Về
những minh họa từ
THIỀN
UYỂN TẬP ANH
Tuệ
Sỹ
Kể
từ khi được Ông Trần văn Giáp tình cờ phát hiện từ đống
giấy vụn của một gánh hàng vụn phế thải, sau đó được
công bố bởi trường Viễn đông Bác cổ,[1] Thiền uyển tập
anh trở thành tư liệu cơ sở cho các khảo cứu về lịch
sử Phật giáo Việt nam từ khởi nguyên cho đến thế kỷ
13, cũng như các sinh hoạt chính trị, xã hội, tôn giáo nước
ta trong suốt thời gian Bắc thuộc. Công trình của ông Trần
Văn Giáp dựa trên tập sử Thiền này được thực hiện khá
công phu, nhưng do thiếu nhiều tư liệu tham khảo, đối chiếu
để xử lý văn bản, do đó ông đã không tránh khỏi một
số sai lầm. Những sai lầm ấy được lặp lại trong hầu
hết các quyển sử Phật giáo Việt nam tiếp theo sau ông.
Trong
năm 1973, Lê Mạnh Thát trong khi đi sưu khảo các tự viện
ở miền Nam đã phát hiện thêm các dị bản của Thiền uyển
tập anh.[2] Y cứ trên các phát hiện mới, công tác xử lý
văn bản được thực hiện với rất nhiều tư liệu liên
hệ trong nền văn hiến đồ sộ của Phật giáo Trung quốc,
cũng như trong kho tàng lịch sử Viêt nam, từ dã sử đến
chính sử, những truyền kỳ. Một bản dịch tương đối hoàn
chỉnh của Thiền uyển tập anh được công bố, cung cấp
nhiều dữ liệu quan trọng khả dĩ bổ sung, và đồng thời
cải chính, những điều được ghi chép bởi các chính sử
của Việt nam mà các tác giả của chúng phần lớn dựa trên
những thông tin đầy thành kiến và xuyên tạc của sử liệu
Trung quốc đối với sự hình thành ý thức dân tộc cũng
như sự phát triển chính trị xã hội của nước ta. Bản
dịch san định do Lê Mạnh Thát thực hiện này nhanh chóng
trở thành văn bản cơ sở cho nhiều khảo cứu lịch sử theo
sau nó. Một bản dịch Anh ngữ cũng đã được thực hiện
bởi Cuong Tu Nguyên, Zen in Medieval Vietnam. A Study and translation
of the Thiền Uyển Tập Anh, xuất bản năm 1997, bởi ban tu thư
Viện Đại học Hawaii. Công trình nghiên cứu và dịch thuật
này cũng thường xuyên tham chiếu bản dịch của Lê Mạnh
Thát, như nhận xét của Giáo sư Philippe Langlet, trong phần
thư mục của bản dịch Pháp mà chúng ta đang được giới
thiệu hôm nay.[3]
Thiền
uyển tập anh theo thể loại là một tác phẩm thiền sử.
Về hình thức, nó tương tợ cách viết Cảnh đức Truyền
đăng lục của Đạo Nguyên (Tống, 1004). Thế nhưng, Truyền
đăng lục của Đạo Nguyên thuần túy là một thiền sử,
ký tải sự phát triển của Thiền tông từ khởi thủy của
Phật giáo; trong khi đó Thiền uyển tập anh ngoài sự ký tải
các truyền thừa và phát triển các dòng thiền Việt nam, nó
còn phản ánh khá rõ nét bối cảnh xã hội Việt nam mà trường
độ thời gian kéo dài trên dưới mười thế kỷ. Bài kệ
thị tịch của Khuông Việt (930-1011) sau đây có thể cho chúng
ta thấy khá rõ nét về điều này. Trước khi chết, Sư truyền
kệ lại cho Đa Bảo rằng:
Mộc
trung nguyên hữu hỏa,
Hữu
hỏa hỏa hoàn sanh.
Nhược
vị mộc vô hỏa,
Toản
toại hà do manh.[4]
Bản
dịch Pháp của Philippe Langlet:
A l’origine,
le feu est dans le bois,
Le
feu originel renaît sans cesse.
S’il
n’y a pas de feu dans le bois,
Comment
pourrait-on en faire jaillir en le frottant?
Tranh
minh họa: Mộc trung nguyên hữu hỏa…
Rõ
ràng đây là một bài thơ ngắn mang ẩn dụ siêu hình. Nhưng
nếu chúng ta nhìn nó từ vị trí lịch sử của Khuông Việt
trong liên hệ với các thế hệ đi trước kể từ Định Không
trưởng lão (730-808); với các Thiền sư đồng thời như Pháp
Thuận (925-990), cũng như thế hệ tiếp nối theo sau là Vạn
Hạnh (?-1025), ngoài lớp vỏ tư duy siêu hình, bài thơ cho thấy
sự tiếp nối dòng chảy liên tục và trưởng thành của ý
thức dân tộc và một Nhà nước tự chủ.[5] Nó mang nội
dung gần như đồng nhất với các dự ngôn hay sấm ký của
Pháp Thuận và Vạn Hạnh về sự xuất hiện của một nhân
vật mà, qua dự ngôn của Pháp Thuận,
Vô
vi cư điện các,
Xứ
xứ tức đao binh.[6]
Theo
đó, một thời thịnh trị sẽ đến với đất nước sau nhiều
thế kỷ bị đô hộ và nô dịch.
Trong
phần tiểu sử tác giả, Philippe Langlet không bỏ sót một
chi tiết trong cuộc đời của Khuông Việt, mặc dù theo một
cách nhìn đó chỉ là một câu chuyện hoang đường có vẻ
không giúp gì cho sự lãnh hội bài thơ được dẫn dịch của
Giáo sư Philippe Langlet, cũng như minh họa của Dominique De Miscault.
Thiền uyển tập anh chép, có lần Khuông Việt chiêm bao thấy
Tỳ-sa-môn Thiên vương (Vaiśravaṇa) xuất hiện và tự giới
thiệu sứ mạng của mình rằng được Thiên đế (Śakra devendra)
sai đến để bảo vệ quốc giới ngõ hầu khiến cho Phật
pháp được thịnh hành. Sáng hôm sau, do theo giấc mộng, Sư
vào núi tìm và thấy một cây to.
Từ
cây bông gạo mà Trưởng lão La Quý (852-936) trồng trước
chùa Châu minh,[7] qua cây cổ thụ của Khuông Việt vừa đề
cập, cho đến cây bông gạo của Sư Vạn Hạnh bị sét đánh,[8]
nó là chuổi liên tục dự ngôn về sự xuất hiện của Lý
Thái Tổ. Sự kiện đó hoặc là sự thật lịch sử, hay chỉ
là hư cấu của ai đó muốn minh giải một biến cố xã hội
hay một tín điều tôn giáo, thế nhưng ảnh hưởng quần chúng
của nó vẫn có thể được tìm thấy rõ nét không chỉ trong
Thiền uyển tập anh, mà còn trong các truyền kỳ và ký tải
của các sử quan triều đình.
Chúng
ta trở lại bài thơ của Khuông Việt với minh họa của De
Miscault.
Mộc
sinh hỏa, à l’origine, le feu est dans le bois, nguyên thủy, lửa
vốn ẩn tàng trong gỗ. Ngọn lửa ấy vốn hiền hòa, hài
hòa trong nguyên lý ngũ hành sanh khắc; nhưng khi nó bừng cháy
để làm nên lịch sử văn minh nhân loại, thì nó cũng có
cơ trở thành thảm họa. Qua ống kính của nghệ sĩ tạo hình,
Dominique De Miscault, ngọn lửa ấy không bốc thẳng lên theo
chiều thuận lý của Dịch lý phương Đông, mà nó quằn quại
trong từng sớ gỗ dưới một góc nhìn minh họa; nó chợt
được thấy như bùng cháy từ hỏa ngục, từ một mùa hỏa
ngục của Rimbaud: Une Saison en Enfer. Nó bốc cháy từ tổ tiên
người Gaulois, thiêu rụi những đồng cỏ, lột da dã thú,
rồi lần bước lịch sử theo dấu chân của đoàn quân viễn
chinh qua những ngã đường của châu Âu: J’ai de mes ancetres
gaulois… Les Gaulois étaient les écorcheurs de bêtes, les brûleurs
d’herbes les plus ineptes de leur temps… [9]
Tuy
dấu chân của Rimbaud tiếp nối tổ tiên Gaulois lần bước
xuống tận châu Phi chứ không lần về phương Đông châu Á,
nhưng người thưởng ngoạn ngôn ngữ và minh họa của các
tác giả Pháp, từ di ngôn, mà cũng là dự ngôn, của Khuông
Việt trước khi chết, muốn nhìn nó ngắm từ một dòng chảy
thuần khiết trong nền văn học Pháp qua hình thái biểu hiện
nhức nhối của ngôn ngữ đang nói lên nỗi niềm khổ lụy
hiện sinh. Đó cũng là góc nhìn mà chúng tôi mượn tạm của
nhà thơ Bùi Giáng trong một bức thư gởi Réné Char, những
dòng chữ được viết từ bão tố chiến tranh đang tàn phá
một đất nước, sát hại một dân tộc: Nous pensons … à
vous, Monsieur René Char, et aussi à un courant discernable de pureté
dans la litterature française … à travers l’expression déchirante
du malheur, oui, nous pensons à tout cela, en un temps où l’ouragan
s’abat sur notre pays et meurtrit notre peuple.[10]
Người
thưởng ngoạn như vậy có thể đang cố ý chọn một điểm
đứng và một thời điểm để nhìn không theo cùng một hướng
của nhà nghệ sỹ tạo hình, nhưng trong không gian và từ thể
tính của tồn tại thì ưu tư khắc khoải về lẽ sống nhân
sinh và chiêm nghịêm những điều kỳ diệu trong sự vận
hành của thế giới vẫn âm vang một sự đồng cảm, mà chúng
ta đọc thấy trong phần giới thiệu bởi De Miscault: Le mélange
d’angoisse et d’admiration devant le mystère du monde a été vécu
par toutes les civilisations… Nous pensons en trouver un example dans
les écrits des moines bouddhistes, notamment vietnamiens sous la dynastie
des Lý. [11]
Các
tác giả của Un livre des moines Bouddhistes đang tìm vào các thơ
văn của các Thiền sư đời Lý; không phải bằng những tư
biện triết học, không phải bằng những tư duy siêu hình,
mà bằng ngôn ngữ hình ảnh, tìm kiếm và chìm lắng trong
một thế giới tĩnh lặng, vô ngôn, ở đó thực tại tối
hậu là khoảng chân không thăm thẳm: la vacuité fondamentale
de toute chose et même de l’ultime réalité.[12]
Thực
tại tối hậu là gì? Qu’est-ce que c’est? Đó là một câu
hỏi rất thông thường trong giao tiếp hằng ngày; nhưng lại
là câu hỏi muốn vén bức màn kỳ ảo của thời gian để
nhìn sâu vào tính thể tồn tại. Vậy, yếu tính của tồn
tại, của cái đang được ném ra đó, là cái gì? Thiền sư
Ngộ Ấn (1020-1088) nói: Diệu tính hư vô bất khả phan. Yếu
tính ấy, cái l’essence de l’être ấy, là cái trống không
mà nhận thức không thể nắm bắt, mặc dù bản chất của
ý thức là luôn luôn vươn đến nắm bắt đối tượng. Ở
đây, Philippe Langlet không phiên giải diệu tính trong bài thơ
của Ngộ Ấn như là yếu tính của tồn tại, mà hiểu nó
là bản chất hay tự tính huyền nhiệm:
La
mystérieuse nature du vide est inaccessible,
…
La
mystérieuse nature đó có thể một thiên nhiên kỳ diệu, được
sáng tạo từ huyền nhiệm của Thượng đế; mà Thượng đế
thì siêu việt mọi tạo vật: Dieu transcende toute créature (Catéchisme).
Vậy, câu hỏi về thân phận con người được nêu lên từ
tư duy chiêm nghiệm về bản tính huyền nhiệm này, như De
Miscault đã dẫn từ Pascal: Qu’est-ce que l’homme dans la nature?
Ta là ai, con người là cái gì, trong thể giới này, trong bản
tính huyền nhiệm của tồn tại này? Câu hỏi xuất phát từ
hai hướng Đông Tây bất đồng, như trong cảm hứng để thử
trả lời, ta có thể tìm thấy sự đồng cảm giữa Ngộ Ấn
và Pascal. Với Ngộ Ấn, con người không là gì cả, vì tự
tính của nó không là gì cả. Hình ảnh của cái không là
gì cả ấy là đóa hoa sen còn thắm đượm sương mai trong
lò lửa đang rực cháy. Trống không, vô nghĩa, nhưng ngời
sáng: tồn tại chỉ có thể chiêm nghiệm trong mối quan hệ
biện chứng được kết cấu bằng những mâu thuẫn nội tại.
Tranh
minh họa: Liên phát lô trung thấp vị can…
Trả
lời của Pascal cũng âm vang đồng điệu. Ta không là gì cả.
Tất cả mọi tạo vật đều từ hư vô mà ra, tồn tại bao
la ngang tầm vô hạn: Toutes choses sont sorties du néant et portées
jusqu’à l’infini. Con người là tồn tại vô thể, là hư
vô nếu được nhìn từ vô hạn. Trong vô hạn, nó không là
gì cả. Trong cái không là gì cả, nó là tất cả. Con người
là một trung gian giữa không là gì cả và là tất cả: Un
néant à l’égard de l’infini, un tout à l’égard du néant, un
milieu entre rien et tout. Đồng điệu hay đồng cảm này cũng
được chia sẻ bởi một Thiền sư khác: Từ Đạo Hạnh (?-
1117), được chuyển tải qua ngôn ngữ Pháp:
Existence.
Le moindre grain de poussière existe.
Vide.
Tout est vide.
Existence
et vide, c’est comme la lune dans l’eau.
Ne
vous attachez pas à l’existence ni à l’idée du vide.
Tồn
tại và không tồn tại, có và không, hữu thể và hư vô,
chứa vô biên trong hạt cát, nắm vô hạn giữa lòng tay; thể
tính hư vô bừng sáng thành hoa sen trong biển lửa; đó là
những tư duy và phát biểu mang tính phản lý; đồng thời
đó cũng là sử tính của một dân tộc được hiện tượng
hóa trong chuỗi mâu thuẫn biện chứng của hiện thực lịch
sử.
Ở
đây, sử gia và nhà nghệ sỹ tạo hình, bằng ngôn ngữ của
mâu thuẫn biện chứng và bằng hình ảnh được thấy thường
nhật để phản chiếu sinh hoạt tầm thường mà luôn luôn
biến động của đời sống thường nhật. Những cảm hứng
từ các hình ảnh này trong nhiều trường hợp dẫn người
thưởng ngoạn đến những ý tưởng đầy bất ngờ, vừa
thống nhất vừa xung đột giữa những cái nhìn mà ta quen
nói là khác biệt Đông Tây, khác biệt thời đại. Một trường
họp có thể dẫn ra ở đây là bài thơ của Không Lộ, và
hình ảnh minh họa. Trong bài thơ này, ngôn ngữ Pháp đi rất
gần với tiết nhịp của âm vận tiếng Việt, mặc dù dịch
giả không cố diễn dịch nó theo tiết nhịp thơ của ngôn
ngữ Pháp:
Sur
dix mille lieues le fleuve limpide, sur dix mille lieues le ciel.
Un
village avec des mûriers, un village avec des fumées.
Le
vieux pêcheur s’est endormi, personne ne l’applelle.
Passé
midi il se réveille, la neige a rempli sa barque.
Tranh
minh họa: Vạn lý thanh giang vạn lý thiên…
Toàn
thể bài dịch Pháp còn phảng phất phong vận bình dị của
đồng quê Việt nam cũng như sinh hoạt của nó. Trong khi đó,
trong nguyên văn Hán của bài thơ, do âm luật nghiêm túc của
Đường thi, mọi thứ trở nên trang trọng. Ngư ông trong nguyên
văn Hán mang phong thái tiêu dao của một ẩn sĩ. Ngư ông trong
bản dịch Pháp là một người dân quê trong cảnh đồng quê
bận rộn nhưng an nhàn. Ngư ông trong minh họa mang dáng vẻ
của một con người sinh họat trong xã hội văn minh công nghiệp
đến từ phương Tây, đang vẩy tay chào đón hoặc tiễn đưa,
đứng giữa lòng sông trong lớp bụi mờ ẩn hiện hình ảnh
được minh họa từ câu thơ của Ngộ Ấn: liên phát lô trung
thấp vị can, La fleur de lotus eclose dans un four est éternellement
fraîche. Minh họa như thế là nối liền quá khứ với hiện
tại, một quá khứ lịch sử đầy bi kịch đã hay đang đi
vào quên lãng, với hiện tại của một xã hội đang biến
chuyển để chào đón hoàng hôn rực rỡ của trời Tây, La
Crépuscule de l’Occident (Spengler).
Hình
ảnh ngư ông trong minh họa tình cờ khiến chúng ta nhớ lại
bóng dáng của Bùi Giáng đang đi giữa phố phường hoa lệ
Saigon mà như đi giữa hoang tàn sa mạc, điên loạn trong cơn
điên loạn siêu hình của Nietzsche. Thế rồi, trong phút tỉnh
táo, nhà thơ của chúng ta bất chợt thốt lên những lời
trầm thống, vang vọng ưu tư khoắc khoải lan dài trong lịch
sử. Đó là những lời mà Bùi Giáng đã viết cho René Char:
Voici la réponse que vous en donne le Viet nam: Weil (Simone Weil), c’est
une de ces âmes assez rares qui sont venues en ce monde pour un temps
bien bref, qui s’en sont allées brusquement, laissant derrière elles
de regrets; des âmes qui se sont penchées sur la souffrance de siècles,
qui nous ont apporté des promesses de fontaines sonores, qui nous ont
parlé des peuples lointaines et de leur pulsation blessée, qui ont posé
le problème des déshérités de l’Asie.
Hình
ảnh một Simone Weil nhỏ thó, gầy mòn, một tâm hồn nhạy
bén trước khốn cùng của những con người khốn khổ, một
ý chí ngoan cường, bướng bỉnh của một cô giáo trẻ; hình
ảnh ấy không chỉ là biểu tượng cho sự trổi dậy của
tầng lớp yếu ớt trong bối cảnh xã hội hùng cường, phú
thịnh của phương Tây; hình ảnh ấy một thời đã làm xao
xuyến tuổi trẻ Viêt nam lớn lên giữa khói lửa, đang lắng
nghe âm vang từ nhịp đập của trái tim mang chứng tích đầy
thương tích của lịch sử văn minh, âm vang từ những suối
nguồn xa xôi mang những ước nguyện nhân bản đến cho các
dân tộc, đặt vấn đề cho những con người đang bị bứt
lìa truyền thống.
Khi
một tâm hồn bị bứt lìa truyền thống, nó như một con thuyền
lơ lửng trôi xuôi theo định hướng mù khơi ngoài phương
trời vô định; trôi ngang qua bà mẹ đang đứng sững quay
lưng hờ hững với con thuyền, đang dõi mắt tìm vào bến
bờ của quá khứ, của cây đa bến cũ, con đò năm xưa mà
nay đã vắng, đã mất. Thế nhưng, trong thể tính uyên nguyên
của dòng sông lịch sử, mảnh trăng treo từ trên đỉnh Lăng-già
đang tỏa ánh sáng trầm tịch trong khoảng không vô tận, cho
con thuyền định hướng ra biển khơi:
…
Dans
le grand calme du clair de lune sur la montagne de Lanka,
Devant
le vide pour un bateau qui s’avance en pleine mer,
…
Tranh
minh họa: Tịch tịch Lăng già nguyệt…
Minh
họa này từ bài thơ của Tăng thống Huệ Sinh (?- 1076), thế
hệ tiếp nối Thiền sư Vạn Hạnh, vốn là minh giải triết
học cho vua Lý Thái Tông, ngẫu nhiên phản chiếu tâm tình
lịch sử trải dài suốt gần mười thế kỷ, qua những minh
họa mà chúng ta biết được cảm hứng một phần từ tín
điều Catéchisme như được nói rõ trong bài giới thiệu do
Dominique De Miscault.
Suy
nghĩ từ những dòng ngôn ngữ Pháp chuyển tải những tư duy
uẩn khúc của tư tưởng, như những mặt gương khi mờ khi
tỏ, phản chiếu mấy đoạn đường quanh co khi thăng khi trầm
của lịch sử; chiêm quan những hình ảnh minh họa cấu hình
bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại mà thể tính là những
nguyên lý, những công thức cứng đọng, khô cằn của lý
trí hướng ngoại và chinh phục; người đọc và người xem
để cho tâm hồn mình di động bất thường giữa những cảm
hứng ngẫu nhiên, hoặc trần thuật tiên cảm; từ đó quay
nhìn lại những đoạn lịch sử đã qua, trải dài suốt trên
hoặc dưởi mười thế kỷ; những lộ trình riêng biệt, với
những định hướng và định mệnh khác biệt, ở hai phương
trời cách biệt; những con đường lịch sử ấy có khi được
thấy song song, có khi đối nghịch dẫn đến sông núi ngửa
nghiêng, đảo lộn, áp bức, đọa đày, chiến tranh, giết
chóc; có khi hòa quyện trong nỗi đau thương chung của thân
phận con người. Nhưng dù ở bên này hải đảo, hay bên kia
đại dương, mà trong cõi tịch mặc vô ngôn, trong thế giới
mặc nhiên vô hạn, với những điều nói được và không
nói được, những hình ảnh ký họa được hay không ký họa
được, giữa người và người, giữa các dân tộc dị biệt,
trong các truyền thống và văn minh tương phản, vẫn còn ẩn
tàng trong tận đáy sâu, trong rung cảm đồng điệu của những
trái tim nhân hậu. Chúng tôi muốn nói, từ những chuyển tải
bằng ngôn ngữ Pháp thực hiện bởi Giáo sư Philippe Langlet,
từ những minh họa bằng kỹ xảo của lý trí tư biện phương
Tây bởi nghệ sĩ tạo hình Dominique De Miscault, chúng ta thử
tìm lại dấu vết tâm tư của tiền nhân, thử nhìn lại chính
mình từ đôi mắt của những người khác, để tự khẳng
định chính mình trong những cơn lóc thời đại.
Xin
cảm ơn các tác giả đã đến với chúng ta trong đồng cảm
nhân loại, cùng chia sẻ những giá trị phổ quát giữa những
truyền thống dị biệt.
T.S.
[1]
Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam, dès origines jusqu’au XIIIe
siècle. BEFEO XXXII, 1932. Bản dịch Việt, Tuệ Sỹ: Phật giáo
Việt nam, từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII, Tu thư Viện
Đại học Van Hạnh, Saigon, 1968.
[2]
Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt nam, tập
3, NXB TP Hồ Chí Minh, 2002.
[3]
Philippe Langlet, Un livre des moines Bouddhistes; Les Editions Aquilon,
Paris, 2005.
[4]
Lê Mạnh Thát, Tổng tập 3, tr. 203: Trong cây vốn có lửa/
Có lửa, lửa mới bừng/ Nếu bảo cây không lửa/ Cọ xát
do đâu bùng.
[5]
Tuệ Sỹ, Những cuộc vận đông của Phật giáo Việt nam dưới
triều đại nhà Đường, Tạp chí Tư tưởng, Viện Đại học
Vạn Hạnh, 1972.
[6]
Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam, tập 2, tr. 498.
NXB TP Hồ Chí Minh, 2001.
[7]
Lê Mạnh Thát, Tổng tập 3, tr. 284: “(La Quý di chúc) Ở chùa
Châu minh ta có trồng cây bông gạo để trấn chỗ, biết đời
sau ắt có kẻ hưng vương ra đời…”
[8]
Đại Việt sử ký toàn thư, tờ 31a7: sét đánh cây bông gạo
làng Diên uẩn, Cổ pháp, để lại hàng chữ: Thọ căn niểu
niểu, mộc biểu thanh thanh, hòa đao mộc lạc, thập bát tử
thành. Theo chiết tự, bài thơ tiên đoán nhà Lê mất, họ
Lý lên thay.
[9]
Arthur Rimbaud, Oeuvres, p. 196: Mauvais sang (Une Saison en Enfer). Pocket,
Paris 2005.
[10]
Bùi Giáng, Lettre à René Char, Dialogue, Lá bối, Saigon, 1965.
[11]
Un livre des moines Bouddhistes: Introduction.
[12]
Ibid.
Thiền
Uyển Tập Anh, bản (tuyển) dịch Pháp, Un Livre Des Moines Bouddhistes
Dans Le Vietnam D’autrefois, của Giáo sư Philippe LANGLET, minh họa
Dominique De MISCAULT, nhà xb Aquilon, Paris, 2005. Lễ giới thiệu
tác phẩm và trưng bày ảnh minh họa tại Tp. HCM, ngày 20/1/2006,
tại Viện NCPH Việt Nam, 750 Nguyễn Kiệm, Q. Phú nhuận. –
BBT.