A-TỲ-ĐẠT-MA
CÂU-XÁ-LUẬN
阿毘
達 磨 俱 舍 論
Abhidharmakośabhāṣayām
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
PHẨM
THƯ HAI: PHÂN BIỆT CĂN (4).
NHÂN
DUYÊN (tiếp)
Đã
nói về hành tướng sáu nhân và sự hiện hữu của chúng
trong ba đời.
NĂM
QUẢ (pañca-phalāni).
b.Từ
nhân sinh quả.
i.Nêu
chung về thể của quả.
Những
quả gì, để đối với nó, lập nhân[1]?
Văn
Tụng.
Hán:
果
有 為 離 繋 無為 無 因 果
Việt
dịch:
Quả[2]
có hữu vi và ly hệ Vô vi không có nhân quả /100cd/.
Luận
giải thích:
Như
luận Phát Trí[3] nói, quả pháp là gì[4]? đó là các pháp
hữu vi và pháp trạch diệt[5].
Hỏi:Nếu
vậy, đã chấp nhận (trạch diệt) vô vi là quả thì lẽ đáng
phải có nhân; vì phải đối với nhân kia mới có thể nói
quả nầy. Lại nữa, đã chấp nhận vô vi nầy là nhân thì
cũng nên có quả; vì phải đối với quả kia mới có thể
nói nhân nầy[6].
Đáp:
Chỉ có pháp hữu vi mới có nhân quả, các pháp vô vi không
có nhân quả. Lý do vì sao? – Vì không có sáu nhân nên không
có năm quả[7].
(Hỏi)
Lý do vì sao lại không chấp nhận các vô gián đạo[8] là
nhân năng tác của quả ly hệ (visaṃyoga-phala)[9]?
Đáp:
Đối với sự sinh khởi (của các pháp khác) không gây trở
ngại nên lập làm nhân năng tác; vô vi vốn không sinh khởi,
đạo (vô gián đạo) có tác dụng gì?
Hỏi:
Nếu vậy, (đó là) quả (ly hệ) của pháp nào, ý nghĩa của
quả ra sao[10]?
Đáp:
Đó là quả của đạo, do đạo lực chứng đắc.
Hỏi:
Nếu vậy, quả của đạo phải là đắc (trên trạch diệt),
vì đối với đắc, đạo có công năng (dẫn sinh); đối với
diệt, chẳng có công năng (dẫn sinh, ā- kṣip).
Đáp:
Không phải như vậy. Đối với đắc hay đối với diệt,
đạo có công năng khác nhau.
Hỏi:
Đối với đắc, đạo có công năng như thế nào?
Đáp:
Đó là công năng dẫn sinh.
Hỏi:
Đối với diệt, đạo có công năng như thế nào?
Đáp:
Đó là công năng chứng đắc (chứng đắc, adhigama). Do vì
lý nầy nên đạo tuy chẳng phải là nhân của diệt nhưng
cũng có thể nói trạch diệt là quả của đạo.
Hỏi:
Các pháp vô vi đã không phải là tăng thượng quả, làm sao
có thể nói là nhân năng tác[11]?
Đáp:
Những vô vi nầy, đối với các pháp khác ở sinh vị, không
gây cản trở, nên lập thành nhân năng tác. Song không phải
là quả bởi lẽ vốn là pháp ly thế[12] (ly hệ, vô lậu)
nên không có công năng thủ quả, hay dữ quả[13].
Kinh
Bộ nói, vô vi chẳng phải là nhân; không có Kinh nào nói nhân
là vô vi; chỉ có Kinh nói nhân là hữu vi.
(Hữu
Bộ) Kinh nói chỗ nào?
(Kinh
bộ) Như có Kinh nói, các nhân các duyên có khả năng sinh thành
các sắc đều là vô thường[14]. Nhân duyên vốn đã vô thường
thì các sắc được sinh bởi nó làm sao thường được. Nói
rộng ra cho đến thức cũng như vậy.
(Hữu
Bộ) Nếu vậy, vô vi cũng không nên làm sở duyên duyên cho
các thức năng duyên... [15]?
(Kinh
Bộ) Chỉ nói (nhân duyên) có công năng sinh khởi cho nên được
làm sở duyên duyên. Nghĩa là Kinh chỉ nói các nhân các duyên
sinh thành các thức đều là vô thường, không nói tất cả
sở duyên của thức đều là vô thường cho nên không thành
vấn nạn.
(Hữu
Bộ) Há cũng không nói chỉ có nhân có khả năng sinh khởi
là vô thường cho nên không bác bỏ vô vi do không chướng
ngại mà làm nhân năng tác sao?
(Kinh
Bộ) Trong Khế kinh nói vô vi là pháp sở duyên duyên, không
nói vô vi là nhân năng tác nên không lập bất chướng nhân
tánh[16].
(Hữu
Bộ) Tuy không có Kinh nào nói nhưng cũng không có Kinh nào bảo
không; hơn nữa, một số lượng Kinh rất nhiều, nay đã bị
mất, như vậy làm sao phán định là kinh không nói?
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, pháp gì gọi là ly hệ?
(Hữu
Bộ) Chính trong luận Phát trí nói, đó là trạch diệt
(Kinh
Bộ) Há không phải trước đã hỏi, pháp gì gọi là trạch
diệt? đáp – là pháp ly hệ. Nay hỏi: pháp gì gọi là ly
hệ? đáp – là trạch diệt. Như vậy cả hai câu trả lời
lại dựa vào nhau; đối với tự tánh nầy không thể hiển
bày cho nên lại lập thêm một loại để khai hiển tự tánh[17].
(Hữu
Bộ) Tự tánh của pháp nầy thật sự không thể bàn luận[18],
chỉ có các bậc thánh nội chứng riêng biệt, nhưng vì phương
tiện cũng chỉ có thể nói về tổng tướng của nó rằng,
là thiện (phân biệt với hư không và phi trạch diệt), là
thường (phân biệt với các pháp hữu vi khác), có một pháp
có thật là trạch diệt, cũng gọi là ly hệ (hiển bày tự
tánh của nó)[19].
(Kinh
Bộ) Tất cả các pháp vô vi (ba pháp) đều chẳng có thật
như năm pháp sắc, v.v... là những pháp có thật; vô vi nầy
vốn không.
(Hữu
Bộ) Nếu vậy, vì cớ gì lại gọi là hư không, v.v... (đã
không có thật thể sao lại gọi là hư không, v.v...)?
(Kinh
Bộ) Chỉ dựa trên sự không xúc đối mà nói là hư không.
Chẳng hạn như, ở trong tối không có sự xúc đối, nói rằng,
đây là hư không. Các tuỳ miên đã khởi, có khả năng sinh
khởi phiền não về sau, ở nơi diệt vị[20], do lực giản
trạch (trí huệ) khiến chúng không thể sinh khởi trở lại
gọi là trạch diệt. Nếu không do lực giản trạch, (chỉ)
vì thiếu duyên nên các chủng tử phiền não kia không sinh
khởi trở lại gọi là phi trạch diệt. Như các uẩn của
tàn chúng đồng phần[21], người chết nửa chừng[22].
Luận
sư Thượng toạ bộ, v.v...[23] nói, do công năng của huệ khiến
các tuỳ miên không sinh khởi gọi là trạch diệt; tuỳ miên
thiếu duyên, hậu khổ (khổ quả) không sinh khởi không phải
do công năng của huệ, gọi đó là phi trạch diệt.
(Kinh
Bộ Sư bác) Phi trạch diệt kia nếu không có lực giản trạch
thì diệt của khổ quả nầy cũng không thành tựu, cho nên
(khổ quả) nầy không sinh khởi nhiếp thuộc trạch diệt.
(Đại
Chúng Bộ) Có thuyết nói, các pháp đã sinh, sau đó mất đi,
tự nhiên mất đi (diệt) cho nên gọi là phi trạch diệt.
(Kinh
Bộ bác) Quan điểm như vậy thì thể của phi trạch diệt
nên là vô thường, vì khi pháp chưa diệt thể của nó vốn
không (sau khi pháp diệt thể mới có).
(Đại
Chúng Bộ) Há không phải rằng (chính trong) trạch diệt, đầu
tiên là trạch, (thế thì) diệt (ấy) trước không sau có,
cũng nên là vô thường?
(Kinh
Bộ) Chẳng phải đầu tiên là trạch, sau mới có diệt, như
vậy làm sao bảo trạch diệt cũng là vô thường[24]. Vì sao?
– vì chẳng phải trạch có trước, sau đó các pháp chưa
sinh ở vị lai[25] mới không sinh[26].
Là
sao?
(Kinh
Bộ đáp) Lý bất sinh xưa nay vốn có. Nếu không có huệ giản
trạch thì các pháp sinh khởi; khi khởi huệ giản trạch, các
pháp vĩnh viễn không sinh. Đối với sự không sinh khởi nầy,
trạch có công năng; đó là vào lúc đầu, các pháp chưa gặp
chướng ngại cho sự sinh khởi, nay (thánh đạo khởi) khiến
trở ngại cho sự sinh khởi (của các pháp, hiển lý bất sinh),
chẳng phải mới tạo nên sự không sinh.
(Hữu
Bộ dẫn Kinh để vấn nạn) Nếu chỉ có bất sinh (diệt,
滅) ở vị lai là niết bàn thì câu kinh nầy giải thích thế
nào cho thông? Kinh nói, năm căn (tín, tấn, v.v...) hoặc tu ở
kiến đạo hoặc tập ở tu đạo hoặc tu tập ở vô học
đạo có thể khiến cho các khổ trong quá khứ, hiện tại
và vị lai vĩnh viễn đoạn trừ; thể của vĩnh viễn đoạn
trừ nầy tức là niết bàn. (do đó, nếu nói) Duy chỉ ở
vị lai có nghĩa bất sinh, chẳng phải ở quá khứ hay hiện
tại, há không trái ngược nhau sao?
(Kinh
Bộ đáp) Tuy có đoạn văn nầy nhưng nghĩa không trái. Ý kinh
nói, (hoặc) duyên với các khổ quá khứ, hiện tại, phiền
não được đoạn trừ, gọi là đoạn trừ các khổ. Như đức
Thế tôn nói, các ngươi nên đoạn trừ tham dục đối với
sắc; khi đoạn trừ tham dục gọi là đoạn sắc và biến
tri sắc; nói rộng ra cho đến thức cũng như vậy[27]. Đoạn
trừ các khổ trong quá khứ, hiện tại, nghĩa cũng như vậy.
Dầu có các Kinh khác nói đoạn trừ các phiền não trong quá
khứ, hiện tại và vị lai, căn cứ theo lý trước để giải
thích, ý nghĩa cũng không trái chống. Hoặc trong Kinh nầy có
một ý thú riêng rằng, phiền não quá khứ là phiền não (hoặc)
đã khởi trong đời quá khứ; phiền não hiện tại là phiền
não khởi lên trong đời hiện tại. Chẳng hạn như mười
tám ái hành trong ái hành; nghĩa là ái khởi trong đời quá
khứ, căn cứ vào đời quá khứ mà nói; vị lai, hiện tại
nên biết cũng như vậy (tức ái hành duyên với sáu cảnh
trong ba đời thành ra 18 ái hành). Cũng như vậy, phiền não
khởi lên trong hai đời làm sinh khởi các phiền não trong vị
lai; ở trong thân tương tục hiện tại dẫn khởi chủng tử
(sở huân quả chủng tử); chủng tử nầy đoạn, thì (nhân
được huân trong quá khứ hiện tại) kia cũng gọi là đoạn.
Như khi dị thục chấm dứt cũng nói là nghiệp tận. Nếu
các khổ và các phiền não trong vị lai do không có chủng tử
nhân, rốt ráo không sinh khởi, cũng nói là đoạn. Nếu khác
như vậy, (phiền não) quá khứ, hiện tại, với duyên cớ
gì mà cần phải đoạn; chẳng cần đối với (phiền não)
đã diệt và đang lúc diệt lại phải nhọc sức khiến nó
phải diệt.
(Hữu
Bộ nạn) Nếu các pháp vô vi đều không có thật thể, cớ
gì Kinh lại nói có các pháp hoặc hữu vi hoặc vô vi, trong
đó, ly nhiễm là đệ nhất[28]. Như vậy, làm sao có thể ở
trong (cái không của) pháp không có mà lại lập nên pháp đệ
nhất[29]?
(Kinh
Bộ đáp) Tôi cũng không nói các pháp vô vi đều không có
thật thể, chỉ nên nói có như thế nầy[30]: chẳng hạn như
nói, âm thanh nầy (hiện) có nhưng trước đó (vị lai) chẳng
phải có và về sau (quá khứ) cũng chẳng phải có; không thể
từ chỗ chẳng phải có mà nói là có nên nghĩa có được
thành tựu[31]. Nói có vô vi, nên biết cũng như vậy. Có tuy
chẳng phải (thật có) nhưng có thể xưng thán, cho nên các
tai hoạnh hoàn toàn chẳng phải có gọi đó là ly nhiễm. Ở
trong tất cả các pháp có và chẳng phải có, tánh niết bàn
rất là thù thắng. Vì muốn giáo hoá khiến chúng sinh sinh
lòng ưa thích sâu xa nên xưng thán niết bàn là đệ nhất.
(Hữu
Bộ) Nếu pháp vô vi chẳng phải có (phi hữu), vì không có
cho nên không nên gọi là diệt thánh đế[32]
(Kinh
Bộ phản nạn) Vả lại nói thánh đế có nghĩa là thế nào[33]?
(Hữu
Bộ đáp) Há không phải câu nầy thuộc nghĩa không điên đảo
ư[34], thánh thấy có và không một cách không điên đảo.
Đó là đối với khổ, thấy rõ là khổ; với khổ không có
thấy rõ không có. Câu nầy đối với thánh đế, nghĩa có
gì trái nhau.
(Hữu
Bộ) Như thế nào mà cái chẳng phải có (phi hữu) lại lập
làm đệ tam thánh đế[35]?
(Kinh
Bộ) Đế thứ hai là tập. (Điều kế tiếp được) Bậc thánh
ở vô gián đạo thấy và nói, cho nên thành lập thánh đế
thứ ba[36].
(Hữu
Bộ) Nếu pháp vô vi không có thật thể, thì đối với hư
không, niết bàn (tức pháp vô vi), thức đã duyên với vô
cảnh (tức không có đối tượng)[37].
(Kinh
Bộ) Thức duyên với vô cảnh cũng không có lỗi. Trong phần
bàn về ba đời, sẽ phân biệt (phẩm hoặc).
(Hữu
Bộ) Nếu chấp nhận vô vi có thật thể thì có lỗi gì[38]?
(Kinh
Bộ hỏi ngược) Lại có tác dụng gì[39]?
(Hữu
Bộ) Nếu chấp nhận (vô vi có thật thể) tức ủng hộ quan
điểm của Tông Tỳ Bà Sa, đó gọi là đức (guṇa).
(Kinh
Bộ) Nếu đáng ủng hộ, thiên thần[40] nhất định biết
và tự lo ủng hộ; song nếu cho rằng (vô vi) thật sự có,
rõ ràng là quan điểm sai lầm, đó gọi là thất (lỗi).
(Hữu
Bộ) Lý do vì sao?
(Kinh
Bộ ) Vì hư không chẳng có thể để nắm bắt như sắc, thọ,
v.v...; cũng không có tác dụng để có thể nắm bắt như mắt,
tai, v.v... [41]; lại nữa, nếu (vô vi nầy) tồn tại riêng
lẻ, thì làm sao lập được chủ thuộc cách (sở hữu cách)
tức diệt của các pháp tham, sân, v.v... kia[42]; do diệt và
các pháp tham, v.v… không hỗ tương phụ thuộc lẩn nhau. Pháp
vô vi nầy với các pháp tham, sân v.v… kia chỉ có tương vọng,
không có nhân quả. Chỉ (trên khía cạnh) ngăn cản các pháp
tham, sân, v.v… kia, sở hữu cách có thể được thành lập;
và khi các pháp tham, sân, v.v… kia không còn gọi là diệt.
(Hữu
Bộ) Diệt tuy tồn tại riêng lẻ, nhưng do khi phiền não duyên
với các pháp tham, sân, v.v… kia được đoạn trừ mới thành
tựu diệt nầy nên có thể nói rằng diệt nầy sở thuộc
các pháp kia[43].
(Kinh
Bộ) Lý do nào để nói rằng, diệt nầy nhất định thuộc
đắc nầy[44]?
(Hữu
Bộ đáp) Như Khế kinh nói, Bí sô đạt được hiện pháp
niết bàn; (hỏi vặn) đối với cái chẳng có, làm sao có
thể nói đạt được[45]?
(Kinh
Bộ) Do thành tựu năng đối trị đạo (pratipakṣa) nên có
được thân sở y vĩnh viễn xa lìa phiền não, vĩnh viễn xa
lìa thân sở y đời sau cho nên gọi là chứng đắc niết bàn.
Lại có Thánh giáo cho thấy rằng niết bàn duy chỉ lấy phi
hữu làm tự tánh; như Khế kinh nói, có các loại khổ đều
được đoạn hết thảy, mỗi mỗi (khổ) đều buông bỏ,
đều hết sạch (tận), ly nhiễm, tịch diệt, tịnh tức, vĩnh
một; các khổ khác (ở vị lai) không còn tương tục, không
còn chấp thủ trở lại, không còn sinh khởi. Đây là niết
bàn cực tịnh, niết bàn cực diệu; nghĩa là buông bỏ các
sở y thân (hiển bày niết bàn không có khổ quả), (buông
bỏ) tất cả các ái (hiển n.b. không có hoặc nhân), hết
sạch, ly nhiễm, tịch diệt gọi là niết bàn[46].
(Hữu
Bộ) Tại sao không chấp nhận (Kinh) nói bất sinh tức nương
vào lực vô sinh của trạch diệt nên nói khổ bất sinh[47]?
(Kinh
Bộ) Chúng tôi thấy đấy là đệ thất chuyển thanh (tức
vị trí cách), đối với sự chứng đắc trạch diệt, (vô
sinh) hoàn toàn không có công lực, với ý gì ông nói nương
vào vô sinh nầy[48]? Nếu nương vào vô sinh nầy thuộc nghĩa
(niết bàn) đã có, các khổ lẽ ra từ xưa đã không sinh vì
niết bàn thường hữu. Nếu nương vào vô sinh thuộc nghĩa
đã chứng đắc (niết bàn) thế thì nên chấp nhận nương
vào đắc trên niết bàn do đạo đưa đến. Cho nên duy chỉ
nương vào đạo hoặc nương vào đắc trên đạo khiến khổ
không sinh khởi, ông nên tin và chấp nhận. Do đó mà giải
thích hợp lý ví dụ được nói trong Kinh rằng, giống như
sự vắng mặt của ánh đèn (đăng diệm niết bàn), tâm giải
thoát cũng như vậy. Kinh nầy ý nói, như sự diệt mất của
ánh đèn, chỉ có ánh đèn tắt đi, không có một vật thể
nào riêng biệt. Thế tôn cũng như vậy, (khi) tâm được giải
thoát chỉ có các uẩn diệt, không có một vật nào khác.
(Kinh
Bộ) A tỳ đạt ma cũng nói rằng, vô sự pháp là thế nào?
-đó là các pháp vô vi. Nói vô sự có nghĩa là vô thể. Luận
sư Tỳ Bà sa không chấp nhận giải thích nầy.
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, họ giải thích nghĩa của chữ sự thế nào?
(Hữu
Bộ) Họ nói, sự tóm tắt có năm loại: 1. tự tánh sự; như
có chỗ (Kinh Cđ.) nói, nếu đã chứng được thể của pháp
nầy (đắc thử sự) thì (người ) kia ắt thành tựu tự thể
của pháp nầy. 2. Sở duyên sự, như có chỗ nói, tất cả
các pháp, tuỳ theo từng loại đều được biết bởi trí.
3. Hệ phược sự, như có chỗ nói, hoặc với thử sự bị
trói buộc bởi ái kết thì người kia đối với thử sự
bị kết trói bởi nhuế chăng? 4. Sở nhân sự, như có chỗ
nói, hữu sự pháp là thế nào? – đó là các pháp hữu vi.
5. Sở nhiếp sự, như có chỗ nói, điền sự, trạch sự,
thê tử đẳng sự. Nay ở trong nầy nói nhân là sự nhằm
hiển bày pháp vô vi hoàn toàn không có nhân. Cho nên vô vi
tuy thật sự là một vật, nhưng thường không có tác dụng
nên không có nhân không có quả[49].
Bàn
luận tổng quát xong.
ii.
Đối nhân phối quả.
Ở
trong các quả nên nói quả nào được thành tựu bởi nhân
nào?
Văn
Tụng.
Hán:
後
因 果 異 熟
前因 增 上 果
同
類 遍 等 流
俱相 應 士 用 /101/.
Việt
dịch:
Nhân
sau cùng sinh quả dị thục
Nhân
đầu tiên sinh quả tăng thượng
Nhân
đồng loại, biến hành sinh quả đẳng lưu
Nhân
câu hữu, tương ưng sinh quả sỹ dụng.
Luận
giải thích:
Nói
nhân sau cùng chỉ cho nhân dị thục; ở trong sáu nhân nó được
nói sau cùng. Quả thứ nhất là dị thục do nhân nầy thành
tựu. Nói nhân trước chỉ cho nhân năng tác; ở trong sáu nhân,
được nói đầu tiên. Quả sau cùng là tăng thượng do nhân
nầy thành tựu; quả của sự tăng thượng gọi là quả tăng
thượng.
Hỏi:
Chỉ không chướng ngại sự tồn tại, có gì gọi là tăng
thượng?
Đáp:
Tức do không chướng ngại mà có tên là tăng thượng. Hoặc
nhân năng tác cũng có lực mạnh mẽ; như mười xứ, mười
giới đối với năm thức thân; các nghiệp của hữu tình
đối với khí thế giới; tai, v.v... đối với sự sinh khởi
nhãn thức, v.v... cũng có lực tăng thượng xoay vần sinh khởi.
Nghe rồi muốn thấy sinh khởi. Các tăng thượng nầy, cũng
nên như thế mà suy nghĩ.
Nhân
đồng loại, nhân biến hành thành tựu quả đẳng lưu. Quả
của hai nhân nầy thành tựu đều cùng loại với nhân. Nhân
câu hữu, tương ưng thành tựu quả sỹ dụng; chẳng phải
ngoài thể của sỹ mà có sỹ dụng riêng, chính cái được
thành tựu nầy là sỹ dụng quả.
Hỏi:
Sỹ dụng nầy gọi là pháp gì?
Đáp:
Đó chính là tác dụng của các pháp (chư pháp sở hữu tác
dụng); như do hoạt dụng của sỹ phu nên mới có từ sỹ
dụng; cũng như thế gian nói nha túc dược thảo, tuý tượng,
tướng quân (nha túc tợ dược thảo, dược thảo tợ nha túc...).
Hỏi:
Chỉ hai nhân nầy có quả sỹ dụng hay các nhân khác cũng
vậy?
Có
thuyết nói, các nhân khác cũng có quả sỹ dụng nầy, chỉ
trừ nhân dị thục. Bởi do quả sỹ dụng với nhân cùng sinh
khởi hoặc vô gián sinh khởi. Dị thục không như vậy.
Có
các vị Sư khác nói, nhân dị thục nầy cũng có quả sỹ
dụng cách xa. Ví như người nông phu thâu hoạch kết quả
(có một khoảng cách thời gian dài).
iii.
Quả tướng.
Quả
dị thục, v.v..., hành tướng của chúng thế nào?
Văn
Tụng.
Hán:
異
熟 無 記 法
有情 有 記 生
Việt
dịch:
Quả
dị thục[50] là pháp vô phú vô ký
Thuộc
hữu tình số, do hữu ký sanh
Luận
giải thích:
Chỉ
ở trong các pháp vô phú vô ký có quả dị thục[51].
Hỏi:
Quả dị thục nầy cũng thông với cả phi hữu tình số[52]
chăng?
Đáp:
Chỉ hạn cuộc trong hữu tình số.
Hỏi:
Nó thông với đẳng lưu, sở trưởng dưỡng không?
Đáp:
Nên biết, do hữu ký sinh[53]. Tất cả các pháp bất thiện
và thiện hữu lậu đều có khả năng ghi nhớ dị thục cho
nên gọi là hữu ký. Từ nhân các pháp bất thiện, thiện
hữu lậu (trải qua một thời gian) sau đó dị thục mới khởi,
chẳng phải do câu hữu hay vô gián (sinh), nên nói được sinh
ra từ hữu ký[54]. Như vậy gọi là hành tướng của quả
dị thục.
Hỏi:
Phi hữu tình số, cũng từ nghiệp sinh, tại sao chẳng phải
là dị thục?
Đáp:
Do vì cọng hữu[55]; nghĩa là người khác cũng có khả năng
thọ dụng như vậy. Rằng, quả dị thục nhất định không
có nghĩa cùng thọ dụng với người khác; chẳng phải một
người tạo nghiệp, người khác nhân đó, thọ nhận quả
dị thục.
Hỏi:
Quả tăng thượng kia cũng do nghiệp sinh, sao lại cộng thọ?
Đáp:
Vì do cộng nghiệp sinh.
Văn
Tụng.
Hán:
等
流 似 自 因
Việt
dịch:
Quả
đẳng lưu[56] có nhân là pháp tương tự
Luận
giải thích:
Pháp
có nhân là pháp tương tợ gọi là quả đẳng lưu; đó là
hai nhân tương tợ: biến hành và đồng loại.
Hỏi:
Nếu nhân biến hành cũng đưa đến quả đẳng lưu, tại sao
lại không chấp nhận gọi nó là nhân đồng loại?
Đáp:
Bởi quả đẳng lưu nầy chỉ do cùng cõi, cùng loại nhiễm
ô cho nên cùng với nhân tương tợ, không phải do chủng loại[57].
Nếu do chủng loại, quả cũng cùng loại với nhân thì nhân
của quả nầy gọi là nhân đồng loại[58]. Cho nên nêu câu
hỏi rằng, nếu là nhân đồng loại cũng là nhân biến hành
chăng? Nên lập bốn câu để phân biệt.
1.
Câu thứ nhất: Chẳng phải pháp biến hành là nhân đồng
loại (là nhân đồng loại, chẳng phải nhân biến hành)[59].
2.
Câu thứ hai: Pháp biến hành ở các bộ khác là nhân biến
hành (là nhân biến hành, chẳng phải là nhân đồng loại)[60].
3.
Câu thứ ba: Pháp biến hành ở tự bộ là nhân biến hành
(vừa là nhân đồng loại vừa là nhân biến hành)[61].
4.
Câu thứ tư: trừ các tướng như trên (Chẳng phải là nhân
đồng loại cũng chẳng phải là nhân biến hành).
Văn
Tụng.
Hán:
離
繋 由 慧 盡
Việt
dịch:
Quả
ly hệ[62] do huệ đoạn sạch các hoặc
Luận
giải thích:
Pháp
được thành tựu do huệ đoạn trừ sạch hết các hoặc,
gọi là quả ly hệ. Diệt cho nên gọi là tận; trạch cho nên
gọi là huệ tức nói trạch diệt gọi là quả ly hệ.
Văn
Tụng.
Hán:
若
因 彼 力 生
是 果 名 士 用
Việt
dịch:
Nếu
từ lực của nó sinh ra
đó gọi là quả sỹ dụng[63]
Luận
giải thích:
Nếu
một pháp do chính thế lực của nó sinh ra thì nói pháp đó
là quả sỹ dụng. Chẳng hạn nương vào tâm lực được da
hạnh ở hạ địa mà định hữu lậu, vô lậu ở thượng
địa sinh khởi; và nhân lực thiền định thanh tịnh của
tâm mà tâm biến hoá sinh khởi. Những loại trạch diệt như
vậy nên nói do đạo lực khiến thành tựu.
Văn
Tụng.
Hán:
除
前 有 為 法
有為 增 上 果 /103/.
Việt
dịch:
Trừ
pháp hữu vi trước, (còn lại)
đều
là quả tăng thượng[64] của các pháp hữu vi khác.
Luận
giải thích:
Các
pháp hữu vi, trừ pháp đã sinh trước[65], đều là quả tăng
thượng của các pháp khác[66].
Hỏi:
Hai quả sỹ dụng và tăng thượng khác nhau thế nào?
Đáp:
Quả sỹ dụng gọi là duy đối (tức chỉ đối với) tác
giả. Quả tăng thượng gọi là thông đối (tức cả) tác
giả và ngoài tác giả[67]. Cũng giống như tác phẩm được
hoàn thành bởi người hoạ sỹ[68], đối với hoạ sỹ, người
làm bức tượng, (họ) có đầy đủ cả hai tên: sỹ dụng
và tăng thượng. Đối với những người không phải hoạ
sỹ, (họ) chỉ có quả tăng thượng.
iv.
Nói về thời gian thủ dữ của nhân.
Trong
sáu loại nhân được nói ở trên, ở vị nào, nhân nào thủ
quả, dữ quả?
Văn
Tụng.
Hán:
五
取 果 唯 現
二與 果 亦 然
過
現 與 二 因
Việt
dịch:
Năm
nhân thủ quả chỉ ở hiện tại
Hai
nhân dữ quả cũng như vậy
Quá
khứ và hiện tại, dữ quả có hai nhân
Luận
giải thích:
iv.i.
Tổng quát.
Năm
nhân thủ quả chỉ ở hiện tại, nhất định không thể là
quá khứ vì chúng đã thủ; cũng chẳng phải vị lai, vì chúng
không có tác dụng[69].
iv.ii.
Vô sở duyên tứ cú:
iv.ii.i.
Nhân năng tác.
Cũng
nên như vậy mà nói, nhân năng tác không nhất định có quả
nên ở đây không nói[70].
iv.ii.ii.
Nhân tương ưng và câu hữu.
Nhân
câu hữu và tương ưng dữ quả cũng như vậy, chỉ ở hiện
tại; do hai nhân nầy thủ quả và dữ quả nhất định phải
đồng thời.
iv.ii.iii.
Nhân đồng loại và biến hành.
Hai
nhân đồng loại và biến hành dữ quả thông với cả quá
khứ, hiện tại.
Hỏi:
Quá khứ khả dĩ như vậy, nhưng làm sao, hiện tại lại dữ
quả đẳng lưu[71]?
Đáp:
Có quả đẳng lưu vô gián sinh vậy. Nếu quả đã sinh, nhân
liền trở thành quá khứ gọi là đã dữ quả, không thể
lại dữ một lần nữa[72].
iv.ii.iv.
Nhân đồng loại tính thiện.
Nhân
đồng loại tính thiện có lúc thủ quả mà không dữ quả.
Nên lập bốn câu để phân biệt.
Câu
thứ nhất: thủ chẳng phải dữ – đó là đắc được xả
bỏ ở sát na sau cùng khi đoạn thiện căn[73].
Câu
thứ hai: dữ chẳng phải thủ – đó là đắc được thành
tựu đầu tiên khi tiếp nối thiện căn. Nên nói, lúc đó,
cái được nối tiếp là tiền đắc[74].
Câu
thứ ba: cũng thủ cũng dữ – đó là người không đoạn thiện
căn ở các vị khác[75].
Câu
thứ tư: chẳng thủ chẳng dữ – đó là trừ các tướng
trên[76].
iv.ii.v.
Nhân đồng loại tính bất thiện.
Lại
nữa, ở trong nhân đồng loại tính bất thiện, cũng có bốn
câu. Câu thứ nhất – đó là đắc được buông bỏ sau cùng
khi lìa dục tham[77].
Câu
thứ hai – đó là đắc được thành tựu đầu tiên khi thối
dục tham; nên nói, bấy giờ, thối tức là tiền đắc[78].
Câu
thứ ba – đó là chưa lìa dục tham, ở nơi các vị khác.
Câu
thứ tư – đó là trừ các tướng trước.
g.
Nhân đồng loại hữu phú vô ký.
Ở
trong hữu phú vô ký nhân đồng loại cũng có bốn câu.
Đối
với A la hán, khi đắc, khi thối, vị đắc và vô học vị,
nên như lý mà nói[79].
iv.ii.vi.
Nhân đồng loại vô phú vô ký.
Trong
vô phú vô ký nhân đồng loại thuận theo câu sau. Đó là khi
dữ quả tất cũng thủ quả; hoặc có lúc thủ quả chẳng
dữ quả, đó là A la hán, các uẩn tối hậu[80].
iv.iii.
Hữu sở duyên tứ cú[81]:
iv.iii.i.
Nhân đồng loại tính thiện.
Căn
cứ vào sát na sai biệt của các pháp hữu sở duyên, nhân
đồng loại tính thiện cũng có bốn câu.
Câu
thứ nhất: thủ mà chẳng phải dữ – đó là thiện tâm vô
gián khởi nhiễm vô ký tâm.
Câu
thứ hai: dữ chẳng phải thủ – đó là trái ngược câu trên.
Câu
thứ ba: cũng thủ cũng dữ – thiện tâm vô gián hoàn khởi
thiện tâm.
Câu
thứ tư: chẳng phải thử cũng chẳng phải dữ – trừ các
tướng trước.
iv.iii.ii.
Nhân đồng loại tính bất thiện.
Bất
thiện tâm, v.v... như theo sở ứng của chúng, cũng có bốn
câu. Theo các ví dụ trên mà nói.
iv.iv.
Ý nghĩa thủ quả, dữ quả.
Hỏi:
Thủ quả dữ quả ý nghĩa thế nào?
Đáp:
Có khả năng làm chủng tử cho quả nên gọi là thủ quả.
Khi đang cung cấp lực cho quả gọi là dữ quả[82].
Văn
tụng.
Hán:
一
與 唯 過 去 /104/.
Việt
dịch:
Một
nhân dữ quả, chỉ ở quá khứ /104/
Nhân
dị thục dữ quả duy chỉ ở quá khứ, vì quả dị thục
không cùng thời với nhân và không vô gián.
Thuyết
khác.
Lại
có các Luận Sư nói, ngoài năm quả trước, còn có bốn quả
khác: 1. An lập quả: như thuỷ luân, quả của phong luân, cho
đến cỏ, v.v... là quả của đại địa. 2. Da hạnh quả:
như vô sinh trí, v.v... là quả xa của bất tịnh, v.v... 3. Hoà
hợp quả: như nhãn thức, v.v... là quả của nhãn căn, v.v...
4. Tu tập quả: như hoá tâm, v.v..., quả của các tịnh lự.
Bốn quả như vậy đều nhiếp thuộc vào hai quả tăng thượng
và sỹ dụng.
Nói
nhân quả xong.
c.
Các pháp do nhân sinh.
Hỏi:
Lại nên suy nghĩ, trong đó, pháp nào, do bao nhiêu nhân sinh
khởi[83].
Đáp:
Pháp tóm tắt có bốn loại: pháp nhiễm ô, pháp dị thục
sinh, pháp sơ vô lậu và các pháp khác[84].
Các
pháp khác đó là gì[85]?
Trừ
dị thục vô ký, các pháp vô ký còn lại; trừ sơ vô lậu,
các thiện pháp còn lại[86].
i.Giải
thích pháp từ nhân sinh.
Bốn
pháp như vậy,
Văn
Tụng.
Hán:
染
污 異 熟 生
餘 初 聖如 次
除
異 熟 遍 二
及同 類 餘 生 /105/
此
謂 心 心 所
餘及 除 相 應[87] /106ab/.
Việt
dịch:
Pháp
nhiễm ô[88], dị thục sinh
các
pháp khác, và pháp sơ thánh[89] như thứ tự,
trừ
nhân dị thục, biến hành, cả hai nhân
và
nhân đồng loại, được sanh khởi bởi các nhân còn lại
/105/
Đây
chỉ cho tâm, tâm sở[90].
Sắc
và bất tương ưng pháp trừ thêm nhân tương ưng[91]/106ab/
Luận
giải thích:
Bốn
pháp.
i.i.
Các pháp nhiễm ô:
Trừ
nhân dị thục, do năm nhân còn lại sinh khởi.
i.ii.
Pháp dị thục sinh:
Trừ
nhân biến hành, do năm nhân còn lại sinh.
i.iii.
Các pháp khác:
Trừ
hai nhân dị thục và biến hành, do bốn nhân còn lại sinh.
i.iv. Pháp sơ vô lậu:
Trừ
hai nhân trước và nhân đồng loại, do ba nhân còn lại sinh[92].
Bốn pháp được nói như vậy là gì[93]?
Đó
là bốn pháp thuộc tâm, tâm sở.
Bốn
pháp thuộc tâm bất tương ưng hành và sắc do bao nhiêu nhân
sinh khởi?
Ngoài
các nhân đã trừ như tâm, tâm sở, còn trừ thêm nhân tương
ưng; nên biết, các sắc pháp, bất tương ưng hành pháp (dư)
đều do các nhân còn lại, hoặc bốn, ba, hai sinh khởi. Trong
đó, các pháp nhiễm ô, pháp dị thục sinh do bốn nhân còn
lại sinh khởi. Các pháp khác (ngoài ba pháp trên) do ba nhân
còn lại sinh khởi. Pháp sơ vô lậu do hai nhân còn lại sinh
khởi. Pháp do một nhân sinh khởi nhất định không có.
dịch
Việt: Thích Phước Viên
[1]
Chơn đế Thích luận q.04,tr.191a 25 何 法 為 彼 果 約 此 彼
成 因?
[2]
Ht. 果. Skt. phala. Đại tì bà sa q.121,tr.629c 04 Song trong Khế
kinh nói, quả có năm loại: (1) Quả đẳng lưu, (2) Quả dị
thục, (3) Quả ly hệ, (4) Quả sỹ dụng, (5) Quả tăng thượng...
(tr.630b 15 ) Tây phương chư Sư (Các Sư Kiền đà la) nói có
chín quả (tức năm quả trên cọng thêm các quả: an lập quả,
da hạnh quả, hoà hiệp quả, tu tập quả. Thành duy thức q.08,tr.42a
29 nói quả có nămloại: (1) dị thục, (2) đẳng lưu, (3) ly
hệ, (4) sỹ dụng, (5) tăng thượng. Quang ký q.06,tr.126c01, quả
có hai loại: (1) quả hữu vi gồm dị thục, đẳng lưu, sỹ
dụng, tăng thượng; (2) quả vô vi, đó là ly hệ. Quả có
hai nghĩa: (1) sở dẫn tức quả hữu vi; (2) sở chứng tức
quả ly hệ; quả nầy được chứng đắc bởi đạo; đạo
là nhân của sự chứng đắc chẳng phải là nhân của sự
sanh khởi; cho nên không nhiếp thuộc trong sáu nhân. Hai loại
vô vi là hư không vô vi và phi trạch diệt vô vi không hiện
hữu trong ba đời nên không phải là quả sở dẫn (kriyā-phalatva);
lại thuộc tính vô ký nên không phải là quả sở chứng (adhigama-phalatva).
Sợ người ta nghi rằng, vô vi là quả phải từ nhân sinh,
vô vi là nhân phải sinh ra quả nên giải thích rằng, vô vi
tuy là quả chứng nên gọi là quả nhưng không phải do sáu
nhân sinh ra vì nó không hiện hữu trong ba đời. Vô vi tuy là
nhân bởi không chướng ngại nên gọi là nhân chứ nó không
sinh ra năm quả; nó chẳng phải là năng chứng nên không thành
tựu quả vô vi; nó không thủ quả, dữ quả nên không thành
tựu quả hữu vi. Từ đó mới nói rằng vô vi không nhân không
quả.
[3]
A tì đạt ma câu xá luận q.06,tr.33c 06,本論. Chơn đế Thích
luận q.04, tr.191a 27 阿 毘 達 磨 藏
[4]
Nguyên văn, 果 法 云 何?Chơn đế Thích luận q. 04, tr.191a
27 何 者 為 果 法?
[5]Quang
ký q.06,tr.126c15, ly hệ và trạch diệt thể là một, tên gọi
thì có hai. Nếu được hiển bày do cởi bỏ sự trói buộc
thì gọi là ly hệ; nếu do đạo chứng đắc thì gọi là trạch
diệt. Do đó, dùng chữ trạch diệt giải thích chữ ly hệ
vậy.
[6]
Quang ký q.06,tr.126c18 trong ba vô vi, chỉ có trạch diệt được
gọi là quả; nhưng cả ba vô vi đều là nhân năng tác, cho
nên luận Hiển tông, q.09, tr.818c28 nói, cho nên pháp trạch
diệt là nhân (mà) không có quả; là quả (mà) không có nhân.
Hai loại vô vi còn lại là nhân, chẳng phải (phi) là quả.
Do đó, lý vô nhân vô quả được thành lập. Lại nữa, luận
Chánh lý q.18, tr.439a10 nói, có pháp làm tánh chất của một
nhân; đó là pháp vô vi. Không có pháp chẳng phải là nhân,
có pháp chẳng phải là quả; đó là hư không vô vi và phi
trạch diệt vô vi.
[7]
Quang ký q.06,tr.126c25 chỉ riêng pháp hữu vi mới có sáu nhân,
có năm quả; các pháp vô vi không như vậy. Vì sao? - bởi lẽ,
thể của pháp vô vi là thường hữu (hằng hữu) không phải
do sáu nhân sinh ra, không sinh ra năm quả. Bảo sớ q.06,tr.568c25
pháp hữu vi là nhân, là quả; đồng thời cũng có nhân, có
quả. Pháp vô vi là nhân, là quả; nhưng không có nhân, không
có quả. (Luận)Vì sao? – vì không có sáu nhân, năm quả.
Ngoài sáu nhân năm quả mà nói chứng đắc nhân …, như vậy
chẳng phải là không nhân vậy. Lại có quả mà không thủ,
không dữ thì chẳng phải là không quả. Chỉ do không có sáu
nhân nên nói là vô nhân; không có năm quả nên nói là vô
quả.
8.A
tì đạt ma câu xá luận q.06, tr.33c11, 無 間 道. Skt. Ānantarya-mārga。Chơn
đế Thích luận q.04, tr.191b 03, 聖 道. Skt ārya-mārga。
[9]
Bảo sớ q.06,tr.569a 03 Lực của vô gián đạo có công năng
thành tựu quả ly hệ, sao lại không chấp nhận vô vi (tức
trạch diệt vô vi hay là ly hệ) có nhân năng tác?
[10]A
tì đạt ma câu xá luận q.06,tr.33c13,若 爾 誰 果,果 義 云
何? Chơn đế Thích luận q.04, tr. 191b 06, 若 爾 是 何 法
果 ,云 何 為 果?
[11]Quang
ký q.06,tr.127a 13, đối với sự sinh khởi của các pháp khác,
không gây chướng ngại, có thể gọi là nhân năng tác; không
có công năng thủ dữ cho nên không có quả. Cũng nên biết
rằng, nhân năng tác có hai loại: (1) có công năng khiến các
pháp sinh khởi; đó là nhân (pháp) trong quá khứ, hiện tại.(2)
không có công năng khiến các pháp sinh khởi; đó là các pháp
vị lai và các pháp vô vi. Khi nói nhân năng tác là chỉ căn
cứ vào khía cạnh không gây trở ngại cho việc sinh khởi.
[12]Ht.
離世法 Adhva-vinirmukta. 離繋法 visaṃyoga 無漏法 anāsravo-dharmah.
Chơn đế Thích luận q.04,tr.191b 12, 解 脫 法 anāsravo dharmaḥ,
asaṃhārya-dharma
[13]
Phật quang đại từ điển, tập trung, tr.3092c20, Thủ quả,
dữ quả: Thủ quả (phalaṃ pratigrhṇāti), căn cứ vào hiện
tại nhất sát na mà nói, phàm cái có công năng sinh thành các
pháp trong hiện tại đều được gọi là nhân. Song, trong chính
nhân nầy vốn chứa đựng (thủ) lực dụng của quả có khả
năng sản sinh các pháp tương ưng; đó gọi là thủ quả. Ngược
lại, các pháp khi sắp sinh thành, cung cấp lực dụng sản
sinh kết quả, gọi là dữ quả (phalaṃ dadāti).
[14]
Quang ký q.06,tr.127a20, nói, các nhân duyên sinh ra các sắc đều
là vô thường; điều nầy cho thấy, vô vi không nhiếp thuộc
vào trong nhân duyên.
[15]
Quang ký q.06,tr.127a 09, Kinh nói, các duyên đều là vô thường.
Vô vi vốn thường hằng, lẽ ra không thể làm sở duyên duyên
cho các thức được.
[16]Ht.
不 障 因 性, tính chất không gây trở ngại cho sự sinh khởi
các pháp khác của một nhân pháp (因 法). Skt. anāvaraṇa-hetu.
[17]
Chơn đế Thích luận, q.05,tr.191c12, câu hỏi trước, pháp gì
gọi là trạch diệt? đáp: pháp ly diệt. Câu hỏi bây giờ:
pháp gì gọi là ly diệt? đáp: pháp trạch diệt. Hai giải
thích nầy nương tựa vào nhau, cuối cùng, không hiển bày
được tự tánh
[18]
Ht. 離言(離言語,離言說). Skt. Anabhilāpya, nirabhilāpya
[19]
Nguyên văn, 此 法 自 性 實 有 離 言 唯 諸 聖 者 各 別 內
證 但 可 方 便總相說言是善是常別有實物名為擇滅亦名離繋.
Chơn đế Thích luận q.05, tr.191c 14 諸 聖 人 能 自 證 此
法 自 性 若 欲 說 如 此 等 相 亦 可 得說謂常住善有別物若思量即是離滅擇滅.
Quang ký q.06, tr.127b 13, 說一切有部答常住之法不墮三世非是言依故言實有離言唯聖內證但可總說是善是常別有實物.
Bảo sớ q.06,tr.569b 21, 擇 滅 無 為 言 不 可 詮 但可方便說是善。。。是常。。。
[20]
Nguyên văn, 已起隨眠 生種滅位 Quang ký q.06,tr.127 có đưa
ra năm giải thích, đây là giải thích thứ ba, ở tr.127b 29,
chủng tử phiền não ở hiện tại gọi là các tuỳ miên đã
khởi. Các chủng tử nầy có khả năng sinh khởi các phiền
não về sau, gọi là sinh chủng. Nói diệt vị có nghĩa là,
chính chủng tử phiền não nầy không có công năng sinh khởi
phiền não tiếp theo, và trong đời sau nên gọi là vị trí
hoại diệt
[21]
Ht. 殘眾同分. Chơn đế Thích luận q.05,tr.191c 22, 聚同分殘,
Quang ký q.06,tr.127c 13, người đáng sống 100 nhưng mới 50 tuổi
chết; vậy 50 còn lại gọi là tàn chúng đồng phần.
[22]
Ht. 中夭者. Chơn đế Thích luận q.05,tr.191c 23 中間死.
[23]
Nguyên văn, 餘部師說. Quang ký q.06, tr.127c 15 quan điểm của
Thượng toạ bộ, v.v…
[24]
Quang ký q.06,tr.128a 02, 不生即擇滅 也.
[25]
Ht. 未生法. Chơn đế Thích luận q.05,tr.192a 05 未生諸法
[26]
Ht. 不生, tức là diệt 滅 cũng chính là niết bàn vậy. Chơn
đế Thích luận q.05,tr.192a 06, 不得生。
[27]Nguyên
văn 如 世 尊 言 , 汝 等 於 色 應 斷 貪 欲 , 貪 欲 斷
時 便 名 色斷及色遍智;廣說乃至識亦 如是. Chơn đế
Thích luận q.05,tr.192a 14 如別經言,於色貪愛汝等應除滅;若貪愛已滅,此色於汝等則滅則離。廣說如經乃至識亦爾。
[28]
Ht. 於中離染最為第壹. Chơn đế Thích luận q.05,tr.192a 27
於 中 說 離 欲法無等。
[29]
Ht. 如何無法可於無中立為第壹. Chơn đế Thích luận q.05,tr.192a
28, 云何於無中無法說說無等。Có thể giải thích rõ hơn:
với một pháp đã không có, làm sao ở trong cái pháp không
có đó có thể nói rằng, có một pháp rất là tối thắng.
[30]
Hán 我亦不說諸無為法其體都無;但應如我所說而有. Chơn
đế Thích luận q.05,tr.19228, 若我等不說無為無,我說如此有。
[31]
Ht. 如說此聲有先非有有後非有不可非有說為有故有義得成。Chơn
đế Thích luận q.05,tr.192a 29, 如 說 聲 有 先 不 有 有 後
不 有 雖 有 有 言非有物終不成有。
[32]
Ht. 若無為法唯非有者,無故,不應名滅聖諦。Chơn đế
Thích luận q.05,tr.192b05若無為唯無所有,滅離則非聖諦。何以故?此無所有故.
[33]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.192b 06, 若爾諦有何義?
[34]
Nguyên văn, 豈不此言屬無倒義?Chơn đế Thích luận q.06,tr.192b
06, 為不如此耶,無倒為義。
[35]
Nguyên văn, 如何非有而可立為第三聖諦 (diệt đế)?Bảo
sớ q.06,tr.570a 26, đế: có nghĩa là thật, thật hữu. Vậy
đã nói là diệt đế, sao lại là phi hữu? …tr.570b 03, Phàm
khi luận về số vật cần phải có thể tánh. Diệt đã chẳng
phải có, làm sao có thể thành lập làm thánh đế thứ ba
được?
[36]
Nguyên văn, 第二無間聖見及說故成第三。Chơn đế Thích
luận q.05,tr.192b 10, 已說第二,次無間聖所見所說,故成第三。Quang
ký q.06,tr.128c 14, 第二集諦無間聖見滅諦及佛經說故成第三。Bảo
sớ q.06,tr.570b 05, 聖 人 見 第 二 諦 後 見 此 滅 故 ; 說
第 二 諦 後 說 此 滅故名為第三。非要有體方名第三。
[37]
Chơn đế Thích luận q.05, tr.192b 11,
若
無 為 唯 無 所 有 , 緣 虛 空 涅 槃 為 境 識 應 成 無
境 界 。 若 無 為 法 唯 是 無 者 , 如 緣 虛 空 及 涅
槃識應緣無境。既是無如何生識,無所扶故。
[38]
Nguyên văn, 若許無為別有實體,當有何失?Chơn đế Thích
luận q.05, tr.129b13, 君若許無為法實有別物,有何所有?
[39]
Nguyên văn 復有何德?Chơn đế Thích luận q.05, tr.129b 14,
復 何 所 有?
[40]
Chơn đế Thích luận q.05, tr.192b 14, 諸天
[41]
Quang ký q.06, tr.128c 28, 此 無 為 實 有 體 可 得 如 色 等
五 境 五 識 現量證知;如受等心心所法他心智現量證知;亦非有用可得如眼耳等有見聞等比量知有
[42]
Nguyên văn, 又若別有,如何可立彼事之滅,第六轉聲 (một
trong bát chuyển thanh tức là tám cách trong văn phạm Phạn
ngữ). PQĐTĐ. Q.Thượng, tr.1255c18 có nói về sáu phương pháp
(lục ly hiệp thích) được dùng để giải thích các từ ngữ
phức hợp (từ kép). Phương pháp thứ nhất là Y chủ thích,
còn gọi là Y sỹ thích, Thuộc chủ thích. Tiếng Phạn gọi
là tat-puruṣa. Q.Trung, tr.3052c 11, xếp vào thứ hai. Y chủ thích
là phương pháp nói về sự liên hệ tính chất của các từ
trong một từ kép: dùng phần trước để giới hạn phần
sau. Ví dụ, từ Trung quốc nhơn, phần trước là Trung quốc
được dùng để giới hạn phạm vi biểu đạt phần sau là
nhơn. Tông Duy Thức căn cứ vào đó mà luận rằng, Y là năng
y, Chủ là pháp thể sở y; cũng chính từ pháp thể sở y mà
lập nên tên gọi của pháp năng y. Ví dụ: rāja-puruṣaḥ
(王臣), do chữ rājñaḥ pur = uṣaḥ (王之臣); trong đó, vương
là sở y, thần là năng y; đây là căn cứ vào luật Y chủ
thích; chi tiết hơn, đây gọi là sở hữu cách.
[43]
Quang ký q.06,tr.192a 19, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ giải thích,
diệt tuy tồn tại riêng lẻ nhưng do khi phiền não năng duyên
duyên với các pháp hữu lậu kia được đoạn trừ, các pháp
hữu lậu được giải thoát (không còn bị ràng buộc); có
thể nói rằng, diệt nầy sở thuộc các pháp kia. Ở đây,
căn cứ vào đắc mà nói về sở thuộc. Bảo sớ q.06,tr.570b
27, Hữu Bộ giải thích, do phiền não trói buộc nên không
thể chứng đắc được trạch diệt (niết bàn). Khi phiền
não được đoạn trừ rồi mới thành tựu được diệt nầy,
do đó có thể nói rằng, diệt nầy sở thuộc các pháp kia.
[44]
Nguyên văn, 何因此滅決定屬得?Chơn đế Thích luận q.05,
tr.192b 21, 復有何因能決定此法至得?
[45]
Quang ký q.06, tr.129a 26, Bí sô đạt được (hoặch đắc) hiện
pháp niết bàn. Hiện thân đạt được niết bàn gọi là hiện
pháp niết bàn. Đã đạt được niết bàn thì cũng có thể
nói niết bàn thuộc đắc. Lại hỏi vặn Kinh bộ rằng, với
pháp không có, làm sao có thể nói hoạch đắc? Bảo sớ q.06,tr.570c
02, Kinh đã nói hoạch đắc cho nên biết rằng (niết bàn)
thuộc đắc; thể của nó (niết bàn) không thể là không vậy.
Nếu thể của niết bàn không có, làm sao đối với pháp không
có lại nói hoạch đắc được?
[46]
Bảo sớ q.06, tr.570c12, đây là cực tịch tịnh, đây là cực
mỹ diệu! tán thán tổng quát những tính chất tốt đẹp
của diệt, cũng chính là giải thích ý nghĩa niết bàn ở
trong Kinh; cái bất sanh nầy tức là khổ, tập bất sanh chứ
không có một pháp gì khác.
[47]Quang
ký q.06,tr.129b 23, 經部云何不許經言不生者依此擇滅無生力故言苦不生;或言不生者此依擇滅力令苦無生故言苦不生;或依此擇滅苦無生故言擇滅不生。既言依此擇滅,明知有體。
[48]
Bảo sớ q.06,tr.570c 18, Kính nói các khổ bất sinh, bất sinh
nầy sở thuộc các khổ; hay nói cách khác, bất sinh của khổ,
thuộc chủ thanh (sở thuộc cách);bất sinh đó có công lực.
Kinh nói các khổ bất sinh, ông cho rằng không phải các khổ
bất sinh mà là trạch diệt bất sinh. Đoạn Kinh chứng nầy,
ông cho là trạch diệt bất sinh tức thuộc đệ thất chuyển
thanh (vị trí cách), bất sinh hoàn toàn không có công lực.
Thế thì Kinh nói bất sinh với ý nghĩa gì để theo đó nói
rằng, diệt bất sinh, chẳng phải khổ bất sinh?
[49]
Quang ký q.06,tr.129c 18, A tỳ đạt ma tạng nói Sự có năm loại:
một, tự tánh sự- tự thể của các pháp; nghĩa là tự thể
gọi là sự; hai, sở duyên sự- sở duyên của tâm; nghĩa là
sở duyên gọi là sự; ba, hệ phược sự- các sở hệ phược
như ái,v.v…; nghĩa là các sở hệ phược gọi là sự; bốn,
sở nhân sự-tức sở nhân gọi là sự; quả là năng nhân,
nhân là sở nhân; quả dựa vào nhân để sinh; như con từ
cha mẹ sinh ra; cha mẹ là sở nhân, con là năng nhân. Nghĩa
là, các pháp hữu vi đều từ nhân sinh, gọi là hữu sự pháp.
Sự được gọi là nhân. Năm, sở nhiếp sự-các thứ nhiếp
thuộc của con người như nhà cửa, ruộng vường,v.v…; nghĩa
là sở nhiếp gọi là sự. Từ việc nói chư sự có tuy năm
loại, nay ở trong A tỳ đạt ma nầy nói sự là dựa vào loại
thứ tư, nói nhân gọi là sự, hiển bày pháp vô vi hoàn toàn
không có nhân; không dựa vào loại thứ nhất nói vô vi vô
sư. Cho nên vô vi tuy là pháp thật hữu nhưng thường không
có tác dụng nên không thể từ nhân sinh gọi là vô nhân;
không thể sinh quả nên gọi là vô quả.
[50]
Ht. 異熟果. Chơn đế Thích luận 果報果。Skt. Vipāka-phala
[51]
Bảo sớ q.06,tr.572a 08, nếu quả dị thục hoặc là thiện,
hoặc là bất thiện, thì nghiệp được tạo ra không có thời
hạn chấm dứt cho sự thọ nhận. Cho nên, quả dị thục chỉ
nhiếp thuộc vô phú vô ký.
[52]Chơn
đế Thích luận q.05,tr.193a 07, 非眾生
[53]
Bảo sớ q.06,tr.572a 12, quả dị thục có thể là vô ký nhưng
lại từ hữu ký sinh ra. Do đó biết rằng, nó chẳng thuộc
đẳng lưu và sở trưởng dưỡng; nhân quả hai loại nầy
là đồng loại.. Đồng thời cho thấy, quả dị thục chỉ
thuộc hữu tình.
[54]
Bảo sớ q.06,tr.572a 16, Đoạn nầy giải thích từ hữu ký
sinh: 1, nhân là hữu ký, quả là vô ký; đó là nghĩa của
chữ dị. Từ đó (trải qua một thời gian) về sau quả dị
thục mới khởi, chẳng phải do câu hữu hay vô gián sinh ra;
đó là nghĩa biến dị và thục vậy.
[55]
Quang ký q.06,tr.131a 02, quả dị thục không thể cùng chung thọ
dụng. Phi tình cùng chung thọ dụng cho nên chẳng phải là
dị thục.
[56]
Ht. 等流果。.Skt. niṣyanda-phala
[57]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193a 18, 由此果約地,約染汙,
同 本 因 ; 不由壹切類。
[58]
Quang ký q.06,tr.131a 19, nếu do các chủng loại như tam tánh,
ngũ bộ, quả cũng tương tợ với nhân. Thế thì, nhân của
quả nầy lại gọi là nhân đồng loại.
[59]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193a22, Câu thứ nhất -chẳng phai
là nhân biến hành, chỉ là nhân đồng loại. Quang ký q.06,tr.131a20,
Câu thứ nhất -chẳng phải pháp biến hành là nhân đồng
loại. Pháp sinh trong tự bộ, sinh cùng một bộ, gọi là nhân
đồng loại; không thông sinh với nhiễm ô nên chẳng phải
là nhân biến hành.
[60]
Quang ký q.06,tr.191a22, Câu thứ hai –pháp biến hành ở các
bộ khác, là nhân biến hành. vì chúng thông sinh với nhiễm
ô nên gọi là nhân biến hành; chẳng sinh ở tự bộ nên không
thể là nhân đồng loại.
[61]
Quang ký q.06,tr.191a24, Câu thứ ba –lấy pháp biến hành ở
tự bộ làm nhân biến hành. Nó sinh ở tự bộ nên gọi là
nhân đồng loại; nói lại thông sinh với nhiễm ô nên gọi
là nhân biến hành.
[62]
Ht. 離繋果。Chơn đế Thích luận 離滅果. Skt. viṣamyoga-phala
[63]
Ht. 士用果. Chơn đế Thích luận 功力果. Skt. Purusakāra-phala
[64]
Ht. 增上果. Skt.adhipati-phala
[65]
Quang ký q.06,tr.131b23, Về nhân và quả: quả đối với nhân
thì hoặc đồng thời hoặc sau; nhân đối với quả thì hoặc
đồng thời hoặc trước. Pháp trước không thể là quả của
pháp sau.
[66]
Quang ký q.nt tr.131b24, Trong các pháp hữu vi, trừ các pháp đã
sinh trước (tiền dĩ sinh; vì chúng sinh trước, không thể
là quả của các pháp sau), các pháp còn lại hoặc đồng thời
hoặc sau, đều là quả tăng thượng của các pháp hữu vi.
[67]
Ht. 此餘.Trong đó, chữ thử là đại danh từ thay thế cho
danh từ tác giả ở câu trước; chữ dư có nghĩa là còn lại,ngoài
ra, ở đây chỉ chung cho những người ngoài tác giả.
[68]
Ht. 匠。Chơn đế Thích luận q.05,tr193b 05, 工巧師
[69]
Quang ký q.06,tr.131a08, trong sáu nhân, trừ nhân năng tác, năm
nhân còn lại chỉ thủ quả ở hiện tại vì quá khứ đã
thủ, vị lai không có công năng.
[70]
Quang ký nt.131a09, cũng nên như vậy mà nói, nhân năng tác thủ
quả ở hiện tại; nhưng không nói vì nó không nhất định
có quả tăng thượng. Cho nên ở trong Tụng nầy không nói,
nghĩa là pháp vô vi và pháp vi lai tuy là nhân năng tác nhưng
không thể thử quả tăng thượng vậy. Do đó, luận Chánh
lý quyển 18, tr.437c16 … nói rằng, song nhân năng tác có thể
thủ quả ấy, nhất định ở hiện tại; dữ quả thông với
quá khứ, hiện tại. Bà sa quyển 21, tr.102c 13 nói, nhân năng
tác thủ quả trong hiện tại; dữ quả trong quá khứ, hiện
tại. Các Sư khác nói, nhân năng tác nầy thủ quả ở quá
khứ, hiện tại; dữ quả cũng ở quá khứ, hiện tại. Luận
nầy và luận Chánh lý giống với các vị Sư trước của
Bà sa. Lại có giải thích, Luận nầy giống với Sư sau trong
Bà sa. Nói nhân năng tác giống với năm nhân, thủ quả ở
hiện tại ấy là căn cứ vào đa phần mà nói.
[71]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193b14, Dữ quả, hai nhân đồng
loại, biến hành. Hai nhân nầy nếu dữ quả ở quá khứ,
nghĩa nầy có thể là như vậy. Làm sao ở hiện tại, hai nhân
nầy có thể dữ quả đẳng lưu. Bảo sớ q.06,tr. 573a26, Hai
nhân tương ưng và câu hữu có nhân quả đồng thời, do đó
có thể nói rằng, khi thủ quả cũng có chính là dữ quả.
Nhân quả của đẳng lưu trước sau không giống nhau, làm sao
trong hiện tại, khi nhân thủ quả tức cũng có thể dữ quả?
[72]
Quang ký q.06,tr.131c24, nhân đến hiện tại, có quả đẳng
lưu vô gián tương tục; khi đến sinh tướng tức ở hiện
tại dữ quả vậy. Nếu quả đến hiện tại, nhân liền trở
thành quá khứ, gọi đó là đã dữ quả, không nên lại dữ
một lần nữa.
[73]
Nguyên văn, 謂斷善根時,最後所捨得。 Chơn đế Thích luận
q.05, tr.193b 18, 若人斷善根,最後所至得. Quang ký q.06, tr.131c
28, Đó là đắc được xả bỏ ở sát na sau cùng khi đoạn
thiện căn. Có khả năng làm chủng tử cho kia (bỉ) gọi là
thủ; sau không tiếp nối trước thì chẳng phải dữ. Bảo
sớ q.06, tr.573b05, Tối hậu sở xả đắc -đắc được xả
bỏ ở sát na sau cùng trước khi đoạn thiện căn. (Đắc có
hai: tiền đắc –đó là đắc của sanh đắc thiện từ vô
thỉ đến nay. hậu đắc –đó là đắc ở tối hậu niệm
trước khi đoạn thiện căn và gọi đó là tối hậu sở xả
đắc tức là, trong sở xả đắc, đã sinh khởi tối hậu
niệm đắc. Nói đã sinh để phân biệt với vị lai; nói tối
hậu để phân biệt với dĩ tiền (已前). Đắc ở vị lai
chưa thủ quả; đắc ở trước cũng dữ quả vậy.
[74]
Nguyên văn, 謂續 善根時最後所得得。 應說 ,爾時,續者,前得。
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193b 20, 若人還接善根,最初所得至得。
應說如此是人還接前至得. Quang ký q.06,tr.132a 01, đó là
đắc được thành tựu đầu tiên khi tiếp nối thiện căn.
Đắc được xả bỏ ở sát na sau cùng trong quá khứ, bây
giờ, quả của nó đã đến sinh tướng tức chính thức cung
cấp lực cho nó nên gọi là dữ. do trước kia đã thủ nên
bây giơ không gọi là thủ nữa. Nay giải thích (Kinh chủ)
nên nói bấy giờ là tiền đắc khi tiếp nối thiện căn.
Tiền đắc chỉ cho đắc được xả bỏ ở sát na sau cùng
trong quá khứ về trước. Chánh lý q.18, tr.438a 23 bác bỏ:
Ở tiền vị có nhiều sát na đắc là nhân đồng loại đều
thủ cái đắc hiện tại nầy, sao bây giờ, chỉ nói tối
hậu nhất sát na đắc cung cấp quả cho đắc trong hiện tại.
Cho nên, nên như văn của luận Phát Trí là hợp lý.
[75]
Quang ký q.06,tr.132a 22, Câu thứ ba: cũng thủ cũng dữ -đó
là các thiện pháp ở trong một thân người không đoạn thiện
căn ở các vị trí khác, tuỳ theo sự tương hợp.
[76]
Quang ký q.06,tr.132a 25, Câu thứ tư: chẳng thủ cũng chẳng
dữ. Đó là trừ các tướng trước; cũng tuỳ theo sở ứng,
các thiện pháp chẳng thủ cũng chẳng dữ đều thuộc câu
thứ tư nầy.
[77]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193b 22, đó là chí đắc được
buông bỏ vào thời gian sau cùng ỏ cõi Dục của người chánh
đắc ly dục.
[78]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193b23, đó là chí đắc được
thành tựu đầu tiên của người thối thất ly dục ở cõi
Dục. Nên nói như thế nầy, đó là chí đắc trước của
người thối thất.
[79]
Nguyên văn 於阿羅漢,得時,退時,未得及餘, 如理應說。
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193c 27,至得阿羅漢果及退,於中如理應思。Bảo
sớ q.06,tr.573c 12, ở quả A la hán, khi thành tựu thì thủ
mà không dữ; khi thối thất thì,dữ mà không thủ; khi chưa
thành tựu, cũng thủ cũng dữ; ở các vị khác, chẳng thử
chẳng dữ. Quang ký q.06,tr.132a 29, đắc được buông bỏ sau
cùng ở quả vị A la hán, khi thành tựu, thủ mà không dữ;
đắc được thành tựu đầu tiên khi thối thất quả a la
hán, dữ mà không thủ; khi chưa thành tựu địa vị vô học,
cũng thủ cũng dữ; các v=địa vị vô học khác chẳng thủ
chẳng dữ. Cho nên nói, như lý ưng tri.
[80]
Bảo sớ q.06,tr.573c 13, vì vô phú vô ký từ vô thỉ đến
nay vốn tương tục không gián đoạn, khi dữ quả ắt đều
thủ quả; khi nhập niết bàn do sau không có tiếp nối cho
nên các uẩn sau cùng của các vị a la hán, thủ mà không dữ.
Câu hỏi đầu: vừa thủ quả vừa dữ quả; câu hỏi sau:
vừa dữ quả vừa thủ quả; dữ quả tất thủ quả, cho nên
nói rằng, thuận với câu sau vậy.
[81]
Bảo sớ q.06,tr.573c 19, căn cứ vào tâm, tâm sở để lập
bốn câu phân biệt. Quang ký q.06,tr.132b 07, nói hửu sở duyên
tức chỉ cho tâm, tâm sở; nói sát na sai biệt tức chỉ cho
niệm, trước, niệm sau và ba tánh.
[82]
Quang ký q.06,tr.132b 10, chủng có nghĩa là năng sinh; nhân có
khả năng sinh quả cho nên gọi là thủ quả. Với quả được
sinh đó, khi mà nhân đang lúc cung cấp lực cho quả thì gọi
là dữ quả.
[83]
Chơn đế Thích luận q.05,tr.193c 12, 說 因 及 果 已 , 何
者 為 法 由 何 因 生,由幾因生?
[84]
Ht. 三所餘法。Câu xá luận tụng sớ luận bổn q.06,tr.858a
01, Các pháp khác ngoài ba pháp trên: …. những pháp nầy không
thuộc vào ba pháp trước nên gọi là các pháp khác ngoài ba
pháp trên (tam sở dư pháp).Chơn đế Thích luận q.05,tr.193c
14, 前二殘法; ở đây, chữ 二(nhị) có chú thích số 7. Và
ở dưới giải thích, 二(nhị) = 三(tam) trong ba tạng; có nghĩa
là ở trong cả ba tạng Tống, Nguyên, Minh đều là chữ 三(tam),
không phải chữ 二 (nhị).
[85]
Ht. 餘法何者? Chơn đế Thích luận q.05,tr.193c14, 何者為殘法?
[86]
Quang ký q.06,tr.132c 02, Trong bốn pháp vô ký, trừ vô ký dị
thục, còn lại ba pháp vô ký vậy. Trong các pháp thiện, trừ
thiện sơ vô lậu, còn lại tất cả các pháp thiện khác vậy.
[87]
Quang ký q.06,tr.132c 08, năm câu đần nói về các pháp tương
ưng; câu thứ sáu nói về sắc pháp và pháp bất tương ưng.
[88]
Ht. 染汙法. Skt. kliṣṭa-dharma, kliṣṭā-dharmāḥ
[89]
Ht. 初聖法。Skt. Prathamârya-dharma
[90]
Nguyên văn 此謂心心所。Câu xá luận tụng sớ luận bổn
q.06,tr.858a 19 Thử vị tâm tâm sở: bốn pháp (nầy) từ các
nhân sinh được bàn luận ở trước chỉ thuộc tâm, tâm sở
vậy.
[91]
Nguyên văn 餘及除相應。Câu xá luận tụng sớ luận bổn
q.06,tr.858a20 餘及除相應 者: câu nầy nói về bốn pháp thuộc
sắc và bất tương ưng vậy. Dư: chỉ cho sắc pháp và bất
tương ưng pháp: là các pháp ngoài tâm và tâm sở cho nên gọi
là dư. Cập trừ tương ưng: nghĩa là bốn pháp thuộc sắc
và bất tương ưng ngoài các nhân được trừ như tâm và tâm
sở, còn trừ thêm nhân tương ưng cho nên dùng chữ và vậy.
[92]
Quang ký q.06,tr.132c 09, Từ Luận giải thích cho đến do ba nhân
còn lại sinh khởi, giải thích câu tụng đầu.
[93]Nguyên
văn 如是四法為說何等?Chơn đế Thích luận q.05,tr.193c
21 此四法是何法?