TRANH
LUẬN GIÁO NGHĨA
Trong
Tiểu Thừa Bộ Phái
by
E. Conze
Dịch
Việt: Hạnh Viên
Vì
phương pháp cầu giải thoát của Phật giáo chủ yếu là trí
năng, nó đòi hỏi những vần đề thể tính học sớm giữ
vị trí chủ đạo. Vô minh, nguồn gốc của mọi bất thiện
và đau khổ, phải được khắc phục bởi chân tri kiến, là
cội nguồn duy nhất đáng tin cậy của sự giải thoát trường
cửu. Mọi sự do đó tùy thuộc việc phân biệt được những
đối tượng do vô minh hư cấu với những đối tượng thực
hữu do liễu tri. Phân ranh chính xác giữa hai loại đối tượng
này tất sẽ gây nhiều tranh biện. Biểu đồ sau (A) cho thấy
các đề mục những tranh luận này nhắm đến.
Như
chúng ta đã biết, không có nhà tư tưởng Phật giáo nào lại
hoài nghi rằng sự xuất hiện của các đối tượng tục thức
ở đâu cũng mang đầy ảo tưởng và thiên kiến. Thế nhưng,
khi đã thừa nhận điều này, thì quan trọng hơn hết là quyết
định xem cái gì thật sự hiện hữu, hay nói theo thuật ngữ
Phật học, cái gì có thể được coi như một ‘dharma’,
một khách thể thực hữu.
Về
phương diện lịch sử, sự phân hóa đầu tiên về quan điểm
là giữa những người cho rằng chỉ có hiện tại là thực
hữu, và những người khẳng định cả quá khứ lẫn vị
lai cũng thực như hiện tại. Hơn nữa, Hư không và Niết bàn
là hai pháp thường được xem là vô vi. Thế nhưng có một
số trường phái không tin rằng hư không là thực hữu hay
vô vi. Mặt khác, trong khi dường như không có ai tranh luận
về bản chất vô vi của Niết bàn, họ lại không đồng thuận
nên quy định nó thuộc loại thực tại nào. Một số cho rằng
nó hoàn toàn không, phía đối lập cực đoan lại khẳng định
chỉ có nó mới đáng cho là thực hữu. Phát triển thứ ba
dẫn đến một học thuyết được uốn nắn lại hoàn chỉnh.
Đặc tính chân lý của hết thảy các pháp, cả hữu vi lẫn
vô vi, đều bị nghi ngờ trên nền tảng rằng, như các pháp
thuộc thế giới tục thức, chúng chỉ tiêu biểu cho chân
lý qui ước. Xu hướng này đã khởi đầu với Đại chúng
bộ, xác nhận rằng vạn vật, cái ngẫu nhiên cũng như cái
Tuyệt đối, đều là giả lập, thuần quan niệm, thuần hý
luận, không có tự thể riêng. Toàn bộ các ‘pháp’ giả
lập này như vậy trái ngược với một ‘pháp giới’ hay
‘pháp tánh’, xa hơn vốn đồng nhất với Tánh không toàn
diện là nơi vạn pháp quy về. Và thứ tư, là vấn đề ‘Ngã
thể’.
1.
Vị trí của “Tự ngã”
Trong
các giáo nghĩa của đạo Phật, không cái nào gây ra nhiều
tranh luận và hiểu lầm hơn lý thuyết Vô ngã, chủ trương
không thể có một ‘tự ngã’ ở bất cứ đâu. Triển vọng
hoàn toàn diệt ngã, mà các Phật giáo đồ chân chính mong
mỏi, đối với nhiều người học Pháp (Dharma) có vẻ trống
trải và khô khan đến mức họ phải tưởng tượng ra một
cái ‘thực ngã’ mà, như họ nói, sẽ được nhận chân
bằng sự tiêu diệt cái ngã giả hiệu, thường nghiệm. Lý
giải sai lầm này đã chứng tỏ khá phổ thông ở châu Âu[1]
đến nỗi người ta dễ bị lôi cuốn xem đó hoặc như một
cách diễn tả mối quan tâm đặc trưng của người Âu châu
hiện đại về ‘cá thể’ và ‘ngã thể’, hoặc như một
tàn dư của đức tin Cơ đốc về một ‘linh hồn’ bất
tử. Trên thực tế điều này không chỉ giới hạn trong những
tín đồ Âu châu Cơ đốc hay từng theo Cơ đốc. Ở khắp
nơi, ngay cả Ấn độ, đều đồng vọng tiếng thì thầm của
một Adam không tội lỗi khi đối diện trước những viễn
cảnh xán lạn của tư tưởng Phật giáo. Hai thế kỷ sau Phật
Niết bàn, Thuyết ngã bộ (Pudgalavāda) bắt đầu thành hình.
Các
Phật giáo đồ chính thống đều đồng ý chỉ các sự kiện
phi ngã mới thực hữu. Ngã thể là một biểu hiện của sai
lầm và khái niệm về ‘tự ngã’ không tồn tại trong bất
cứ hình thái nào, và ở nơi nào được quan niệm là thực
tại chân thực ở nơi đó không xuất hiện khái niệm về
ngã. Thuyết ngã bộ như chúng ta sẽ gọi sau đây, đã gây
ra sóng gió với quan niệm rằng, bên cạnh các pháp phi cá
ngã, vẫn có một Ngã thể cần được biết đến. Họ cố
tình thách thức giáo nghĩa cơ bản của hết thảy các nhà
học Phật khác. Các động cơ của họ cũng dễ hiểu, vì
phản ứng của họ cũng giống của mọi người lần đầu
tiên nghe nói đến lý thuyết về pháp.
Vị
trí của các nhà Hữu ngã trong Tăng già (Samgha) khá mơ hồ.
Theo thứ tự họ vẫn được tính đến trong mười tám bộ
phái, và cả những người phản đối họ cũng chấp nhận,
dù miễn cưỡng[2], rằng họ thuộc về Phật giáo và cũng
có khả năng chứng đắc giải thoát. Không như những người
Bà la môn hay Kỳ na giáo, họ không hoàn toàn là những kẻ
‘ngoại đạo’ (tīrthika) từ đầu đến chân. Họ được
kể như những ‘ngoại đạo trong hàng ngũ (Phật giáo)’[3],
hay những kẻ ‘dị giáo’ như chúng ta (người phương Tây)
thường gọi. Như cái gai trong mắt của các tông phái khác,
họ là mục tiêu tấn công của những trận luận chiến trường
kỳ[4].
Phái
hữu ngã cũng thừa nhận thẩm quyền của các thánh điển
Phật giáo, dù họ có quan điểm riêng của họ về cái gì
là tự thể của ‘Phật-thuyết’. Thánh điển của họ có
lẽ được tụng đọc bằng tiếng Apabhraṃśa (phương ngữ
bình dân), ngắn hơn độ một phần ba so với Thánh điển
các bộ phái khác. Thế Thân ghi nhận rằng họ đã phủ nhận
thẩm quyền của một số kinh điển mà ông dùng để phản
bác họ[5]. Tổ chức tự viện của họ cũng tương tự các
tông phái khác, chỉ khác vài tiểu tiết trong y phục và tập
quán. Về số lượng có lúc dường như họ từng là một
thành phần đông đảo trong cộng đồng Phật giáo. Vào thế
kỷ thứ bảy Huyền Trang đã tính có đến 66.000 tăng sĩ thuộc
bộ phái này, trong tổng số 254.000 người trên toàn đất
Ấn. Có thể họ là những huynh đệ yếu kém, nhưng chắc
chắn là họ rất đông.
Các
nhà Hữu ngã thuộc về hai phái chính và năm chi phái. Quan
hệ hình thành đó được trình bày qua biểu đồ (B)
sau:
Độc
tử bộ, là gọi theo tên của vị tăng sáng lập bộ phái
(Vatsīputra). Theo Chân Đế (Paramārtha), Vatsīputra là đệ tử
của ngài Xá-lợi-phất (Śāriputra), và Luận tạng của họ
được gọi là Śāriputra-abhidharma. Nếu điều này đúng, có
lẽ Vatsīputra là một trong những đệ tử đã chuyển sang
vị trí hoàn toàn chống lại quan điểm của thầy họ. Có
nhiều cách giải thích cái tên gọi Sammītya, nhưng tôi thích
dùng cách của Bareau hơn[6]. Họ, cùng với ba chi phái kia của
Độc tử bộ, không đồng ý với nhau về quan niệm giải
thoát của A-la-hán; nhưng chúng ta không thể nói điều gì
đã khiến họ phân hóa.
Tài
liệu của các bộ phái này hầu như đã thất lạc hoàn toàn.
Vỏn vẹn chỉ còn ba tác phẩm ngắn: một luận thư tóm tắt
về tỳ-ni tạng, tồn tại qua bản dịch Hán ngữ (T. 1461:
Luật nhị thập minh liễu luận.- ND); một nguyên bản A-tỳ-đàm
mà Giáo sư Tucci đã phát hiện trong một bản viết tay trên
lá bối ở Tây Tạng[7]; và một luận điển ngắn được
gọi là Sammītya-nikāya-śāstra, bênh vực quan điểm đặc thù
của họ, tồn tại qua bản dịch Hán (T. 1649: Tam-di-để bộ
luận.- ND), gần như không thể dịch lại. Vì có quá nhiều
diễn giải khác của những ý kiến thiểu số, để xử lý
hầu hết các thông tin chúng ta có về họ, chúng ta cần phải
dựa vào chứng cứ của các đối thủ của họ. Dù các nguồn
tài liệu của chúng ta rất hạn chế và thứ yếu, nó vẫn
cho thấy các nhà Hữu ngã đã phát triển một lập trường
khá vững chắc và dễ hiểu của riêng họ.
Cho
rằng các thuyết Hữu ngã hoàn toàn mâu thuẫn với lời dạy
của đức Phật là không hợp lý. Có thể Ngài đã chẳng
nói điều gì, có hay không có, về một vấn đề mà chỉ
mấy thế kỷ sau mới trở thành nhạy bén, khi mà lời dạy
của Ngài được một số người đồng nhất với lý thuyết
về pháp dưới hình thức ngoan cố nhất của nó. Bộ phái
Hữu ngã đại diện một phản ứng chống lại tính triệt
để giáo điều mà các nhà A-tì-đàm đã dùng để theo đuổi
các khuynh hướng loại trừ ngã thể của họ.
Ý
nghĩa của từ Pudgala (Bố-đặc-già-la, nhân, ngã, con người,
cái tôi) được đề cập trong các kinh điển rất rõ ràng
và không thể bàn cãi. Chẳng hạn như, phái Hữu ngã hay dẫn
trích đoạn sau: ‘Một con người (eka-pudgala), khi được sinh
ra đời là đản sanh vì hạnh phúc của số đông. Con người
độc nhất đó là ai? Đó chính là Như Lai’[8]. Hay: ‘Sau
nhiều nhất là bảy lần tái sinh, một cá ngã chấm dứt đau
khổ, trở thành người đoạn tận mọi thứ ràng buộc’[9].
Cả trong A-tỳ-đàm tám thánh vị thường được hiểu như
là ‘tám nhân cách’ (pudgala). Một tầm quan trọng đặc biệt
đã được gán cho Kinh Gánh Nặng, cũng là bản kinh được
ưa chuộng của những người cố gắng phục hồi quan điểm
hữu ngã trong thời gian gần đây. ‘Ta sẽ giảng cho các ông
về gánh nặng, sự mang nó, sự cất bỏ nó, và người mang
nó (bhāra-hāram, người gánh gánh nặng). Năm uẩn (là các
loại) chấp thủ là gánh nặng. Khát ái cất nó lên. Diệt
khát ái là cất bỏ nó. Người gánh gánh nặng là cá thể:
bậc đáng kính trọng (ứng cúng) này, với cái tên như thế,
được sinh ra như thế, thuộc dòng dõi như thế, trưởng dưỡng
bằng thức ăn như thế, trải qua khổ đau và lạc thú như
thế, trường thọ như thế, thường trú nơi này lâu mau như
thế, kết thúc thọ mạng như thế.’[10] Độc tử bộ có
thể khẳng định, phần nào hợp lý, rằng ở đây ngã thể
rõ ràng được phân biệt với năm uẩn. Bởi vì, nếu ngã
thể và các uẩn là một, thì gánh nặng tự gánh nó, là điều
phi lý.[11]
Các
giảng sư chính thống đã phải chấp nhận những đoạn văn
này, nhưng khẳng định chúng có ý nghĩa khác với điều đã
nói. ‘Con người’ được đề cập ở đây chỉ là một
định danh cho cái không thực hữu, chỉ vì đức Phật đã
tùy duyên theo quán lệ ngôn ngữ của một thế gian mê muội.
Vì ‘ngã’ chỉ là giả lập – thì con người là gì nếu
không có ngã làm trung tâm? Về mặt thuật ngữ, ‘con người’
được nói đến thuộc về qui ước, không phải là thực
tại rốt ráo (paramaṭṭha, thắng nghĩa), và nó có thể, như
cách nói biểu hiện, không thể được liễu tri, hay ‘nắm
bắt’ (upalabhyate, khả đắc), vì lý do hoàn toàn đơn giản
là ở đấy không có gì để nắm bắt như một thực tại.
Ngược lại, nguyên lý cơ bản của thuyết hữu ngã là tin
tưởng rằng ‘Ngã thể khả đắc (upalabhyate) như một
thực tại trong ý nghĩa rốt ráo (paramaṭṭhena), và nó có
thể trở thành một đối tượng thực chứng (sacchikaṭṭha)’.
Như
vậy pudgala này có những chức năng gì? Biểu đồ (C) sau đây
sơ lược các chức năng đó:
Cái
pudgala giả thiết này có nhiệm vụ như một loại thực thể
cung cấp nhân tố chung cho các tiến trình liên tục diễn ra
trong một cá thể tự đồng nhất (tự loại). Tuy nhiên, chúng
ta đừng quên rằng với Phật giáo, đời sống của một cá
thể vừa dài hơn vừa nhiều sự kiện hơn chúng ta vẫn thường
quan niệm. Thêm vào (1) các sự kiện diễn ra trong một đời
người, từ khi nằm nôi cho đến khi xuống mộ, nó còn (2)
kéo dài qua nhiều kiếp[12], và đó không chỉ là cái người
luân hồi trở lại không biết trong bao nhiêu lần tái sanh,
mà còn là (3) cùng một người ban đầu là phàm phu cho đến
cuối cùng hoàn toàn thay đổi do chứng đắc Niết bàn.
Trong
ba điều trên, mục ba và hai khiến các nhà lý thuyết Phật
giáo quan tâm hơn, mục một dành cho chúng ta trong hiện tại.
Riêng mục ba sẽ chiếm giữ vị trí hết sức trung tâm, vì
người đã chứng đắc Niết bàn, bậc Như Lai, là chân ngã
(pudgala par excellence), nguyên mẫu của tất thảy pudgala, và,
theo như Stcherbasky, Độc tử bộ muốn ‘chứng minh học thuyết
về một đức Phật siêu nhiên luôn tồn tại trên bình diện
triết lý’[13]. Với họ có lẽ điều quan trọng là nhấn
mạnh tính đồng nhất của người đã đạt giải thoát với
người đã từng tầm cầu giải thoát. Chính đức Phật, khi
nhớ lại các tiền kiếp của Ngài, đã phát biểu những lời
rất phù hợp với giải thích của thuyết hữu ngã. ‘Tôn
sư Sunetra (Diệu Nhãn) trong quá khứ này, Sunetra ấy chính là
Ta.’[14] Vì rằng mọi yếu tố tâm-sinh lý (các pháp sắc
tâm) đều đã thay đổi, chỉ có chính ngã thể mới có thể
chứng minh đức Phật và Sunetra là một. Cũng vậy khi đức
Thế tôn bảo, ‘trong quá khứ Ta đã từng hiện thân như
thế’, từ ‘Ta’ đó chỉ có thể là ngã[15].
Điều
này dẫn đến tiêu điểm tiếp theo. Đối với Độc tử bộ,
sự luân hồi xem ra khó lý giải nếu không có ngã thể. Khi
cái chết đến, cuộc sống chấm dứt cùng với tất cả dharmas
cấu thành một cá nhân, do đó nó không thể chuyển sang đời
kế tiếp. Nhưng ngã thể thì có thể, vì nó không chấm dứt.
Nó luân chuyển hiện hữu theo nghĩa từ bỏ các uẩn cũ để
‘tiếp lấy’ (upādāna), hay thủ, những cái mới. Như Thế
tôn đã nói, ‘Ta từ bỏ thân này và tiếp nhận hiện thân
khác’[16]. Nếu không có ngã thể, thì cái gì luân hồi? Cái
gì khác ngoài ngã thể để luân hồi? Nói chính sự Luân hồi
(Saṃsāra) luân chuyển là phi lý[17]. Khi chết một người
chuyển sang ‘hữu trung gian’ (trung hữu) là cái, mà sự sinh
là đột khởi (hóa sinh), để kết nối hai đời sống tiếp
theo nhau[18].
Hơn
nữa, trong mỗi cá nhân còn có một số nhân tố tồn tại
lâu hơn sát na biến diệt. Ký ức là một sự kiện, nhưng
làm sao một niệm sát-na vốn diệt ngay tức thì mà sau đó
có thể nhớ lại được, làm sao có thể ghi nhớ nó, làm
sao có thể nhận biết nó? ‘Nếu ngã không có thực thì ai
nhớ lại, ai nhận thức vạn vật, ai tụng đọc và thuộc
lòng kinh sách, ai trùng tuyên thánh điển?’ ‘Hẳn phải có
một “cái Tôi” để trải nghiệm và sau đó nhớ lại những
điều mình đã làm. Nếu không, làm sao một người có thể
nhớ lại những gì mình đã thực hiện?’[19] Lý do tương
tự cũng có thể được áp dụng cho các tác nghiệp cùng với
quả báo của chúng. Đó là cùng một người hành động trước,
sau đó gặt hái kết quả thưởng hay phạt. Nếu không sẽ
không có công lý trên thế gian, và động cơ chính để làm
việc thiện sẽ tiêu vong.
Lại
nữa, cần có một pudgala để cung ứng tác nhân cho các hoạt
động của một cá thể. Pudgala là cái nhìn thấy, mắt chỉ
là công cụ của nó[20]. Pudgala là cái nhận biết, chứ không
phải một sự nhận thức phi cá thể nào đó, như hầu hết
các nhà Phật học viện dẫn. Nếu không thế, làm sao đức
Thế tôn có thể là bậc nhất thiết trí? Nếu mọi hành vi
nhận thức chỉ có tính sát na, thì không thể có người biết
hết mọi sự. Một cá thể tính lưu tồn, mặt khác, còn đáp
ứng nền tảng khả hữu cho nhất thiết trí[21]. Nhận thức
trong trường hợp nào cũng bao hàm người nhậ thức, chủ
thể của hành động biết, và pudgala chính là chủ thể đó.
Cũng vậy, gọi là bị ràng buộc hay giải thoát, cái đó là
ngã thể, chứ không chỉ là ‘tâm’ phi cá ngã (citta).
Cuối
cùng, nếu không có các ngã thể, việc tu tập lòng từ bi
sẽ đổ vỡ[22]. Thiền định về lòng từ khuyến bảo chúng
ta quán tưởng trên công thức ‘nguyện hết thảy chúng sanh
đều an lạc’. Làm sao người ta có thể thương yêu một
khối kết nối các yếu tố phi cá ngã và không thực thể?
Các
lý lẽ này có lợi điểm là dễ hiểu. Dường như thuyết
hữu ngã chỉ lặp lại các quan niệm tầm thường mà thế
gian đã quen thuộc. Thiền quán lâu dài về Dharma sẽ, đa số
nhà Phật học tin như vậy, dễ dàng xua tan những biện bác
của họ xem ra hoàn toàn thiếu cơ sở trên bình diện cao hơn
về chiều sâu triết lý và sự hoàn thiện tâm linh. Chính
vì luận cứ của thuyết này không đóng góp gì đáng kể
cho việc giải thoát, hay việc xả ly thế gian cùng những phương
tiện của nó, chúng ta có thể hiểu vì sao nó đã không được
tiếp nhận nồng hậu.
Như
vậy, đâu là sự liên hệ giữa thuyết hữu ngã Phật giáo
với các quan điểm triết học khác về Tự ngã lưu hành ở
Ấn độ? Pudgala của họ hiển nhiên hoàn toàn khác với Purusha
(Skt: Puruṣa, thần ngã) của phái Sāṃkhya (Số luận) hay ātman
rất phổ biến của Vedānta. Cả hai cái ngã này đều vô hành
– purusha, hay thần ngã tự tại, chỉ là chứng nhân, kẻ
quán sát, và cả ātman lẫn purusha đều được đồng nhất
với thức, ở đây được liệt vào các uẩn, khác biệt với
pudgala. Đối với phái Số luận, tuyệt nhiên không phải pudgala,
mà là một ‘thân vi tế’ là ‘căn bản của sự tái sinh,
cũng như nguyên lý đồng nhất ngã thể trong các đời sống
khác nhau’[23]. Như Kamalaśīla đã nhận thấy, quan điểm hữu
ngã có liên quan mật thiết với đặc trưng lý luận của
những luận sư Nyāya (Chính lý phái). Cũng như Thuyết ngã
bộ (Pudgalavāda), phái Naiyāyika ‘định nghĩa ātman (hay pudgala)
như sau: 1) là tác giả các tác nghiệp khác nhau, tịnh và bất
tịnh; 2) là cái tiếp nhận kết quả, mong muốn và không mong
muốn, của những hành vi nó đã làm, và 3) là kẻ “thọ
dụng”, lang thang trong Saṃsāra, rủ bỏ các uẩn cũ và thọ
nhận cái mới’[24]. Cả hai trường phái đều đề xuất
các luận điểm như nhau, và cùng chung tâm tính như nhau. Có
mối quan tâm chung về một linh hồn thật hữu mà sự tồn
tại liên lĩ của nó tạo thành một tác giả thuần nhất
và một nền tảng cơ sở cho ký ức và nghiệp, diễn biến
thành vô số cá thể khác nhau, làm chủ thể cho các hành vi
nhận thức, giải thích tại sao một cá nhân này không biết
được tình cảm và tư tưởng của mọi cá nhân khác, từng
thời thọ nhận các thân, làm sao cho một người vẫn là người
ấy từ tuổi thơ cho đến tuổi già, và coi moksha (Skt. mokṣa,
giải thoát) không phải là sự tiêu diệt ngã mà chỉ là tiêu
diệt sự ràng buộc.[25] Ác cảm với những tư biện phiêu
diêu và cố gắng bảo vệ những dữ kiện tục thức là những
động cơ mạnh mẽ đằng sau loại lập luận như vậy.
Tuy
nhiên, là những Phật giáo đồ, các nhà Thuyết ngã bộ cảm
thấy bó buộc phải bảo tồn tinh hoa của học thuyết vô
ngã và những giáo huấn của Thế tôn về satkāyadṛṣṭi
(tát-ka-da kiến, hữu thân kiến) và viparyāsas (các đảo kiến).
Họ thận trọng xác định sự liên quan giữa ngã thể với
các uẩn sao cho ‘tà kiến ngã chấp’ bị loại trừ. Bởi
vì phần tiếp theo của luận điểm của họ là: ‘Ngã không
đồng với các uẩn, không nằm trong các uẩn, cũng không nằm
ngoài chúng.’+ Không thể đồng nhất nó với các uẩn, vì
nếu thế nó sẽ xuất hiện và biến diệt như các uẩn. Nó
không khác với các uẩn, vì nếu thế thì nó có thể hiện
hữu không cần có chúng, thêm nữa nó sẽ thường tồn mà
không có các thuộc tính, do đó, giống như hư không, không
thể có tác dụng. Vì công thức của họ là: ‘Ngã có thể
được quan niệm (giả thi thiết) trong tương liên với các
uẩn nào được chấp thọ nội tại trong thời điểm hiện
tại’.[26] Theo truyền thống phổ quát của Ấn độ, ví sự
Luân hồi như quá trình cháy, các nhà Phật học suy ra phương
trình sau: như lửa đối với chất đốt, con người đối
với các yếu tố tâm-sinh lý (upādānaskandha, thủ uẩn) cũng
vậy[27]. Theo các nhà hữu ngã, lửa như vậy không chỉ là
một chuỗi các tia cháy liên tục, mà là một thực thể, độc
lập, tự hữu, đốt cháy nhiên liệu, đúng như suy nghĩ phi
triết học bình dân vẫn quan niệm. Dù chỉ thấy được nó
trong tương quan với chất liệu mà nó đang đốt cháy, cũng
là nền tảng cho nó lớn mạnh, và không bao giờ tách lìa,
tuy thế bản thân nó có thực, không phải là một thứ giả
lập; nó có bản chất riêng, là nóng, có tác nghiệp, có một
nghiệp quả (kārya). Không chịu được các ‘vi tế' của
đối thủ[28], phái hữu ngã tuyên bố tự ngã cũng xuất hiện
thông qua các thọ uẩn, do đó câu hữu với chúng, không phải
như một vật biệt lập, mà là một thứ ‘nhất thể về
cơ cấu’.
Từ
góc độ hơi khác họ phân biệt có năm loại khả tri (jñeya).
Ba loại đầu là các pháp hữu vi, tức quá khứ, vị lai và
hiện tại; thứ tư là Vô vi; và thứ năm ‘Bất khả thuyết’[29]
hay chính là pudgala. Ngã thể không thể là hữu vi, vì như
vậy nó sẽ chỉ hiện hữu trong nhất thời, không thể thực
hiện chức năng là nền tảng lưu tồn của các pháp liên
tiếp biến diệt. Nó cũng không thể là vô vi, vì như vậy
là nó không tác dụng, không thể hành động gì cả. Pudgala
do đó thuộc phạm trù riêng biệt. Ngã thể là bất khả thuyết
trong bất cứ hành tướng (prakāra) nào. Chẳng hạn, ta không
thể xác định là Nó thường hằng hay vô thường, nhất thể
hay đa thù.[30] Một người là có thật, siêu nghiệm, thì Tự
ngã tất phải vi tế đến mức chỉ có chư Phật mới có
thể nhìn thấu suốt.
Như
vậy phái hữu ngã mong muốn chứng tỏ học thuyết của họ
không mâu thuẫn với các nguyên tắc chủ đạo trong giáo thuyết
của đức Phật. Họ còn khẳng định rằng tin vào một tự
ngã, theo như họ trình bày, không tác hại đến đời sống
tâm linh. Thông thường, ai tin vào cái ‘Tôi’ và ‘của tôi’
sẽ khởi tâm chấp trước thế gian mà y cho là của riêng
mình đó, và như thế sẽ cản ngại y đạt đến giải thoát.
Nhưng, theo họ, chỉ khi nào ta lầm tưởng cái không phải
là thực ngã là thực Ngã, ta mới cảm thấy yêu thích cái
ngã nhầm lẫn đó. Tuy nhiên, nếu ta nhìn thấy, như đức
Phật thấy, cái Ngã Bất biến chính là chân Ngã, thì tham
chấp do đó không phát sinh. Với bất cứ cái gì mà phàm phu
ngu muội đồng nhất là Ngã, tất cả cái đó thật ra chỉ
là một trong các uẩn, thuần tuý hư cấu và giả danh, không
phải là chân Ngã. ‘Coi cái không phải là tự ngã là tự
ngã là một sai lầm (đảo kiến); nhưng (đức Phật chưa từng
nói rằng) coi tự ngã là tự ngã là một sai lầm.’[31]
Vậy
là phái hữu ngã đã nêu ra đáp án chứng minh luận điểm
của họ hoàn toàn vô hại đối với nhân sinh quan Phật giáo.
Vấn đề còn lại là họ đã làm gì để phát triển nó.
Thức thân luận (Vijñānakāya)[32] của Nhất thiết hữu bộ
tranh biện: ‘dù pudgala có thật, nó không ích lợi gì cho
sự giải thoát, không thăng tiến lợi lạc, hay dharma, hay đời
sống phạm hạnh, không đưa đến thắng trí, giải thoát,
hay Niết bàn. Vì vô dụng, nên pudgala không thực hữu.’ Tuy
nhiên, công bằng thì chúng ta phải nói thêm là không phải
phái hữu ngã, mà những nhà A-tỳ-đàm đã mở đường đi
lệch sang những mệnh đề triết học không mang lại hiệu
quả cho tâm linh. Sự tồn tại lâu dài của phái hữu ngã
trong nhiều năm như thế, cũng như tình trạng đối địch
mà họ đã khơi dậy trong tăng lữ, dường như cho thấy họ
đã hoàn thành một vai trò hữu dụng. Họ đã chỉnh sửa
các sai lầm len vào học thuyết, từ ít nhất hai quan điểm:
1.
Rõ ràng là sai lầm của những đầu óc yếu kém khi phủ nhận
một cách máy móc sự hiện hữu của tự ngã. Vì các nhà
hữu ngã đã chỉ rõ, Kinh có nói ‘cho rằng ngã không hiện
hữu, như chân lý và trong thực tế (satyataḥ sthititaḥ; vì
chân thật, vì thường trú), là quan niệm sai lầm’[33]. Mọi
mệnh đề đều phải được xem xét cụ thể, trong bối cảnh
tranh luận, và trong mỗi trường hợp ta phải khảo sát điều
được hỏi, nhu cầu và trình độ lý trí của người hỏi,
cái gì có thể bị hiểu lầm, v.v... Trong mọi trường hợp,
ta phải tính đến tâm hướng từ bi của đức Phật, vì Ngài
thị hiện thế gian là để cứu độ chúng sanh, không phải
để lập thuyết. Ta phải phân biệt được sự phủ nhận
cá biệt, cho rằng không thể đồng nhất tự ngã với những
hạng mục đã xác định rõ ràng, như các uẩn, với sự phủ
nhận toàn diện, cho rằng ‘tự ngã không có thật’. Cái
sau là mệnh đề phổ quát về mặt lý thuyết,[34] chẳng ích
gì trong mọi hoàn cảnh ngoại trừ trong tranh luận triết học,
không giải đáp được những câu hỏi quan trọng, không xoá
bỏ được các hiểu lầm, và không giúp gì cho giải thoát
xa hơn. Không ngã chấp – điều thiết yếu cho cuộc sống
tu hành theo đường lối Phật giáo – hết sức rẻ tiền
khi nó trở thành mệnh đề triết lý khẳng định tự ngã
không tồn tại. Candrakīrti (Nguyệt Xứng) đã chỉ rõ[35],
nói là có tự ngã có thể hữu ích trong một số trường
hợp nhất định[36], trong các trường hợp khác thì nói không,
và các trường hợp khác nữa thì không có tự ngã cũng không
phi ngã. Nhưng tất cả những phát biểu này đều bị giới
hạn trong bối cảnh của chúng, ngoài đó ra chúng không có
giá trị. Trong bối cảnh tu tập giải thoát thì tuyệt đối
‘hiện hữu’ hay ‘không hiện hữu’ hoàn toàn vô dụng
lại dễ sai lạc. Trong thực tế, khi Đức Phật đối thoại
với ngoại đạo Vatsagotra, Ngài đã từ chối trả lời thẳng
vấn đề hiện hữu của tự ngã[37].
2.
Trên phương diện khác, việc tư biện một chiều của các
nhà A-tỳ-đàm tất phải sinh ra phản bác của chính nó. Mỗi
luận điểm một chiều đều phải, như Luận Ratnāvalī (T.
1656: Bảo hành vương chính luận, một tác phẩm của Long Thọ.
– ND) nhắc chúng ta, có lúc dẫn đến một phản luận thích
đáng, rằng cả hai (có hay không có ngã) đều không thể đúng.
Các luận sư A-tỳ-đàm, bằng khẳng định chỉ có từng dữ
kiện sát na riêng lẻ mới thực hữu, chủ trương các quá
trình dẫn đến loại trừ tất cả chất thể, và tán dương
phủ nhận sự thường tồn tương đối của các khách thể,
cũng như tính nhất thể tương đối của chúng. Lập trường
với vô số giả thuyết phụ trợ và không chắc thực này
tất yếu phải tạo ra phản ứng. Các triết gia Đại thừa
cũng không thoả mãn với quan điểm của Abhidharma như phái
hữu ngã, nhưng họ đã xây dựng một lập luận vững chắc
hơn. Như biểu đồ A cho thấy, Pudgala gần như tương đồng
với Chân như, hay Tánh không, của phái Trung quán. Pudgala có
liên quan với các uẩn như thế nào thì Chân như đối với
vạn pháp cũng vậy. Chân như, như Pudgala, không thể được
xác định bằng khái niệm (anirvacanīya).[38] Nhưng Trung quán
đi xa hơn, tin rằng cái gì siêu việt tư duy khái niệm thì
không thể coi nó là Ngã thể, vì làm thế là ta tìm cách xác
định cái không thể xác định. Dị biệt thứ hai là phái
hữu ngã chủ yếu thuộc Tiểu thừa giả định rằng, ngoài
pudgala bất khả thuyết, các pháp riêng biệt tồn tại như
những thực thể khả thuyết, trong khi các nhà Đại thừa
không thể tin sự tồn tại của các pháp với những thuộc
tính không chắc thực như những thứ Abhidharma đã công nhận.
Trong ý nghĩa nào đó thì phái hữu ngã là những người đi
trước không chỉ các nhà Trung quán, mà cả những nhà Duy
thức chủ trương ‘tàng thức’ có nhiều chức năng mà phái
hữu ngã đã gán cho pudgala. Thậm chí có vẻ như họ đã báo
hiệu giáo thuyết về một thức thứ bảy. Bởi lẽ, khi bị
truy vấn về quan năng nào để nhận biết ngã thể, họ đã
đồng ý là nó nằm ngoài phạm vi sáu thức truyền thống,
và quy năng lực tri giác đó cho thức đặc biệt thứ bảy[39].
Lô-gic
nội tại của giáo nghĩa căn bản về các ‘đảo kiến’
sẽ khiến ta tin rằng, cũng như tính Thường và Lạc của
Niết bàn ngược với tính vô thường và khổ của thế gian,
chân Ngã hẳn phải ngược với huyễn ngã. Điều đáng lưu
ý hơn hết là không hề có một đoạn nào trong kinh điển
xác định rõ ràng về sự hiện hữu của một thực Ngã như
vậy. Ở mức độ nào đó, sở dĩ học thuyết của phái Pudgalavada
bị phủ nhận toàn diện như thế có thể vì nó căn cứ trên
quan niệm sai lạc cơ bản về mục tiêu và chức năng của
triết học Phật giáo. Không quan tâm đến việc giải thích
các tướng trạng của chúng xuất hiện dưới mắt phàm phu,
nó được khuyến khích với xác tín rằng những tướng trạng
này không nên được giải thích kỹ đến mức bị triệt
tiêu, cùng với hạng phàm phu mà chúng đã đánh lừa. Thế
nhưng, dĩ nhiên, vì phái hữu ngã không thể biện minh cho họ,
chúng ta không thể đoan quyết là họ thực sự không biết
các nhu cầu và triển vọng của đời sống tinh thần cao cấp
hơn. Có lẽ các đối thủ của họ đã khéo phỉ báng họ,
và đôi khi tôi cảm thấy tội lỗi chủ yếu của họ là
hành động như đứa trẻ đã nói thẳng là đức vua không
mặc quần áo. Những người khác ai cũng biết việc như vậy,
nhưng giả lơ như không phải vậy.
Phải
thoát ly cách diễn giải về anattā thuần theo quan điểm Abhidharma
đã được nhiều bộ phận trong cộng đồng Phật giáo cảm
nhận như Thượng toạ bộ, Đại chúng bộ và Đại thừa,
và tôi không thấy cách nào để tránh kết luận rằng tính
chính thống của Thượng tọa bộ Nam phương và Nhất thiết
hữu bộ đã thu hẹp giáo nghĩa nguyên thủy để làm cho nó
phù hợp hơn một cách hợp lý. Nhu cầu thực tiễn và lý
thuyết cho giả định về một nhân tố thường tồn liên
quan đến những hoạt động của một ‘ngã thể’ quả thực
mạnh đến mức ngoài các nhà Thuyết ngã bộ, các bộ phái
khác cũng cảm thấy bắt buộc phải nói đến nó dù ngấm
ngầm, dưới hình thức được che đậy, vì từ ‘ngã’ vẫn
luôn là điều cấm kỵ. Không dễ gì nghiên cứu thấu đáo
những ‘tự ngã ngụy trang’ này, một phần vì ta có rất
ít tài liệu chính xác, một phần vì các khái niệm về chúng
tự nó rất mơ hồ.
Các
‘dòng tương tục’ cá thể (cf. Pháp và Vạn Pháp, tập san
12) thực hiện ít nhất hai chức năng của một ‘tự ngã’,
trong đó (1) mỗi dòng tương tục tục tồn tại biệt lập,
và (2) thường trực ở đó, tuy không ‘thường tồn’. Các
nhà Phật học bác bỏ một ‘tự ngã’ có vai trò như sợi
chỉ xuyên suốt xâu chuỗi ngọc trai. Chỉ có những hạt ngọc,
không có sợi chỉ nào xâu chúng lại. Nhưng đống ngọc trai
đó là một và như nhau vì chúng hoàn toàn liên tục, nghĩa
là mỗi hạt ngọc gắn liền với hạt trước và sau nó, không
có quãng cách. Thượng tọa bộ thấy rất ít lý do để diễn
giải tính đa thù và cá biệt của ‘chuỗi tương tục’
này mà có lẽ họ chỉ chấp nhận là một trong những thực
tế của cuộc sống. Nhưng họ lại rất chú ý việc chuỗi
sự kiện này, dù liên tục thay đổi các thành tố của nó,
vẫn thường xuyên hiện diện, và không có kẽ hở nào làm
gián đoạn dòng tương tục nhân-quả xuyên suốt chuỗi ngọc
không dây xâu, nhưng kết liền nhau cách mật thiết[40]. Nhằm
loại trừ dứt khoát tác dụng gây gián đoạn của những
khoảng trống như thế, Theravada đưa ra thuyết về một ‘dòng
sống liên tục’ (bhavaṅga: hữu phần)[41] thuộc tiềm thức*
và siêu vi tế. Ngay cả khi không có gì xảy ra trên tầng ý
thức, cái tiềm thức vẫn cung cấp tiến trình liên tục cần
có, vì tâm, nếu không trống trơn, không bao giờ ngưng hoạt
động dẫu trong thoáng chốc, mặc dù chìm vào tiềm thức.
Tương tự, Kinh lượng bộ (Sautrāntikas) chủ trương có ‘sự
hiện hữu liên tục của một thức cực vi tế’ (tế ý thức),
Đại chúng bộ (Mahāsanghika) cũng có một thức căn bản (mūla:
căn bản thức)[42] và tin rằng nghiệp thành thục trong tâm
tiềm thức là nơi tư tưởng không có đối tượng xác định[43].
Lòng
khao khát một cá thể tính thường tồn càng mạnh mẽ hơn
khi một chi phái khác, Thuyết chuyển bộ (Saṃkrāntika), chủ
trương các uẩn luân hồi từ đời này sang đời khác. Hay
như Hóa địa bộ (Mahīśāsaka) phân biệt có ba loại uẩn,
loại tức thời (sát-na uẩn), loại kéo dài trong một đời
(nhất kỳ uẩn), và loại tồn tại cho đến khi đoạn tận
luân hồi (cùng sinh tử uẩn). Những khái niệm như thế được
phác họa nhằm bức khỏi sự ràng buộc của Abhidharma, và
cố gắng thiết lập cái tương đương với một tự ngã không
chỉ do kinh nghiệm mà còn thực hữu. Chúng ta có nghe nói đến
‘nhất vị uẩn’ bao gồm các chủng tử tồn tại liên lĩ
từ xa xưa mà chưa hề thay đổi bản chất, và, đồng nhất
với thức vi tế (tế ý thức) liên tục tiếp diễn, nằm
trong căn nhân (mūla) của năm uẩn. Nói như vậy là có một
mắc xích được tôi luyện không chỉ giữa các đời sống
khác nhau của một ‘cá thể’ trong vòng Luân hồi, mà còn
giữa ‘tương tục tính’ hay ‘ngã thể’ từ vô thủy còn
ràng buộc trong Luân hồi cho đến khi giải thoát vào Niết
bàn. Thay vì tuyên xưng quan điểm trái ngược, các nhà Phật
học luôn bị lôi kéo về niềm tin có một ‘chân ngã’ hoạt
động như một phần tử thường tồn (dhātu) đằng sau ‘dòng
tương tục’ không ngừng biến đổi. Sautrāntika mặc nhiên
công nhận một ‘chủng tử’ bất hoại thuộc ‘thiện tánh’
sẽ dẫn đến Niết bàn, có từ vô thủy, không bao giờ thay
đổi bản chất, lưu tồn trong mọi đời sống của chúng
ta. Đó là ‘hạt giống giải thoát’ mà đức Phật đã nói
đến, “Ta thấy hạt giống giải thoát này cực kỳ nhỏ
nhiệm, như lớp vàng còn ẩn trong tầng đá khoáng sản”[44].
Như vậy là có một nhân tố bẩm sinh, không thể hủy hoại
và tuyệt đối thuần tịnh ở trong các quá trình biến chuyển
nhất thời, mang tính hiện tượng và bất tịnh. Cả hai bộ
phái Sautrāntika và Yogācārin đều xác nhận có một số thiện
pháp bản hữu không thể bị hoại; chúng lưu tồn dưới hình
thức các ‘chủng tử’ luôn nguyên vẹn trong dòng sống ‘tương
tục’, làm nền cho các thiện pháp mới phát sinh khi có đủ
điều kiện thích hợp.[45] Một người bình thường cũng có
trong mình tiềm năng sẽ thành một vị Phật, vì ‘dòng tương
tục’ (hay ‘ngã thể’) của y có hàm chứa āryadharma (Thánh
chủng), hay anāsrava-bīja (vô lậu chủng tử) vi tế và bất
hoại.[46] Tương tự, hết thảy các trường phái Phật học
đều lưu truyền về một loại tâm tính minh tịnh một cách
tự nhiên, hoàn toàn minh tịnh và tự nhiên, mà tự tính bản
lai vốn thanh tịnh, nhưng bị ô nhiễm bởi các phiền não
khách trần.[47] Trong khi phái Theravada giảm thiểu tầm quan
trọng của nó bằng cách giải thích nó như ‘tâm siêu thức’,[48]
các bộ phái khác lại đồng nhất nó với Pháp tánh, Chân
như, Pháp thân của Phật,[49] và các phái khác nữa thì gọi
là ‘Như lai tạng’.
Tất
cả những cấu trúc lý thuyết này là những cố gắng kết
hợp học thuyết ‘vô ngã’ với lòng tin gần như bản năng
về một ‘tự ngã’, hoặc duy nghiệm hoặc thực hữu. Đỉnh
cao của sự kết hợp cái không thể kết hợp này là những
khái niệm kỳ dị chẳng hạn như ‘tàng thức’ (ālaya-vijñāna)
của Vô Trước[50] và số ít nhà Du già hành tông, là cái
thực hiện mọi chức năng của một ‘tự ngã’ trong một
lý thuyết hầu như kiên quyết khẳng định không có ‘tự
ngã’.[51] ‘Tàng thức’ là một ví dụ điển hình của
việc ‘chơi với cả hai phe đang nghịch nhau’+. Đa số nhà
Phật học đã bác bỏ nó như một linh hồn được ngụy trang,[52]
hay gọi đó là ‘mũi tên bắn vào bóng đêm’. Như tự ngã,
nó hành xử chức năng chấp thủ:
“Thức
ādāna sâu xa vi tế
Trôi
chảy cùng các chủng tử của nó như bộc lưu
Ta
không nói điều này cho người ngu
Sợ
chúng tưởng đó là tự ngã.”[53]
Thức
này cung cấp nền tảng cơ sở cho các hoạt động của ‘dòng
tương tục’ trong một thời gian khá dài, và làm người chuyển
tải ‘tính di truyền tâm thức’. Trong vai trò đó nó giải
thích sự cố kết giữa các khoảnh khắc tương quan nhân quả
của một ‘dòng tương tục’, làm phát khởi ý niệm hư
vọng về một ‘cá thể tính’ hay ‘ngã thể’. Nó còn
là kho chứa mọi chủng tử sẽ thành quả báo trong tương
lai, bởi vì, đồng với truyền thống của Kinh lượng bộ,
thức này, còn được gọi là thức ‘hạt giống, căn bản’,
là nơi tàng trữ các chủng tử thiện lẫn ác để sinh ra
các chủng tử mới trong chuỗi tâm thức. Hơn nữa đó là
một loại ‘tự ngã Phật’, cơ sở tầm cầu Niết bàn của
chúng ta. Naturam expellas furca, tamen usque recurret.
Dịch
Việt: Hạnh Viên
[1]
ví dụ, các tác phẩm của, C. A. F. Rhys Davids: Gotama the Man
(1928), A Manual of Buddhism for Advanced Students (1932), Outlines of
Buddhism (1934), Jennings: The Vedantic Buddhism of the Buddha (1947) vv…
và vv… Những sai lầm của cách tiếp cận này đã được
H. von Glasenapp dẫn chứng một cách thuyết phục trong Vedanta
und Buddhismus. Ak. d. Wiss. u. d. Lit., Jahrg., 1950, số 11, pp. 1013-28.
[2]
xem AK vi 228, 273.
[3]
antaścaratīrthika, Bcv-p.455.
[4]
cf. HBI 673 n. Trong Kathāvatthu chương một, là chương dành cho
họ nhiều hơn cả (a), và Thế Thân (Vasubandhu) đã xây
dựng tác phẩm Abhidharmakosa của ông với chương 9 nhằm bác
bỏ dị thuyết này (b). Các học giả trong Giáo đoàn như các
nhà A-tỳ-đàm thuộc Hữu bộ (c), Long Thọ (Nāgārjuna/ d),
Vô Trước (Asaṅga/ e), Nguyệt Xứng (Candrakirti/ f), Tịch Thiên
(Śāntideva/ g) và Liên Hoa Giới (Kamalaśīla/ h) đã không ngừng
chỉ trích họ: (a) Points of Controversy, do S. Z. Aung và C. A. F.
Rhys Davids dịch, 1915; The Debates Commentary, do B. C. Law dịch,
1939. (b) Bản dịch AK ix 227-302; Th Stcherbatsky, The Soul Theory
of Buddhists, Bản tin của Viện Hàn lâm khoa học Nga, 1919, các
tr. 823-54, 937-58. Các trích đoạn trong BS 192-7. (c) Vijñānakāya,
II, Pudgalaskandhaka, bản dịch của Etudes Asiatiques, 1925, các
tr. 358-76. (d) Mpps 735-50. (e) Sūtrālamkāra viii 92-103. (f) Pras.
ch. ix, x, xviii. (g) Bcv ix 57 sq. (h) Ts ch. 7, bản dịch Đức ngữ
với các phân tích và chú giải giá trị của S. Schayer, RO
1934, các tr. 68-93.
[5]
AK ix 251.
[6]
tr. 121.
[7]
Sanghatrāta, Abhidharmasamuccayakārikā (A-tỳ-đạt-ma tập luận),
tờ 26-27. Do SOR xuất bản.
[8]
AK ix 259. AN i 22.
[9]
Chỉ quả vị Nhập lưu.
[10]
tóm lược kinh được trích dẫn trong Vyākhyā của Yasomitra
(AK ix 256). Đoạn tương tự trong SN iii 25, khác vài chi tiết,
nhưng khớp từng từ trong những cú nghĩa quyết định ở
đoạn cuối: bhārahāraḥ katamaḥ? pudgala iti syād vacanīyam
yo’sāv āyuṣmān evaṃ-nāma… evaṃ-gotra…
[11]
Theo quan điểm chính thống, uẩn nào diễn ra trước áp đặt
cái theo sau, do đó là gánh nặng mà cái sau phải mang lấy.
AK ix 257, Kamalaśīla RO viii 88-9. I.
[12]
Trong cách dụng ngữ Phật giáo, đây là nghĩa rộng căn bản
của từ pudgala. Một cá thể được gọi là một ‘người’
chừng nào y còn liên tục tái sanh trong đủ loại nơi chốn
khác nhau. Xem V, tr. 10 cht.
[13]
Nirvana, tr. 13 cht. 1
[14]
AK ix 271.
[15]
AK ix 253.
[16]
SN iv 60. AK ix 259-61.
[17]
AK ix 271.
[18]
upapāduka sattva (hóa sinh hữu tình). Kamalaśīla RO viii 87. AK
ix 258 sq. T. 1649 ch. 3.
[19]
Theo AK ix 273.
[20]
Cullaniddesa 234: cakkhuno puriso ālokati rūpagatāni.
[21]
AK ix 254.
[22]
Vijñānakāya EA 366-7.
[23]
S. Radhakrishnan, Indian Philosophy, II 284.
[24]
Ts-cy. 336
[25]
Liên quan đề tài, tham khảo tiểu luận của S. Radhakrishnan
về Nyāya, II 144-52.
+ Chủ
trương pudgala và các uẩn phi tức phi ly. – ND.
[26]Pratyutpanna-adhyātmika-upātta-skandhān
upādāya pudgalaḥ prajñapyate. AK ix 233.
[27]
Xem SN iv 399.
[28]
Pras. X, RO viii 41.
[29]
anabhilāpya, anirvacanīya, avācya, avaktavya.
[30]
Từ quan điểm Tây phương, có lẽ chúng ta không thoả mãn
nếu không được nói rõ đó là đa nhân cách hay một Nhất
thể đơn độc. Xu hướng chung của triết học Ấn độ không
như vậy, kể cả phái Sāmkhyas và Vaiśeṣikas cũng do dự về
đề tài tranh cãi này; xem Radhakrishnan II, các tr. 322, 190. Ngay
cả S. Schayer cũng có thể có lý khi nói (RO viii, tr. 71) ‘Pudgala
là siêu ngã thể mà chỉ trong tương quan với các thủ uẩn
mới được cá thể hoá thành một “ngã thể”.’ Và trong
Traité, tr. 738: Mais vous parlez d’un ātman universel (vyāpin), qu’il
faudrait aussi attribuer aux autres personnes.(Nhưng các ngài nói về
một tự ngã châu biến, mà còn quy gán nó cho những cá thể
khác.)
[31]
AK ix 252.
[32]
EA, các tr. 368-9, tham khảo chi tiết trong SN v 43.
[33]
AK ix 270.
[34]
vidhi, Kamalaśīla RO viii, tr. 91. ibid. tr. 93: Mīmāṃsa phân biệt
vidhi với anuvāda, nghĩa là câu ‘sắc không phải là ngã’
được nói trong bối cảnh liên quan tới một dị giáo cụ
thể, không phải là sự xác nhận về hiện hữu hay không
hiện hữu của ātman.
[35]
Pras. xviii 354-8.
[36]
Chống lại chủ nghĩa duy vật, phủ nhận tính liên tục của
karman và quả báo của nó, do đó làm mất đi nền tảng triết
học của đạo đức.
[37]
SN iv 400. Samyukta 34, 15. cf. AK ix 264-6.
[38]
Xem thêm ngũ pháp trong S 1465, chép lại một cách chính xác
danh mục phái hữu ngã.
[39]
Vijñānakāya, tr. 369. Nhưng trong AK ix 238 sq. thì không có nói
gì về thức thứ bảy. Ở đó pudgala được nhận thức bởi
sáu thức, thức nào cũng là gián tiếp (prativibhāyati). Nó
không phải là tri giác về sắc, v.v., mà cũng không phải khác.
[40]
Truyền thống Phật giáo giả định những kẽ hở như vậy
có ít nhất trong hai trường hợp: vô tưởng định và diệt
tận định.
[41]
E. Saratchandra, The Buddhist psychology of perception, 1958.
* Tuy
nhiên nó không bao giờ hoàn toàn vô thức, mà luôn kèm theo
một mức độ ý thức nào đó.
[42]
IC 237.
[43]
IC 243.
[44]
Trích AK-cy, tr. 644. mokṣa-bītam ahaṃ hy asya susūkṣmam upalakṣaye,
dhātu-pāṣāna-vivare nilīnam iva kāñcanam. Từ dhātu (giới)
trong câu này rất có thể đồng với nghĩa ‘lan tràn’, ‘tầng
nền’, hay ‘dòng dõi’ như trong Vibhāṣāprabhāvṛtti, v.
496.
[45]
Jaini, các tr. 246-7.
[46]
Xem Jaini, tr. 236.
[47]
Cùng có trong AN i 10. A i 5, P 121-2, v.v.; Samādhirājā xxii.
[48]
AN-cy I, tr. 60. Nhất thiết hữu bộ Bareau 147.
[49]
Jaini, tr. 249.
[50]
Nguồn tài liệu về A-lay-da thức Ms II 49-86, 3 sq. Hob. s.v. araya.
[51]
IC 253-4.
+ Tục
ngữ Anh, running with the hare and hunting with the hounds (vừa chạy
với thỏ vừa đi săn với chó). – ND.
[52]
BL ii 329, Suzuki St. 257.
[53]
Sandh. IIJ iii 1959, tr. 67, cht. 1.