TRIẾT
HỌC THẾ THÂN
về
Tự tri & bàn thêm về cơ cấu Tự tri
Lê
Mạnh Thát
Chúng
ta thấy rằng sau khi tìm ra thuyết lan truyền nội tại, Thế
Thân đã tiếp tục tái khảo sát nhiều vấn đề khác nhau
xoay quanh nhiều thuyết tri nhận đã được rất nhiều trường
phái của thời ông đề ra. Những vấn đề này hình như đã
không được giải quyết; và trong khi khảo sát chúng, ông
đã nhận ra rằng nếu muốn giải quyết thì phải đưa ra
một phương pháp hoàn toàn mới mà khái niệm cơ bản của
nó chính là khái niệm về sự tự tri. Khái niệm này bao gồm
khẳng định mọi tri nhận phải là sự tự tri. Một khi đã
khẳng định như thế, rõ ràng chủ trương “đối với một
người nào đó có khả năng tri nhận, anh ta tri nhận được
cái gì đó màu xanh chứ không phải ‘nó là màu xanh’; về
đối tượng thì anh ta tri nhận nó chứ không phải tri nhận
các thuộc tính của nó” do A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Luận
(Abhidharmavijñānakāya) khởi xướng và sau đó được Trần
Na khai triển là không thể chấp nhận được.[1] Bởi vì khi
một tri nhận được định nghĩa là sự tự tri, nó không
những biết được cái gì đó màu xanh mà còn biết rằng
nó biết được cái đó là xanh. Như vậy, khái niệm tự tri
hàm chứa yếu tính của ngôn ngữ như một trong những thành
phần của nó, bởi vì như Trần Đức Thảo đã phát biểu,
ngôn ngữ là môi trường trực tiếp của ý thức.[2]
Thật
vậy, chúng ta sẽ thấy Thế Thân không chỉ xem ngôn ngữ là
môi trường trực tiếp của ý thức mà còn là phương tiện
độc nhất cho ý thức hoạt động. Vì vậy, sau khi bác bỏ
thuyết tri nhận của Thức Thân Luận, ông đã định nghĩa
lại tri nhận là “một nhận thức sinh khởi chỉ từ đối
tượng mà nó được đặt tên bởi đối tượng đó”. Tri
nhận như vậy được định nghĩa bằng ngôn ngữ mà nó được
diễn tả. Do sự kiện này, Trần Na đã công kích nặng nề
điều trên như đã nói. Dĩ nhiên, một sự công kích như thế
không hề gây ngạc nhiên bởi vì đó là điều chúng ta chờ
đợi. Định nghĩa mới của Thế Thân cho thấy một quan niệm
triệt để hoàn toàn độc lập với mọi truyền thống định
sẵn được biết đến vào thời ông, đặc biệt là truyền
thống của Thức Thân Luận đầy thẩm quyền và ảnh hưởng
mà quan niệm của nó đã được Trần Na khai triển và bảo
vệ trong tác phẩm Pramāṇasamuccaya nổi tiếng của ông dưới
cái bóng của luận thư quan trọng nhất của Thế Thân là
Vādavidhi. Và dường như những người cùng thời cũng như
sau ông đều thất bại trong việc đánh giá đúng quan niệm
hoàn toàn mới với một nội dung cơ bản như thế của ông
như những phê phán của Trần Na cho thấy.
Hiển
nhiên, điều mới mẻ chủ chốt của định nghĩa trên nằm
ở việc nó đã nối kết tri nhận với ngôn ngữ qua đó nó
được diễn tả. Trần Na đã nhận ra chính xác điều này
và ông đã mạnh mẽ chống đối và chỉ trích, bởi lẽ “đối
tượng của năm loại thức thân thì không thể diễn tả”.[3]
Thật vậy, như chúng ta đã nói, mặc dù Thế Thân chưa bao
giờ công nhiên chia xẻ quan niệm của Thức Thân Luận và
vì thế chưa bao giờ đề cập đến trong Câu Xá Luận nhưng
khái niệm “đối tượng tri nhận thì không thể diễn tả”,
vốn được định nghĩa là “nằm ngoài cấu trúc ngôn ngữ”
(vô phân biệt), vẫn thật sự được nhắc đến trong tác
phẩm của ông với một cải đổi được công bố nào đó.
Vì thế, ông công nhận rằng “năm loại thức thân nằm ngoài
cấu trúc ngôn ngữ” chừng nào nó nằm ngoài “cấu trúc
ngôn ngữ” của hoạt động của tâm (kế đạc) và sự nhớ
lại (tùy niệm), chứ không nằm ngoài cấu trúc ngôn ngữ
của riêng chúng (tự tánh), bởi vì chúng luôn luôn có kèm
theo cái được gọi là “ý ngôn của tầm và tứ”.[4] Kết
quả, ta có thể nói rằng quan niệm về tính bất khả thuyết
của đối tượng tri nhận đã gây nghi ngờ nghiêm trọng ngay
cả trong Câu Xá Luận mặc dù có sự kiện rằng không có
trần thuật nào rõ ràng về ý nghĩa chính xác mà từ ngữ
“cấu trúc ngôn ngữ” và tương tự ám chỉ, như đã thấy
qua thảo luận của Thế Thân về chúng.[5] Quan niệm mới mẻ
được Thế Thân đề ra ở trên đánh dấu một sự tách ly
từ gốc rễ đối với các quan niệm phổ biến vào thời
ông. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi Trần Na phải dành
trọn cả một phần trong Pramāṇasamuccaya của ông để đánh
giá.
Như
đã nói, quan niệm mới này được đề ra trong một cố gắng
giải quyết nhiều khó khăn khác nhau xuất phát từ vấn đề
tri nhận và cuối cùng đã dẫn đến giả định về khái
niệm tự tri. Điều khá chắc chắn là nếu tri nhận được
định nghĩa qua sự tự tri như là quan hệ đầu tiên của
nó thì điều tất yếu là tri nhận đó phải được chỉ
thị bởi tên của đối tượng mà từ đó nó sinh khởi. Vì
thế, nói rằng tôi thấy thì chưa đủ mà phải nói thêm là
tôi thấy cái gì đó. Không có cái gọi là tri nhận thuần
túy, tức loại tri nhận không được đặt tên bởi đối
tượng mà nó tri nhận, mà luôn luôn là tri nhận về cái gì
đó. Lý do tại sao không có tri nhận thuần túy mà luôn luôn
là tri nhận cái gì đó, khi tri nhận được định nghĩa qua
sự tự tri, nằm ở sự kiện tự tri trong trường hợp này
chỉ xảy ra khi tri nhận xảy ra. Và nếu tri nhận không được
chỉ thị bởi tên của đối tượng của nó để phân biệt
nó với sự tự tri thì cả hai có thể bị trộn lẫn hoàn
toàn để trở thành một đơn vị duy nhất và công nhiên đồng
nhất tri nhận với tự tri, một sự đồng nhất không muốn
có. Hơn nữa, một điều thông thường là tri nhận có thể
được diễn tả theo một ngôn ngữ đã cho. Nếu tôi tri nhận
một con chó từ trong nhà chạy ra bên tay trái tôi thì chắc
chắn tôi có thể nói như thế. Và chỉ nói như thế thì người
khác mới có thể biết rằng tôi thật sự thấy con chó từ
trong nhà chạy ra. Vì thế, thật không may nếu đề ra một
thuyết thuộc loại Trần Na đề nghị bởi vì khi đó một
điều thông thường như thế sẽ bị bỏ qua và không được
để ý đến để nhường chỗ cho một khái niệm được định
sẵn nào đó về những gì tri nhận phải là.
Nhưng
vì tri nhận được định nghĩa qua ngôn ngữ mà nó được
diễn tả, cho nên sự tự tri cũng phải được định nghĩa
qua ngôn ngữ đó. Vì tự tri vốn là một phần của tiến
trình tri nhận. Như vậy, toàn bộ tổ hợp tri nhận và tự
tri hoàn toàn dựa vào ngôn ngữ để hoạt động, một kết
luận đã rất hiển nhiên trong Câu Xá Luận, như đã thấy.
Trong đó, Thế Thân phát biểu công khai cả năm thức thân
đều không nằm ngoài cấu trúc ngôn ngữ vì chúng luôn luôn
có kèm theo “lời lẽ của ý về sự tìm tòi và xét đoán”.
Tuy nhiên, mãi đến khi Vādavidhi xuất hiện thì sự nối kết
tri nhận với ngôn ngữ mới được trình bày suông sẻ, và
đợi đến khi Nhị Thập Tụng ra đời thì khái niệm tự
tri mới được xem xét và bàn bạc nghiêm túc. Thế nhưng,
việc sớm nhận ra tác dụng rất quan trọng của ngôn ngữ
trong bất cứ hoạt động nào được cho của tâm cho thấy
thuyết mô tả của Thế Thân đã xuất hiện như thế nào.
Và thuyết này lại sinh khởi luận lý của ông và cuối cùng
thúc đẩy ông tái khảo sát vấn đề tri nhận với khám phá
đạt được là khái niệm tự tri. Từ những gì đã nói,
mặc dù khái niệm này quan trọng nhưng nó lại là một sự
thật phổ biến rất bình thường mà mọi người đều xem
thường, đó là nếu chúng ta nhận biết cái gì đó thì tiến
trình nhận biết này xảy ra trong đầu chúng ta chứ không
phải nơi nào khác. Như vậy, để biết cái gì đó, ta phải
cùng lúc biết rằng ta biết cái đó. Vì thế, nhận thức
ta có về thế giới ngoại tại và mọi sự vật khác xuất
phát từ sự tự nhận biết của chúng ta về những thông
tin được cung cấp cho chúng ta qua các tri giác và trải qua
tiến trình xử lý của khả năng tri nhận của chúng ta.
Vì
vậy, để cho bất cứ cái gì hiện hữu trên cuộc đời này
được biết đến thì nó cần được phiên dịch thành các
thông tin; và những thông tin này có thể được xử lý bởi
khả năng nhận biết của chính chúng ta. Như vậy, đối tượng
được định nghĩa qua các thông tin nó cung cấp cho chúng ta
và những thông tin này được mã hóa theo một ngôn ngữ đã
cho dành cho sự hiểu biết của chúng ta. Một khi đã đi đến
một kết luận như thế, thật tự nhiên cho Thế Thân để
đưa ra luận đề “bất kỳ cái gì hiện hữu chỉ là cái
khiến ta biết; đối tượng của nó không hiện hữu vì nó
là sự tự tri, giống hệt như sự nhìn thấy những sợi lông
và mặt trăng, v.v., của người mắc bệnh bạch chướng nhãn.”
Thật vậy, vì bất cứ những gì ta biết về một đối tượng
cũng là bất cứ thông tin nào nó cho chúng ta và thông tin này,
đến lượt nó, sẽ định nghĩa đối tượng đó là gì. Như
vậy, “bất cứ cái gì hiện hữu thật sự chỉ là cái khiến
ta biết”. Thế nhưng, nếu đã như vậy thì điều tất yếu
là đối tượng được định nghĩa bởi thông tin được cung
cấp cho chúng ta bởi bất cứ cái gì hiện hữu ở đó chắc
chắn sẽ không hiện hữu giống như cách hiện hữu của bất
cứ cái gì ở đó, bởi vì đối tượng được định nghĩa
như thế chỉ là sự tri nhận ta có về thông tin được cho
chúng ta. Và vì nó chỉ là một tri nhận nên nó không hiện
hữu, bởi vì theo định nghĩa thì tri nhận là tự tri, và
tự tri là bất cứ cái gì giúp ta biết về sự có mặt của
cái gì đó. Tóm lại, tự thân nó vốn là một dạng thông
tin không chỉ cho chính nó mà cho bất cứ cái gì nó được
dự định chỉ đến.
Vì
thế, cần phải lưu ý rằng chữ “đối tượng” trong phát
biểu dẫn trên của Thế Thân chuyển tải trong ngôn ngữ gốc
của nó không chỉ ý hàm ý về “đối tượng” mà còn cả
hàm ý về “nghĩa”.[6] Như vậy, về mặt ngôn ngữ học
đối tượng được định nghĩa qua nghĩa của nó. Bất cứ
cái gì được ta nói đến như một đối tượng, nó phải
hàm chứa một nghĩa nào đó để ta có thể hiểu nó. Vì lẽ
nó được đồng nhất hoàn toàn với nghĩa của nó. Nói cách
khác, khi một đối tượng được định nghĩa bằng thông
tin ta biết về nó, một đối tượng như thế chắc chắn
chỉ là một dạng của tự tri, vì nó chỉ là một phương
tiện giúp ta hướng đến cái gì đó khác hơn chính nó, một
cái gì đó ở bên ngoài mà ta muốn biết hay rốt cùng cũng
sẽ biết. Chẳng hạn như khi ta nói về một ngôi nhà, chữ
“nhà” không chỉ làm nền tảng chỉ thị cái gì đó bên
ngoài mà chúng ta tình cờ gặp phải để đồng ý đó là
một ngôi nhà, mà nó còn làm một kênh truyền đạt thông
tin giúp định nghĩa cái đó. Với hai chức năng này, cái được
chúng ta nói đến như một ngôi nhà chắc chắn không hiện
hữu, hoặc ít ra không hiện hữu theo cách hiện hữu của
cái gì đó ở bên ngoài, cái mà chữ này được dùng để
chỉ đến, bởi lý do đơn giản là chữ “nhà” chỉ là
một mô tả về cái gì đó ở đó.
Cần
lưu ý rằng mô tả được định nghĩa là một “biểu tượng
bất toàn” có thể được thay bằng những diễn tả thích
hợp khác. Là một mô tả, từ ngữ chỉ có tác dụng truyền
đạt thông tin để cái gì đó bên ngoài có thể được định
nghĩa và tri nhận đúng. Vì vậy, những gì chúng ta biết về
một đối tượng chỉ là những thông tin này, những thông
tin có khi chỉ kết lại thành một từ và có khi nhiều hơn.
Theo ý nghĩa này, ta có thể nói rằng một đối tượng chỉ
là thông tin ta biết về nó. Và phát biểu này được diễn
tả rõ ràng bởi khả năng siêu việt của Phạn ngữ trong
chỉ một từ: artha. Đây là từ đã chuyển tải, như đã
nói, hai ý nghĩa là “vật” và “nghĩa” trong suốt lịch
sử. Với hàm nghĩa kép này, điều rất hiển nhiên là theo
quan điểm của Thế Thân, một đối tượng, khi được định
nghĩa như thế, sẽ không hiện hữu. Nó không hiện hữu, vì
nó chỉ là thông tin được dự liệu cho sự tự tri nhận
của chúng ta. Vấn đề bây giờ là tại sao khi được định
nghĩa như thế nó lại không hiện hữu, và làm thế nào một
tình huống như thế lại xảy ra.
Chúng
ta đã thấy rằng Nhị Thập Tụng là tác phẩm đầu tiên
của Thế Thân công bố luận đề trên, nói rằng đối tượng
không hiện hữu khi được định nghĩa là thông tin. Vậy thì
thật tự nhiên cho chúng ta khi khảo cứu tác phẩm này để
xem nó có cung cấp bất cứ xác minh nào về một quan niệm
như thế không. Ở chương cuối, chúng ta đã thấy bằng cách
nào Nhị Thập Tụng cố thực hiện chính xác công việc này
bằng cách chứng minh rằng cái ta biết chỉ là những thông
tin khiến chúng ta biết chứ không phải tự thân các đối
tượng. Nó chỉ rõ rằng (1) đối tượng ta biết có thể
không hiện hữu, thí dụ những gì ta thấy trong giấc mơ,
và (2) vì mọi vật liên tục thay đổi, đối tượng vốn
cũng thay đổi như thế, có thể không bao giờ được biết
đến ngoại trừ chỉ như một hình ảnh, tức chỉ là thông
tin mà nó để lại đàng sau. Với hai lý do chính này, Nhị
Thập Tụng đi đến kết luận rằng “bất cứ cái gì hiện
hữu chỉ là cái khiến ta biết”, như đã nói. Vậy thì rõ
ràng nó đã không chứng minh được quan niệm của nó ở mức
ta mong muốn, nhất là xét về thuyết mô tả được Thế Thân
trình bày trong Câu Xá Luận.
Thật
vậy, trong đó khi nối kết với vấn đề hiện hữu của
quá khứ và vị lai, Thế Thân đã nhấn mạnh rằng “một
đối tượng của thức có thể không là gì cả mà chỉ là
một tên gọi, và đối tượng mà nó ám chỉ không cần phải
hiện hữu”,[7] để có thể giải thích tại sao ta có thể
sẵn sàng biết và hiểu cái gì đó trong quá khứ mà nó không
còn hiện hữu theo định nghĩa. Như vậy, chính nhờ vào các
tên gọi mà sự vật có thể được biết và được ghi nhận.
Nhận xét này đóng một vai trò chủ chốt trong sự phát triển
thuyết mô tả của Thế Thân trong Câu Xá Luận, như đã được
minh chứng đầy đủ trong thảo luận của chúng ta ở trên.
Tuy nhiên, điều kỳ lạ là nó không được đưa vào trong
Nhị Thập Tụng. Kết quả, nỗ lực chứng minh luận đề
“bất cứ cái gì hiện hữu chỉ là những gì khiến ta biết”
đánh mất phần nào hiệu quả của nó. Và sự mất mát này
phải đợi đến khi Tam Thập Tụng ra đời mới có thể bù
đắp.
Tam
Thập Tụng mở đầu bằng câu nói lừng danh “sự mô tả
về ngã và pháp, vốn có tác dụng theo nhiều cách, đều dựa
vào sự chuyển biến của thức”, và câu nói này cuối cùng
đã dẫn đến kết luận nổi tiếng không kém là “sự chuyển
biến của thức là cấu trúc ngôn ngữ qua đó những gì được
thiết lập bằng ngôn ngữ không hiện hữu, vì vậy bất cứ
cái gì hiện hữu đều chỉ là cái khiến ta biết.”[8] Toàn
bộ đời sống của một thức, bao gồm cả sự tự tri, vì
thế hoàn toàn được quyết định bởi điều mà Thế Thân
gọi là “cấu trúc ngôn ngữ”. Vậy, “cấu trúc ngôn ngữ”
là gì? Để trả lời câu hỏi này, thật không may là chúng
ta không có phát biểu nào rõ ràng từ chính Thế Thân, sau
khi đã tìm khắp các tác phẩm còn giữ được của ông. Dường
như những từ như “cấu trúc ngôn ngữ” đã được sử
dụng rộng rãi và dễ hiểu vào thời ông, không chỉ đối
với những người trong giới trí thức trực tiếp của ông
mà còn đối với tất cả những người đứng đầu nhiều
tông phái triết học và khoa học thuộc thời ông. Như vậy,
chúng ta có định nghĩa thú vị của Vindhyavāsin, vị thầy
tiếng tăm của Số Luận đã từng đánh bại thầy của Thế
Thân trong một cuộc tranh biện, theo đó “tri nhận là hoạt
động của các giác quan như tai, v.v., mà không có cấu trúc
ngôn ngữ”.[9] Một lần nữa, chúng ta lại không biết chính
xác từ ngữ ‘cấu trúc ngôn ngữ’ ám chỉ điều gì ở
đây, bởi vì không có định nghĩa nào được cho.
Cố
gắng hiển nhiên đầu tiên nhằm định nghĩa nó một cách
công khai được tìm thấy trong Yogasūtra, trong đó cấu trúc
ngôn ngữ được định nghĩa là “tri nhận được tạo ra
bởi các từ và không có thực thể nào”.[10] Tuy nhiên, thật
khó xác định khái quát định nghĩa này lần đầu tiên xuất
hiện trong đó vào khi nào, mặc dù phần đông đều nghĩ rằng
toàn bộ tác phầm chắc hẳn đã xuất hiện không lâu trước
khi Thế Thân ra đời.[11] Dù sao đi nữa, nếu chúng ta suy đoán
Yogasūtra được viết giữa thế kỷ thứ III và thứ IV sdl.
thì nó rất khớp với tình huống vừa được mô tả, tức
những người vào thời Thế Thân đã quá quen thuộc với ý
nghĩa chính xác của từ ngữ ‘cấu trúc ngôn ngữ’ mà không
phải mất công đưa ra giải thích nào thêm về ý nghĩa của
nó, bởi vì họ biết chính xác nó có nghĩa là gì như đã
được định nghĩa trong Yogasūtra. Đó là chưa kể đến sự
kiện cho dù không có định nghĩa nghe có vẻ chuyên môn của
Patañjali thì từ ‘cấu trúc ngôn ngữ’ hình như vẫn được
xem là hàm chứa những gì nó ám chỉ ngay từ đầu, đó là
một phát biểu có thể được diễn dịch theo cách nào đó
để nó có thể mang nghĩa khác đi.
Như
vậy, trong Nyāyasūtra, ‘cấu trúc ngôn ngữ’ được dùng
để mô tả nhiều “cạm “bẫy” luận lý khác nhau mà người
ta có thể mắc phải trong tiến trình thảo luận hay tranh luận.[12]
Và cách dùng này rõ ràng đã xuất phát từ thuật ngữ tế
lễ của Mīmāṃsaka, trong đó từ này được dùng để chỉ
cho tất các các trường hợp trong đó một buổi lễ nào đó
đã có trên một nghi thức hoặc hai dạng khác nhau của cùng
một nghi thức, và chúng đều có thẩm quyển như nhau cũng
như mang lại kết quả giống nhau.[13] Những trường hợp này
được gọi là ‘cấu trúc ngôn ngữ’ mà ý nghĩa của nó
đã quá hiển nhiên: thật ra chỉ có một nghi thức, nhưng
do các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau cho nên đã có hai hoặc
nhiều hơn, mà những nghi thức này, trong sự phân tích cuối
cùng, đều có cùng nghĩa. Vì thế, xét theo sự phát triển
lịch sử này, định nghĩa trên của Yogasūtra được minh chứng
đầy đủ và làm sáng tỏ thêm một số điều bí ẩn chung
quanh từ ngữ này, những bí ẩn đã khiến cho nhiều nhà nghiên
cứu thuộc lãnh vực này phiên dịch sai lạc từ ngữ trên
là “sự tưởng tượng”.[14]
“Cấu
trúc ngôn ngữ là cái được sản sinh bởi kiến thức từ
ngữ và không có vật” śabdajñānānupātī vastuśūnyo vikalpaḥ.
Chắc chắn, nếu hai nghi thức hoặc hai dạng khác nhau của
cùng một nghi thức có cùng hiệu quả như nhau và thuộc cùng
một thẩm quyền như nhau trong một cuộc tế lễ được cho
thì chỉ có thể nhận ra sự khác biệt duy nhất của chúng
nhờ vào cách dùng từ của chúng. Đây là những gì khiến
chúng trở thành cái mà các nhà tế lễ gọi là “cấu trúc
ngôn ngữ”. Và đó là những gì hàm chứa trong định nghĩa
đã cho của Yogasūtra. Ý nghĩa của từ ngữ này vì thế rất
rõ ràng ít ra cho đến thời Vindhyavāsin và Thế Thân. Thật
vậy, phần lớn những người thừa hưởng di sản triết học
Thế Thân như Bhartṛhari, Aśvabhāva, v.v, đều sử dụng rộng
rãi khái niệm cấu trúc ngôn ngữ mà không hề bàn riêng đến
ý nghĩa của nó là gì.[15] Rõ ràng, đó là từ ngữ tiêu chuẩn
của ngôn ngữ triết học thời đó, và ý nghĩa của nó không
còn điểm mơ hồ nào phải thắc mắc. Ngay cả khi Trần Na
thử thiết lập lại định nghĩa của nó thì trong đó vẫn
không tìm thấy sự tách ly nào đáng kể đối với những
gì Yogasūtra đã cho. Như vậy, sau khi hỏi “Vậy cấu trúc
ngôn ngữ này là gì?”, Trần Na cho chúng ta câu trả lời
như sau:
Sự
kết hợp của tên gọi, chủng loại, v.v., [với một vật
được tri nhận]. Trong trường hợp các từ có tính chất
tùy nghi, một đối tượng được phân biệt bởi một tên
gọi được diễn tả bằng một từ như Dittha. Trong trường
hợp các từ chỉ chủng loại, một đối tượng được phân
biệt bởi một chủng loại được diễn tả bằng một từ
như “con bò”. Trong trường hợp các từ chỉ tính chất,
một đối tượng được phân biệt bởi một tính chất được
diễn tả bằng một từ như “trắng”. Trong trường hợp
các từ chỉ hành động, một đối tượng được phân biệt
bởi một hành động được diễn tả bằng một từ như “nấu”.
Trong trường hợp các từ chỉ thực chất, một đối tượng
được phân biệt bởi một thực chất được diễn tả bằng
một từ như “người chống gậy” hay “người cầm còi”.
Ở đây, đối với những từ sau chót này, có người cho rằng
cái được chúng diễn tả là một đối tượng được phân
biệt bằng sự quan hệ, trong khi có người chủ trương cái
được diễn tả là một vật được trần thuật chỉ bởi
các từ và nó không có đối tượng.[16]
Với
phát biểu như thế, Trần Na đã không để lại từ ngữ nào
không rõ ràng về những gì nhóm từ “cấu trúc ngôn ngữ’
hàm nghĩa. Đó là “sự kết hợp giữa các từ với các vật
được tri nhận”. Nhưng để thực hiện sự kết hợp như
thế, người ta cần phải biết một từ là gì, và một từ
như thế không được biểu thị chỉ một sự vật duy nhất.
Ngược lại, nếu ta không biết tên của một vật, sẽ không
có gì được kết hợp với sự vật đó. Và nếu một từ
thật sự chỉ cho một sự vật riêng biệt và chỉ một mình
sự vật đó thôi, thì nó không thể được dùng cho các sự
vật khác trong bất cứ trường hợp nào khác. Tóm lại, như
Yogasūtra đã nói, “cấu trúc ngôn ngữ là cái được sản
sinh bởi kiến thức từ ngữ và nó không có vật”. Về sau,
chúng ta còn có một định nghĩa chính xác và rõ ràng hơn
nữa như Kamalaśīla đề nghị: “cấu trúc ngôn ngữ là nhận
thức mang tính ngôn ngữ”,[17]có nghĩa, mọi nhận thức đều
là và phải là một nhận thức thuộc ngôn ngữ, và đây là
âm vang xa xôi của một phát biểu nổi tiếng của Bhartṛhari:
“trên thế gian này không có một khái niệm đơn độc nào
không được kèm theo từ ngữ”.[18] Ý nghĩa của từ “cấu
trúc ngôn ngữ” như vậy đã được chỉ dẫn rõ ràng. Không
có một tí bằng chứng nào để chuyển ngữ nó thành “sự
tưởng tượng” hay “cấu trúc khái niệm”, v.v., những
diễn dịch đã góp phần không nhỏ cho sự ngộ nhận, nếu
không muốn nói là làm méo mó, tư tưởng Thế Thân bằng những
mô tả như “quan niệm luận” hay “duy tâm luận”, v.v.,
và cũng là cái sinh khởi những khẳng định thường xuyên
được lập đi lập lại như “Du già tông chủ trương thức
là thực tại duy nhất”, v.v.[19]
Nếu
cấu trúc ngôn ngữ chỉ là “sự kết hợp giữa tên gọi
và các vật được tri nhận”, thì khi nói “sự chuyển biến
của thức là cấu trúc ngôn ngữ” cũng chính là nói rằng
mọi hoạt động của đời sống tâm lý chúng ta hoàn toàn
được quyết định bởi, và tùy thuộc toàn bộ vào, khả
năng điều động và sử dụng một ngôn ngữ được cho, dù
ngôn ngữ đó được nói ra hay không. Có lẽ do nhận ra nhận
xét đặc trưng này trong triết học Thế Thân mà Bhartṛhari
đã đi đến nhận xét thường được trích dẫn rằng “mọi
hoạt động trên thế gian đều dựa vào các từ ngữ, điều
mà ngay một đứa trẻ cũng nương vào đó nhờ bản năng bẩm
sinh”.[20] Thật vậy, như Thế Thân đã mô tả, sự chuyển
biến nói trên của thức có ba loại và một điều tương
ứng tự nhiên là tất cả đều được quyết định bởi,
và phụ thuộc vào, ngôn ngữ để hoạt động, bởi vì, như
đã thấy, tự thân tiến trình chuyển biến chỉ là một cấu
trúc ngôn ngữ.
Loại
chuyển biến thứ nhất thuộc về thức-tri-nhận, cho phép
chúng ta tri nhận sự vật qua các giác quan của chúng ta. Sự
vận hành của các hoạt động tri giác này phải dựa vào
ngôn ngữ chắc chắn không phải là điều ngạc nhiên, bởi
vì chúng ta đã thấy tại sao và bằng cách nào Thế Thân định
nghĩa tri nhận dựa vào ngôn ngữ mà nó được diễn tả.
Loại thứ hai và thứ ba thuộc về những gì ta có thể gọi
là thức-xử-lý và thức-chứa-đựng. Thức-xử-lý được
gọi tên như thế vì Thế Thân mô tả là “luôn luôn có kèm
theo bốn phiền não là ý tưởng về ngã (ngã kiến), ảo tưởng
về ngã (ngã si), sự tự hào về ngã (ngã mạn) và lòng yêu
mến ngã (ngã ái).” Vì có tác dụng xử lý nên nó luôn luôn
cùng hiện hữu với thức-tri-nhận trừ trường hợp bị hôn
trầm, giải đãi và tập trung suy nghĩ. Nó cũng hoàn toàn được
quyết định bởi, và phụ thuộc toàn bộ vào, ngôn ngữ để
vận hành. Thức-chứa-đựng cũng được quyết định như
thế. Thức-chứa-đựng được nói đến ở đây thường được
gọi là thức-hoàn-trả (dị thục thức).
Lý
do tại sao chúng ta chọn cách gọi thứ nhất (thức-chứa-đựng)
sẽ được giải thích sau. Thức-chứa-đựng này được cho
là có “chủng tử của mọi thứ” và “tuôn chảy như giòng
nước của một con sông”. Nó cũng được gọi là “thức
căn bản” từ đó năm thức phát khởi tùy theo các yếu tố
làm điều hiện cho chúng, hoặc cùng khởi hoặc khởi riêng,
giống như những làn sóng dựa vào nước”. Năm thức nói
trên rõ ràng là thức-tri-nhận của năm giác quan. Vì vậy,
mặc dù nói rằng có hiện hữu ba loại chuyển biến của
thức nhưng thật ra chỉ có một chuyển biến và một thức,
bởi vì thức-chứa-đựng được xem như thức căn bản, từ
đó mọi thức khác sinh khởi. Thức-xử-lý được quan niệm
là nương tựa vào thức-chứa-đựng và lấy nó làm đối
tượng. Thức-tri-nhận của năm giác quan và của bộ não cũng
được mô tả tương tự, như đã thấy. Liên hệ giữa các
loại chuyển biến này như vậy đã được trình bày chi tiết
rõ ràng.[21]
Với
một quan niệm như thế về cấu trúc của thức, trong đó
mọi hoạt động tâm lý, hoặc tri nhận hoặc xử lý, được
xem là dựa vào thức-chứa-đựng, “giống như những làn
sóng dựa vào nước”, thì ta phải giải thích tại sao và
bằng cách nào thức-chứa-đựng đó có khả năng sinh khởi
các hoạt động mà nó là nền tảng. Câu trả lời cho câu
hỏi này đã tìm thấy trong luận đề dẫn trên của Tam Thập
Tụng: “sự chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn
ngữ”. Hiển nhiên, nếu tri nhận được định nghĩa qua ngôn
ngữ mà nó được diễn tả và nền tảng của nó là thức-chứa-đựng
thì sự chuyển biến của thức này thành một tri nhận chắc
chắn phải là một cấu trúc ngôn ngữ, thuần túy và độc
nhất. Vì thế, vấn đề còn lại là cấu trúc ngôn ngữ đó
xảy ra như thế nào.
Thuyết
chủng tử đã được đề ra để trả lời điều này. Quan
niệm chủng tử có một lịch sử lâu dài, và nó được bàn
đến rộng rãi trong nhiều tác phẩm đầu tiên khác nhau của
Thế Thân, đặc biệt là Câu Xá Luận và Nghiệp Thành Tựu
Luận.[22] Việc đề ra quan niệm này trong các tác phẩm trên
nhằm mục đích giải thích trước tiên tại sao các kết quả
thuộc về luân lý (thiện ác quả) của một hành động không
diệt vào lúc hành động này được thực hiện và kết thúc.
Chẳng hạn, nếu tôi đã nói dối ai đó, tại sao sau khi hành
động nói dối đã hoàn tất về mặt vật lý mà tôi vẫn
cảm thấy có lỗi? Hơn nữa, nếu tôi đã tin vào quan niệm
cho rằng mọi hành động của tôi, dù có lợi hay không có
lợi cho tôi và người khác, sẽ mang lại kết quả tương
ứng trong tương lai thì vấn đề nói trên trở nên thích hợp
hơn, có nghĩa là tại sao một hành động có thể mang lại
hậu quả của nó một khi đã được thực hiện về mặt
vật lý và vật chất? Để giải quyết những câu hỏi này,
quan niệm về chủng tử đã được dùng đến. Chúng ta có
lập luận rằng giống như một cái cây có thể gieo giống
của chúng vào lòng đất và sau đó những chủng tử này lại
nảy mầm, các hành động của con người cũng thế. Mọi hành
động đều để lại sau nó một chủng tử nào đó, chủng
tử mà “sau hàng trăm kiếp vẫn không diệt, và các tác dụng
của nó sẽ chín đối với chúng sinh sau khi có được những
điều kiện cần thiết và thời gian cần thiết của nó”.[23]
Vì vậy, nếu tác dụng vẫn còn kéo dài sau khi tôi thực hiên
một hành động thì chính vì hành động đó đã gieo một
chủng tử của riêng nó và chủng tử này, khi có đủ điều
kiện cần thiết, đã sinh khởi tác dụng kéo dài nói trên.
Vì
thế, quan niệm chủng tử là một công cụ khá tiện lợi
để minh giải vấn đề nan giải của các kết quả luân lý
của một hành động. Và đúng như ý định ban đầu của
nó, nó đã được Thế Thân sử dụng chủ yếu cho mục đích
đó trong vô số biện giải của ông trong Câu Xá Luận và
Nghiệp Thành Tựu Luận.[24] Tuy nhiên, khi sang Nhị Thập Tụng,
chúng ta không tìm thấy điều gì thuộc loại đó. Nó được
dùng đến chính yếu là để làm rõ vấn đề tự tri trong
phần mở đầu luận thư này. Chúng ta hãy nhớ lại vấn đề
được phát biểu như sau: “Bất cứ cái gì hiện hữu chỉ
là cái khiến ta biết, đối tượng của nó không hiện hữu
bởi vì nó là sự tự tri”. Để làm rõ tại sao đối tượng
được định nghĩa như một thông tin “thì không hiện hữu
vì nó là sự tự tri”, Thế Thân đã đưa ra lý do sau: “Chủng
tử của riêng nó, từ đó cái khiến ta biết sinh khởi như
một sự tự tri về một vật, chủng tử đó đạt đến điểm
quyết định của sự chuyển biến của nó, chủng tử đó
ở một phía, và chủng tử mà nó sinh khởi như một sự tự
tri về chính nó, ở phía kia, những cái này là hai cái mà
Thế Tôn tuyên bố là xứ của mắt và xứ của vật.”[25]
Đọc chậm rãi phát biểu này, một điều rõ ràng là đối
tượng được định nghĩa như một thông tin thì không hiện
hữu vì nó chỉ là một chủng tử của sự tự tri. Chủng
tử đó khi đạt đến giai đoạn quyết định của sự chuyển
biến của nó cho phép chúng ta có một tri nhận, đó là biết
có cái gì đó ngoài kia và biết có chúng ta ở đây. Như vậy,
sự chuyển biến của thức là sự chuyển biến của một
chủng tử vào bất kỳ giây phút nào được cho. Nhờ có chủng
tử làm phương tiện, cái gọi là thức căn bản, tức thức-chứa-đựng,
tự chuyển biến thành một tri nhận. Vậy, từ ngữ “chủng
tử” có nghĩa là gì?
Mặc
dù trong sớ giải của mình về Nhiếp Đại Thừa Luận của
Vô Trước, Thế Thân đã giải thích “chủng tử” là “một
sức mạnh đặc biệt”, “một năng lực hay tiềm lực đặc
biệt”,[26] nhưng đây chắc chắn không phải là giải thích
duy nhất có thể dùng cho nó. Thật vậy, như tác giả của
Abhidharmadīpa lưu ý và Yaśomitra đã nhắc lại sau đó, từ
“chủng tử” không chỉ có nghĩa “một sức mạnh hay năng
lực đặc biệt” mà còn có nghĩa là “ấn tượng”.[27]
Và nghĩa thứ hai này thật sự đã xuất hiện trong các tác
phẩm của Thế Thân. Thật ra, ta còn có thể nói là ông dùng
cả hai từ “chủng tử” và “ấn tượng” thay cho nhau
và không có phân biệt. Thí dụ, trong Nhiếp Đại Thừa Luận,
ta đọc được:
Tình
trạng làm suy kiệt các chủng tử dần dần trở nên yếu
ớt, yếu hơn, và còn yếu hơn nữa, theo cùng cách giống như
sự suy giảm [dần dần] trong nước sôi, hay trong vận tốc
của mũi tên được phóng đi. Và vì điều này, khi sự kết
thúc của việc phóng ra được đạt đến vào lúc phát khởi,
bằng một sự chuyển biến đặc biệt của thức-xử-lý từ
sát na này đến sát na kế tiếp và qua sự tái diễn của
các chủng tử, ý thức và tiếp theo là các thức khác cũng
sinh khởi khi có các điều kiện cần thiết của chúng. Thức-xử-lý,
nơi chỉ có nhiều loại chủng tử khác nhau, được tác động
bởi các thuộc tính có lợi và bất lợi khác cùng khởi với
các thức khác với nó, nhờ vào sự tăng trưởng những chủng
tử này của chúng tùy theo trường hợp. Ứng hợp với lực
của sự chuyển biến đặc biệt này của chuỗi tương tục,
mà tiến trình in dấu tái diễn, và các hiệu quả vừa ý
và không vừa ý được mang lại. Về điều này, người ta
nói:
“Tâm
(citta) có vô lượng chủng tử này tiếp diễn theo dòng,
và
khi có các điều kiện riêng cho nó,
nó
và những chủng tử của nó tăng trưởng.
Được
tăng trưởng bởi chúng và tái diễn dòng chảy của nó,
nó
có thể cho quả đúng thời,
giống
như đối với hoa chanh được nhuộm màu,
màu
hiện ra trong lõi của quả nó.”[28]
Ở
đây, Thế Thân dùng hai thành ngữ “sự tái diễn của các
chủng tử” và “tiến trình in dấu tái diễn” để ám
chỉ chính xác cùng một điều, đó là tiến trình tái diễn
của các chủng tử và các ấn tượng. Ngoài trích dẫn trên,
cách dùng không phân biệt này đối với hai từ “chủng tử”
và “ấn tượng” có thể dễ dàng tìm thấy trong các đoạn
khác của cùng tác phẩm,[29] và cách dùng này không tạo ra
bất kỳ nguy cơ nghiêm trọng nào của sự ngộ nhận đối
với những người cùng thời ông, bởi vì như đã nói, họ
đều biết đến cách dùng này. Tác giả của Abhidharmadīpa
là trường hợp điển hình. Ông sống không lâu sau Thế Thân
và có thể dễ dàng nhận ra, trong số nhiều điều khác, ý
nghĩa của từ “chủng tử” là “ấn tượng” như chúng
ta đã chỉ ra trước đây. Với sự đồng nhất này, nay ta
có thể trở lại phát biểu trên của Nhị Thập Tụng để
xem nó chính xác có nghĩa là gì.
Nó
nói rằng “chủng tử của riêng nó, từ đó cái khiến ta
biết sinh khởi như một sự tự tri về một vật, chủng tử
đó đạt đến điểm quyết định của sự chuyển biến của
nó, chủng tử đó ở một phía, và chủng tử mà nó sinh khởi
như một sự tự tri về chính nó, ở phía kia, những cái này
là hai cái mà Thế Tôn tuyên bố là xứ của mắt và xứ của
vật.” Nay ta biết rằng các từ “chủng tử” và “ấn
tượng” có cùng nghĩa và có thể thay thế cho nhau, ít ra
là trong Câu Xá Luận và Nghiệp Thành Tựu Luận. Và không
có lý do giải thích tại sao trường hợp này lại không xảy
ra trong Nhị Thập Tụng. Vì thế, nếu ta suy đoán nó có xảy
ra thì phát biểu trên của Nhị Thập Tụng chỉ có nghĩa rằng
khi một ấn tượng được nhận vào từ cái gì đó bên ngoài,
nó khiến ta biết được sự kiện rằng ta biết cái gì đó
bên ngoài và ta biết rằng ta biết cái đó. Như vậy, ấn
tượng được thu nhận như thế kích phát hai sự vận động
cùng thời để chuyển biến chủng tử của thức-chứa-đựng
thành một tri nhận đầy đủ của thức-tri-nhận.
Thứ
nhất, nó khiến ta biết rằng ta nhận được ấn tượng của
cái gì đó. Và thứ hai, nó khiến ta biết rằng ta nhận được
ấn tượng của cái đó. Hai vận động cùng lúc này nhằm
chỉ cho sự chuyển biến của một chủng tử được cho thành
một nhận thức thuộc tri giác, như đã nói. Kết quả, cả
ấn tượng khiến ta biết cái gì đó cũng như cái khiến ta
biết rằng ta biết cái đó đều không hiện hữu độc lập
hoặc rốt cùng là chẳng hề hiện hữu gì cả. Chúng chỉ
là những chủng tử. Và nếu việc diễn giải nó như là một
“ấn tượng”, một điều nhất định có ích và cho nhiều
thông tin ở một mức độ rất lớn, có thể làm ta nghĩ về
nó như một loại thực thể, thì đó là điều rất sai lạc;
nó cũng có thể được hiểu là “năng lực” hay “tiềm
năng”, như đã nói. Khi được hiểu như thế, thức-tri-nhận
phát khởi từ chủng tử, tự bản tánh, sẽ không khác gì
cả với tự thân chủng tử; bởi vì là chủng tử thì nó
sẽ tồn tại như một tiềm năng vốn cần đến các điều
kiện thích hợp để có thể tự chuyển thành thực tại.
Có lẽ do ý tưởng này trong đầu mà Thế Thân đã giải thích
từ “chủng tử” là “tiềm năng” trong sớ giải của
ông về Nhiếp Đại Thừa Luận để nhấn mạnh đến quan
niệm cho rằng chỉ có một nhận thức được gọi bằng những
tên khác nhau như “chủng tử” ở các giai đoạn chuyển
biến khác nhau, và những tên gọi này không nên được hiểu
lệch là có các thực thể khác nhau ở những giai đoạn khác
nhau này. Một khi chủng tử cho ta sự tự tri về một vật
và chủng tử khiến ta nhận biết sự tự tri đó được chuyển
hóa thành chỉ một tri nhận về cái gì đó bên ngoài, thì
điều được chứng thực là không có chủng tử nào trong
số này có thể được xem là tồn tại độc lập. Nói theo
thành ngữ của chính Thế Thân là “đối tượng không hiện
hữu vì nó là sự tự tri”. Thật vậy, chủng tử, tức ấn
tượng khiến ta nhận biết cái gì đó bên ngoài và vì thế
nhất định trở thành đối tượng của sự tự tri của chúng
ta, làm sao có thể nói là nó có tồn tại? Và cũng vì lý
do đó, trước tiên làm sao nó có thể là một đối tượng?
Chúng
ta đã chỉ ra nghĩa kép của từ “đối tượng” được
Thế Thân sử dụng. Một cái gì đó là một đối tượng
chỉ khi nào nó có thể có ý nghĩa, tức chừng nào nó có
thể cung cấp một thông tin nào đó. Như vậy, đối tượng
được định nghĩa như một loại thông tin nào đó. Vì thế,
khi Thế Thân nói “đối tượng không hiện hữu vì nó là
sự tự tri” thì điều đó cũng có nghĩa đối tượng trong
nội dung được cho này không hiện hữu vì nó chỉ là thông
tin. Thật vậy, chỉ là thông tin thì nó mới có thể đồng
nhất với sự tự tri ở trong mệnh đề phụ tiếp theo “vì
nó là sự tự tri”. Và trong phạm vi này, nó đồng nghĩa
với từ “chủng tử” được bàn ở trên. Thuyết chuyển
biến trong Nhị Thập Tụng vì thế đã quá hiển nhiên. Khi
một đối tượng được định nghĩa là một nguồn thông
tin, nó sẽ cung cấp cho chúng ta thông tin, và thông tin này
có thể trở thành chủng tử hay ấn tượng. Một khi đã trở
thành như vậy, nó tự chuyển biến qua các giai đoạn tự
tri khác nhau để thành một nhận thức đầy đủ của thức-tri-nhận.
Kết quả, bây giờ ta phải xem xét không chỉ về sự diễn
giải chủng tử là ấn tượng hay tiềm năng mà còn cả sự
diễn giải nó là thông tin. Dĩ nhiên đây là một nhận xét
mang tính loại suy bởi vì toàn bộ nội dung Nhị Thập Tụng
không làm sáng tỏ đầy đủ cách diễn giải sau. Tuy nhiên,
như sẽ thấy, đây là một nhận xét đúng, được xác quyết
bởi tác phẩm sau đó của ông là Tam Thập Tụng.
Chúng
ta đã nói rằng Tam Thập Tụng mở đầu với luận đề nổi
tiếng “sự mô tả về ngã và pháp có tác dụng theo nhiều
cách khác nhau đều dựa vào sự chuyển biến của thức”.
Chúng ta còn biết thêm rằng sự chuyển biến này của thức
có ba loại, đó là chuyển-biến-xử-lý, chuyển-biến-chứa-đựng
và chuyển-biến-tri-nhận, và những chuyển biến này chỉ
là cấu trúc ngôn ngữ. Chúng ta cũng đã chỉ ra rằng quan
hệ giữa ba loại chuyển biến này là quan hệ đồng nhất.
Có nghĩa là do chuyển-biến-chứa-đựng mà thức tự chuyển
biến thành một thức-tri nhận và thức này là điểm cuối
của chuyển- biến-tri-nhận, trong khi chuyển-biến-xử-lý xảy
ra cùng với chuyển-biến-chứa-đựng, vì nó nương vào chuyển-biến-chứa-đựng
và lấy đó làm đối tượng”. Với quan hệ đồng nhất
này, không còn ngạc nhiên khi Thế Thân chỉ nói rằng “sự
chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ”, vì
rõ ràng rằng chỉ có một chuyển biến được gọi tên ở
các giai đoạn khác nhau hình như bằng những tên khác nhau.
Dù sao đi nữa, chúng ta biết chắc rằng chỉ có một chuyển
biến của thức, và chuyển biến này được định nghĩa là
một cấu trúc ngôn ngữ. Vậy, nó có nghĩa là gì?
Nó
chỉ có nghĩa rằng toàn bộ vận động của một thức là
một cấu trúc ngôn ngữ, vì thế nó hoàn toàn phụ thuộc
vào ngôn ngữ để vận động. Chúng ta nhắc lại lần nữa
là Thế Thân định nghĩa tri nhận qua ngôn ngữ mà nó được
diễn tả. Một khi tri nhận được định nghĩa là điểm cuối
của sự chuyển-biến-xử-lý thì điều tất yếu là cái tự
chuyển biến thành điểm cuối cùng đó sẽ được định
nghĩa tương tự. Kết quả, điều tất yếu là toàn bộ tiến
trình chuyển biến phải được định nghĩa là cấu trúc ngôn
ngữ. Với định nghĩa này, chẳng còn gì ngạc nhiên khi chủng
tử, vốn được cho là hiện hữu trong thức-chứa-đựng,
tức loại thức mang theo tiến trình xử lý cho đến điểm
cuối, đã được định nghĩa qua ngôn ngữ mà nó được diễn
tả.
Đối
với tri nhận, nó cũng được định nghĩa qua ngôn ngữ mà
nó được diễn tả, và nếu toàn bộ tiến trình chuyển biến
chỉ là một cấu trúc ngôn ngữ, thì không có cách gì khác
hơn là cũng phải đưa ra một định nghĩa giống như vậy
về chủng tử, cái đã sinh khởi tri nhận đó sau tiến trình
chuyển biến. Vì lẽ đó, chủng tử phải được xem như một
loại thông tin được mã hóa theo một ngôn ngữ đã cho. Nó
lập thành nền tảng cho sự vận động của toàn bộ tiến
trình chuyển biến của thức. Vì vậy sự định nghĩa tiến
trình chuyển biến của thức dựa vào một cấu trúc ngôn
ngữ rõ ràng chỉ cho quan niệm về chủng tử được hiểu
như là lượng thông tin được mã hóa theo một ngôn ngữ đã
cho. Như thế, nhận xét trên về việc diễn giải từ “chủng
tử” là “thông tin” đã được xác chứng đầy đủ. Và
điều này không phải quá ngạc nhiên. Điều làm chúng ta ngạc
nhiên là khi sự diễn giải đã xác chứng này được xét
đến cùng với quan niệm về sự chuyển biến của Nhị Thập
Tụng được mô tả trước đây, thì một hình ảnh thú vị
và chặt chẽ về thuyết chuyển biến của thức đã hiện
ra.
Nhị
Thập Tụng nói rằng một ấn tượng khi cho chúng ta một sự
tự tri về cái gì đó và sau đó lại tạo thành xứ của
vật thì phải tự chuyển biến đến một giai đoạn quyết
định nơi mà sự tự tri về cái gì đó hiện khởi. Theo Tam
Thập Tụng, tiến trình chuyển biến này là một cấu trúc
ngôn ngữ. Vì lẽ đó, ấn tượng hay chủng tử được cái
gì đó để lại trong thức chúng ta đúng là loại thông tin
có thể được xử lý. Và thông tin này phải được mã hóa
theo một ngôn ngữ được cho và nhờ vào ngôn ngữ đó, bởi
vì sự chuyển biến của một thức, mà thông tin này phải
phụ thuộc, chỉ vận hành như một cấu trúc ngôn ngữ chứ
không phải cách gì khác. Như vậy, thuyết chuyển biến của
thức do Thế Thân đề ra trong Nhị Thập Tụng và Tam Thập
Tụng được xác chứng rõ ràng. Không còn sự mơ hồ cũng
như mâu thuẩn nào về ý nghĩa của nó để có thể gây ra
nhầm lẫn. Căn cứ vào đó, Thế Thân đã có thể nhận ra
rằng một đối tượng khi được định nghĩa như một nguồn
thông tin, hay chính xác hơn như một loại thông tin nào đó,
không hiện hữu qua lượng thông tin đó bởi vì tác dụng
của thông tin là chỉ cho cái gì đó ở ngoài và vượt khỏi
nó, cho cái gì đó ở bên ngoài; hơn nữa, khi thông tin đó
được xử lý, nó sẽ trở thành một tri nhận về đối tượng
mà một thức nào đó thu thập được, chứ không phải về
đối tượng mà nó thật sự biểu trưng và cung cấp thông
tin.
Có
thể nói rằng sự thất bại trong việc hiểu đúng thuyết
chuyển biến của thức của Thế Thân là nguyên nhân gốc
rễ của quan niệm phổ thông của rất nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng triết học của ông là duy tâm luận như chúng ta
đã đề cập trước đây. Ngay cả Wayman, người đã chính
xác đặt ra vấn đề liệu có phải học thuyết Du già của
Thế Thân là duy tâm luận, bằng cách chỉ ra rằng nếu có
thể hiểu duy tâm luận qua các khẳng định như “thức là
thực tại duy nhất” thì thật rất khó giải thích tại sao
Thế Thân lại thừa nhận sự tồn tại độc lập của một
phạm trù gồm các pháp không tương ứng với thức cũng không
tương ứng với vật, thì chính Wayman hình như vẫn sẵn sàng
gán ghép một loại duy tâm luận nào đó cho Nhị Thập Tụng,
nếu không muốn nói là Tam Thập Tụng.[30] Đây quả là điều
không may.
Nếu
chính sự chuyển biến của thức khiến cho một ấn tượng
có thể chuyển hóa thành một tri nhận đầy đủ thì sự
chuyển biến này xảy ra như thế nào? Trong Tam Thập Tụng,
khi giới thiệu và nhấn mạnh khái niệm chuyển biến, Thế
Thân chỉ nói rằng “sự chuyển biến của thức là một
cấu trúc ngôn ngữ” sau khi chứng minh nó có ba loại, và
chỉ có thế. Vì vậy, đối với Tam Thập Tụng, nó không
cho chúng ta trả lời rõ ràng nào về câu hỏi vừa nêu. Tuy
nhiên, các sớ giải về nó lại cho nhiều thông tin hơn về
điểm này. Chẳng hạn như sau khi hỏi “chuyển biến là gì?”,
An Huệ đã đưa ra trả lời sau:
Đó
là một tình trạng trở thành khác đi. Khi một quả tự đắc
cùng thời với sát na diệt của nhân và khác biệt một cách
đặc trưng với sát na đó của nhân, đó là sự chuyển biến.
Vào sát na đó, do sự xử lý toàn bộ các ấn tượng của
cấu trúc ngôn ngữ như ngã, v.v., và do sự xử lý toàn bộ
ấn tượng của cấu trúc ngôn ngữ như pháp, v.v, mà cấu
trúc ngôn ngữ sinh khởi như sự tự tri về chính nó và như
sự tự tri về đối tượng từ thức-xử-lý. Sự tự tri
này về chính nó và sự tự tri này về đối tượng, do cấu
trúc ngôn ngữ, có tác dụng của một sự thật khách quan
giống như sự mô tả về ngã, v.v., và giống như sự mô tả
về pháp như sắc trần, v.v., trong sự thường hằng của nó
cho dù không có bất kỳ ngã hay pháp nào ở bên ngoài, giống
hệt như sự mô tả các sợi lông và các vòng của một người
mắc bệnh bạch chướng nhãn. Một mô tả là một từ mà
nó không có hàm ý những gì nó là và không áp dụng vào chỗ
nó phải là, giống hệt như khi người ta dùng từ “con bò”
để mô tả một Bāhikā.[31]
Vậy
thì, theo An Huệ, chuyển biến có nghĩa rằng một ấn tượng,
khi được một đối tượng để lại trong cái gọi là thức-chứa-đựng,
đã tự chuyển biến qua tiến trình của cấu trúc ngôn ngữ
cho đến điểm mà ở đó nó có thể dẫn khởi một thức
vào việc nhận biết về chính nó và về ấn tượng. Một
khi sự tự ý thức về chính nó và về ấn tượng này xảy
ra, thì do cấu trúc ngôn ngữ của nó mà nó có tác dụng như
một mô tả về ngã và pháp khi có sự phụ thuộc như một
sự thật khách quan. Nói cách khác, khi một ấn tượng trong
tiến trình chuyển biến của nó kích khởi một thức thành
sự tự tri về chính nó và về ấn tượng thì ấn tượng
này trở thành một mô tả về sự vật mà sự vật này phụ
thuộc vào nó như một sự thật khác quan. Theo nghĩa này, rõ
ràng sự chuyển biến của thức thật sự là một cấu trúc
ngôn ngữ. Thật vậy, toàn bộ tiến trình chuyển biến là
sự xử lý một ấn tượng thành một mô tả về một vật,
không hơn không kém. Vì thế, cái ta biết về ngoại cảnh
hoàn toàn tùy thuộc sự xử lý đó. Qua nó, một ấn tượng
do một đối tượng để lại có thể kích khởi thức của
chúng ta thành một sự nhận biết về chính chúng ta và về
ấn tượng mà đối tượng để lại. Và từ sự nhận biết
này, ta có thể hình thành một mô tả chính xác về đối
tượng mà ấn tượng này ám chỉ. Sự nhận biết về chính
mình và về ấn tượng vì thế rất thiết yếu cho vận hành
của tiến trình. Thật vậy, nếu không có nó, thật khó hình
dung làm thế nào toàn bộ tiến trình chuyển biến có thể
hoạt động được, bởi vì ấn tượng sẽ giữ nguyên như
nó là. Không có điểm cuối cùng để đạt đến và cũng
không có mô tả nào được tạo về một vật khi có sự tùy
thuộc như sự thật khách quan. Tiến trình chuyển biến của
một thức như vậy đã được An Huệ trình bày rất rõ ràng.
Pháp Hộ cũng đưa ra một giải thích tương tự, nếu không
phải là tương đồng, về cơ cấu hoạt động của tiến
trình này. Tuy nhiện, do quan điểm được một số tác giả
chủ trương mà về mặt này Pháp Hộ vẫn giữ một vài ý
kiến rất khác biệt với An Huệ. Chúng tôi phiên dịch một
đoạn thường được trích dẫn của ông và đồng thời trình
bày phần giải thích thêm của chúng tôi:
Các
thức này tự chuyển biến thành cấu trúc ngôn ngữ và những
gì được thiết lập bằng ngôn ngữ. Vì điều này, cái được
thiết lập bằng ngôn ngữ không hiện hữu. Vì vậy, bất
kỳ cái gì hiện hữu chỉ là cái khiến ta biết.
Luận
thư nói: những gì được gọi là ‘các thức này’ là ba
thức chuyển biến nói trên và các thuộc tính của chúng.
Các thức này có thể tự chuyển biến thành phần thấy (kiến
phần) và phần bị thấy (tướng phần). Vì thế, chúng được
gọi là ‘chuyển biến’. Những gì được chuyển thành phần
thấy được gọi là ‘cấu trúc ngôn ngữ’, đó là vì nó
có thể tri nhận phần bị thấy. Những gì được chuyển
thành phần bị thấy được gọi là ‘được cấu trúc bằng
ngôn ngữ’, đó là vì nó được tri nhận bởi phần thấy.
Do lý luận này, các thực ngã và thực pháp kia chắc chắn
không hiện hữu nếu không có những gì được chuyển biến
bởi thức. Đối với sự tự chuyển biến thành phần nắm
bắt và phần được nắm bắt, sẽ không hiện hữu một pháp
độc lập nào cả. Không có thực pháp nào hiện hữu nếu
không có hai phần đó. Vì vậy, bất kỳ cái gì hiện hữu,
hoặc hữu vi hoặc vô vi, hoặc thực hoặc mộ tả, đều cùng
có với thức.[32]
Đọc
đoạn trên, quan niệm của Pháp Hộ về chuyển biến của
thức chắc chắn không khác với An Huệ mặc dù phê phán minh
nhiên của ông về thuyết nhận thức-một dạng của An Huệ
và cách diễn giải kỳ lạ của ông về câu văn tiếng Phạn
của Thế Thân. Hai điều này không đáng quan tâm ở đây.
Chừng đó cũng đủ để nói rằng phê phán của ông về thuyết
nhận thức-một dạng của An Huệ đối với chúng ta hình
như không được bảo đảm và hoàn toàn không thuyết phục,
giống hệt như trường hợp ông phê phán thuyết nhận thức-hai
dạng của Trần Na và trường hợp quan điểm ông đề ra về
nhận thức-ba dạng. Về cách diễn giải kỳ cục của ông
đối với câu văn chữ Phạn của Thế Thân, khi xét từ quan
điểm ngữ pháp thuần túy thì sự diễn dịch này thật sự
không hợp lý, nếu giả như Huyền Tráng đã chuyển ngữ bản
gốc Phạn văn một cách trung thành và chính xác, một giả
thiết mà ta có thể nghi ngờ và không tin tưởng khi xét đến
các bản dịch khác của ông, những bản dịch mà các bản
gốc Phạn văn vẫn còn giữ được và cho thấy có sự khác
biệt đáng kể.[33]
Dù
sao thì ý nghĩa bài tụng của Thế Thân cũng rất rõ ràng,
và một diễn giải sai về nó như của Pháp Hộ cũng không
có hại gì nghiêm trọng cho nó. Thật vậy, ý nghĩa bài tụng
đó đủ mạnh để buộc ta phải chấp nhận cách phân tích
câu và giải thích của Pháp Hộ là khả năng duy nhất, cho
dù diễn giải này không đúng về ngữ pháp. Bởi vì nếu
nghĩ rằng chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ,
điều tất yếu là phải có cái gì đó được cấu trúc bằng
ngôn ngữ. Nếu không, bàn về cấu trúc ngôn ngữ để làm
gì? Thật ra, sẽ không có cấu trúc ngôn ngữ nào cả nếu
không có các sự vật được cấu trúc bằng ngôn ngữ để
qua đó cấu trúc ngôn ngữ có thể biểu hiện. Vì thế, khi
Thế Thân nói “chuyển biến của thức là một cấu trúc
ngôn ngữ”, ta mong đợi ông sẽ nói tiếp về “cái được
cấu trúc bằng ngôn ngữ”, không kể là lời nói này có
được tiếp nối bởi một câu nói khác hay không. Kết quả,
ta không thể cáo buộc Pháp Hộ là không hiểu Phạn văn của
Thế Thân, một điều không đúng với bất kỳ một tí tưởng
tượng nào; ta cũng không thể cáo buộc ông đã diễn giải
một cách táo tợn tư tưởng của Thế Thân. Mặc dù ngữ
pháp tồi, nếu ta tin tưởng Huyền Tráng đã chuyển ngữ Phạn
văn của ông một cách trung thành và đúng, thì qua đoạn văn
dẫn trên Pháp Hộ vẫn cho chúng ta một trần thuật dễ hiểu
và hoàn toàn hợp lý về thuyết chuyển biến của thức của
Thế Thân.
Khi
Pháp Hộ nói “các thức này có thể tự chuyển thành phần
thấy và phần bị thấy”, điều ông thật sự muốn nói
là các ấn tượng có thể tự chuyển thành sự tự tri về
chính nó và sự tự tri về ấn tượng. Bởi vì trong trang
trước, ông đã đống nhất chữ “thức” với “chủng
tử” như đã thấy.[34]
Ngoài
ra trong khi khảo sát thuyết nhận thức-hai dạng được Trần
Na bổ chú thêm, Pháp Hộ đã biểu trưng thuyết này qua các
phần nhìn thấy và được nhìn thấy.[35] Vì thế, những gì
được đặt tên là phần thấy và phần được thấy trong
cách dùng từ của Pháp Hộ chính là “sự tự tri về chính
nó” và “sự tự tri về sự vật” của Trần Na.[36] Ý
nghĩa của câu nói dẫn trên của Pháp Hộ như vậy hoàn toàn
rõ ràng. Đối với ông, nó có nghĩa khi một ấn tượng được
một đối tượng để lại, nó có thể tự chuyển thành sự
tự tri về chính nó và sự tự tri về ấn tượng. Do chính
sự chuyển biến này mà cả hai sự tự tri này không hiện
hữu, vì cuối cùng nhất định chúng phải chuyển thành chỉ
một tri nhận chín muồi. Kết quả, “bất cứ cái gì hiện
hữu, hoặc hữu vi hoặc vô vi, hoặc thật hoặc mô tả, đều
chỉ là cái khiến ta biết”. Vì vậy, nếu ta so sánh quan
điểm này của Pháp Hộ với quan điểm của Trần Na ở trên,
thì chúng hoàn toàn đồng nhất. Nếu Pháp Hộ nói “các thức
này có thể tự chuyển thành phần thấy và phần được thấy”,
An Huệ sẽ nói lại “do sự xử lý toàn bộ các ấn tượng
thuộc cấu trúc ngôn ngữ như ngã, v.v., và do sự xử lý toàn
bộ các ấn tượng thuộc cấu trúc ngôn ngữ như pháp, v.v.,
mà cấu trúc ngôn ngữ hiện khởi như sự tự tri về chính
nó và như sự tự tri về sự vật từ thức-xử-lý.” Vậy
thì rõ ràng không phải sự diễn dịch của Pháp Hộ về sự
chuyển biến của thức như là sự chuyển biến thành cái
gọi là phần thấy và phần được thấy đã làm cho tư tưởng
ông về vấn đề này trở thành “một loại duy tâm luận”;
cũng không phải một diễn dịch như thế đã đánh mất luận
giải của An Huệ vốn chuyển tải, theo quan điểm của ông,
một “thuyết về thực tại”, như phần đông đã tưởng.[37]
Họ hoàn toàn thống nhất với nhau khi trình bày thuyết chuyển
biến của thức do Thế Thân đề ra.
Sự
thống nhất này rõ ràng không gây nhiều ngạc nhiên cho bất
cứ ai đã quen với nội dung của Nhị Thập Tụng. Trong đó,
Thế Thân nói “Chủng tử của riêng nó, từ đó cái khiến
ta biết sinh khởi như một sự tự tri về một vật, chủng
tử đó đạt đến điểm quyết định của sự chuyển biến
của nó, chủng tử đó ở một phía, và chủng tử mà nó
sinh khởi như một sự tự tri về chính nó, ở phía kia, những
cái này là hai cái mà Thế Tôn tuyên bố là ‘xứ của mắt’
và ‘xứ của vật’.” Nay ta có thể so sánh câu nói này
với hai đoạn văn dẫn trên của An Huệ và Pháp Hộ. Một
điều hiển nhiên là cốt lõi quan niệm về sự chuyển biến
của thức của hai người này đều rút ra từ chính câu nói
được trích dẫn trên. Cả hai đều đặt quan niệm chuyển
biến của mình trên sự tiến hóa của chủng tử hay ấn tượng
thành sự tự tri về chính nó và sự tự tri về chủng tử
hay ấn tượng. Tóm lại, dù trong Tam Thập Tụng, Thế Thân
đã không đưa ra một trần thuật rõ ràng quan điểm của
ông về sự chuyển biến của thức nhưng chúng ta tin tưởng
vẫn có thể có một khái niệm chính xác về ý nghĩa của
nó nhờ vào Nhị Thập Tụng và các luận thư của hai người
ủng hộ ông là Pháp Hộ và An Huệ.
Thuyết
chuyển biến của thức như được mô tả ở đây vì thế
hoàn toàn mới và khác hẳn với những gì Thế Thân quan niệm
trong các tác phẩm trước của ông. Chẳng hạn, trong Câu Xá
Luận, sau khi hỏi “Dòng thức là gì? Chuyển biến là gì?
Điểm quyết định là gì?”, ông đã trả lời như sau:
Dòng
thức là dòng chảy liên tục của thức trước một hành động.
Sự dâng khởi của dòng chảy này và sự trở thành khác đi
của nó là sự chuyển biến. Và khi do tính chất đặc biệt
của sự chuyển biến cuối cùng mà nó có thể sinh khởi một
quả ngay sau chuyển biến cuối cùng đó, thì đó là điểm
quyết định của sự chuyển biến.[38]
Quan
niệm được Câu Xá Luận định nghĩa như thế rõ ràng rất
thẳng thắn và đơn giản. Nó không liên quan gì đến quan
niệm sự chuyển biến của thức là sự chuyển biến của
một ấn tượng thành sự tự tri về chính nó và sự tự
tri về ấn tượng mà Nhị Thập Tụng nhấn mạnh và được
Pháp Hộ và An Huệ lập lại trong các tác phẩm của họ.
Sự tương phản giữa hai luận thư này vì thế rất dễ thấy.
Tất nhiên, ta có thể hỏi tại sao một tương phản nổi bật
như thế lại xảy ra, một tính chất đã tách rời Nhị Thập
Tụng với quan niệm đơn giản ban đầu của Câu Xá Luận
về thuyết chuyển biến. Thế nhưng, ta không thể phủ nhận
là tương phản đó không tồn tại.
Thật
vậy, ta có thể nói rằng tương phản đó không những đánh
dấu hai thời kỳ tư tưởng của Thế Thân, mà là toàn bộ
tư tưởng ông đối với tư tưởng của những người đương
thời và đi trước ông, bởi vì không có nơi nào có thể
tìm thấy một quan niệm về chuyển biến của thức như được
trình bày trong Nhị Thập Tụng.
Dĩ
nhiên, quan niệm chuyển biến của thức dưới nhiều tên gọi
khác nhau đã có một lịch sử lâu đời và phức tạp. Có
thể nói rằng quan niệm này bắt nguồn cùng với các nhà
văn phạm. Với đặc điểm về biến cách của tiếng Phạn,
họ đã tự hỏi tại sao một chữ có thể biến cách mà không
đánh mất nguyên nghĩa của nó. Lúc đầu, đó chỉ là một
sự thay đổi về luật phối âm do những lý do hài âm, chẳng
hạn
e >
a hay i > y
trước
một nguyên âm. Khi mô tả các biến cách ngữ học, các tác
giả của nhiều Prātisākhya khác nhau đã nói về trường hợp
một âm đổi thành một âm khác. Như Ṛgvedaprātiśākhya ghi
lại quy tắc nói rằng “nhóm từ ‘cái này đến cái kia’
có nghĩa là trở thành cái kia, liên quan đến âm đứng gần
nó nhất”.[39] Và Taittirīyaprātiśākhya nói về việc “trực
bổ cách đặt tên cho một sản phẩm của sự chuyển biến”.[40]
Tuy nhiên, khi Aṣṭādhāyā của Pānini xuất hiện, thay vì
bàn về sự chuyển âm, nó đã dựa vào thuyết thay thế một
âm bằng một âm khác và vì thế đặt ra yêu cầu chữ thay
thế phải được xem như chữ gốc trừ khi nó chỉ thị cách
khác.[41]
Trong
trường hợp có hai thuyết đổi âm được sử dụng cùng
lúc và hình như có tính chất loại trừ nhau này, Patañjali
đã đề nghị một giải pháp thú vị. Ông nói rằng sự thay
thế cũng là sự chuyển biến. Tại sao? Bởi vì thay thế chỉ
là một chuyển biến của quả. Vậy, sự chuyển biến này
của quả có nghĩa gì? Ông cho thí dụ rằng theo Pānini II.
4. 52 thì động từ căn bhū là một thay thế cho động từ
căn as khi chữ này có tiếp vĩ ngữ thuộc loại ārdhadhātuka.
Theo ông, những gì xảy ra trong sự thay thế này là với một
tiếp vĩ ngữ mới thì động từ căn as cho chúng ta một tình
huống mới giống như khi người nói nói với người nghe trước
tiên về cây xoài và sau đó về những cây vả. Sự chuyển
biến của quả trong hai trường hợp này không phải là những
gì xảy ra cho động từ căn as hay cho cây cối, mà là xảy
ra cho hiểu biết của chúng ta về cả hai điều này. Vì thế,
đối với Patañjali, chuyển biến của quả là chuyển biến
của tâm, một buddhiviparināma.[42]
Khái
niệm kỳ lạ này về sự chuyển biến của tâm được đưa
ra ở đây làm chúng ta nhớ ngay đến thuyết chuyển biến
của thức do Thế Thân đề ra. Tất nhiên, chúng ta không biết
chính xác Thế Thân đã rút ra thuyết của ông từ thuyết
của Patañjali ở mức độ nào. Câu Xá Luận có ghi những
trích dẫn từ Pānani và rất nhiều luận giải về cấu trúc
đúng văn phạm của một từ hay một câu.[43] Thế nhưng không
có đề cập công khai nào đến tên của Patañjali. Một điều
cũng rất quan trọng là Thế Thân đã bắt đầu Tam Thập Tụng
với một luận đề liên quan đến vấn đề mô tả được
biết đến dưới tên “upacāra” nhưng không định nghĩa
từ này là gì. Như sẽ thấy ở chương kế tiếp của nghiên
cứu này, ý nghĩa mà các nhà bình giải luận thư trên đã
gán cho từ này xuất phát từ chính Patañjali. Vậy điều hiển
nhiên là nếu Thế Thân đã quá quen với ý nghĩa của từ
upacāra thì ông hẳn đã dựa vào giải thích của Patañjali
và phải đồng ý với giải thích này. Với những chứng cứ
cụ thể này, ta không thể không kết luận rằng Thế Thân
chắc hẳn đã trình bày thuyết chuyển biến của thức trên
cơ sở quan niệm của Patañjali về chuyển biến của tâm.
Thật không may, vấn đề sự chuyển biến của tâm vận hành
như thế nào đã không hề được Patañjali bàn đến.
Vì
lẽ đó, chúng ta buộc phải kết luận rằng cho dù Thế Thân
có rút ra thuyết chuyển biến thức của ông từ quan niệm
chuyển biến tâm của Patañjali, nhưng chính Thế Thân là người
đã hiểu đúng, đánh giá đúng và phát triển quan niệm này
thành một lý thuyết không còn sự mơ hồ và mâu thuẩn nào
cả. Và đó là điểm độc đáo của thuyết chuyển biến
thức của Thế Thân, một thuyết không tìm thấy ở nơi nào
khác và đã giúp phân biệt nó với tất cả các quan niệm
khác về sự chuyển biến mà nó thường được mang ra so sánh.[44]
Chắc
chắn không thể đem so quan niệm của Số luận về chuyển
biến cũng như lý thuyết về hiện hành của Vedānta với thuyết
của Thế Thân, vì một lý do đơn giản là thuyết của ông
không được quan niệm theo những điều kiện thuộc bản thể
học. Đúng hơn, trong mọi trường hợp, nó là một phát biểu
về cơ cấu vận hành khả hữu của khả năng nhận thức
của chúng ta. Một lần nữa, do không nhận ra nét đặc trưng
này mà rất nhiều tác giả đã gọi Thế Thân là “nhà duy
tâm luận”, đồng thời khăng khăng rằng “theo các nhà thức
học (Vijñānāvādin) thì thức (vijñāna) là nguồn gốc (ālayavijñāna)
của tất cả, kể cả bảy thức tác dụng (pravṛttivijñāna),
mà bên ngoài nó không có gì thật sự hiện hữu”.[45]
Thật
ra, chính nét đặc trưng này đã thôi thúc chúng ta xem xét
và tìm ra nguồn gốc thuyết của Thế Thân trong khái niệm
về chuyển biến tâm được đề cập trong tác phẩm của
Patañjali. Cả hai đều đạt được kiến giải thâm áo của
mình từ việc nghiên cứu các vấn đề được đặt ra bởi
công dụng của ngôn ngữ con người. Cả hai đều đạt đến
những kết luận như nhau, mặc dù chủ ý và phương pháp của
họ khác nhau. Với Patañjali, ông đã sử dụng khái niệm chuyển
biến tâm để có thể thiết định luận đề từ ngữ thì
vĩnh hằng, trong khi với Thế Thân một luận đề như thế
không hề hiện hữu. Ông hướng đến thuyết chuyển biến
của thức bằng chính định nghĩa của ông về tri nhận là
gì và đó là kết quả trực tiếp của việc ông nghiên tầm
luận lý. Trong bất cứ trường hợp nào thì đó vẫn là một
lý thuyết độc đáo của ông về mặt qui mô cũng như những
trình bày chi li của nó.
Nó
phát biểu rằng chuyển biến của thức chỉ là sự chuyển
đổi một ấn tượng thành một sự tự tri về chính nó và
sự tự tri về đối tượng, và cả hai cùng đưa đến một
tri thức toàn vẹn có thể được định nghĩa qua ngôn ngữ
mà nó được diễn tả. Tóm lại, nó là một cấu trúc của
ngôn ngữ. Trong tiến trình cấu trúc ngôn ngữ này, quan niệm
tự tri đóng một vai trò quan trọng mà không có nó ta không
thể nào mô tả sự chuyển biến đó, như đã thấy. Thật
vậy, không có nó sẽ không thể nhận ra nét đặc trưng nào
trong thuyết của Thế Thân, một thuyết không tìm thấy nơi
nào khác trong số rất nhiều luận sư đã dùng đến từ ngữ
“chuyển biến”.
Trong
chương trước, ta đã thấy rằng quan niệm tự tri được
đưa vào hệ thống Thế Thân như là kết quả những nỗ lực
của ông nhằm giải quyết vấn đề tri nhận. Ở các thời
kỳ trước đó, tri nhận đã được cho là bất khả thuyết.
Nó chỉ là một “cảm thọ thuần túy”, một kinh nghiệm
nội tại không thể chia sẻ. Cách nghĩ này về tri nhận đã
tạo ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết. Ngay cả đến
thời của Thế Thân, những vấn đề này dường như cũng
không thể nào quyết định được. Điểm mấu chốt của
vấn đề dĩ nhiên là làm thế nào để liên kết kinh nghiệm
tri giác với nhận thức ngôn ngữ trong đó nó được hiển
bày. Và vấn đề chủ chốt này đã được Thế Thân gỡ
bỏ trước tiên bằng định nghĩa tri nhận không phải như
một cảm thọ đơn thuần mà là bằng vào ngôn ngữ qua đó,
rốt cùng, nó được diễn tả như đã thấy. Và rồi ông
đã tiếp tục đưa ra lý do tại sao một định nghĩa như thế
phải được cần đến về mặt luận lý. Ông chỉ ra như
một sự thật tất yếu rằng mọi tri nhận, tự thể tánh,
đều là sự tự tri, có nghĩa là nếu ta biết cái gì đó
thì không chỉ ta biết nó, mà còn biết rằng ta biết nó.
Đây là những gì về sau Trần Na gọi là thuyết nhận thức
có dạng kép. Một khi khái niệm tự tri được thừa nhận
như một sự thật hiển nhiên thì điều còn lại là minh giải
nó có tác dụng như thế nào trong tiến trình tri nhận của
một người. Điều này đã mang lại thuyết chuyển biến nói
trên của thức. Vậy, cái sinh khởi một yếu tố chủ chốt
có tên là tự tri như thế trong đời sống ý thức của chúng
ta là gì?
Để
trả lời câu hỏi này, ta nên lưu ý phát biểu vủa An Huệ
được dẫn trước đây. Ông nói rằng “do sự xử lý toàn
bộ các ấn tượng thuộc cấu trúc ngôn ngữ như sự vật,
v.v., mà cấu trúc ngôn ngữ sinh khởi như sự tự tri về chính
nó và như sự tự tri về sự vật từ thức-xử-lý”. Như
vậy, theo ông, chính cấu trúc ngôn ngữ sinh khởi như sự
tự tri sau khi đã được xử lý, và chính cấu trúc ngôn ngữ
có tác dụng như một ấn tượng đang được xử lý. Tóm
lại, tự thân sự tự tri đến lượt nó chỉ là một cấu
trúc ngôn ngữ. Tất nhiên, một nhận xét như thế sẽ không
làm ngạc nhiên nếu luận đề tổng quát được Thế Thân
phát biểu là: sự chuyển biến của thức là một cấu trúc
ngôn ngữ; có nghĩa là sự vận hành của toàn bộ đời sống
ý thức được quyết định hoàn toàn bởi, và phụ thuộc
trọn vẹn vào, ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ nói hay ở dạng
nào khác. Cái làm chúng ta ngạc nhiên là quan niệm cho rằng
ấn tượng có thể được xem như một cấu trúc ngôn ngữ.
Điều này có nghĩa gì? Có phải An Huệ đang cho chúng ta một
trần thuật về quan điểm của Thế Thân hay đang lồng ghép
quan điểm của riêng ông vào vấn đề này?
Để
giải đáp những nan đề này, chúng ta hãy tìm hiểu làm thế
nào và bằng cách nào một ấn tượng có thể được xem như
một cấu trúc ngôn ngữ. Phương cách hiển nhiên nhất
là xem nó như đang chỉ cho một ấn tượng ngôn ngữ mà ta
có thể nhận được từ một người khác. Trong trường hợp
đó, dĩ nhiên ấn tượng thật sự là một cấu trúc ngôn
ngữ. Nếu có người nói với tôi điều gì đó, chắc chắn
anh ta sẽ gây cho tôi một ấn tượng ngôn ngữ. Không còn
nghi ngờ gì cả về điều này. Tuy nhiên, khi Thế Thân nói
“chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ” và
An Huệ diễn giải “cấu trúc ngôn ngữ sinh khởi từ thức-xử-lý
như sự tự tri về chính nó và như sự tự tri về ấn tượng
do sự xử lý trọn vẹn ấn tượng thuộc cấu trúc ngôn ngữ
như ngã và pháp, v.v.,” thì ấn tượng được nói đến ở
đây không còn tự giới hạn trong ấn tượng ngôn ngữ được
tạo ra bởi lời lẽ của người khác khi mà những lời lẽ
này được thốt ra trong một số tình huống đặc biệt. Bởi
vì sự chuyển biến của thức được cho là có ba loại như
đã nói và không chỉ bao gồm sự nhìn, sự nghe, mà còn cả
xúc chạm, suy nghĩ, nếm, v.v, và những tri giác này chắc chắn
không bao gồm bất kỳ ấn tượng ngôn ngữ có thật nào nhận
được từ bên ngoài, dù là ngôn ngữ nói hay các dạng khác.
Vậy, làm thế nào ta có thể nói rằng chuyển biến của thức
là một cấu trúc ngôn ngữ? Làm thế nào các ấn tượng có
thể được xử lý bởi cấu trúc ngôn ngữ để được xem
là ấn tượng ngôn ngữ?
Trả
lời câu hỏi này, Thế Thân đề nghị giải pháp sau. Ông
lập luận rằng mặc dù chuyển biến của thức là một cấu
trúc ngôn ngữ, nó chỉ có thể tiếp diễn qua “sự tác động
hỗ tương”. “Tác động hỗ tương” này là gì? An Huệ
trả lời:
Bằng
tác động hỗ tương, điều này có nghĩa khi sự vận hành
của việc xử lý các ấn tượng riêng của nó hoàn tất thì
thức của mắt, v.v., là hiện hành của sự chuyển biến của
thức-xử-lý khi ấn tượng của nó đạt đến điểm quyết
định. Và sự chuyển biến của thức-xử-lý đó là một
hiện hành của thức của mắt, v.v. Như vậy, qua tác động
hỗ tương của chúng khi cả hai vẫn đang còn tác dụng thì
một cấu trúc ngôn ngữ như thế và như thế của nhiều loại
sẽ sinh khởi từ thức-xử-lý mà không có xen vào bất cứ
vật gì khác.[46]
Vì
thế, theo ông, nếu tiến trình chuyển biến vận hành qua sự
tác động hỗ tương thì chính tác động hỗ tương giữa
thức-xử-lý và thức-tri-nhận là điều Thế Thân muốn nói
đến ở đây chứ không phải điều gì khác. Dĩ nhiên, đây
là một diễn dịch hoàn toàn thông thường của từ này. Tuy
nhiên, đây không nhất thiết phải là diễn dịch duy nhất
có thể có về từ này nhất là khi nhìn từ trường hợp
nó được sử dụng. Tam Thập Tụng nói:
Chuyển
biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ; những gì được
nó cấu trúc bằng ngôn ngữ thì không hiện hữu; vì vậy,
bất cứ cái gì hiện hữu chỉ là cái khiến ta biết. Vì
thức có mọi chủng tử, sự chuyển biến của nó tiếp diễn
theo những cách như thế và như thế qua sự tác động hỗ
tương để cho cấu trúc ngôn ngữ như thế và như thế được
tạo ra. Khi sự xử lý trước đó hoàn tất, ấn tượng của
hành động cùng với các ấn tượng của nhận thức có dạng
kép tạo ra một xử lý khác với xử lý trước.[47]
Những
gì được nói ở đây quá hiển nhiên. Dù chuyển biến của
thức vận hành qua sự tác động hỗ tương để cho một cấu
trúc ngôn ngữ có thể xảy ra, nhưng tác động hỗ tương
này không nhất thiết chỉ cho tác động hỗ tương giữa thức-xử-lý
và thức-tri-nhận. Cả hai phải tùy thuộc vào “ấn tượng
của hành động” và “các ấn tượng của nhận thức có
dạng kép” thì trước tiên mới có tác dụng. Chính sự tùy
thuộc vào các ấn tượng này tạo thành cái gọi là các chủng
tử của thức-xử-lý, cái đã đặt ra vấn đề tác động
hỗ tương giữa thức-xử-lý và thức-tri-nhận trong dạng
rõ ràng nhất của nó. Chắc chắn, thức-xử-lý có thể tác
động đến thức-tri-nhận vì chính nó xử lý một ấn tượng
thành một tri nhận nhờ vào sự chuyển biến. Nhưng thức-tri-nhận
chỉ có thể tác động đến thức-xử-lý khi được cung cấp
các ấn tượng, và không có gì khác. Chính các ấn tượng
này, hoặc khởi từ hành động của chúng ta hoặc từ dạng
kép của nhận thức, tác động trực tiếp đến vận động
tiếp theo của tiến trình. Vì thế, chính tác động hỗ tương
giữa các ấn tượng quyết định sự chuyển hóa của thức
hơn là tác động giữa thức-xử-lý và thức-tri-nhận, như
An Huệ đã chủ trương. Nếu đúng như vậy, kết luận hiển
nhiên phải là không những các ấn tượng tác động lẫn
nhau mà thức của mỗi cá thể cũng thế. Bởi vì nếu toàn
bộ đời sống của một thức là một cấu trúc ngôn ngữ
và tự thân cấu trúc ngôn ngữ lại tùy thuộc phần lớn
vào tiến trình nhận biết, thì tác động của các thức khác
lên thức của chính chúng ta phải xảy ra.
Nay
ta không biết Thế Thân có thật sự biết đến các hậu quả
tai hại, đặc biệt trong lãnh vực hoạt động tri thức, đối
với những người đã bị mất đi, ngay trong thời thơ ấu
của họ, những kích hoạt tình cảm và tri thức chủ yếu
đến từ những người khác hay không. Thế nhưng, chúng ta
biết rằng trong các trường hợp đó, các kết quả tai hại
thật sự xảy ra, và đôi khi làm họ bị tổn thương. Vì
thế, khi định nghĩa chuyển biến của thức như một cấu
trúc ngôn ngữ, ta dứt khoát phải thừa nhận rằng thức của
ta có thể bị tác động dễ dàng bởi thức của người khác
và ngược lại. Khái niệm tác động hỗ tương được Thế
Thân nói đến trước đây vì thế cũng nên được xem như
có hàm ý đến giả định vừa nói.
Một
diễn dịch như thế về khái niệm tác động hỗ tương chắc
chắn không phải là điều mới lạ đáng ngạc nhiên. Thật
vậy, ta còn có thể tìm thấy điều đó hàm chứa trong quan
điểm trên của An Huệ về chính sự chuyển biến của thức.
Khi ông nói, “do sự xử lý toàn bộ các ấn tượng của
cấu trúc ngôn ngữ như ngã, v.v., và do sự xử lý toàn bộ
các ấn tượng của cấu trúc ngôn ngữ như pháp, v.v., mà
cấu trúc ngôn ngữ sinh khởi từ thức-xử-lý như sự tự
tri về chính nó và như sự tự tri về ấn tượng”, thì
rất rõ ràng là ông đã cẩn thận nhắc đến hai lần các
ấn tượng này là “các ấn tượng của cấu trúc ngôn ngữ”.
Có nghĩa là ngay trước khi hiện khởi như một sự tự tri
thì ấn tượng đã được mặc nhiên thừa nhận là một cấu
trúc ngôn ngữ. Một quan niệm như thế còn dễ thấy hơn trong
luận giải của Pháp Hộ. Sau khi nói rằng “tác động hỗ
tương là tác động giữa tám thức-hiện-hành và các phần
thấy và được thấy kèm theo của chúng, bởi vì chúng có
năng lực tác động lẫn nhau”, ông tiếp tục kể ra bốn
điều kiện làm nhân giúp hiểu rõ về tác động hỗ tương
này. Ông nói:
Như
thế, bốn điều kiện làm nhân này nương vào mười lăm xứ.
Do sự sai biệt khách quan giữa các xứ này nên phải lập
thành mười điều kiện làm nhân. Vậy, mười lăm xứ làm
chỗ nương tựa đó là gì? Thứ nhất là xứ nương tựa của
ngôn ngữ, tức sự thật thuộc về ngôn ngữ: một ý tưởng
sinh khởi khi một vật được đặt tên. Có nghĩa rằng nếu
ta nương vào xứ này thì ta lập thành điều kiện làm nhân
phù hợp với những gì được nói, bởi vì dựa vào chỗ
nương tựa đó, ngôn ngữ mô tả được các đối tượng
phù hợp với những gì ta thấy và nghe. Đây là cái được
gọi là sự nói ra là nhân của cái được nói ra. Có luận
thư nói đó là quan niệm xem tên gọi là ý tưởng, bởi vì
giống như nương vào chữ để nói ra một cách đúng đắn
những gì ta nắm bắt. Nếu nương vào quan niệm này thì hoàn
toàn hiển nhiên rằng điều kiện làm nhân chính là xứ nương
tựa của ngôn ngữ.[48]
Đọc
hết đoạn trên, ta có thể thấy ngay rằng đối với Pháp
Hộ, một chữ có thể được xem như một ý tưởng bất cứ
khi nào nó sinh khởi một ý tưởng, tức bất cứ khi nào sự
nói ra là những gì được nói ra. Nói cách khác, nếu tôi
nói “tờ giấy này trắng” thì lời nói này có thể đúng
hoặc sai. Nếu thật sự tờ giấy là trắng thì lời nói của
tôi “tờ giấy này trắng” chính xác là cái được nói
ra. Lý thuyết thú vị về sự thật này của Pháp Hộ làm
chúng ta nhớ đến thuyết của Frege về sự thật là sự tương
đương trong cố gắng của ông nhằm phê phán quan niệm sự
thật là sự phù hợp vào thời Trung cổ.[49] Tuy nhiên chúng
ta không cần thiết biện luận về tư tưởng của Pháp Hộ
ở đây. Điều làm cho chúng ta hứng thú là việc ông nối
kết thuyết đó với những gì ta thấy và nghe, có nghĩa là
sự thật có thể được tìm kiếm không chỉ nhờ thấy, mà
còn nhờ nghe. Như vậy, khi thuyết minh thuyết về sự thật
trong phạm vi của khái niệm tác động hỗ tương, Pháp Hộ
chỉ rõ quan điểm của ông là tác động hỗ tương không
những là tác động giữa nhiều tiến trình chuyển biến khác
nhau của thức mà còn là tác động giữa nhiều thức khác
nhau.
Cần
lưu ý một lần nữa là sự diễn dịch này về khái niệm
tác động hỗ tương không phải không được biết đến trong
các tác phẩm của Thế Thân. Thật ra, nếu An Huệ không công
nhiên thừa nhận điều đó, ta vẫn có thể nói rằng Pháp
Hộ đã rút ra quan điểm của ông từ chính các tác phẩm
này. Chẳng hạn, trong Nhị Thập Tụng, Thế Thân đã đặt
ra và giải quyết vấn đề tác động hỗ tương qua các lời
lẽ sau:
Nếu
chính sự chuyển biến của dòng chảy của chính nó, khi đạt
đến giai đoạn quyết định, sinh khởi sự tự tri về một
đối tượng như là cái khiến ta biết, và nếu không phải
chính đối tượng, khi đạt đến giai đoạn quyết định
của nó, đã làm vậy đối với chúng sinh, thì làm sao ta có
thể chứng thực rằng đối với chúng sinh, việc quan hệ
xã hội với bạn bè tốt hoặc xấu, hay việc lắng nghe các
giáo thuyết tốt hoặc xấu nhất định quyết định đến
cái khiến ta biết, vì trong cả hai trường hợp không có quan
hệ xã hội tốt hay xấu cũng không có giáo thuyết tốt hay
xấu?
Đó
là do một tác động hỗ tương mà những gì khiến ta biết
thì được quyết định một cách hỗ tương.
Đó
là do tác động hỗ tương của những gì khiến ta biết mà
những gì khiến ta biết được quyết định một cách hỗ
tương tùy theo các trường hợp dành cho mọi chúng sinh. Hỗ
tương có nghĩa là “cái này lên cái kia”. Như vậy, chính
do cái khiến ta biết được cho trong một dòng thức riêng
biệt sinh khởi cái khiến ta biết trong một dòng thức riêng
biệt khác, và điều này xảy ra mà không có bất kỳ đối
tượng riêng biệt nào cả.[50]
Vậy
thì rõ ràng, nói rằng “chính do cái khiến ta biết được
cho trong một dòng thức riêng biệt sinh khởi cái khiến ta
biết trong một dòng thức riêng biệt khác” cũng có nghĩa
là trong sự chuyển biến của thức, không chỉ có nhiều tiến
trình chuyển biến khác nhau tác động lẫn nhau mà nhiều thức
khác nhau cũng tác động như thế. Dĩ nhiên điều này không
có gì kinh ngạc, vì điều đơn giản là mỗi người phải
học ngôn ngữ của mẹ mình, ở dạng nói hay ở các dạng
khác, để có thể thành công trong việc phát triển khả năng
tri thức và các khả năng khác trong cuộc sống sau này. Điều
làm kinh ngạc là quan niệm trên còn hàm ý rằng sự chuyển
biến của thức có thể được kích khởi bởi tác động
của sự chuyển biến của một thức khác, và vì thế sự
tự tri, vốn đóng vai trò không thể thiếu trong sự chuyển
biến đó, thật sự sinh khởi do sự tương tác giữa nhiều
thức khác nhau. Nói cách khác, tự tri là một sản phẩm của
đời sống xã hội trong một cộng đồng ngôn ngữ được
cho. Quan niệm này mới lạ đến độ kinh ngạc bởi vì lần
đầu tiên nó cho chúng ta một giải thích trọn vẹn tại sao
và làm thế nào ý thức con người lại hoạt dụng theo cách
và theo kiểu như chúng ta biết. Cũng là lần đầu tiên nó
giả định rằng để cho một thức có tác dụng thì hai yêu
cầu cơ bản phải được đáp ứng, đó là ngôn ngữ và đời
sống xã hội. Giả định này đúng hay sai thì chúng ta phải
cần nhiều chứng cứ hơn để quyết định. Thế nhưng, không
còn chút nghi ngờ nào nữa để thừa nhận là nó mới lạ
đến kinh ngạc, ngay cả khi xét đến các nghiên cứu ngày
nay về vấn đề này.
Tất
nhiên, không phải Thế Thân không biết đến vai trò của hành
động của con người trong tiến trình chuyển biến của một
thức và trong sự sinh khởi sự tự tri trong tiến trình đó.
Trong trích dẫn trên từ Tam Thập Tụng, chúng ta đã thấy
ông nhấn mạnh đến vai trò của hành động con người qua
câu nói “khi sự xử lý trước đó hoàn tất, thì các ấn
tượng của hành động cùng với các ấn tượng của nhận
thức dạng kép tạo ra một sự xử lý khác với sự xử lý
trước đó”. Nói cách khác, chính các ấn tượng nhận được
qua nhiều hành động khác nhau của một người đã khởi đầu
và tân tạo tiến trình liên tục của sự chuyển biến mà
thức trải qua. Hoặc đơn giản hơn, chính những hành động
của con người được biểu hiện qua sự làm việc hay các
phương diện khác đã kích khởi tiến trình chuyển biến của
ý thức con người trước tiên. Chúng là nội dung chủ đạo
(leit-motif) duy trì tiến trình đó mà không phải cái gì khác.
Tuy nhiên, để cho tiến trình đó vận hành, hai yêu cầu cơ
bản nói trên phải được làm tròn. Tóm lại, ta có thể nói
rằng đối với Thế Thân chuyển biến là một cấu trúc ngôn
ngữ chỉ chừng nào nó là một nỗ lực liên kết của hành
động con người, của ngôn ngữ con người và đời sống
xã hội con người. Và đây có lẽ là những gì được diễn
tả bởi khái niệm tác động hỗ tương trong phát biểu trước
đây: “sự chuyển biến của thức tiếp diễn theo những
cách như thế và như thế thông qua tác động hỗ tương để
cho cấu trúc ngôn ngữ như thế và như thế được tạo ra”.
Với
chính quan điểm này trong đầu mà chúng tôi đã dịch từ
“vipāka” là “xử lý” (processing) thay cho những gì thường
được chuyển ngữ là “hoàn báo” (retributory), như một
điều rất hiển nhiên từ những gì đã nói. Cách dịch sau,
đối với chúng tôi, hình như không bảo đảm mặc dù chính
xác về mặt ngữ nguyên học, bởi vì nếu chuyển biến của
thức là một cấu trúc ngôn ngữ thì không có gì trong chuyển
biến đó được xem là “hoàn báo” hay “tích chứa” (store).
Hơn nữa, vipāka có nghĩa là “chín” (ripening), hiển thị
một tiến trình qua đó một sự vật tự chuyển từ một
trạng thái này sang một trạng thái khác. Và vì chuyển biến
của thức là một cấu trúc ngôn ngữ cho nên sự “chín”
của một ấn tượng ngôn ngữ không thể được chuyển ngữ
thành từ nào hay hơn từ “xử lý”, nhất là khi từ này
được hiểu theo cách dùng hiện nay trong khoa học thông tin.
Về
chữ “tích chứa”, nó là một chuyển ngữ đúng chỉ khi
nào nguyên gốc Phạn văn của nó được viết là ālaya. Tuy
nhiên, ālaya không phải là nguyên gốc Phạn văn độc nhất.
Từ thời Chân Đế, chúng ta biết rằng nó có thể viết là
alaya, có nghĩa là “không để mất”, “không bị chìm”.
Như vậy, trong cách đọc này, không có gì bảo đảm việc
dịch nó là “tích chứa”,[51] bất kể là các thủ bản
Tam Thập Tụng được khám phá ngày nay đọc nó như thế nào,
vì chúng có thể chỉ đại biểu cho một trong nhiều cách
đọc khác nhau. Tuy nhiên, là ālaya hay alaya, thì ý nghĩa của
nó vẫn rất rõ ràng chừng nào hình dung từ của nó là “vipāka”
vẫn còn được dùng đến. Nó có nghĩa là khi một ấn tượng
ở trong tiến trình xử lý thì nó ở đó, không bị mất,
tức nó được tích chứa ở đó mà không bị mất. Vì thế,
dù nó có nghĩa là “tích chứa” hay “không bị mất” thì
nó vẫn tạo cho hình dung từ của nó một thuộc tính hoàn
toàn có ý nghĩa. Kết quả, chúng ta nghĩ rằng cái gọi là
thức ‘hoàn báo’ hay ‘tích chứa’ chỉ là một thức xử
lý theo nghĩa đầy đủ nhất của nó. Vì lẽ đó, chúng tôi
đã dịch nó theo cách như thế.
Nếu
ý thức con người được quan niệm là một thức xử lý,
chủ yếu nhằm xử lý nhiều thông tin khác nhau được cho
trong một dạng thuộc ngôn ngữ, thì câu hỏi đặt ra là làm
thế nào những thông tin ngôn ngữ này được liên kết với
những sự vật mà chúng được dự định thông báo. Nói cách
khác, nếu chuyển biến của thức là một cấu trúc ngôn ngữ
và cái được cấu trúc theo ngôn ngữ bởi cấu trúc ngôn
ngữ đó không hiện hữu thì làm thế nào cái phi hữu được
“cấu trúc theo ngôn ngữ” này có thể liên kết với ngoại
vật để cho chúng ta có thể nói rằng “tất cả bất cứ
cái gì hiện hữu chỉ là cái khiến ta biết” hay có thể
định nghĩa tri nhận qua ngôn ngữ mà nó được diễn tả?
Đây là vấn đề chúng ta sẽ bàn đến ở chương sau
dịch
Việt: Đạo Sinh
[1]
cf. Dignāga, Pramāṇasamuccaya I, p.14b2-4.
[2]
Trần Đức Thảo, “Du geste de l’index à l’image typique”,
La Pensée 147 (1969): 3-46 & 148 (1969): 71-111 & 149 (1970):
93-106: “Le mouvement de l’indication comme forme originaire de la
conscience”, La Pensée 128 (1966): 3-24: “La conscience doit être
étudiée tout d’abord dans sa “réalité immédiate”: le language,
entendu naturellement en son sens général, comme language gestuel et
language verbal.”
[3]
Dignāga, Pramāṇasamuccaya I: 14b5-6.
[4]
Abhidharmakośa I ad 33: yadi pañca vijñānakāyāḥ savitarkāḥ savicārāḥ
katham avikalpakā ity ucyante/
nirūpanānusmaraṇavikalpenāvikalpakāḥ/
trividhaḥ
kila vikalpaḥ/ svabhāvābhinirūpanānusmaraṇavikalpaḥ/ tad eṣaṃ
svabhāvavikalpo’sti/ netarau/ tasmād avikalpakā ity ucyante/ yathā
ekapādako’svo’pādaka iti/ tatra svabhāvavikalpo vitarkaḥ/sa caitteṣu
paścān nirdekṣyate/ itarau punaḥ kiṃ svabhāvau/ yathākramaṃ
tau prajñā mānasī vyagrā smṛtiḥ sarvaiva mānasī//
manovijñānasamprayuktā
prajñā mānasīty ucyate/ asamāhitā vyagrety ucyate/ sāhy abhinirūpanāvikalpaḥ/
mānasy eva sarvā smṛtiḥ samāhitā cāsamāhitā cānusmaraṇavikalpaḥ/
cf.
Abhidharmakośa I ad 32.
[5]
Abhidharmakośa II ad 33a. Trong đoạn này, Thế Thân biết rằng
tầm và tứ ít ra đều là lực của ngôn ngữ (vākṣamskāra).
Tuy nhiên, mãi đến luận thư Pañcaskandhaka ông mới cố gắng
định nghĩa rõ hai từ này có nghĩa chính xác là gì. Xem Pañcaskandhaka,
Taishō 1612 p 849b27-29: 云 何 為 尋。 謂 能 尋 求 意 言 分
别 思 慧 差 别 令 心 麤 為 性。 云 何 為 伺。 謂 能 伺
察 意 言 分 别 思 慧 差 别 令 心 細 為 性。
[6]
Viṃśatikā ad I. Hãy lưu ý rằng hai nghĩa này chắc hẳn đã
rất thông dụng vào thời Thế Thân, như được minh chứng
trong Amarasiṃha, Nāmalingānusasana, ed. Pandut Sivadatta, Bombay:
Satyabhāmābāi Pāndurang, 1944: 331 &412: II. 9.90 và III. 3. 86.
[7]
Abhidharmakośa V ad 27.
[8]
Triṃśikā ad I & 17.
[9]
Siddhasena Divākara, Sammatitarkaprakaraṇa of Siddhasena Divākara together
with Abhayadevasūri’s Vyākhyā, ed. Sukhalal Samghavi & Becaradāsa
Dosi, Ahmedabad: Gujarātapurātattvamandiragranthāvalī, 1928: 533; śrotrādivṛttir
avikalpiketi vindhyavāsipratyakṣalakṣaṇam anevaiva nirastam/.
[10]
Yogasūtra I. 9: śabdajñānānupātī vastuśūnyo vikalpaḥ, được
bình giải bởi Vyāsa, Pātañjala-Yogadarśanam, ed. Ram Shankar Bhattacharya,
Vārānasī: Bhāratīya Vidyā Prakāsana, 1963: 13-14.
[11]
Karl H. Potter, The Encyclopedia of Indian Philosophy I, Delhi: Motilal
Banarsidas, 1970: 17.
[12]
Nyāyāsūtra I.2. 10-17.
[13]
Mīmāṃsāsūtra XII. 3. 10: ekārthās tu vikalperan samuccaye hy āvṛttiḥ
syāt pradhānasya//.
[14]
Sylvain Lévi, Matériaux pour l’étude du système vijñaptimātra,
106.
[15]
Bhartṛhari, Vākyapadīya III. 8.
[16]
Dignāga, Pramāṇasamuccaya I, p.14a1-7.
[17]
Śāntarakṣita, Tattvasaṃgraha ad 1213.
[18]
Bhartṛhari, Vākyapadīya I. 123 (ed. Raghunātha Sharma, Varaṇasi;
Varaṇaseya Sanskrit Vishwavidyalaya, 1963)
[19]
Chatterjed, The Yogācāra Idealism, Varaṇasi: Banaras Hindu University,
1962: 59; Ruegg, “The Term Buddhiviparināma and the Problem of Illusory
Change”, Indo-Iranian Journal II (1958): 279-280; etc.
[20]
Bhartṛhari, Vākyapadīya I. 121-122:
[21]
Triṃśikā ad 1-17:
[22]
Abhidharmakośa II ad 36. cf. Karmasiddhiprakaraṇa, ed. Yamaguchi, Kyoto:
Daizokan, 1951: 9-10
[23]
Karmasiddhiprakaraṇa: 11-12
[24]
Anguttaranikāya III n 404-409.
[25]
Viṃśatikā ad 9: yataḥ svabījād vijñaptir yadābhāsā pravartate/
dvividhāyatanatvena te tasyā munir abravīt// kim uktaṃ bhavati/ rūpapratibhāsā
vijñaptir yataḥ svabījāt parināmaviśeṣaprāptād utpadyate
tac ca bījaṃ yatpratibhāsā ca sā te tabhyā vijñapteś cakṣrūpāyatanatvena
yathākramaṃ bhagavān abravīt/ evaṃ yāvat spraṣṭavyapratibhāsā
vijñaptir yataḥ svabījāt parināmaviñeṣaprāptād utpadyate/ tac
ca bījaṃ yatpratibhāsā ca sā te tasyā kāyaspraṣṭavyāyatanatvena
yathākramaṃ bhagavān abravīd ity ayam abhiprāyaḥ/
[26]
Mahāyānasaṃgrahabhāṣya, TT. 5551, p.277e1-2.
[27]
Abhdharmadīpa ad 261.
[28]
Ka