ĐỐN
NGỘ TIỆM TU
Hồng
Dương
Đốn
và Tiệm.
Vào
thời Tông Mật sự tranh chấp trong Phật giáo ở Trung Hoa lên
đến cực độ do bất đồng giữa Nam tông xưng là “đốn”
và Bắc tông gọi là “tiệm”. Tông Mật thấy rõ nguyên
nhân phân hóa là do sự thiên chấp giữa “Giáo” và “Thiền”,
giữa bên này chú trọng lý giải Phật pháp như Hoa nghiêm
tông, Thiên Thai tông và bên kia chỉ biết thực tu, “kiến
tánh”, không thiết lý luận về giáo lý. Trong cố gắng tìm
một giải pháp dung hợp và hòa giải, Thiền nguyên chư thuyên
tập đô tự (T. số 2015, 48.397b-413c; sẽ gọi tắt là Thiền
tự) được soạn ra vào năm 833 nhằm trình bày quan điểm
“Thiền Giáo nhất trí”. Thật không ai thích hợp hơn Tông
Mật trong vai trò đó. Chẳng những được sắc phong là Định
Huệ thiền sư, tổ đời thứ năm dòng thiền Hà Trạch do
Thần Hội sáng lập, mà còn được truy tặng là đệ ngũ
tổ của Hoa nghiêm tông, Ngài đủ kinh nghiệm và kiến thức
để soi sáng sự dung thông giữa hai lập trường xem như đối
nghịch, đốn và tiệm.
Ngài
đem chuyện con voi và sáu người mù ra ví với tình trạng
tranh luận giữa những người chủ trương khác nhau và cho
rằng vấn đề ở đây là do mọi lối nhìn đều là những
cái nhìn phương diện (profile). Mỗi cái nhìn phương diện
có thể xem như là một quan điểm riêng về đốn và tiệm.
Hai khái niệm ấy bổ sung cho nhau chứ không triệt để hỗ
tương khiển trừ. Nghĩa của chữ đốn và tiệm biến đổi
tùy theo trong cảnh huống nào chúng được sử dụng. Chẳng
hạn, bảo rằng kinh Hoa nghiêm biểu tượng 'đốn giáo' thời
chữ 'đốn' này khác nghĩa với chữ 'đốn' trong 'đốn ngộ'
là cái thân chứng, trọng tâm của giáo lý Thần Hội. Một
khi hiểu được chúng có ý nghĩa khác nhau trong những cảnh
huống khác nhau thời biết ngay quan điểm sở dĩ khác nhau
là bởi tại phát biểu về những sự vật khác nhau.
Khác
với các vị tổ Hoa nghiêm tông trước Ngài - Trí Nghiễm,
Pháp Tạng, và Trừng Quán - Tông Mật không thiết lập Đốn
giáo như một giáo lý riêng biệt trong phán giáo của Ngài.
Theo Ngài, trong phạm vi giáo lý, hai chữ đốn và tiệm chỉ
vào phương pháp đức Phật áp dụng rộng diễn ngôn thuyết
chứ không phải hai loại giáo lý riêng khác.
Tiệm
giáo là khi gặp hạng người có căn cơ không cao hay chậm
lụt, đức Phật dùng đủ thứ nhân duyên, thí dụ, và phương
tiện để nói những pháp môn thích ứng làm duyên cho họ
phát triển trí tuệ, xa lìa chấp trước, hướng đến giác
ngộ giải thoát. 'Tiệm' ở đây có nghĩa là phương pháp sử
dụng các phương tiện thiện xảo để thuyết giảng các giáo
lý từ cạn đến sâu, chỉ đường tu tập theo một diễn
trình tiệm tiến đòi hỏi nhiều thời gian.
Đốn
giáo phân biệt có hai, trục cơ đốn giáo và hóa nghi đốn
giáo. Hóa nghi đốn giáo chỉ riêng vào kinh Hoa nghiêm như một
giáo pháp (phương pháp thuyết minh) được đức Phật "đốn
thuyết" chỉ "nhất thời" (một lần) ngay sau khi thành đạo,
trong khi các kinh khác gặp cơ hội thời thuyết, "bất định
sơ hậu".
Trục
cơ đốn giáo là bất kỳ khi nào gặp hạng người có căn
cơ cao, có tâm nhạy bén, đức Phật chỉ thẳng chân pháp
khiến hạng này khoát nhiên đại ngộ nhận ra chân tánh của
mình không khác với của chư Phật. 'Đốn' ở đây có nghĩa
là phương pháp trực thuyết chân tâm đối với hạng người
có căn cơ cao. Một phần của kinh Hoa nghiêm (Phần kia thuyết
giảng giáo lý về sự sự vô ngại pháp giới bị gạt bỏ)
và các kinh Viên Giác, Thủ lăng nghiêm, Nhập pháp giới, Thắng
Man, và Như Lai tạng là những kinh thuyết về Như Lai tạng
được liệt vào đốn giáo. Tông Mật nói thêm rằng đốn
giáo hiểu như vậy là giáo pháp "chân thật liễu nghĩa" của
Nhất thừa Hiển tánh giáo đồng với giáo pháp của Thiền
giáo Hà Trạch.
Đây
là đoạn Tông Mật giải thích tên gọi đốn giáo và tiệm
giáo trong Thiền tự:
"Nhưng
vì nghi thức cho thời gian thuyết giáo của Thế Tôn thì không
đồng nhất, có trường hợp xứng hợp theo lý mà nói ngay
liền (xứng lý đốn thuyết), có trường hợp tùy theo cơ
mà lần lượt nói (tùy cơ tiệm thuyết). Vì vậy mà có tên
gọi là đốn giáo và tiệm giáo. Không phải có đốn tiệm
riêng biệt ngoài ba giáo.
Tiệm
là do căn cơ bậc trung và hạ chưa thể ngay tức thời mà
tin và ngộ diệu lý của Viên giác cho nên trước hết nói
về Nhân thiên thừa, Tiểu thừa cho đến Pháp tướng (trên
đây đều là Giáo thuyết thứ nhất), rồi Pháp tướng (Giáo
thuyết thứ hai), đợi đến khi căn khí thành thục bấy giờ
mới nói nghe giáo nghĩa rốt ráo (liễu nghĩa) tức là các
Kinh Pháp Hoa, Niết Bàn v..v... (Đây và đoạn dưới đều là
tùy theo căn cơ mà nói đốn giáo, hiệp lại thành Giáo nghĩa
thứ ba. Về hóa nghi, đốn thì gồm cả ba. Các bậc tôn đức
cổ kim ở Tây vực và ở nước này đều phân chia Giáo thành
ba thời và năm thời, nhưng đấy chỉ là đồng nhất loạt
tiệm giáo chứ không bao gồm kinh Hoa nghiêm).
Đốn,
lại có hai: 1. Đốn tùy theo căn cơ (trục cơ đốn), 2. Đốn
của nghi thức hóa độ (hóa nghi đốn).
Gặp
phàm phu thuộc hàng thượng căn lợi trí thì chỉ thị thẳng
(trực thị) pháp chân thật; người nghe liền tỏ ngộ tức
thì (đốn ngộ), hoàn toàn đồng nhất với quả vị Phật.
Như trong Hoa nghiêm, khi vừa mới phát tâm tức thì chứng đắc
A-nậu Bồ đề. Trong kinh Viên giác, khi quán hạnh thành tức
thì thành Phật đạo. Song le, bắt đầu từ chỗ đồng với
pháp môn tu hành trong hai Giáo trước, rồi dần dần trừ bỏ
tập quán phàm phu mà dần dần thành tựu hiển lộ đức của
Thánh. Như gió thổi động biển cả khiến cho nó không phản
chiếu được mọi ảnh tượng. Khi gió đột nhiên ngưng (đốn
tức), thì sóng lặng dần, và các ảnh tượng cũng được
phản chiếu dần. (Gió, dụ cho mê tình. Biển, dụ cho tâm
tánh. Sóng, dụ cho phiền não. Ảnh, dụ cho sự dụng công.
Trong luận Khởi tín, phối hiệp từng điểm một). Đó tức
là một phần của Hoa nghiêm, cùng với hơn 20 bộ kinh khác
đại loại như Viên giác, Phật đảnh, Mật nghiêm, Thắng
Man, Như Lai tạng, v.v. Gặp cơ hội thì thuyết không nhất
định phải theo thứ tự trước sau, cùng với Thiền môn,
phần thứ ba hoàn toàn đồng với tông hiển thẳng tâm tánh
(trực hiển tâm tánh tông)." (T48n2015- p0407b15 - p0407c02. Tuệ
Sỹ dịch)
Trong
phạm vi tu chứng, Tông Mật chỉ cho thấy có thể sử dụng
hai chữ đốn và tiệm năm cách khác nhau.
(1)
Tiệm tu đốn ngộ. Ví như đốn cây, chặt lần hồi đến
một lúc thình lình cây ngã nhào. Ví như du hành đến một
thị trấn xa xôi, lần bước tiến gần, thình lình một ngày
kia thị trấn hiện ra trước mắt. Thí dụ cho thấy 'tiệm
tu' là một quá trình dẫn đến mục tiêu cứu cánh là đạt
ngộ. 'Đốn ngộ' chỉ vào giây phút thực chứng mục tiêu
cứu cánh.
(2)
Đốn tu tiệm ngộ. Lấy trường hợp một người học bắn
cung làm thí dụ. 'Đốn' ở đây ví như động tác nhắm ngay
đích và 'tiệm' chỉ vào quá trình các động tác nhắm đích
cho đến khi đạt kết quả bắn trăm phát trăm trúng. Tông
Mật giải thích thêm rằng trong trường hợp này 'đốn' mật
thiết liên hệ với sự "vận tâm" tu tập chứ không liên
can sự đột nhiên thành tựu viên mãn các công đức tu tập.
Do đó 'đốn' ở đây có nghĩa là 'trực tiếp'. 'liền ngay',
tương ứng với chữ 'đốn' trong tên gọi phép thiền "Viên
đốn" được tổ Trí Khải mô tả trong tác phẩm Ma ha Chỉ
Quán, một trong ba tác phẩm chính của tông Thiên Thai, theo
đó thực tại tối thượng là đối tượng quán chiếu ngay
từ lúc khởi đầu.
(3)
Tiệm tu tiệm ngộ. Thí dụ trèo lên một tháp chín tầng.
Cứ mỗi tầng leo lên thời cái nhìn bao quát rộng lớn hơn.
Như thế, không những quá trình dẫn đến đạt ngộ một
cách tuần tự mà cả ngộ cũng ngộ lần hồi.
(4)
Đốn ngộ tiệm tu. Đây chính là quan điểm của Tông Mật
về tu chứng, thường được Tông Mật cho là đồng với chủ
trương của Thần Hội. Sẽ trình bày với nhiều chi tiết
trong đoạn sau.
Tông
Mật nhấn mạnh ngộ trong ba trường hợp đầu có nghĩa là
"chứng ngộ", khác biệt với ngộ trong trường hợp thứ tư
có nghĩa là "giải ngộ". Hai thứ ngộ này được cắt nghĩa
trong Viên giác kinh đại sớ sao: "Đầu tiên 'sơ nhân giải
ngộ' rồi từ đó 'y ngộ tu hành' cho đến khi 'hành mãn công
viên tức đắc chứng ngộ'." Vậy theo Tông Mật, tu chứng
là một trình tự ba bậc: giải ngộ, tiệm tu, và chứng ngộ.
(5)Đốn
ngộ đốn tu. Pháp môn này chỉ áp dụng cho hàng căn cơ tối
thượng. Trạng thái giải ngộ của họ thâm sâu đến độ
đồng ngay trạng thái chứng ngộ nên không cần phải huân
tập tu thêm nữa. Được như vậy, Tông Mật nhấn mạnh, là
do kết quả của nhiều đời kiếp y nơi ngộ mà tu, lần lần
huân tập cho đến đời kiếp này, nghe liền phát ngộ. Xét
ra thời cũng là căn cơ trước ngộ sau tu. Tông Mật đưa ra
hai thí dụ. Các chướng ngại 'đột nhiên' bị đoạn tận
ví như do gươm bén cắt sợi tơ, chỉ một lần (đốn) cắt
đứt luôn cả nghìn sợi. Và các công đức tu tập 'đột
nhiên' thành tựu viên mãn ví như nhuộm tơ, cùng một lúc
đồng loạt nhuộm, cùng một lúc đồng loạt trở thành màu.
Hai
chữ đốn và tiệm thay đổi ý nghĩa tùy theo cảnh huống
trong đó chúng được sử dụng. Trong ba pháp môn đầu, 'ngộ'
tức 'chứng ngộ' có nghĩa vừa là quá trình dẫn đến đạt
ngộ, vừa là giây phút đạt ngộ. Trong pháp môn thứ nhất,
tiệm tu đốn ngộ, 'chứng ngộ' là mục tiêu tối hậu đột
nhiên đạt được sau khi tu hành viên mãn theo một quá trình
tiệm tiến. Trong hai pháp môn kia, đốn tu tiệm ngộ và tiệm
tu tiệm ngộ, 'chứng ngộ' chỉ vào quá trình do đó đạt
ngộ, quá trình này tương ứng với cái mà Tông Mật gọi
là 'tiệm tu' trong trường hợp đầu. Ý nghĩa của chữ 'tu'
cũng thay đổi tùy theo cảnh huống. Trong pháp môn thứ nhất
và thứ ba, 'tu' là quá trình dẫn đến đạt ngộ, còn trong
pháp môn thứ hai, 'tu' là vận tâm thông tri quá trình tu tập
đó.
Ngoài
ra, chứng ngộ khác với giải ngộ. Giải ngộ là trường
hợp ngộ nói đến trong pháp môn thứ tư và thứ năm. Giải
ngộ luôn luôn là đốn ngộ trong khi chứng ngộ có thể tiệm
hay đốn tùy theo được hiểu như một quá trình đạt quả
chứng ngộ hay như giây phút thể nghiệm chứng ngộ. Trong
trường hợp tiệm, thời chứng ngộ đồng nghĩa với tiệm
tu. Do sự phân biệt hai thứ ngộ như vậy cho nên pháp môn
nào trong năm pháp môn cũng gồm ba bậc tu hành: giải ngộ,
tiệm tu, và chứng ngộ. Riêng pháp môn thứ năm, đốn tu đốn
ngộ, hai bậc đầu và cuối nhập thành một, vì thế bậc
thứ hai trở nên không cần thiết.
Đáng
lưu ý là Tông Mật không đề cập một giai đoạn nỗ lực
(gia hành vị; prayoga màrga) dự bị sẵn sàng tiến bước trên
con đường tu tập. Điều này chứng tỏ đối với Tông Mật
thể nghiệm đốn ngộ là căn nguyên của biến chuyển cơ
bản, chưa ngộ mà tu chẳng phải chơn tu. Trong Hoa nghiêm nguyên
nhân luận có câu: "Chẳng ngộ tánh mà tu thời tỉ đất nắn
đồ, mỗi món đồ đều là đồ gốm; còn giác ngộ tánh
rồi sau mới tu, ví như vàng đúc ra đồ, thời đồ nào cũng
đều là chất bằng vàng cả."
Mặt
khác, tuy theo Tông Mật trên hai phương diện, tu hành (đốn
ngộ) và giáo pháp (đốn giáo), chữ đốn được sử dụng
hai cách khác nhau, nhưng giữa hai cách ấy vẫn thấy có quan
hệ. Thật vậy, đốn giáo theo Tông Mật là giáo pháp trực
hiển chân nguyên. Chân nguyên tức giác tánh hay Phật tánh
cũng là chỗ người tu tâm giải ngộ. Do đó đốn giáo là
giáo pháp giúp hành giả đủ cơ năng thể nghiệm đốn ngộ.
Tưởng
cũng cần biết năm môn đốn tiệm nói trên Tông Mật đã
suy dẫn từ hai tập, Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh
tùy sớ diễn nghĩa sao và Hoa nghiêm kinh Hạnh Nguyện Phẩm
sớ của Trừng Quán. Trong mỗi tập Trừng Quán mô tả bốn
môn, Tông Mật góp lại thành năm môn kê trên. Sau đây là
đoạn Trừng Quán đề cập bốn môn đốn tiệm trích từ
Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao (T36n1736-p0164c08 - p0165a03.
Tuệ Sỹ dịch)
"Luận
theo chiều ngang, đốn lại có nhiều nghĩa:
1.
Ngộ đốn, tu tiệm. Như đài cao chín tầng. Sự thấy nó là
đốn; nhưng sự leo thì cần phải theo từng bậc thềm mới
lên được. Ở đây cũng vậy, tỏ ngộ được tâm tánh là
đốn. Nhưng cần phải tích lũy công phu, hành đủ vạn hạnh.
Đây là trường hợp căn cứ theo giải ngộ (ngộ do nhận
thức) mà nói.
2.
Tu đốn, ngộ tiệm. Như mài gương. Mài một lần toàn diện
(đốn); nhưng gương trong sáng dần dần (tiệm). Tu thì đồng
loạt (đốn) tu đủ vạn hạnh; nhưng ngộ thì dần dần (tiệm)
trổi vượt lên. Đây là căn cứ theo sự chứng ngộ (ngộ
do chứng đắc) mà nói.
3.
Tu đốn, ngộ đốn. Như gươm bén cắt sợi tơ, chỉ một
lần (đốn) cắt đứt luôn cả nghìn sợi. Hoặc như nhuộm
tơ, cùng một lúc đồng loạt nhuộm, cùng lúc đồng loạt
trở thành màu. Cũng vậy, cùng một lúc tu đủ cả vạn hạnh,
cùng một lúc bừng tỏ ngộ.
4.
Tu tiệm, ngộ tiệm. Cũng như đẵn tre; đẵn từng đốt bất
đồng.
Trường
hợp này không áp dụng ở đây. Ngộ được nói ở đây như
sự chiếu sáng của mặt trời. Tức giải ngộ và chứng ngộ
đều là đốn cả, đấy là đốn tu đốn ngộ.
Công
phu như lau gương, cũng không phải là ngộ thì đốn mà tu
thì tiệm. Ý nghĩa đốn tu tiệm ngộ ấy muốn nói rằng minh
là bản minh (sáng vốn là cái sáng có sẵn); tiệm là viên
tiệm (viên mãn dần, trái với viên đốn), tổng hợp cả
hai điều nói trên, e rằng có người nói sự lau gương không
phải đốn, vì gương sáng bản lai thanh tịnh cần gì phải
lau chùi. Vì vậy cần hội thông. Đây là chỗ Lục Tổ tỏ
bày thẳng vào bản tánh, bác bỏ sự tiệm tu. Ở đây thuận
theo Kinh, thuyết minh sự chứng ngộ là tiệm; còn tu thì giống
như sự sáng dần, mà sự sáng vẫn là sáng có sẵn. Do đó
nói minh là bản minh. Tức là trên thể của vô niệm tự có
sẵn sự chân trí (biết đúng) chứ không phải có cái biết
nào riêng biệt để biết thể của tâm.
Nói
tiệm là viên tiệm, là quan điểm của Thiên thai Trí Giả.
Ngài nói, "Dần dần (tiệm) thì không phải là viên (mãn);
là viên thì không phải là tiệm. Người chủ trương tiệm
(tiệm gia) cũng có tiệm của viên (viên tiệm). Người chủ
trương viên (viên gia) cũng có viên tiệm. Tiệm của tiệm
gia là như Trường giang bắt nguồn từ núi Mân mà chảy tràn.
Viên của tiệm gia là như sông lớn chảy ra nghìn dặm. Tiệm
của viên gia như sông bắt đầu vào biển tuy là sâu dần
thì một giọt nước cũng đã chảy qua khỏi sông lớn rồi
nói chi là chỗ bắt nguồn chảy tràn. Viên của viên gia như
tận cùng biển không có bờ. Do đó ở đây nói, tiệm là
tiệm của viên gia; cái đó đã vượt lên khỏi cái viên của
tiệm gia rồi nói chi đến chỗ nông cạn của cái tiệm của
tiệm gia."
Môn
Tiệm tu đốn ngộ không có nói trong đoạn trên, nhưng được
đề cập trong Hoa nghiêm kinh Hạnh Nguyện Phẩm sớ với ba
môn khác, Đốn ngộ tiệm tu, Tiệm tu tiệm ngộ, và Đốn
ngộ đốn tu. Hạnh nguyện Phẩm sớ nói đến Tu tiệm, ngộ
đốn như sau: "... Trường hợp này liên hệ đến chứng ngộ,
tu là như lau sáng gương và ngộ là như tánh phản chiếu ánh
sáng của gương."
Ngộ
đốn, tu tiệm.
Trong
Thiền tự Tông Mật xác quyết: "Chưa ngộ mà tu chẳng phải
chơn tu." Nói cách khác, sự thể nghiệm giải ngộ chứng minh
cho sự tu hành chơn thật. Theo Tông Mật, thể nghiệm giải
ngộ đồng với địa vị thứ nhất trong một quá trình tu
hành mười bậc tiến tới viên mãn thành Phật ở bậc cuối
cùng. Trong Trung Hoa truyền tâm địa Thiền môn sư tư thừa
tập đồ (Dainippon zokuzòkyo, series 2, case 15, vol. 5; sẽ gọi
tắt là Thiền đồ. Trong tập này, Tông Mật tìm cách làm
sáng tỏ nguồn gốc và đặc điểm của các giáo thuyết Thiền
đang thịnh hành), Tông Mật đơn cử ba thí dụ để thuyết
minh thế nào là ngộ đốn, tu tiệm. Thí dụ thứ nhất mượn
ý Luận Khởi tín, khi gió vô minh thổi động đột nhiên ngưng,
thời sóng lặng, nhưng chỉ lặng dần. Thí dụ thứ hai nói
đến ngay khi mặt trời đột hiện buổi sáng, sương giá tan,
nhưng chỉ tan dần. Thí dụ thứ ba là của Thần Hội, một
bé lúc mới sinh các căn đều đầy đủ, nhưng khí lực chưa
đầy đủ, phải trải qua nhiều năm tháng mới thành người
lớn. Theo Tông Mật, giáo pháp về môn đốn ngộ tiệm tu căn
cứ trên Luận Khởi tín, kinh Viên giác, và Hoa nghiêm. Đốn
ngộ được mô tả như sau trong Thiền đồ:
"Trong
khi rời khỏi vọng tưởng ngộ ngay bản tánh cùng chư Phật
không khác là đốn, thời chuyển biến một phàm phu thành
một thánh nhơn là tiệm. Đốn ngộ có nghĩa là mặc dầu
từ vô thủy mê lầm nhận tứ đại làm thân, vọng tưởng
làm tâm, nhận cả hai làm cái Ta, chợt được thiện tri thức
khai thị tánh viên giác thanh tịnh, biết rõ thân tâm là hư
vọng, niệm niệm sanh diệt không có cái Ta thật, tức thời
ngộ được cái thấy biết của mình là chơn tâm, tâm là
Pháp thân, rỗng rang và không tịch, rộng lớn cùng khắp và
không sắc tướng, tánh không hai của thân và tâm là chân
ngã, tâm tánh cùng với chư Phật chẳng khác ngay chỉ một
sợi tóc."
Như
vậy đối với Tông Mật, đốn ngộ là tự chứng chân tánh
của mình lâu nay vốn đồng chân tánh của chư Phật. Khuôn
mẫu của phép thể nghiệm lẽ cố nhiên là sự tâm chứng
của chính đức Phật. Tông Mật viện dẫn đoạn kinh Hoa nghiêm
sau đây, Phẩm 37: Như Lai xuất hiện, để giáo chứng cách
Ngài định nghĩa đốn ngộ.
“Chư
Phật tử! Trí huệ của đức Như Lai không chỗ nào là chẳng
đến. Vì không một chúng sinh nào mà chẳng có đủ Như Lai
trí huệ, chỉ do vọng tưởng điên đảo chấp trước nên
không chứng được. Nếu rời vọng tưởng thời nhất thiết
trí, tự nhiên trí, vô ngại trí, liền hiện tiền..........
Bấy
giờ đức Như Lai do trí nhãn thanh tịnh vô ngại xem khắp
pháp giới tất cả chúng sinh mà nói rằng: Lạ thay, lạ thay!
Tại sao các chúng sinh này có đủ trí huệ Như Lai, mà ngu
si mê lầm chẳng hay chẳng thấy. Ta nên đem thánh đạo dạy
cho họ lìa hẳn vọng tưởng chấp trước. Từ trong thân,
họ thấy được trí huệ Như Lai quảng đại, như Phật không
khác.” (Kinh Hoa nghiêm. HT Thích Trí Tịnh dịch)
Tông
Mật trích dẫn đoạn kinh trên cốt yếu là để chứng minh
nội dung của sự giác ngộ của Phật là sự thấy biết tất
cả chúng sinh đều có đầy đủ trí tánh của Phật và do
đó tất cả chúng sinh như Phật không khác.
Vậy
sự giác ngộ của chúng sinh là thể nghiệm cái trí tánh vô
lậu vốn tự đầy đủ đó. Tuy sự tâm chứng của đức
Phật được dùng làm khuôn mẫu cho sự thể nghiệm của chúng
sinh, nhưng đốn ngộ Tông Mật đề cập không phải là sự
Giác ngộ tối cao A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Anuttara
samyak sambodhi; Hán dịch là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
hay Vô thượng Bồ đề) do Phật tự chứng ở cội bồ đề,
gần thành Già Da. Chữ đốn ngộ trong thuyết đốn ngộ tiệm
tu của Tông Mật có nghĩa là 'giải ngộ'. Đây mới là sơ
ngộ, chỉ là địa vị khởi đầu một quá trình tu hành mười
bậc. Sự Giác ngộ tối cao của Phật tương ứng với 'chứng
ngộ' là sự thành tựu viên mãn Phật quả ở bậc cuối cùng.
Cần
phải tiệm tu sau khi giải ngộ là vì tập khí từ vô thủy
khó trừ hết liền, nên phải y ngộ mà tu, lần lần huân
tập mới thành công. Tu tập là đổi những thói quen mê lầm
phiền não thành những thói quen từ bi giác ngộ, cho nên cần
phải có công tu tinh tiến lâu ngày mới được kết quả.
Chỉ khi nào tập khí giác ngộ có đủ sức mạnh lấn át
được tập khí mê lầm thời mới chứng được những đạo
quả trên con đường Bồ đề. Trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận,
HT. Thích Khánh Anh dịch, có đoạn:
"'Dứt
vọng về chân' đó, phải có lời hỏi rằng: đã giác ngộ
'nhất chân tâm thể' rồi, rõ biết mỗi pháp, pháp nào cũng
toàn là chân, thời cần gì lại còn phải dứt vọng?
- Đáp:
Kinh Lăng nghiêm nói, 'với Lý thời đốn ngộ' mà với Sự
cần phải dần dần để trừ vọng, bởi từ vô thỉ cái
tập khí nó đã thâm căn, nay làm gì mà dứt liền hết bằng
một lượt cho được.
...
Tâm vương thường trụ, vẫn muốn từ bi hỉ xả, mà còn
các nhóm tâm sở tam độc, lục tặc, chúng cứ hiện hành
những điều ác tánh, phiền não tán loạn, điên đảo; thành
thử Tâm vương phải tu chỉnh các đạo 'Hiền Thánh quân'
để chiến thắng với quân thù là ngũ ấm quân, thiên Ma quân,
kêu bằng 'tảo thanh ngũ Ma quân, trị bình lục oán tặc'.
Chừng đó hoặc hết, chướng trừ, tâm thành ý chánh, thân
tâm chúng sinh đồng được giải thoát, thanh tịnh, hưởng
sáu vô vi....... Vậy kẻ tu Phật là 'trường kỳ kháng chiến',
vì trải lâu A tăng kỳ kiếp, mới chiến thắng Ma quân. Nam
mô Đấu Chiến Thắng Phật!"
Muốn
diệt trừ các thói quen mê lầm, về lý tuy có thể giác ngộ
rất nhanh, nhưng về sự thời phải lần lượt diệt trừ,
từ những mê lầm nông cạn đến những mê lầm thầm kín
nhỏ nhiệm nhất. Thói quen mê lầm chấp ngã nông cạn hơn
thời được giải trừ trước, rồi về sau mới giải trừ
được pháp chấp, dứt trừ trần sa hoặc cho đến không còn
gì phải trừ diệt nữa thời mới chứng được tánh Không
và an trụ nơi vô sinh pháp nhẫn. An trụ nơi vô sinh pháp nhẫn
là đương lúc tất cả các sự vật duyên khởi sinh ra, trực
nhận không có gì đáng gọi là sinh, do đó, dầu hiện ra vô
lượng thân, vô lượng cảnh, cũng vẫn an trụ mãi mãi nơi
pháp giới tính bất sinh bất diệt.
Trên
phương diện giáo thuyết, Tông Mật đã căn cứ trên thuyết
Như Lai tạng để giải thích đốn ngộ và trên thuyết a lại
da thức để cắt nghĩa tiệm tu. Hai thuyết này đã được
phối hợp lần đầu tiên trong kinh Lăng Già, về sau được
Luận Khởi tín hợp thành hệ thống chặt chẽ, vì vậy Luận
này xem như cơ sở trên đó Tông Mật xây dựng thuyết đốn
ngộ tiệm tu. Luận định nghĩa Như Lai tạng là Chân như Nhất
tâm, gồm hai tướng, tướng bất biến gọi là Tâm chân như
và tướng tùy duyên gọi là Tâm sinh diệt. Tâm chân như là
Như Lai xuất triền, là Pháp thân, là tánh Phật chứa đựng
các pháp vô lậu thanh tịnh. Tâm sinh diệt là Như Lai tại
triền, là tánh Phật còn bị chứa trong vòng phiền não nhiễm
ô. Ngoài ra, tâm sinh diệt đồng hóa với a lại da thức, thức
này là "chơn (không sinh diệt) vọng (sinh diệt) hòa hiệp,
không phải một không phải khác". Vì a lại da thức là nơi
hai tướng của Nhất tâm tương tác nên do chứa trong nó tiềm
năng giác và bất giác a lại da thức tác dụng như một yếu
tố động lực của phương trình tâm.
Đồ
biểu phương trình tâm của Tông Mật.
Hình
bên đây là đồ biểu phương trình tâm, Tông Mật trình bày
ở cuối tập Thiền tự, mô tả đồng thời hai quá trình
ứng với hai nghĩa, giác và bất giác, của a lại da thức:
đếm lên là quá trình mê vọng và đếm xuống là quá trình
ngộ chân. Tông Mật chia mỗi bên ra thành mười bậc, mỗi
bậc trong quá trình này đối ứng với một bậc trong quá
trình kia. Trong Hoa nghiêm nguyên nhân luận có đoạn diễn bày
giai đoạn khởi đầu quá trình mê vọng (HT. Thích Khánh Anh
dịch):
"Bắt
đầu duy chỉ là cái 'nhất chân linh tánh' chẳng sinh chẳng
diệt, không thêm không bớt, chả đổi chả dời. Chúng sinh
đã như ngủ mê từ vô thỉ nên chẳng tự sáng biết. Vì
chân linh tánh bị che phủ nên tên là Như Lai tạng, vì y nơi
Như Lai tạng nên có tâm tướng sinh diệt. Cái chân tâm bất
sinh bất diệt, nó cùng lẫn họp nhau với cái vọng tưởng
sinh diệt bằng cách chẳng đồng chẳng khác tên là a lại
da thức. Thức đây có hai nghĩa: giác và bất giác."
Mười
bậc trong quá trình mê vọng liệt kê như sau:
(1)
Bản giác. Đây là cơ sở của quá trình mê vọng. Luận Khởi
tín định nghĩa bản giác: "Gọi là nghĩa giác, tức là cái
ly niệm tướng của tâm thể. Cái ly niệm tướng ấy bằng
cõi hư không, không chỗ nào không cùng khắp; pháp giới một
tướng tức là bình đẳng pháp thân của Như Lai. Nương với
pháp thân đó mà gọi tên là bản giác." (Tâm Minh Lê Đình
Thám dịch) Tông Mật ví bản giác như một người giàu có
được kính nể, ngay thẳng và khôn ngoan, sống trong nhà của
chính mình.
(2L)
Bất giác. Đây là nghĩa bất giác của a lại da thức. Tông
Mật so sánh với một người giàu có được kính nể nhưng
ngủ quên không biết mình là ai. Có khi Tông Mật gọi đó
là 'căn bản vô minh' hay 'độc đầu vô minh'. Bất giác là
'gốc' của những bậc còn lại gọi là 'ngọn' trong quá trình
mê vọng.
(3L)
Niệm khởi. Niệm ở đây là vọng niệm, cũng gọi là vọng
tưởng và ngài Huyền Tráng đã dịch là phân biệt. Do vọng
niệm mà nhận thức sai lầm, phân biệt lập thành những tướng
năng tri và sở tri. Trong ba tướng vi tế (tam tế: chi mạt
vô minh, nói trong Luận Khởi tín) kết đồng không rời bất
giác, niệm khởi tương ứng với tướng đầu gọi là vô
minh nghiệp tướng. Do nương với bất giác nên tâm động
mà gọi là nghiệp. Tông Mật so sánh với những giấc mộng
của người ngủ say.
(4L)
Kiến khởi. Tương ứng với tướng vi tế thứ hai, năng kiến
tướng, do nương với động nên có năng phân biệt (năng kiến;
Luận Khởi tín). Tông Mật so sánh với ý thức đang hoạt
dụng trong giấc mơ.
(5L)
Cảnh khởi. Tương ứng với tướng vi tế thứ ba, cảnh giới
tướng, do nương với năng kiến nên cảnh giới giả dối
hiện ra (Luận Khởi tín). Tông Mật so sánh với một người
giàu có và được kính nể, trong giấc mơ thấy mình dơ dáy
khổ sở và nhận biết những cái thích cái ghét.
(6L)
Pháp chấp. Tương ứng với hai tướng đầu trong lục thô
tướng nói trong Luận Khởi tín: trí tướng, nương với cảnh
giới, tâm khởi ra phân biệt, có ưa và không ưa, và tương
tục tướng, nương với trí tướng nên sinh ra cảm giác khổ
vui, tâm khởi ra niệm, kết đồng không gián đoạn. Tông Mật
ví với một người chấp thủ những sự vật thấy trong giấc
mơ mà tưởng là thật.
(7L)
Ngã chấp. Tương ứng với hai tướng thứ ba và thứ tư trong
lục thô tướng (Luận Khởi tín): chấp thủ tướng, nương
với cảnh giới duyên niệm của tương tục tướng duy trì
những sự khổ vui, tâm khởi ra chấp trước, và kế danh tự
tướng, nương với vọng chấp mà phân biệt những tướng
danh ngôn giả dối. Tông Mật ví với người thấy mình và
người trong mộng là một.
(8L)
Phiền não. Đây là nói đến ba độc, tham, sân, si. Tông Mật
ví với người khao khát có những cái thấy trong mộng hợp
với sở thích và chán ghét những cái thấy trong mộng mà
không hợp ý.
(9L)
Tạo nghiệp. Tương ứng với tướng thứ năm trong lục thô
tướng (Luận Khởi tín): khởi nghiệp tướng, là nương với
danh ngôn, chấp trước theo danh ngôn mà gây ra các thứ nghiệp.
Ví như người đang ở trong giấc mơ sanh tâm ưa thích hay chán
ghét mà tạo ra các nghiệp lành hay dữ.
(10)
Thọ báo. Tương ứng với tướng thứ sáu trong lục thô tướng
(Luận Khởi tín): nghiệp hệ khổ tướng, là nương với nghiệp
mà chịu quả báo, không được tự tại. Ví như người đang
nằm mộng thấy lãnh thọ đủ mọi thứ quả báo.
Trên
đây trình bày mười bậc trong quá trình mê vọng theo nghĩa
tương quan tương sanh, nên chúng tuồng như có thứ lớp tuần
tự. Kỳ thật, tất cả chúng đều đồng thời sanh khởi.
Một pháp vừa động tức khắc tất cả pháp đều động.
Mười bậc tác dụng giống như chuỗi xích mười hai khoen
Duyên khởi. Luân hồi sinh tử khổ đau là do quá trình mười
hai nhân duyên diễn biến theo chiều lưu chuyển, thuận dòng
vô minh. Ngược lại, theo chiều hoàn diệt là chiều đưa đến
giác ngộ giải thoát, đức Phật định hướng con đường
dẫn đến thoát ly sinh tử, bắt đầu từ sự tận diệt vô
minh, cội nguồn của tham ái, nên hành diệt. Do hành diệt
nên thức diệt.... Cuối cùng sinh diệt thời toàn bộ khổ
uẩn, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, đoạn diệt. Áp dụng
lối suy tư theo chiều nghịch của đức Phật Tông Mật đếm
xuống, thiết lập mười bậc trong quá trình ngộ chân, mỗi
bậc phiên chuyển bậc đối ứng trong quá trình mê vọng.
Mười bậc này liệt kê như sau:
(10)
Đốn ngộ. Ở bậc này gặp thiện tri thức chỉ cho đường
vào, một niệm hồi quang thấy được nhất chân tâm thể.
Bậc này phiên chuyển bậc Bất giác trong quá trình mê vọng.
(9X)
Phát tâm. Ở bậc này phát khởi tâm đại bi, trí siêu việt,
và đại nguyện, mong cầu giác ngộ tối thượng. Bậc này
phiên chuyển bậc Thọ báo trong quá trình mê vọng.
(8X)
Tu ngũ hành. Ngũ hành là năm môn tu hành kê trong Luận Khởi
tín: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, và chỉ quán.
Thật ra là pháp Lục độ nhưng hai Ba la mật cuối, Định
và Huệ, nhập làm một và gọi là Chỉ Quán. Bậc này phiên
chuyển bậc Tạo nghiệp trong quá trình mê vọng.
(7X)
Khai phát. Bậc này tiếp dẫn sự phát triển tâm đại bi,
trí siêu việt, và đại nguyện phát khởi ở bậc Phát tâm
và phiên chuyển bậc Phiền não trong quá trình mê vọng.
(6X)
Ngã không. Ở bậc này thân chứng tự ngã không có. Bậc này
phiên chuyển bậc Ngã chấp trong quá trình mê vọng.
(5X)
Pháp không. Ở bậc này thân chứng tất cả pháp không có
tự tánh. Bậc này phiên chuyển bậc Pháp chấp trong quá trình
mê vọng.
(4X)
Sắc tự tại. Ở bậc này thân chứng mọi pháp đều do tâm
tạo và định tự tại khởi sắc. Bậc này phiên chuyển bậc
Cảnh khởi trong quá trình mê vọng.
(3X)
Tâm tự tại. Ở bậc này thời tâm tự tại vô ngại. Bậc
này phiên chuyển bậc Kiến khởi trong quá trình mê vọng.
(2X)
Ly niệm. Ở bậc này hoàn toàn biết rõ cỗi gốc vọng tưởng
và thấy được chân tánh thường hằng của tâm thể. Đây
là bậc Cứu cánh giác nói trong Luận Khởi tín. Bậc này phiên
chuyển bậc Niệm khởi trong quá trình mê vọng.
(1)
Thành Phật. Ở bậc này trở về trạng thái uyên nguyên trong
sáng của tâm, chứng vì tánh giác là cái ly niệm tướng của
tâm thể nên rốt ráo không có sự phân biệt giữa các bậc
trong quá trình ngộ chân, tất cả bình đẳng và đồng với
Bản giác, là một và bất khả phân.
Khi
hoàn tất quá trình ngộ chân thành đạt Phật quả thời thấy
ngay quá trình này và quá trình mê vọng không rời nhau, không
song song và ngược chiều nhau. Thật ra chúng tạo thành một
vòng liên tục. Bậc cuối cùng của quá trình ngộ chân trở
lại nhập với Bản giác là bậc cơ sở xuất phát quá trình
mê vọng. Có thể hình dung toàn thể hai quá trình như một
vòng tròn trong đó Bản giác có pha 0 độ và Thành Phật pha
360 độ.
Các
bậc được biểu tượng bởi các vòng tròn nhỏ vẽ hình
các tuần 'trăng Phật tánh' tròn và khuyết trong đó phần
tô đen tương đối so với phần để trắng biểu diễn mức
độ tương đối của mê vọng so với ngộ chân. Những pha
trong khoảng từ 0 đến 180 độ gồm tất cả chín bậc trong
quá trình mê vọng từ Bất giác đến Thọ báo, tạo nên quá
trình mà Tông Mật gọi là quá trình thuận dòng sinh tử. Chính
trong pha Thọ báo của quá trình này mà cảm thọ được thân
người và do nghiệp lành của đời trước mà thành đạt
pha 180 độ khi được thiện tri thức chỉ đường phát ngộ
Chân tánh của tâm thể. Đây là địa vị mà Tông Mật gọi
là Giải ngộ (Đốn ngộ), một thể nghiệm phản tỉnh vọng
tâm, xoay chiều diễn tiến của quá trình trở lại với tâm
tánh bản nhiên mà Tông Mật gọi là quá trình nghịch dòng
sinh tử. Tám bậc trong quá trình ngộ chân, bắt đầu từ
Phát tâm cho đến cuối là Ly niệm, mô tả quá trình tiệm
tu do đó mới giác ngộ (Thỉ giác, nói trong Luận Khởi tín).
Hoàn thành viên mãn các đức tánh tốt thời Thành Phật tức
'chứng ngộ', chung điểm và khởi điểm gặp nhau, hoàn tất
một vòng lưu chuyển hoàn tịnh. Như thế là đồ biểu phương
trình tâm của Tông Mật đã được sắp xếp lại thành một
vòng kín.
Ngoài
ra, khi đạt quả vị Phật thời thấy rõ hết thảy mọi bậc
đều là dụng của Nhất tâm còn gọi là Pháp thân Như Lai
Tạng khi lìa các vọng niệm. Với tự tính thanh tịnh tuy bị
bọc kín trong võ phiền não, nhưng phiền não vốn không có
tự tính, không thực hữu, nên Như Lai tạng không hề chịu
ảnh hưởng tác động gì của phiền não ô nhiễm. Pháp thân
còn gọi là Giác, tất cả chúng sinh sẵn có, nên gọi là
Bản giác. Bản giác không những là một quả vị mà hơn nữa
là cơ sở căn bản của quá trình lưu chuyển hoàn tịnh, là
gốc, là tánh của tất cả các pha của quá trình, các pha
này xem như là ngọn, là tướng.
Nhìn
vào vòng biểu tượng quá trình lưu chuyển hoàn tịnh trên
đây và theo dõi sự biến thiên của phần tô đen trong mỗi
pha, tựa trên thí dụ sóng và nước trong Luận Khởi tín ta
có thể theo Tông Mật mô tả quan hệ giữa bản giác và các
pha khác trong quá trình ấy như sau. Mặt nước nguyên thủy
yên tĩnh phản chiếu rõ ràng tất cả vật thể (Bản giác)
bị gió vô minh (Bất giác) thổi động làm nổi sóng (quá
trình mê vọng). Dẫu gió đột nhiên ngưng (Giải ngộ) chuyển
động sóng lặng nhưng chỉ lặng dần (quá trình ngộ chân,
tiệm tu: Thỉ giác) cho đến khi không còn một chuyển động
nào và mặt nước yên tĩnh trở lại (Chứng ngộ). Tuy nhiên,
mặt nước dù yên tĩnh hay dao động, sóng dù lớn hay nhỏ,
tất cả đều là nước (Nhất tâm). Hơn nữa, các điều kiện
đang biến chuyển của mặt nước không ảnh hưởng đến
tự tánh phản chiếu của mặt nước (Bản giác).
Tánh
khởi và Duyên khởi.
Phân
tích luận điệu của Tông Mật nhằm bài bác các phép hành
thiền không theo pháp môn Đốn ngộ tiệm tu giúp ta nhận định
chính xác hơn ý nghĩa của Nhất thừa Hiển tánh giáo và thông
hiểu rõ thêm quan hệ giữa tu hành và giác ngộ, giữa giáo
lý của Phật và nội dung Thiền quán. Sau đây chỉ bàn đến
những lời chỉ trích hai phái Thiền thịnh hành vào thời
ấy: trường phái Bắc tông của Thần Tú và hệ phái Thiền
Hồng Châu của Mã Tổ Đạo Nhất.
Theo
Tông Mật, giáo pháp tu chứng của Bắc tông thuộc loại tiệm
tu đốn ngộ. Trong Viên giác kinh đại sớ sao và Lược sớ
sao, Tông Mật cho biết có hai cách giải thích trường hợp
này. Cách thứ nhất giả định trước giải ngộ sau tiệm
tu và như thế là theo đúng trình tự tu chứng ba bậc của
Tông Mật: giải ngộ, tiệm tu, và chứng ngộ. Cách thứ hai
không giả định giải ngộ và Tông Mật tựa trên cách này
để phê phán Thiền Bắc tông. Trong Thiền đồ Ngài mô tả
yếu lý của Thiền Bắc tông như sau: "Từ vô thỉ tất cả
chúng sinh sẵn có cái chân tâm bản giác giống như gương
soi, ánh chiếu, nhưng bị phiền não giấu che giống như gương
mờ bụi phủ. Nếu nương theo giáo pháp của chân sư và dẹp
bỏ vọng niệm thời khi dứt niệm sẽ ngộ ngay chân tánh
và không có gì là không biết. Giống như lau bụi, khi hết
bụi, gương sẽ trong sáng và không vật gì là không phản
chiếu trên gương. Do đó Thần Tú, sáng tổ của tông này,
biên bài kệ nơi vách bày rõ chỗ thấy của mình với Ngũ
Tổ. Kệ rằng:
Thân
ấy Bồ đề thọ,
Tâm
như minh cảnh đài,
Giờ
giờ cần phải sạch,
Chớ
để vướng trần ai."
Tiếp
theo là những lời phê bình: "Đây chỉ là phép lội ngược
dòng và đối đầu với thói quen, tựa trên tướng nhiễm
tịnh duyên khởi, mà không nhận rõ tự tánh vọng niệm vốn
không và tự tánh tâm thể là thanh tịnh. Nếu ngộ chưa thấu
triệt thời làm sao tu đúng chánh đạo?"
Hai
đoạn trích dẫn trên cho thấy phê bình của Tông Mật nhắm
vào quan điểm Như Lai tạng của Thiền Bắc tông. Tuy giáo
thuyết của Thiền Bắc tông căn cứ trên quan niệm Như Lai
là Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng sinh bị bao bọc trong
vỏ trứng vô minh, nhưng ý nghĩa Như Lai tạng hiểu theo Bắc
tông khác với cách hiểu theo Tông Mật. Trong Thiền tự, Ngài
cho rằng giáo thuyết của Thiền Bắc tông đồng với giáo
thuyết của Pháp tướng tông. Tông này bị chỉ trích là chủ
trương "sinh diệt đẳng pháp bất quan chân như", nghĩa là
nói theo ngôn ngữ của Luận Khởi tín, không bao giờ có thể
bắc cầu được giữa hố cách hai tâm của Tâm chúng sinh,
tâm Chân như và tâm sanh diệt, giữa Như Lai tạng và a lại
da thức. Chân như là viên thành thật, ngưng nhiên và bất
biến, a lại da thức là y tha khởi tức dựa vào pháp khác
mà khởi lên. Chân như là bản tánh, a lại da thức là tướng
của các pháp, tánh không thể đồng nhất với tướng. Như
thế, Pháp tướng tông công nhận chỉ nghĩa 'bất biến' mà
không biết đến nghĩa 'tùy duyên' của Nhất tâm. Nói cách
khác, tông này không nhận thấy rằng tâm Chân như không hoàn
toàn ngưng nhiên tĩnh tại mà trái lại tùy duyên sinh khởi
hiện tượng. Theo quan niệm này, tướng của các pháp là dụng
của 'Chân như động'. Đối với Tông Mật, nghĩa 'tùy duyên'
của Chân như tối quan trọng vì nó nối kết Như Lai tạng
với a lại da thức và do đó giải thích làm thế nào Chân
như tùy duyên trở thành nhiễm tịnh mà không mất tự thể.
Tông Mật dùng chữ 'tánh khởi' để chỉ vào Chân như tùy
duyên với đặc tánh năng sanh.
Theo
Tông Mật, giáo pháp Pháp tướng vì chẳng lý đến tánh khởi
đã lỗi lầm phân biệt nhị nguyên, ly cách a lại da thức
với Chân như, cảnh giới vọng động với cảnh giới thanh
tịnh. Tánh khởi kết nối bằng cách khẳng định mọi tướng
không gì khác là dụng của tánh, tánh là thể của các tướng.
Với mô thức thể-dụng làm khuôn khổ tư tưởng, Tông Mật
dùng thuyết tánh khởi vượt qua sự phân biệt nhị nguyên,
nối kết Chân như và a lại da thức. Do các mô thức lưỡng
cực, thể-dụng, tánh-tướng, gốc-ngọn, đồng như nhau nên
các từ chỉ vào cực này như thể, tánh, và gốc, hay chỉ
vào cực kia như dụng, tướng, và ngọn, tất cả đều có
thể dùng thay thế lẫn nhau. Hơn nữa, đẳng thức, 'thể-dụng'
= 'gốc-ngọn', cho biết ngay cực nào cơ bản hơn cực nào.
Cùng
một đường lối phê phán, Tông Mật bài bác phép tu của
Bắc tông nhằm dẹp bỏ nhiễm ô nhuốm dơ tâm thanh tịnh.
Phép tu này căn cứ trên nhận thức sai lầm, không thấy rõ
nhiễm ô tự tánh là Không. Không có tự tính vì chúng là
dụng của bản thể Chân như thanh tịnh tự biểu hiện tùy
theo duyên. Như vậy nhiễm mà chẳng phải nhiễm. Tánh nhiễm
thật ra là do sai lầm phân biệt nhị nguyên mà cho đó là
nhiễm. Nói cách khác, là do không thấu triệt bản tánh thanh
tịnh của Chân như là thể của nhiễm và nhiễm phát minh
bản tánh thanh tịnh đó.
Theo
Tông Mật, Bắc tông sở dĩ sai lầm phân biệt nhị nguyên
là vì không hay biết giải ngộ, quả vị đốn ngộ sơ khởi,
là cần thiết. Giải ngộ là đốn ngộ Phật và chúng sinh,
niết bàn và luân hồi không khác, từ đó suy ra "vọng niệm
bổn vô" vì vọng niệm là dụng của bản thể Chân tâm thanh
tịnh tùy duyên sinh khởi. Nói cách khác, giải ngộ là ngộ
được tánh khởi là nguyên lý vạn vật đồng nhất thể.
Có nghĩa là dù tướng dạng sai khác đến đâu, vạn vật
đồng nhau ở chỗ tự tánh của chúng là Không. Đây là đồng
nhất trong dị biệt. Như vậy thế giới hiện tượng, diệu
dụng của bản thể Chân tâm, là Không và do đó thật ra không
nhiễm.
Trong
Hoa nghiêm kinh Hạnh Nguyện Phẩm sớ sao, Tông Mật nối kết
tánh khởi với duyên khởi (pratītyasamutpāda) và nêu rõ quan
hệ giữa tánh khởi với hai quá trình mê vọng và ngộ chân.
Tánh khởi và duyên khởi là hai mô hình nguyên nhân khác nhau
đòi hỏi hai trình độ giải thích khác nhau. Duyên khởi giải
thích sự tương giao tương duyên giữa các hiện tượng và
tánh khởi giải thích sự sinh khởi hiện tượng từ thể
tánh. Bàn về duyên khởi, Tông Mật phân biệt hai cách: nhiễm
duyên khởi và tịnh duyên khởi. Hai cách này tương ứng với
hai quá trình song song mê vọng và ngộ chân trong đồ biểu
phương trình tâm của Tông Mật. Tiếp theo, Ngài phân biệt
thêm hai bậc mê vọng: vô thỉ căn bản và triển chuyển chi
mạt. Vô thỉ căn bản, sau này gọi là căn bản vô minh, chỉ
vào bất giác, còn có tên là độc đầu vô minh, độc hành
vô minh, hay bất cộng vô minh (avidyā-avenikī). Đây là vô minh
sinh khởi trước và không tùy thuộc phiền não, là gốc của
tám bậc cuối của quá trình mê vọng gọi là triển chuyển
chi mạt. Giải ngộ có công dụng phiên chuyển căn bản vô
minh. Một khi quá trình mê ngộ phát khởi thời nó tự động
tiếp diễn mãi mãi, vì vậy cần tu tiệm để phiên chuyển
các triển chuyển chi mạt của nó.
Vì
Bắc tông thiếu giải ngộ nên phép tu tiệm trên phương diện
phẩm chất khác với phép tiệm tu tiếp theo sau khi giải ngộ.
Tánh chẳng những là cỗi gốc của các hiện tượng mà còn
là cơ sở của sự tu tập. Tông Mật phán định phép tu hành
của Bắc tông là "phi chân", hàm ý rằng Thiên Bắc tông không
nhận biết bản thể của các hiện tượng. Trong Viên giác
kinh đại sớ sao, Ngài đặt câu hỏi: "Nếu tu mà không đúng
chánh đạo, thử hỏi làm sao có thể chứng ngộ dẫu trải
qua trăm ngàn kiếp?" Vậy khi nói về Thiền Bắc tông: "Đây
chỉ là phép lội ngược dòng và đối đầu với thói quen,
tựa trên tướng nhiễm tịnh duyên khởi", Ngài có ý chỉ
trích Bắc tông không thông hiểu tánh khởi.
Tông
Mật nhận xét phép hành thiền của Hồng Châu đối nghịch
với của Bắc tông. Đối với Bắc tông bất cứ sự loại
gì thảy đều là vọng thời đối với Hồng Châu thảy đều
là chân. Do đó cách tu đi ngược lại: trong lúc Bắc tông
chủ trương "phục tâm diệt vọng", thời Hồng Châu "tín nhậm
tình tánh", cứ tự nhiên theo tình tánh mà tu. Thể dụng sai
biệt đối với Bắc tông, nhưng đồng nhất đối với Hồng
Châu. Trong Thiền đồ, Tông Mật mô tả yếu chỉ của Thiền
Hồng Châu như sau: "Sự sinh khởi những hoạt động tâm thức,
sự biến chuyển tư tưởng, cho đến búng tay hay nháy mắt,
hết thảy động dụng thi vi đều là dụng của tánh Phật.
Vì không có dụng khác ngoài của tánh Phật, tham sân phiền
não, tạo nghiệp thiện vầ bất thiện, thọ quả lạc và
khổ, thảy đều tánh Phật."
Vì
mọi hoạt động đều là dụng của tánh Phật cho nên không
có tánh ngoài dụng. "Nếu quán triệt tánh tất thấy chung
cánh không thể nhận thức hay chứng ngộ tánh được, cũng
như mắt không thể tự thấy mắt được, v.v... Nếu quan tâm
đến dụng của tánh thời những gì được làm đều là tánh
Phật, ngoài ra không có chủ thể hay đối tượng chứng ngộ."
(Thiền đồ, 435d17-18)
Theo
Tông Mật, phép hành thiền theo lối này rất nguy hiểm. Nếu
chỉ nhờ dụng mà nhận biết thể, và hơn nữa, mọi sự
vật đều toàn là dụng của thể, thời thể hoàn toàn bị
dụng che lấp. Tông Mật nhấn mạnh tuy thể và dụng là hai
mặt của cùng một thực tại, chúng vẫn dị biệt và tánh
dị biệt này rất quan trọng vì thể là gốc, là nguồn phát
khởi tác dụng đạo đức. Đồng hóa mô thức thể-dụng
với mô thức gốc-ngọn tức quan niệm tu hành như một sự
trở về tâm thể trước tâm dụng, trở về trạng thái cơ
bản của tâm trước khi thức chuyển. Phải thông qua kinh nghiệm
trực tiếp nhận thức tánh bằng trực giác mới biết dụng
của thể là chân.
Tông
Mật cho rằng Thiền Hồng Châu chủ trương "chớ dụng tâm
để dứt trừ tà ma, chớ tu hành đạo. Vì đạo chính là
tâm nên không thể dụng tâm để tu tâm. Vì tà ma cũng là
tâm nên không thể dụng tâm để dứt trừ tâm. Người không
dứt trừ không hành nhưng mà tự tại thừa nhận sự vật
trong cách thế chúng đang là gọi là người được giải thoát.
Không có pháp để nương hay Bồ đề để đắc.... Tu hành
là chỉ giản dị để tâm tác dụng tự nhiên." (Thiền đồ,
436a4-9)
Tông
Mật hẳn đồng ý với phát biểu của Hồng Châu bảo rằng
không có Bồ đề để đắc, tuy nhiên Ngài nhấn mạnh một
chứng tri như vậy chính ở tại Bồ đề và phát biểu như
trên chỉ có ý nghĩa trên quan điểm của một người đã
đắc Bồ đề. Thật là lầm lỗi lớn khi chưa đắc Bồ đề
mà kết luận dễ dàng rằng không có lý do cần tu học cầu
quả Bồ đề. Tuy chung cánh tánh vượt lên trên mọi nhị
nguyên nhưng đối với chúng sinh vẫn có sai biệt giữa ngộ
và mê. Chính sự căng thẳng giữa ngộ và mê là nguồn sinh
lực của sự tu hành.
"Hồng
Châu thường nói, 'vì tham sân phiền não, tạo nghiệp thiện
và bất thiện, thọ quả lạc và khổ, thảy đều tánh Phật
thời làm thế nào có sai biệt giữa những điều đó?' Giống
như người thấy trong tánh ướt (của nước) chẳng bao giờ
có sự sai biệt nên không nhận ra sai khác to lớn giữa sự
thành công của một chiếc thuyền băng qua sông và sự thất
bại của một chiếc thuyền lật úp chìm trong nước. Bởi
thế về đường lối tham thiền đốn ngộ của dòng này,
dẫu tuồng như thành tựu cũng vẫn không đạt được mục
tiêu, và về đường lối tu tiệm thời lỗi lầm và hoàn
toàn thoái hóa." (Thiền đồ, 438a18-b4)
Những
lời phê bình dòng Thiền Hồng Châu cho thấy rõ cách Tông
Mật sử dụng mô thức thể-dụng thật không đơn giản. Trong
khi nêu rõ tánh bất tương ly của thể và dụng, hai mặt khác
nhau của cùng môt thực tại, Ngài đồng thời nhấn mạnh
tánh sai biệt, thể dụng phi nhất phi dị, như trường hợp
cái tâm thể không sanh diệt hợp với cái tâm mê vọng. Tánh
bất tương ly của tâm thể và vọng tưởng là nguyên nhân
khả năng tu hành và tánh sai biệt của chúng là lý do cần
thiết tu hành. Sử dụng mô thức thể-dụng như thế, Tông
Mật bảo toàn được tánh nhị nguyên có tác dụng đạo đức
trong 'nhất pháp giới', toàn tánh của vũ trụ. Do đó, mô
thức thể-dụng một mặt vượt khỏi chủ trương nhị nguyên
của Bắc tông, mặt khác, tránh không rơi vào kiến giải nhất
nguyên cực đoan của Hồng Châu.
Tông
Mật dùng gương đồng làm thí dụ mô tả sự khác biệt giữa
giáo pháp Hồng Châu và Nhất thừa Hiển tánh giáo do Ngài
chủ trương và xem như đồng với giáo pháp của dòng Thiền
Hà Trạch do Thần Hội sáng lập. Theo Ngài, tác dụng của
gương có hai nghĩa: tự tính bản dụng và tùy duyên ứng dụng.
"Chất
liệu đồng của gương là thể của tự tánh, tánh sáng của
đồng là dụng của tự tánh. Ảnh do tánh sáng phản chiếu
là tùy duyên ứng dụng. Ảnh phản chiếu tùy theo duyên mà
biến thiên muôn ngàn cách, nhưng tánh sáng là tự tính bản
dụng không thiên biến." (Thiền đồ, 437d5-7)
Tự
tính bản dụng đồng nghĩa với bản giác. Tùy duyên ứng
dụng tương ứng với tác dụng của thân tâm hay ba nghiệp,
thân, khẩu, ý. Quan hệ giữa hai dụng ấy có thể dùng mô
thức thể-dụng hay gốc-ngọn để diễn tả. Tự tính bản
dụng là thể, là gốc của tùy duyên ứng dụng. Tông Mật
cho rằng Hồng Châu chỉ quan tâm tùy duyên ứng dụng mà bỏ
quên tự tính bản dụng. Bởi thế cách thực hành thiền của
dòng này thiếu cơ sở y cứ, có thể xoay theo chiều vọng
động vị ngã. Một lần nữa, Tông Mật nhấn mạnh sự sai
biệt giữa thể và dụng, giữa gốc và ngọn. Bằng cách đặt
trọng tâm vào tự tính bản dụng, Tông Mật đã công hiệu
đóng một cái nêm giữa thể và dụng, ngăn chúng không giáp
thành một để khỏi rơi vào trường hợp giáo pháp nhất
nguyên cực đoan của dòng Thiền Hồng Châu.
Tóm
lại, Tông Mật phân tích kỹ càng hết thảy mọi cảnh huống
trong đó hai từ đốn và tiệm được sử dụng. Theo nghĩa
rộng, lưỡng cực đốn-tiệm là một phần của một biện
chứng pháp rộng lớn trong Phật giáo. Đạo Phật là đạo
Giác ngộ, trọng tâm là tu dưỡng trí thức, cho nên thiết
lập một bản đồ tu chứng để giải thích và hướng dẫn
tiến trình tu tập là điều cần thiết. Bản đồ tu chứng
phải tựa trên sự thấu đạt cấu trúc bản thể của thực
tại, nền móng của quá trình tu hành. Tông Mật đã nương
trên chân tâm bản giác mọi chúng sinh đều có thiết lập
thuyết tu theo trình tự ba bậc: giải ngộ, tiệm tu, và chứng
ngộ. Ngài đã đặt kinh nghiệm nội chứng vào trong khuôn
khổ của mô thức thể-dụng để diễn tả.
Đó
là điều phái Đốn giáo phản đối kịch liệt. Một sự
kiện như giác ngộ, về trí giải, thoát ngoài mọi thể cách
mô tả, mà chỉ có thể nắm lấy bằng trực giác, xuyên qua
sự tự chứng cá nhân. Mọi ngôn thuyết về giác ngộ được
xem như áp đặt cấu trúc trên thể nghiệm, trên tự chứng.
Đối với Đốn giáo, mọi phương tiện như bản đồ tu chứng
đều là cạm bẫy khái niệm phải loại trừ. Tông Mật ngược
lại, khi giải thích thể và dụng của ngôn ngữ tôn giáo,
xác quyết Nhất thừa Hiển tánh giáo của Ngài đồng với
giáo pháp Hà Trạch, trực hiển chân nguyên chỉ dùng duy nhất
một chữ. Vì trực hiển chân nguyên không sử dụng phương
tiện nên gọi là đốn và chữ duy nhất sử dụng chính là
chữ "tri" (biết) được Thần Hội xác nhận "đặc tính duy
nhất của 'tri' là căn nguyên của mọi lẽ huyền diệu". Như
vậy, đốn giáo là giáo pháp dẫn khởi khả năng thể nghiệm
đốn ngộ. Do đó, 'đốn' có nghĩa là khả năng dùng ngôn
ngữ khẳng định để hiển bày chân lý.
Để
kết luận, xét theo tinh thần Trung đạo của Phật giáo, cả
hai phương pháp, đốn và tiệm, đều cần thiết cho sự thăng
bằng trong tiến trình tu hành. Quan hệ căng thẳng giữa hai
phương pháp là động cơ thúc đẩy và chi trì công phu tu tập.
Vấn đề là phải tìm cách nhất trí hai phương pháp hầu
tránh khỏi các chướng ngại do nhận thức sai lầm gây nên.
Nói như thế tức là đã công nhận thuyết ba bậc của Tông
Mật rất có lợi ích.