người đã thể hiện đúng nghĩa
nhất lý tưởng Bồ Tát mà Lục Độ Tập Kinh đã đề ra,
mà trước đó Trần Thái Tông thuyền sư, Tuệ Trung Thượng
Sĩ cũng đã làm như vậy đối với đời nhà Trần oanh liệt.
Lục
Độ Tập Kinh cũng ghi lại cuộc trao đổi lạ lùng giữa một
bên là nhà Nho và một bên là các Phạm Chí, để rồi cuối
cùng các nhà Nho phải cúi đầu thú nhận rằng, sự hiểu
biết của mình chẳng có nghĩa gì hết, và đã tôn những
Phạm Chí làm thầy:
“Các
Nho sĩ hỏi đạo cao (Phạm Chí) đáp đạo sâu; hỏi nghĩa
hẹp thì giải thích nghĩa rộng. Các Nho sĩ nói: “Người
này đạo cao trí xa, có thể làm thầy được”.
Khi
bình luận về cuộc đối thoại trên, tác giả LSPGVN đã kết
luận: “Quả là một đòn sấm sét đánh bạt những xum xoe
của hàng nho gia sĩ thứ”.
Chỉ
từ hai mẫu đối thoại trên thôi, ta cũng có thể thấy rằng,
nền văn hoá của dân tộc Việt trước cuộc khởi nghĩa của
Hai Bà Trưng (39 - 43 sdl) đã phát triển khá cao dưới sự hỗ
trợ tích cực (chưa muốn nói là chỉ đạo) của Phật giáo.
Không chỉ khẳng định bản lĩnh nền văn hoá của chính dân
tộc mình, mà còn tỏ ra coi thường những gì được coi như
là “tinh hoa” nhất của nền văn hoá Thiên triều. Quả đúng
như lời tác giả LSPGVN: “Một đòn xấm sét đánh bạt những
xum xoe của hàng nho gia sĩ thứ”.
Bởi
vậy, ta chẳng lấy gì làm lạ, khi “những dị nhân phương
Bắc” đến lánh nạn tại nước ta, đều bị nền văn hoá
ấy chinh phục mạnh mẽ, tiêu biểu trong số ấy là Chu Phù,
người đã “vứt điển huấn của Thánh trước, bỏ pháp
luật của Hán gia, để “sống và suy nghĩ theo lối sống
và suy nghĩ mới của đất Giao Châu”.
Nhưng
nổi bậc nhất trong số những “dị nhân” ấy vẫn là Mâu
Tử, trong tác phẩm lừng danh của mình, tác phẩm Lý Hoặc
Luận, tác phẩm mà Lê Mạnh Thát đã đánh giá là: “tác
phẩm lý luận gối đầu giường của Phật giáo Viễn Đông
mà cụ thể là Trung Quốc và Nhật Bản”, còn đối với
lịch sử tư tưởng dân tộc Việt thì “nó là một tác phẩm
lý luận có một vị trí xung yếu”.
Vậy
ta thử xem Lý Hoặc Luận của Mâu Tử nêu lên những vấn
đề gì để tác phẩm có một vị trí xung yếu như thế?
Khi
có người hỏi: “con đường” của Phật giáo là gì, thì
được Mâu Tử trả lời: “Con đường đó ở nhà thì có
thể thờ cha mẹ, làm chủ nước thì có thể trị dân, ở
một mình thì có thể tự sửa thân”.
Chỉ
một câu nói ngắn gọn nhưng vô cùng súc tích trên của Mâu
Tử đã vô hiệu hoá tất cả lòng tự mãn của các nhà Nho
xưa nay. Các nhà Nho cứ nghĩ rằng, chỉ có Nho giáo mới có
tính cách thực dụng, và chỉ có Nho giáo thôi mới tập trung
giải quyết những vấn đề bức thiết nhất của cuộc sống
hiện tại. Còn các hệ tư tưởng khác (như Phật giáo chẳng
hạn), thì chỉ bàn những chuyện viễn vong, thiếu thực tế,
chẳng giúp ích gì cho đời sống hiện tại cả (vị tri sanh,
yển tri tử ).
Nói
cách khác, khi “con đường” của đạo Phật là: “ở nhà
có thể thờ cha mẹ, làm chủ nước thì có thể trị dân,
ở một mình thì có thể tự sửa thân” thì tư tưởng để
Khổng giáo cải tạo xã hội như là “tề gia, trị quốc
bình thiên hạ” không còn một giá trị gì nữa đối với
Phật giáo nói riêng và dân tộc Việt nói chung, vì Phật giáo
chẳng những đã có thể làm được công việc đó, mà còn
có thể làm tốt hơn Khổng giáo nữa.
Trong
Lý Hoặc Luận, mặc dù Mâu Tử chỉ bàn sự liên hệ giữa
Phật giáo và Khổng giáo, nhưng đọc thật kỹ những lời
giải đáp của Mâu Tử cách đây đã gần 2000 năm đến bây
giờ vẫn còn giá trị nguyên vẹn đối với những người
hay thắc mắc về một rừng kinh điển của Phật giáo:
“Khi
có người hỏi: Thánh nhân chế ra 7 bộ kinh, chẳng qua ba vạn
lời mà mọi việc đều đầy đủ. Nay kinh Phật, quyển số
kể đến vạn, lời đếm tới triệu, không phải một sức
người có thể kham nổi. Tôi cho là phiền phức mà không thiết
yếu.
Mâu
Tử đáp: “Sông biển sở dĩ khác với kênh rạch là vì chúng
sâu rộng, núi Ngũ Nhạc sở dĩ khác với gò đống là vì
chúng cao (…), kinh Phật trước nói sự việc hàng ức năm
lại dạy yếu lý của muôn đời. Thái tổ chưa nổi, Thái
thỉ chưa sinh, trời đất mới dựng, nhỏ không thể nắm,
bé không thể vào, thì Phật đã bao trùm bên ngoài sự rộng
lớn, đã chia xẻ sự bé nhỏ bên trong, chẳng chi là không
ghi chép. Cho nên, kinh quyển kể hàng vạn, lời đếm hàng
ức, càng nhiều càng đủ, càng lắm càng giàu. Có chi là không
thiết yếu? Tuy một người không kham nổi, vì như đến sông
uống nước, uống no tự đủ, đâu còn biết chỗ thừa ư?”
Trả
lời câu hỏi không những kinh Phật đã quá nhiều rồi mà
phần nhiều chỉ là hoa mỹ, người thắc mắc đề nghị nên
bỏ những điều thừa đó đi, thay vào đó nên nói thẳng
vào chỗ thiết thực, thì Mâu Tử trả lời như sau: “Không
được đâu! Kìa trời trăng, đều sáng, mỗi chỗ có chỗ
chiếu; 28 vì sao, mỗi ngôi có chỗ chủ của nó. Trăm vị
thuốc đều sinh ra, mỗi vị có chỗ chữa của nó”. Sau đó,
Mâu Tử nói rằng, Khổng giáo cũng thế, nghĩa là “Khổng
Tử cũng chưa cho Năm Kinh là đủ lại phải viết thêm Xuân
Thu, Hiếu Kinh, là muốn mở rộng, thỏa mãn lòng người vậy.
Còn kinh Phật tuy nhiều, cũng đều quy về một mối”.
Đối
với lời chỉ trích rằng: “Mâu Tử đã lấy lời kinh truyện,
thuyết hoa mỹ để khen gợi hạnh Phật, xưng tụng Đức Phật
cao đến mây xanh, rộng quá mặt đất, há không vượt cái
vốn mà quá sự thực không?” Người hỏi còn tự đề cao
“chúng tôi chê khá đúng chỗ, chẩn khá đúng bệnh”.
Mâu
Tử trả lời: “Than ôi! Chỗ tôi khen như lấy cát bụi
mà đấp Tung, Thái, lấy sương sớm đổ vào sông be; chỗ
ông chê như cầm bầu lọ muốn vơi sông biển, đem cày bừa
muốn cào Côn Lôn, nghiêng bàn tay đòi che mặt trời, cầm
cục đất đòi lấp sông Hoàng. Tôi có khen, không thể khiến
Phật cao hơn, ông có huỷ báng thì cũng không vì thế mà khiến
đức Phật thấp xuống vậy”.
Đại
khái tất cả những lời hỏi đáp đều xoay quanh vấn đề
giữa Phật giáo và Nho giáo. Nhưng đến câu chất vấn thứ
14, dù cũng liên quan đến Phật giáo và Khổng giáo nhưng lại
trở thành nghiêm trọng hơn. Sở dĩ nó trở thành nghiêm trọng
vì vấn đề được đặt ra không phải chỉ xảy ra vào thời
đại của Mâu Tử, nghĩa là cách đây hơn 18 thế kỷ, mà
ngay cả đến đầu thế kỷ 21 này, dường như cái bóng ma
đó vẫn còn ám ảnh một phần nhân loại. Đó là chủ nghĩa
Sô-vanh là lòng tự cao tự đại về nòi giống mình, về dân
tộc mình, xem dân tộc khác là man di mọi rợ, tự nhận mình
có trách nhiệm phải đi khai hoá, đi làm nghĩa vụ quốc tế.
Câu
hỏi đó như thế này: “Khổng Tử nói: Mọi rợ có vua không
bằng các nước Hạ mất vua”, Mạnh Tử chê Trần Tương
học cái thuật của Hứa Hành, nói: “Ta nghe dùng Hạ để
biến cải man di, chưa từng nghe man di đi biến cải Hạ”.
Ông từ nhỏ học đạo Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng mà ngày nay
lại bỏ để đi học cái thuật của man di mọi rợ, chẳng
đã lầm rồi sao?
Mâu
Tử đáp: Đó là lời thừa khi tôi chưa hiểu đạo lớn vậy.
Như ông có thể gọi là thấy vẻ đẹp của lễ chế mà không
biết thực chất của đạo đức, thấy đuốc sáng, mà chưa
thấy mặt trời giữa trưa. Lời nói của Khổng Tử là để
uốn ngay phép đời vậy. Mạnh Kha nói vì ghét sự chuyên nhất
thôi. Xưa Khổng Tử ở nơi chín mọi, nói rằng: “Người
quân tử ở đây thì có chi là thối nát?” Đến khi Trọng
Ni không được dung thân ở nước Lỗ, nước Vệ. Mạnh Kha
không được dùng ở nước Tề, nước Lương, há các ngài
lại làm kẻ sĩ ở nơi man mọi hay sao? Vũ Di ra từ Tây Khương
mà thành thánh triết. Cổ Tẩu sinh vua Thuấn mà ương ngu.
Do Dư sinh ở Địch mà làm cho nước Tần bá chủ. Quản Thúc
Tiên và Sái Thúc Độ từ đất Hà Lạc mà nói phản loạn.
Tả truyện: “Sao Phương Bắc ở trên trời là chính giữa,
ở tại người là Phương Bắc”. Lấy đấy mà xem đất Hán
chưa hẳn là trung tâm trời đất vậy. Kinh Phật giảng dạy,
trên dưới trùm khắp, loài vật hàm huyết đều thuộc về
Phật cả. Cho nên ta lại tôn kính mà học lấy, sao lại bảo
phải bỏ cái đạo của Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng (…). Ngọc
không tổn thương lẫn nhau. Châu Tuỳ và Ngọc Bích không hại
lẫn nhau. Bảo người ta lầm khi chính tự mình lầm vậy”[3].
Khi
Mâu Tử trả lời: “Đó là lời thừa khi tôi chưa hiểu đạo
lớn”, thế có nghĩa là Mâu Tử muốn nói rằng khi ông chưa
hiểu đạo lớn (tức Đạo Phật), thì Mâu Tử cũng có cái
lập luận đầy ngu xuẩn như người đang đối thoại với
ông vậy.
Nhưng
sau khi đã dốc chí vào Đạo Phật (ư thị nhuệ chí ư Phật
đạo) thì ông bỏ được lối suy nghĩ ngu xuẩn ấy, vì Kinh
Phật dạy rằng: “Trên dưới trùm khắp, loài vật hàm huyết
đều thuộc về Phật cả” (Phật kinh sở thuyết thượng
hạ chu cực hàm huyết chi loại vật giai thuộc Phật yên).
Nếu
đã tự nhận dân tộc mình đang sở hữu một nền văn hoá
vĩ đại, đang đứng trên đỉnh cao của trí tuệ loài người
thì phải rao giảng sự bình đẳng giữa các chủng loại,
các dân tộc chứ sao lại rao giảng sự kỳ thị phân biệt?
Phải rao giảng tình thương yêu, lòng nhân ái chứ sao lại
rao giảng sự hận thù?
Quả
là một đòn chí mạng giáng vào sự ngu si xuẩn ngốc của
những kẻ nhân danh văn hóa Chu Khổng để miệt thị dân tộc
khác là man di mọi rợ (di địch).
Đối
với lòng kiêu ngạo về dân tộc của người Hán thời bấy
giờ tự nhận mình là “Trung Quốc” tức nước “Ở giữa”.
“Ở giữa ở đây không phải chỉ “ở giữa” đối với
con người đối với các dân tộc khác, mà cũng có nghĩa là
“trung tâm” cả với trời đất nữa.
Để
đối trị lại, Mâu Tử trích một câu trong Tả truyện: “Sao
Phương Bắc ở trên trời là chính giữa, ở tại người là
Phương Bắc” (Bắc thần chi tinh, tại thiên chi trung, tại
nhân chi Bắc).
Từ
lý luận đanh thép này, Mâu Tử đặt nghi vấn: “Đất Hán
chưa hẳn đã là trung tâm của trời đất”(Hán địa vị
tất vi thiên trung dã).
Đây
không còn là hoài nghi hay giả thuyết nữa, mà khi viết như
vậy Mâu Tử đã phủ nhận triệt để hay nói đúng ra là
Mâu Tử đã “tống cổ” người Hán ra khỏi cái trung tâm
do chính họ là tác giả ấy rồi.
Ta
có thể tạm lý luận như thế này:
Khi
anh đã không còn ở tại trung tâm nữa thì tất nhiên anh phải
ở một phương nào đó, như phương Bắc chẳng hạn. Nếu
anh đã ở phương Bắc tất nhiên tôi là người đang ở phương
Nam. Nghĩa là tất cả chúng ta đều giống nhau, đều bình
đẳng với nhau. Không có phương Tây cao hơn phương Đông và
ngược lại. Khi đã ngang nhau rồi thì chẳng ai có quyền nhân
danh bất cứ cái gì để đi khai hoá ai cả.
Sự
xác định Nam Bắc này theo tác giả LSPGVN là rất quan trọng:
“Vì
đã trở thành một phạm trù xung yếu trong lịch sử dân tộc
ta, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của đế hiệu Nam Đế
của Lý Bôn 544, và sau đó là quốc hiệu Nam quốc trong tuyên
ngôn độc lập năm 980 của Lê Đại Hành:
Nam
Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư
Như
hà nghịch lộ lai xâm phạm
Nhữ
đẳng hành khan thủ bại hư
Nó
đòi hỏi một lối nhận thức mới, một đánh giá mới về
vị trí của một quốc gia ở phía Bắc nước ta, cũng như
vị trí dân tộc ta trong quan hệ với quốc gia đó. Điều
này đánh dấu trình độ nhận thức chính trị vào thời Mâu
Tử đã đạt tới một nhận thức cao để vượt lên và định
ra được vị trí của mình cũng như kẻ thù mình và quan hệ
tương tác của chúng”.
Bài
thơ trên thường được gọi là bài thơ “thần” hay “Nam
Quốc sơn hà” tác giả là Lý Thường Kiệt xuất hiện trong
cuộc chiến tranh với Tống triều 1076. Nhưng tác giả LSPGVN
lại cho rằng, sở dĩ có sự sai lầm như thế là do Ngô Sĩ
Liên đời Lê Thánh Tông đã lấy thông tin từ “thế truyền”
rồi đưa vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Nhưng theo Lĩnh Nam
Chích Quái, tác phẩm được viết vào thế kỷ 14 khoảng cuối
đời Trần, thì bài thơ “thần” này đã xuất hiện trong
cuộc chiến tranh 981 dưới sự lãnh đạo của vua Lê Đại
Hành. Hai bộ sử bằng tiếng Việt ở thế kỷ 16 và 17 và
Việt sử Diễn Âm và Thiên Nam Ngữ Lục cũng đều có một
kết luận như vậy, và tác giả của bài thơ không ai khác
hơn chính là Thiền sư Pháp Thuận, người mà đã nói rõ cho
vua Lê Đại Hành biết là vận nước dài hay ngắn là do người
lãnh đạo quyết định, nghĩa là người lãnh đạo có đủ
tài và đức để nối kết lòng dân lại với nhau hay không.
“Cho
nên, nếu coi bài thơ “thần” ấy xuất hiện vào năm 1076
thì thật cũng lạ lùng là nước ta độc lập đã gần hai
thế kỷ mới có tuyên ngôn độc lập sao?”
Không
còn hồ nghi gì nữa, đây là câu hỏi rất hợp lý để trả
bài thơ Thần trên về lại cho cuộc chiến 981 vậy.
Từ
những sự khẳng định liên tục của những biến cố lịch
sử từ 544 đến 981 với Lý “Nam đế” rồi “Nam Quốc
sơn hà” ta mới thấy hết tất cả tầm vóc vĩ đại của
Mâu Tử. Cho nên ta chẳng lấy gì làm lạ khi tác giả LSPGVN
lưu ý chúng ta nhiều lần rằng: “Phải đặt những quan điểm
của Mâu Tử qua Lý Hoặc Luận trong không khí học thuật của
thời đó mới thấy được giá trị của nó. Tách rời nó
ra ngoài các không khí học thuật và hoàn cảnh mà nó ra đời
thì ta không hiểu gì được. Những sai lầm của các học
giả trước đây là đã quên mất lợi điểm này, chỉ nhìn
thấy Lý Hoặc Luận từ góc độ của người Trung Quốc”.
Vậy
các không khí học thuật của thời Mâu Tử là thế nào?
“
…Thi Thư được dạy như là những lời dạy bất di bất
dịch của Thánh hiền, cộng thêm những người diễn giảng
như Lưu Huy và Tiết Tôn này sùng bái Thi Thư như chân lý,
và tôn kính “Đất Hán là trung tâm của trời đất”, ngoài
đất Hán ra thì không có đất nào khác. Một bên là Mâu Tử
thẳng thừng tuyên bố “Thi Thư chưa hẳn là lời của Thánh
hiền” và “ Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời
đất”, làm nên những cú đánh sấm sét đã phá ngay các
quan điểm hẹp hòi, độc tôn ấy”.
Đó
là vị trí Mâu Tử của Giao Châu còn trên vũ đài của thế
giới thì Mâu Tử đứng ở nơi nào?
Dường
như tình hình chính trị của nước ta dưới thời Mâu Tử,
cũng có gì đó tương tự như Âu châu dưới thời mà có sử
gia gọi là thời trung cổ. Nghĩa là cũng như nhà Hán, các
Nho sĩ đã xem Thi Thư như là chân lý tuyệt đối của Thánh
hiền, thì Âu châu thời trung cổ giáo hội La mã cũng lợi
dụng Thánh kinh (Bible) như là chân lý tuyệt đối để thống
trị. Giai cấp quí tộc và Tăng lữ đã cấu kết với nhau
để vơ vét của cải của quốc gia, sống xa hoa sa đọa trên
sự đau khổ của thần dân.
Không
thể chịu đựng được những nhà trí thức còn một chút
lương tri bị bắt buộc phải lên tiếng. Đầu tiên họ bắt
đầu chế nhạo các nghi lễ có tính cách khôi hài của giáo
hội, Wyeliffe (1320 – 1384) cho rằng việc giáo hội nói ăn
bánh thánh được các linh mục cho các con chiên ăn trong lúc
lễ bái “sẽ biến thành xương thịt của Jesus” là hoàn
toàn láo khoét. Sau đó, tại Tiệp Khắc môn đệ của Wyeliffe
là Jean Huss hô hào tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, đòi
truy cứu lại tất cả lời dạy của Jesus trong Kinh thánh.
Năm
1513 Jean Huss bị giáo hội thiêu sống, không đầy một năm
sau (1514) môn đệ của Jean Huss là Jerôme de Prague cũng cùng
một số phận bi thảm như ông, nghĩa là cũng bị thiêu sống.
Nhưng phong trào Jean Huss vẫn phát triển khắp nơi, nhất là
ở Bohême. Nhưng rồi cuối cùng thì giáo hội đã phải nhân
danh “Thánh chiến” mà dẹp tan.
Có
quá lắm không, khi sử gia Tom Paine cũng là chính trị gia lỗi
lạc người Mỹ gốc Anh đã tuyên bố thẳng thừng rằng:
The Age of ignorance commenced with Christian system. Chắc là không
quá lắm, vì chẳng phải trước Galilê một phần của nhân
loại đã bị đầu độc một cách ngu si rằng trái đất là
trung tâm của vũ trụ, và mặt trời thì xoay quanh nó. Nhưng
khi Galilê đính chính lại, nghĩa là đúng với sự thật, nhưng
chỉ trái với Thánh kinh thôi, thì bắt đầu từ năm 1633 nhân
loại lại phải chứng kiến một sự thật đau lòng vì sự
ngu si đã được chính thức lên ngôi, ngày 21 tháng 06 năm
1633, Galilê nhà vật lý học, triết học, toán học và thiên
văn học của Italia đã bị giải đến Rôma, bị bắt buộc
phải thừa nhận là mình đã bán bổ Thánh kinh nghĩa là những
gì Thánh kinh nói mới là chân lý, còn những gì mà Galilê
vừa công bố là sai lầm. Truyền thuyết nói rằng, khi rời
toà nhà xử án, Galilê với dáng lom khom vì già cả, nhưng
lại nhất định không chịu lom khom trước quyền lực ngu
si, đã lẩm bẩm trong miệng rằng: “Dầu sao thì trái đất
vẫn đang quay” (Eppur si muove)
Nếu
lịch sử của Âu châu đã hết lòng ca ngợi và tôn vinh những
Wyeliffe, Jean Huss, Jerôme de Prague và nhất là Galilê như những
kẻ đã oanh liệt chống trả lại những kẻ đã lợi dụng
Thánh kinh để gieo rắc sự ngu si tăm tối trên đầu nhân
loại như là những vĩ nhân, thì nhất định Mâu Tử của
Việt Nam cũng đứng vào hàng ngũ của những vĩ nhân ấy,
vì Mâu Tử cũng chống trả lại một cách quyết liệt một
loại Vatican khác của Viễn Đông “Một đất Hán là trung
tâm của đất trời”, nhưng nếu nói vĩ đại thì chắc chắn
Mâu Tử phải vĩ đại hơn, vì Mâu Tử mới là kẻ tiên phong.
Phải đợi đến gần 13 thế kỷ sau thì những nhà trí thức
của Tây phương này mới lên tiếng tố cáo những kẻ đã
rắp tâm đưa nhân loại trở lại thời đồ đá để dễ
bề thống trị.
Nhân
chuyện Mâu Tử đến tị nạn rồi “dốc chí học Phật”
tại Giao Châu. Sau đó lại viết Lý Hoặc Luận (đã trình
bày ở trên) một tác phẩm lý luận không chỉ là đầu tiên
của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ thứ 2 mà gần như là
cả khu vực Viễn Đông nữa. Chính từ sự hãnh diện này,
một lần nữa, câu hỏi: Vậy Phật giáo đã truyền đến
nước ta từ thời nào? Lại có dịp trỗi dậy trong mỗi người
chúng ta, những người mà chẳng phải đã chỉ hãnh diện
thôi mà còn mong ước một ngày mai tươi sáng để Phật Giáo
Việt Nam xứng đáng với cái quá khứ oanh liệt đó nữa sao?
Thực ra, theo tác giả LSPGVN “Đây là câu hỏi, không phải
đợi đến thời đại chúng ta mới đặt ra, mà đã xuất
hiện từ hàng ngàn năm trước. Tối thiểu, vào năm 1096 Hoàng
thái hậu Ỷ Lan đã nêu lên và được Quốc sư Thông Biện
trả lời như sau, dẫn lời của Đàm Thiên: “Xứ Giao Châu
đường thông với Thiên Trúc (Ấn Độ). Khi Phật pháp chưa
tới Giang Đông (nước Tề) thì ở Luy Lâu (Kinh đô của Giao
Chỉ, nay là làng Lũng Khê ở phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh), đã có xây hơn 20 ngôi chùa, chọn hơn 500 vị tăng, và
tụng 15 ngàn quyển kinh rồi. Vì đó, mà người ta đã nói
rằng Giao Châu theo Phật trước chúng ta. Lúc ấy đã có những
vị như Ma Ha Kê Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lưu Chi và
Mâu Tử ở đó”.
Bây
giờ ta xem thử tác giả LSPGVN có giải tỏa phần nào nỗi
thắc mắc của Phật tử Việt Nam từ hơn một ngàn năm nay
không?
Ngoài
chứng cớ nói rằng người Giao Châu của chúng ta đã biết
trồng hoa Uất kim hương “Tulip” cúng Phật như được Dương
Phù trong Nam Duệ Di Vật (hay Nam Châu). Một thông tin được
xem như sớm nhất, xuất hiện khoảng 100 sdl ra, thì theo tôi
các thông tin sau đây lại cũng có thể rất chính xác?
1)
Trước hết, tác giả dẫn chuyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh
Nam Chích Quái tác phẩm của đời Trần. Theo đó, Chữ Đồng
Tử, chồng của Tiên Dung Mỵ Nương (Con của Vua Hùng) được
một nhà sư tên là Phật Quang truyền dạy đạo Phật tại
một ngôi chùa ở núi Quỳnh Viên. Núi Quỳnh Viên này mà hầu
hết các nhà nghiên cứu Việt Nam (trong đó có nhóm chủ biên
thơ văn Lý Trần) trong tập 3 đã chú thích là: “Một quả
núi trong thần thoại”. Nhưng tác giả LSPGVN đã bác bỏ quan
điểm đó, và xác nhận rằng, núi Quỳnh Viên là hòn núi
có thật. Tác giả dẫn chứng hai câu thơ của Vua Lê Thánh
Tông có tên là Nam Giới Hải Môn, được nhà vua sáng tác
vào năm 1470, khi Lê Thánh Tông kéo quân đi chinh phạt Chiêm
Thành:
Di
miếu man truyền Kim Vũ Mục
Danh
Sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên
Di
miếu còn truyền nay Vũ Mục
Danh
sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên
Tác
giả cho rằng: “Vũ Mục là chỉ cho tướng Lê Khôi, cháu
ruột của Lê Lợi. Năm Thái Hoà thứ 2 (1444) đi đánh Chiêm
Thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cái, khi trở về đến cửa
biển Nam giới thì mất. Dân chúng thương nhớ, lập đền
thờ tại cửa biển này. Cửa biển này được dân địa phương
gọi nôm na là cửa Sót (Hà Tỉnh), còn núi Quỳnh Viên thì
nằm ở phía Nam cửa biển này và từ thời Lê Thánh Tông
đã được xác nhận là một danh sơn, tức hòn núi có tiếng
tăm của đất nước”. Bởi vậy, nên tác giả khẳng định
rằng: “Nó dứt khoát không phải là một ngọn núi thần
thoại, càng không phải là một hòn núi không có địa điểm
cụ thể tại đất nước ta. Nó quả là một hòn núi nằm
tại cửa Sót. Và trên núi Quỳnh Viên này còn có một ngôi
chùa”.
Chỉ
có việc tác giả dẫn chứng được núi Quỳnh Viên là một
hòn núi có thật chứ không phải hòn núi thần thoại thôi,
thì vấn đề Phật Giáo được truyền vào nước ta vào thời
đại Hùng Vương đã được hé mở một phần nào rồi.
2)
Tác giả trích một câu viết của Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu
Ký: “Thành Nê Lê ở phía Đông Nam huyện An Định cách sông
bảy dặm, tháp và giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn.
Những người đốn củi thường gọi là Kim Tượng”.
Điều
quan trọng là phải xác định được thành Nê Lê thuộc huyện
An Định nằm ở đâu? và có phải huyện An Định là một
huyện của nước ta hay không? Tác giả LSPGVN dẫn chứng:
“Tài
liệu sớm nhất nhắc tới thành này là Thuỷ Kinh Chú quyển
37 của Lê Đạo Nguyên: “Bến đò Quan Tắc phát xuất từ
đó, xong nó từ phía Đông huyện đi qua huyện An Định và
Trường Giang của Bắc Đái. Trong sông có nơi vua Việt Vương
đúc thuyền đồng. Khi nước triều rút, người ta còn thấy
dấu vết. Sông lại chảy về phía Đông, cách sông có thành
Nê Lê, mà người ta bảo là do vua A Dục dựng”.
Theo
Tiền Hán Thư 28 (hạ) thì huyện An Định là một trong mười
một huyện thuộc quận Giao Chỉ, gồm có Luy Lâu, Liên Lâu,
Phú Lầu, Mê Linh, Khúc Dương, Khúc Bắc Đái, Khể Từ, Tây
Vu, Long Biên, Chu Diên và An Định. Sau đó, An Định lại được
đổi lại thành Định An. Và cứ như vậy trong vòng năm thế
kỷ, danh xưng Định An hay An Định cứ thay đổi nhau để
chỉ cho một vùng đất, một huyện của Giao Chỉ.
Sau
khi đã nhắc đến Claude Madrolle, trong Tokin ancient (1937), cho
rằng thành Nê Lê tức thành bùn đen, và đi đến giả thuyết
Nê Lê chính là vùng Đồ Sơn thuộc Hải Phòng ngày nay. Nhưng
tác giả LSPGVN cho rằng giả thuyết này không đúng, vì “Nê
Lê hiểu nghĩa bùn đen tất nhiên không phù hợp với văn phạm
chữ Hán. Bởi vì nếu hiểu Nê là bùn, và Lê là màu đen,
thì thành này có tên là Lê Nê, chứ không phải là Nê
Lê. Hơn nữa cụm từ Nê Lê trong Hán văn thường được dùng
như một phiên âm của chữ naraka của tiếng Phạn, và naraka
lại có nghĩa là địa ngục”.
Vậy
nếu thành Nê Lê không nằm ở Đồ Sơn thuộc thành phố Hải
Phòng, thì theo tác giả nó nằm ở đâu? “Tại vùng núi Tam
Đảo có ba ngọn cao nhất là Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên
Kỳ. Trong đó, giữa chân ngọn Thạch Bàn, tại làng Sơn Đỉnh,
có ngôi chùa tên là Tây Thiên. Chùa này tương truyền là có
liên hệ với vua Hùng và có một bản Ngọc phả về vua Hùng
thờ tại đây. Điều lôi cuốn là chùa Tây Thiên này lại
có tên nôm na là chùa Địa Ngục. Đã là chùa thì thiếu gì
tên tại sao lại có thể tên là Địa Ngục, phải chăng do
từ chữ Phạn naraka mà ra? Huyện An Định do thế có khả
năng nằm tại vùng núi Tam Đảo này chăng?”.
Dù
giả thiết như thế nhưng tác giả cũng tạm đi đến kết
luận: “Trước mắt chùa Địa Ngục mà cũng còn gọi là
chùa Tây Thiên này đã ám chỉ ít nhiều đến thành Nê Lê
của huyện An Định. Cần lưu ý rằng huyện An Định ở quanh
vùng núi Tam Đảo, vì cũng chính nơi đây, đã có thành Cổ
Loa xưa, mà việc khai quật được những mũi tên đồng đã
biểu hiện ít nhiều tính cổ sơ của huyện này. Nói thẳng
ra, những di liệu khảo cổ học như thế chứng tỏ vùng đất
này từ thời Hùng Vương đã từng là trung tâm chính trị
và quân sự của chính quyền Lạc Việt”.
Khi
xuất bản tập 2 (2001) tác giả LSPGVN lại bổ túc thêm thông
tin về ngôi chùa có tên là Tây Thiên hay Địa Ngục này. “Trong
Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quý Đôn viết: “Núi Tam Đảo ở
địa phận xã Lan Đình và Sơn Đỉnh huyện Tam Dương (…)
sườn núi có chùa cổ Tây Thiên (…) trên đỉnh núi có chùa
cổ Đồng Cổ (…). Suối từ sườn núi chảy ra. Chùa bên
phải này vuông vắn hơn một trượng, tượng toàn bằng đá,
cánh cửa hai bên khoá chặt lại bằng khoá sắt lớn, trên
có viên đá khắc chữ triện Địa Ngục tự, không biết dựng
từ thời nào?”
3)
Và một bằng chứng nữa cho thấy Phật giáo đã đến nước
ta từ thời Hùng Vương, nghĩa là những thế kỷ trước Công
nguyên: “Trong các loại thần tích của các xã, ta biết trong
số các tướng tá của Hai Bà Trưng (mà tác giả cho rằng
là triều đại cuối cùng của các vua Hùng tồn tại đến
39 – 43 sdl) sau khi bị Mã Viện đánh bại, một số đã mai
danh ẩn tích trong các giáo đoàn Phật giáo. Một trong những
vị này được biết tên là Bát Nàn Phu Nhân đã xuất gia”.
Trong tập 2 lại bổ túc thêm, một số nữ tướng nữa cũng
rút vào các chùa như nữ tướng Tiên La, nữ tướng Thiều
Hoa, sinh ngày mùng 2 tháng giêng năm Quý Tỵ (3 sdl). 16 tuổi
cha mẹ đều mất, nên đã vào chùa Phúc Khánh tức chùa làng
Hiền Quang ngày nay. Khi nghe Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Định,
bà Thiều Hoa đã chiêu mộ được 500 quân về hưởng ứng.
Sau khi thắng trận, bà Thiều Hoa trở lại chùa và mất sau
đó một năm tức 37 sdl. Ngày nay đền thờ bà Thiều Hoa vẫn
còn tại làng Hiền Quang huyện Tam Tỉnh tỉnh Phú Thọ. Ở
toà tiền tế của đền còn treo bức đại tự Diệt Bạo
Tướng Quân và nhiều câu đối nói về việc bà đã tu và
chết tại chùa Phúc Khánh cùng việc bà đã làm phụ tá cho
Hai Bà Trưng. Bà Thiều Hoa này cũng là người đã khai sáng
ra hội Phết Hiền Quang”.
Vậy
là đến đây ta đã có đủ chứng cớ chính xác để kết
luận như tác giả LSPGVN rằng:
“Vị
Hùng Vương của thời Chữ Đồng Tử ta có thể xác định
vào những thế kỷ trước Dương Lịch, có khả năng là Hùng
Nghị Vương thứ 1 hoặc thứ 2, tức khoảng thế kỷ thứ
2 – 3 trước Dương Lịch”.
Và
Chữ Đồng Tử là người Phật tử đầu tiên của Việt Nam
chúng ta vậy.
Chính
vì Phật giáo có thể đã chính thức có mặt tại nước ta
từ những năm 247-232 trước Dương Lịch, tức những năm mà
phái đoàn của Sona của vua A Dục phái đến vùng Suvanbhumi
(Đông Nam Á, hay có thể là Đông Dương?) để truyền bá giáo
pháp vĩ đại của Đức Thế Tôn như vậy, nên ta chẳng lấy
gì làm lạ khi đến thế kỷ thứ 7 thì Phật giáo nước ta
đã bắt đầu phát triển rầm rộ, bằng chứng là phong trào
đi Ấn Độ cầu pháp của các cao tăng nước ta đông đảo
không thua gì các cao tăng Trung Quốc. Cảm động biết bao khi
ta biết được đã có một Khuy Xung “bẩm tính thông minh,
giỏi đọc kinh Phạn ngữ, đi đến chỗ nào thường hay viết
thành bài để hát lên. Ban đầu đến lễ cây Bồ Đề. Tới
thành Vương Xá thì mắc bệnh tại vườn Trúc. Bèn ở lưu
lại hồi lâu. Rồi mất, tuổi khoảng 30.”
Ngoài
Khuy Xung ra, còn có Vận Kỳ, Giải Thoát Thiên, Huệ Diệm,
nhưng nổi bật nhất có lẽ là Đại Thừa Đăng (Mahàyanapradipa)
người Ái Châu (Thanh Hoá). Theo cha mẹ đi thuyền đến nước
Đỗ Hoa La Bát Để (Dvaravati) theo tác giả thì nay thuộc tỉnh
Nakhom Pathon và Chai Nát của Thái Lan và đã xuất gia tại đó.
Sau theo sứ giả của nhà Đường là Diệm Tự đến kinh đô
Trường An của Trung Quốc, theo học và thọ giới cụ Túc
với pháp sư Huyền Trang.
Sau
khi dịch xong bộ Đại Bát Nhã 600 quyển vào cuối tháng 10
năm Long Sóc thứ 3 (663) mà Huyền Trang đã bắt đầu dịch
vào năm Hiền Khánh thứ 5 (600). Chỉ bốn tháng sau thì Huyền
Trang tịch.
Sau
khi Huyền Trang tịch, Đại Thừa Đăng lại rời Trường An
lên đường thực hiện chí nguyện của mình, chí nguyện ấy
được Nghĩa Tịnh, một nhà cầu pháp vĩ đại của Trung Quốc
ghi lại trong Đại Đường Cầu Pháp trong cao tăng truyện là:
“Dồn chí vào thành Vương xá, chứa lòng tới vườn Trúc,
mong đập nát tám nạn, rốt tìm được bốn vòng…”.
Sau
khoản 20 năm ở Ấn Độ, cuối cùng Đại Thừa Đăng đã
đến nơi Đức Phật nhập Niết Bàn ở thành Câu Thi Na, và
tịch tại đó, thọ 60 tuổi.
Huyền
Trang còn có một đệ tử nữa có tên là Đại Thừa Quang,
mà Tống Cao Tăng truyện cho là không biết quê quán ở đâu,
nhưng lại là một phụ tá lỗi lạc của Huyền Trang trong
công tác phiên dịch: “Lại thường theo Huyền Trang đến
cung Ngọc Hoa dịch Đại Bát Nhã. Công của Quang vượt ra khỏi
những người cùng giúp, nên bấy giờ có hiệu là Đại Thừa
Quang. Xem Huyền Trang từ năm Trinh Quán thứ 19 (645) bắt đầu
phiên dịch cho đến năm Lân Đức thứ 1 (664) thì mất ở
cung Ngọc Hoa. Phàm 20 năm dịch ra tổng số 75 bộ Kinh Luật
Luận của Đại Thừa và Tiểu Thừa gồm 1.335 quyển, thì
10 phần, 7- 8 phần là do Quang bút thọ”.
Vậy
Đại Thừa Quang là ai? Có liên hệ gì với Đại Thừa Đăng
không?
Sau
khi tiến hành phân tích, đối chiếu các dữ liệu, tác giả
LSPGVN kết luận một cách bất ngờ:
“Có
một điều hết sức lý thú là chữ Phạn Pradipa trong Câu
Xá Luận có khi Huyền Trang dịch là Đăng, nhưng cũng có khi
lại dịch là Quang. Như những tác giả Phạn Hoà Đại Tự
Điển đã chỉ ra. Nói cách khác, Đại Thừa Đăng của Nghĩa
Tịnh chính là Đại Thừa Quang của Huyền Trang, chỉ là một
người”
Vậy
là trong sự nghiệp dịch thuật vĩ đại của Huyền Trang “thì
có đến bảy tám phần” là do Đại Thừa Đăng của Việt
Nam bút thọ.
Như
vậy là vì đọc nhiều và thông hiểu nhiều ngôn ngữ nên
giáo sư Lê Mạnh Thát đã cho ta nhiều khám phá bất ngờ như
trường hợp Đại Thừa Đăng trên. Còn một khám phá nữa
mà theo tôi cho là cũng bất ngờ không kém đó là việc giáo
sư phân tích bài thơ sau đây của thi hào Trương Lịch, bài
thơ có nhan đề “Tống Nhật Nam Tăng”:
Độc
hướng song phong lão
Tùng
Môn Bế lưỡng nha
Phiên
kinh thượng tiêu diệp
Quải
nạp lạc đằng ba
Thức
thạch tân khai tỉnh
Xuyên
lâm tự chủng trà
Thời
phùng Nam Hải khách
Man
ngữ vấn thuỳ gia
Song
Phong già riêng nhắm
Cửa
tùng đôi cánh gài
Lá
chuối trên kinh dịch
Bông
mây rụng áo phơi
Lật
đá khơi giếng mới
Trồng
chè rừng tự xoi
Khi
gặp khắp Nam Hải
Tiếng
mọi hỏi nhà ai
Qua
hai câu đầu của bài thơ ta được biết Trương Tịch đã
gặp một nhà sư Việt Nam của chúng ta tại núi Song Phong.
Nhưng Song Phong ở đâu? Tác giả cho biết: “Tại Trung Quốc
có hai ngọn núi tên Song Phong nhưng ngọn nổi tiếng nhất
nằm tại Tào Khê của Lục Tổ Huệ Năng (638-713). Tiểu sử
của Huệ Năng trong Tống Cao Tăng truyện quyển 8 có chép:
“Bấy giờ thứ sử Vi Cú khiến Huệ Năng ra chùa Đại Phạm.
Năng nhất mực từ chối bèn vào Song Phong bên khe của Tào
Hầu”. Từ đó về sau, đặc biệt là từ đời Tống, Song
Phong thường gắn kết với Huệ Năng, như Trí Cự viết Song
Phong sơn Tào Khê hầu Bảo Lâm truyện in trong Đại Tạng Kinh.
Nhưng theo tác giả thì: “Tuy nhiên, vào đời nhà Đường,
Song Phong phần lớn là để chỉ cho ngọn núi của Đạo tín
nằm ở tỉnh Hồ Nam ngày nay”.
Nhưng
rõ ràng là 2 câu thơ của Giả Đảo:
Tam canh lưỡng mấn cơ chi tuyết
Nhất niệm Song Phong Tứ Tổ tâm
Bao canh mái tóc bao cành tuyết
Mật niệm Song Phong Tứ Tổ lời
Nhưng
vị Thiền sư của quê hương chúng ta đang làm gì tại Thiền
viện ở núi Song Phong?
Căn
cứ vào câu:
Phiên kinh thượng tiêu diệp
Lá chuối trên kinh dịch
Tác
giả đoán chắc rằng vị thiền sư của quê hương chúng ta
đang dịch kinh Phật trên ngọn lá Bối (một số bản thì
bảo là lá chuối) Thiền sư dịch kinh bằng ngôn ngữ nào?
Chắc chắn không phải là chữ Hán, vì hai câu thơ cuối Trương
Tịch viết:
Thời phùng Nam Hải khách
Man ngữ vấn thuỳ gia
Khi gặp khách Nam Hải
Tiếng mọi hỏi nhà ai?
Dĩ
nhiên tiếng mọi ở đây để chỉ cho tiếng Việt, dưới
cái nhìn của các nhà trí thức Thiên triều. Rồi tác giả
kết luận: “Có khả năng nhà sư Nhật Nam của chúng ta tại
một Thiền đường của trung tâm Song Phong của Đạo Tín đang
cặm cụi phiên dịch bản kinh chữ Hán hoặc Phạn ra tiếng
Việt để gửi về lại cho quê mình đọc.
Dù
đó là Song Phong của Đạo Tín hay Huệ Năng đi nữa, thì chúng
ta cũng vô cùng hãnh diện vì quê hương của chúng ta có một
Thiền sư đã đến học thiền tại trung tâm Song Phong này,
một dòng Thiền mà Bồ Đề Đạt Ma đã đem từ Ấn Độ
vào Trung Quốc. Sau đó đã tràn lan khắp khu vực thuộc miền
Viễn Đông. Và gần một thế kỷ nay đã ào ạt chinh phục
mạnh mẽ vào các nước Tây phương. Và đặc biệt hơn nữa
là vị Thiền sư của chúng ta đã được Trương Tịch, một
người mà Cựu Đường Thi bảo rằng: “Những tài danh như
Bạch Cư Dị, Nguyễn Chẩn, Hàn Dũ rất tôn trọng” vậy
mà vừa mới gặp lần đầu, thi hào được kính trọng này
đã xúc cảm đến nổi phải để lại cho hậu thế một bài
thơ tuyệt đẹp.
Nhưng
độc đáo nhất trong 3 tập LSPGVN của giáo sư Lê Mạnh Thát,
theo tôi là đã để ra cả 2 chương 8 và 9 để viết về 6
lá thư và cuộc khủng hoảng của nền Phật giáo Việt Nam
ở thế kỷ thứ 5. Đó là 6 lá thư đối đáp giữa hai Pháp
sư Đạo Cao và Phát Minh cho đệ tử có tên là Lý Miễu.
Những
thắc mắc của vị sứ quân có tên là Lý Miễu này xoay quanh
vấn đề tại sao thực hành Phật giáo mà không thấy chân
hình của Đức Phật ở đời? Tác giả cho rằng: “Đặt
vấn đề như thế là nhắm đến trọng tâm của toàn bộ
sinh hoạt Phật giáo, vì sinh hoạt Phật giáo đâu có ý nghĩa
gì ngoài mục đích làm cho những người thực hành nó giác
ngộ, nghĩa là tìm lại bản chất Phật giáo của chính mình.
Do vậy, hỏi sao không thấy chân hình của Phật đối với
người Phật giáo là nêu lên những nghi vấn về chính mục
đích mình đang theo đuổi, là tự hỏi về sự hiện hữu
của chính mục đích đó. Có thể nào ta thấy Đức Phật
chăng? Có thể ta giác ngộ chăng?”
Chắc
chắn không phải là một sự ngẫu nhiên khi vị sứ quân này
tự mình có đủ khả năng để gây nên cuộc khủng hoảng
về nội dung tu tập của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ thứ
5, mà phải có nguyên nhân sâu xa của nó. Đó là vì sự có
mặt của một trong những nhân vật được đánh giá là lỗi
lạc nhất của Phật giáo Trung Quốc thời bấy giờ, đó chính
là Thích Huệ Lâm. Huệ Lâm là đệ tử của Đạo Uyên, Đạo
Uyên lại cũng là một trong những cao đệ của Cưu Ma La Thập
ở Trường An và đã tham dự vào công tác dịch thuật vĩ
đại của Cưu Ma La Thập. Còn Huệ Lâm học trò của Đạo
Uyên thì tiếng tăm lừng lẫy cũng không khác gì thầy mình,
mà có thể hơn nữa, vì Huệ Lâm được giới trí thức hâm
mộ, một trong số đó là Hà Thừa Thiên chẳng hạn. Hà Thừa
Thiên là một trong những nhà thiên văn học lỗi lạc của
Trung Quốc cổ đại.
Không
phải chỉ giới trí thức thôi, mà Huệ Lâm còn được Tống
Thái Tổ tức Tống Văn Đế, trị vì vào những năm 424 - 453
trọng dụng nữa, tiểu sử chép rằng: “Trong khoảng nguyên
gia, Huệ Lâm tham dự quyền yếu, triều đình đại sự cùng
tham dự bàn cải”. Một nhân vật lỗi lạc như vậy, là
tinh hoa không những của Phật giáo Trung Quốc ở thế kỷ
thứ 5 mà còn cả giới trí thức nữa lại đột nhiên có
mặt ở nước ta? Vì sao như thế?
Đó
là vì Huệ Lâm đã viết Quân Thiện Luận, một tác phẩm
gặp phải những phản đối quyết liệt từ tập thể Tăng
già Trung Quốc thời bấy giờ. Họ kết án Huệ Lâm, đòi
lột áo tu và đuổi ra khỏi nước. Nhưng nhờ Tống Văn Đế
che chở nên lệnh trục xuất chưa được thi hành. Cho đến
khi Tống Văn Đế băng hà thì Huệ Lâm mới bị đày đến
nước ta. Tác giả LSPGVN cho là: “Lâm có thể đã sống tại
nước ta cho tới lúc Lý Trường Nhân thực sự lập chính
quyền độc lập của mình vào năm 468” và Lý Miễu, người
đã gửi thư cho Đạo Cao và Pháp Minh cũng có thể là Lý Thường
Nhân, vì trong lá thư thứ 4 Đạo Cao và Pháp Minh đã xem Lý
Miễu “đang ở vào địa vị của một bậc Thiên tử” (Cư
Đại Bảo chi địa). Từ đó, tác giả LSPGVN suy luận là những
thắc mắc của Lý Miễu: “Nếu bảo lời dạy ấy khéo hay
lợi vật, độ thoát nhiều người thì sao chân hình không
hiện ra ở đời? Ấy chẳng qua là nói suông không thật”.
Bắt nguồn từ việc tác giả Quân Thiện Luận của Huệ Lâm
bị đày đến nước ta.
Bây
giờ ta thử xem nội dung của Quân Thiện Luận nói gì để
khiến cho giới Tăng lữ Phật giáo Trung Quốc phẫn nộ và
cuối cùng đuổi tác giả của nó đến nước ta?
Tôn
Bính, một nhà trí thức cùng thời với Huệ Lâm đã tóm tắt
7 điểm mà Huệ Lâm đã chỉ trích Phật giáo là: 1) Vấn đề
u minh không liên lạc với đời này; 2) Vấn đề nói suông
về Không và Hữu; 3) Vấn đề vô thường để dụ dỗ sự
khát khao của người ta không có chi sâu sắc; 4) Vấn đề
nói chuyện “Vô lượng thọ” và thần quang linh biến; 5)
Vấn đề mâu thuẫn giữa lý thuyết vô dục và việc đem
những thứ tân kỳ như Niết Bàn và Pháp thân để tăng trưởng
lòng dục của Phật giáo; 6) Vấn đề làm chùa đẹp, đúc
tượng cho khéo để tăng trưởng lòng cạnh tranh bè lũ; 7)
Vấn đề nên bỏ đi những chuyện “hiển hối” và “vô
sanh”.
Ở
đây, chúng ta hãy để ngoài những điểm khác, chỉ cần điểm
6: “Vấn đề làm chùa đẹp, đúc tượng cho khéo để tăng
trưởng lòng cạnh tranh bè lũ” thôi, thì chắc chắn không
chỉ có giới Tăng lữ thời Huệ Lâm ở thế kỷ thứ 5 phản
đối mà cả giới Tăng sĩ thời hôm nay, đầu thế kỷ 21
này còn phản đối dữ dội hơn. Vì sao? Vì Huệ Lâm đã đánh
trúng vào căn bệnh hiểm nghèo gần như vô phương cứu chữa
của giới Tăng sĩ ở bất cứ thời nào.
Nhưng
nếu chỉ trích mà không đưa ra được một giải pháp để
thay thế cho cái mình chỉ trích, thì nhất định sự chỉ
trích đó bị kết án là phá hoại là một điều hiển nhiên,
không thể chối cãi.
Nếu
ta đọc thật kỹ những lời đối đáp cuối cùng giữa “Hắc”
và “Bạch”, thì ta sẽ nhận ra rằng, Huệ Lâm có một ước
mơ cho Phật giáo của riêng mình:
“-
Hắc: kết luận của Ngài như vậy khá khéo đồng nhất với
kết luận của tôi. Thế thì mọi việc chấm dứt ở đời
sống này sao?
- Bạch:
lẽ u minh thật ra không liên quan đến nhân sự. Chu Khổng
nghi mà không giải thích, Thích Ca giải thích mà không thật
sự. Do thế, nên bỏ đi dấu vết mập mờ và giữ lại cái
tôn chỉ cốt yếu. Xin nói rõ thêm điều này. Rằng, để
dẫn dắt mọi người, ta phải dùng nhân nghĩa để làm cho
họ chịu lẽ mà theo sự giáo hoá; để lãnh đạo mọi người,
ta phải dùng khuyên răn để làm cho họ tránh lợi mà nghiêng
về thiện. Cho nên, lời ngọt chỉ dấy lên khi còn hữu dục,
mà tức khắc lặn đi khi đã hiểu lẽ, lý thuyết đạm bạc
lưu hành chỉ có thuyên giải, nhưng tàn lụi ở trong tham luỵ.
Do thế, kẻ bày ra chuyện lai sanh, ấy là che lấp làm sứt
mẻ đạo vậy. Thích giáo bất đắc dĩ bày ra chuyện u ám,
ấy là mặc nhiên phù hợp với việc im lặng của Cơ Khổng.
Cứ đó mà xét thì kẻ bàn về nó chưa chắc là cao siêu,
kẻ biết chưa chắc là đúng, kẻ không biết chưa chắc là
sai. Chỉ biết rằng, Lục Độ với Ngũ Giáo cùng hành, tín
thận với từ bi đều lập. Chúng thù đồ mà đồng qui. Cho
nên, không được giữ chặt lấy vết phát tích khác nhau của
chúng.”
- Như
vậy qua Quân Thiện Luận, Huệ Lâm muốn nói gì? Có phải
Huệ Lâm muốn nói như sự giải thích của tác giả LSPGVN
sau đây:
“Giáo
lý của Đức Phật đối với ông không phải là một thứ
lý thuyết, để người ta dựa vào kết bè làm bậy. Nó không
phải là thứ lý thuyết đem ra để dọa mọi người về những
thứ thiên đường địa ngục với những thứ quả báo u minh.
Nó cũng không phải là một thứ lý thuyết về diệt dục
hay không diệt dục. Phật giáo với ông như vậy phải là
một lý thuyết đầy cởi mở và tình thương, là một lý
thuyết giúp đỡ con người có một đời sống xã hội tràn
đầy và thỏa mãn”.
Với
tất cả thẩm quyền của một sử gia, tác giả cho rằng:
“Có thể Huệ Lâm là nhà tư tưởng Phật Giáo Trung Quốc
đầu tiên đặt Phật Giáo trên một quan niệm xã hội chính
trị và muốn biến Phật giáo thành một lý thuyết xã hội
chính trị nhà nước”. Và chính Huệ Lâm là người mở đường
cho lý thuyết chính trị nhà nước của Vệ Nguyên Tung sau
này. Và chính nhờ có lý thuyết chính trị xã hội nhà nước
của Vệ Nguyên Tung mà sau khi nhà Chu sụp đổ thì “từ trên
đống gạch vụn sụp đổ đó nổi lên một khuôn mặt anh
tài là Dương Kiên, người mãnh liệt tin tưởng Phật pháp
và đã thống nhất toàn quốc Trung Hoa sau đúng 300 năm chia
cắt, mở đầu cho sự thành lập nhà Đường thịnh trị vĩ
đại tiếp theo, đặt cơ sở cho sự nghiệp hoằng pháp dịch
thuật vĩ đại của những vị như Huyền Trang và tương tự”
Huệ
Lâm là một tăng sĩ Phật giáo sanh ra và lớn lên trên đất
nước của Nho Giáo, nên Huệ Lâm đã ý thức một cách triệt
để rằng, mình phải làm gì cho lý tưởng Phật giáo mà mình
đang tôn thờ, dù Huệ Lâm biết chắc rằng chính Huệ Lâm
phải đổi một cái giá rất đắt cho việc làm gây nhiều
ngộ nhận đó.
“Tổng
kết những lý do và hoàn cảnh trường hợp trên, người ta
bây giờ có thể thấy Huệ Lâm viết Quân Thiện Luận trong
ước mơ và điều kiện nào. Chính tự chúng mà ta phải hiểu
tại sao Lâm đã thốt lên những câu như: “Thích ca biện
như bất thật”. Chúng nhằm vạch ra cho phần lớn tăng sĩ
thời ông thấy là, thứ “Thích Ca” mà họ tôn sùng, đối
với Lâm thật sự không có một quyền uy phải kính trọng
nào. Nỗ lực của Lâm có thể nói là đã nhắm đến mục
đích hết sức vĩ đại và cao viễn, đó là thật sự đồng
hoá lý thuyết chính trị của Chu Khổng vào lý thuyết Phật
giáo, để cuối cùng hoàn toàn thế chân Chu Khổng ngay cả
trong lãnh vực lý luận và lý thuyết chính trị nhà nước”.
Đó
là ước mơ và hoài bảo của Huệ Lâm cho Phật giáo của
chính ông. Tất nhiên những ước mơ cao viễn như vậy thì
làm sao những người đi tu với mục đích cuối cùng là ‘Làm
chùa cho đẹp, đúc tượng cho khéo, để tăng trưởng lòng
cạnh tranh bè lũ’ thì làm sao có thể hiểu được chứ?
Nhưng
đằng sau những lời lẽ có vẻ “huỷ báng”, có vẻ lạnh
lùng, tàn nhẫn, và nghiêm khắc đó là cái gì?
Người
ta thường nói rằng gần như tất cả những thiên tài đều
mang nặng trong mình một bi kịch nào đó. Chắc Huệ Lâm cũng
không ra khỏi thông lệ này chăng?
Nếu
ta đọc hai bài văn mà Huệ Lâm đã làm để truy điệu cho
hai người bạn đạo thân thiết nhất của đời mình, thì
ta sẽ nhận ra điều đó.
Bài
thứ nhất Huệ Lâm làm để truy điệu cho Đạo Sanh. Đạo
Sanh như ta đều biết, là một trong những cao đệ của Cưu
Ma La Thập. Đạo Sanh đã bị nhóm “cựu Tăng” đuổi ra
khỏi chúng, vì đưa ra quan điểm rằng ngay cả Nhất Xiển
Đề (Iccantikas) cũng có thể thành Phật, vì quan điểm cấp
tiến này, nên Đạo Sanh đã bị nhóm “cựu Tăng” kết án
là rao giảng “tà thuyết”, rồi họ đuổi Đạo Sanh ra khỏi
hàng ngũ Tăng chúng. Nhưng sau khi kinh Niết Bàn được Pháp
Hiển từ Ấn Độ mang về. Và sau đó được dịch ra tiếng
Trung Quốc thì chủ trương của Đạo Sanh hoàn toàn phù hợp
với kinh Niết Bàn, vì kinh Niết Bàn công bố rằng, ngay cả
Nhất Xiển Đề cũng có thể thành Phật.
Khi
bị đuổi thì Đạo Sanh về sống với Pháp Cương ở núi
Hổ Khê, rồi mất ở tại đó.
Đọc
bài truy điệu, ta thấy Huệ Lâm nhắc đi nhắc lại câu “Ô
hô buồn thay!” đến cả thảy 6 lần.
Đây
là đoạn Huệ Lâm nói về chí nguyện học đạo và trực
giác sâu xa của Đạo Sanh: “Đến tuổi trung niên, du học
rộng tìm, dị văn từ miền Dương Việt lên tới Tây Tần,
trèo núi Lỗ Nhạc, đạp lối Hoành Sơn, ý nghĩa Đại Thừa
La Thập, chỉ tiêu đạo của Đề Bà, người đều biết rõ,
rộng nắm sự sâu sắc. Chỗ thấy mỗi lúc mỗi cao. Nên đã
hiểu rằng, hình tượng là chỗ nương của lý lẽ, ôm chặt
hình tượng, lẽ tất phải mê, lời dạy là nhân có giáo
hoá, giữ chặt lời dạy giáo hoá phải ngu. Do thế trưng danh
trách vật thì tất phải làm sai ở việc hư đản, tìm tâm
ứng thì tất phải mê muội trước lời cách nghĩa”.
Nhưng
đó là lý do khiến Đạo Sanh bị người đương thời ganh
ghét và vùi dập:
“Những
vật sợ sáng lạ, người ghét cao trinh, giận nhóm đồng phục,
ưa bè kết lũ. Chúng bèn dang cánh co chân, dẹp ảnh người
vào nơi hang huyệt, theo che chỉ đạo, quăng dấu người tới
chốn ông Ngu. Vết chân lên thuyền, có đi không lại, mạng
bỏ núi non, buồn khắp đô thị. Ô hô buồn thay!”
Đạo
Sanh ra đi được một tháng thì Pháp Cương cũng ra đi theo.
Huệ Lâm một lần nữa cũng đứng ra viết bài truy điệu.
Xin trích đoạn cuối:
“Ô
hô buồn thay! Đêm đông lạnh lẽo, tiêu điều ven sông, gió
se màn toạc, tuyết rót vào tròng… mạng người ngắn dứt,
đường về ngái mong, xót xa kẻ mất, lặng lẽ khóc ròng,
một mình cô lữ, trời đất chẳng trông. Ô hô buồn thay!
Mong đến sống đất Khổ Khê, thương mắt mờ nơi Ô Lĩnh,
nghĩ hái lộc tại Hoa Kinh, nhớ dắt tay ngoài Phiên Cảnh,
tình phiêu diêu ở nơi sườn, trí triền miên miền Lương
Tĩnh, sao ràng buộc hề không dứt, lòng nhớ nhung hề dằn
vặt, gió đông hề đã mất, nắng hè rực rỡ hề vừa mất,
bốn mùa thay đổi rối rít, tình càng sâu để dấu lâu nếu
lai duyên quả chẳng mất, xin gói trọn sanh niên để xót xa.
Ô hô buồn thay!”.
Nếu
ta đã đọc Quân Thiện Luận của Huệ Lâm thì ta sẽ nhận
ra rằng ông chẳng bao giờ bận tâm đến chuyện kiếp sau
hoặc kiếp trước gì hết. Thế nhưng khi đứng trước cái
chết của Pháp Cương, một người bạn thân thiết thì Huệ
Lâm lại băn khoăn tự hỏi: “Nếu lai duyên quả chẳng mất,
xin gói trọn sanh niên để xót xa!” Như vậy có nghĩa là
sao? Là tự mâu thuẫn với chính lý luận của mình chăng?
Về
điều mâu thuẫn này tác giả LSPGVN đã viết những câu mà
khó có thể ai viết hay hơn được:
“Lý
luận rằng không có đời sau là một chuyện và tin rằng có
đời sau lại là chuyện khác”.
Và
đây là một sự mâu thuẫn đau lòng nữa, cũng vẫn của tác
giả LSPGVN:
“Bàn
về một quan niệm, người ta rất có thể sống với nó một
cách trí óc. Nhưng khi đối diện với con tim, nó sụp đổ
một cách đau thương”.
Và
Lê Mạnh Thát kết luận rằng: “Và đó chính là ý thức
bi đát của Huệ Lâm”.
Và
ta có thể nói thêm rằng, nếu không có cái “ý thức bi đát”
ấy thì họ không thể nào trở thành những con người xuất
chúng được.
Và
nếu như vào thế kỷ thứ 5 khi Huệ Lâm đã sống những ngày
cuối cùng tại một ngôi chùa hiu quạnh nào đó ở miền Bắc
nước ta hiện nay, trong cảnh “lặng lẽ khóc ròng, một mình
cô lữ, trời đất chẳng trông”.
Thì
15 thế kỷ sau, ta có quyền tin chắc rằng ông đã chẳng còn
cô độc nữa, vì nỗi cô độc mà ông ôm ấp đã có người
có thể gọi là “tri kỷ” chia xẻ vậy.
Nhưng
ngoài những vấn đề sử học, Phật học, văn học, thi ca
học, triết học, tư tưởng v.v… ra thì ta có thể rút ra
được bài học gì từ 3 tập LSPGVN của giáo sư Lê Mạnh
Thát cho Phật giáo Việt Nam không chỉ ở hiện tại mà còn
cả mai sau nữa?
“Trong
cơn lốc chính trị, kinh tế, văn hoá đó, việc chọn đứng
về phía những người nghèo, người bất hạnh, khổ đau nhất
định sẽ đem lại cho Phật giáo một vị thế có được
những tiếng nói quyền uy giữa đại đa số quần chúng. Đây
cũng là lý do tại sao Phật giáo đã trở thành nơi gửi gắm
những tinh hoa đạo lý của dân tộc, những truyền thống
ngàn đời của người Việt như đã thấy trong Lục Độ Tập
Kinh”.
Có
lẽ đó cũng chính là những điều mà tác giả đã muốn gửi
gắm trong toàn bộ những tác phẩm sử học về Phật giáo
Việt Nam của mình chăng?
Bây
giờ xin được trở lại với Toàn Nhật, vị Thiền sư đã
bị lãng quên từ nửa thế kỷ 18 đến nay. (Còn tiếp)
T.P.A.
[1]
Toàn nhật quan đài toàn tập, lời giới thiệu NXB Tổng hợp,
TPHCM 2005.
[2]
Tất cả những đoạn trong ngoặc kép “…” đều được
trích từ LSPGVN tập 1 và 2 NXB Thuận Hóa và TPHCM 1999-2001
[3]
Nghiên cứu về Mâu Tử, Lê Mạnh Thát, Tu thư Vạn Hạnh 1982.