GIỚI
THIỆU
PHẬT
GIÁO ĐẠI THỪA BỒ TÁT GIỚI
Thích
Thái Hòa
(tiếp
theo)
III.
NGUYÊN UỶ CỦA BỒ TÁT GIỚI
1-
Từ Phật Pháp Thân:
Bồ
tát giới có khởi điểm và truyền thừa từ đâu?
Theo
giới kinh Phạm Võng, thì Bồ tát giới có nguồn gốc từ
Đức Phật Tỳ Lô Xá Na. Nghĩa là từ Đức Phật nầy nói
ra và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được truyền và thọ từ
đó.
Như
Kinh nói: “Bấy giờ Đức Phật Tỳ Lô Xá Na đã vì Đại
chúng mà khai thị một cách tóm tắt, chỉ bằng đầu sợi
lông ở trong Pháp môn tâm địa, vì pháp môn ấy nhiều ví
như cát trăm ngàn sông Hằng không thể nói hết.
Pháp
môn tâm địa ấy, hết thảy chư phật trong thời quá khứ
đã nói, chư phật ở thời vị lai sẽ nói, chư phật ở thời
hiện tại đang nói, tất cả bồ tát trong ba đời đã học,
sẽ học và hiện đang học.
Tôi
đã trăm kiếp thực hành Pháp môn Tâm địa ấy, hiệu của
tôi là Lô Xá Na.
Hỡi
chư phật! Xin các Ngài hãy truyền đạt những điều tôi nói
ra, cho hết thảy chúng sanh, nhằm khai thị con đường Tâm
địa cho họ.
Bấy
giờ trên Tòa Sư Tử sáng chói rực rỡ của Thế giới Liên
Hoa Đài Tạng, Đức Phật Lô Xá Na phóng tỏa ra ánh sáng của
hào quang, gọi một ngàn Đức Phật Thích Ca hóa thân, trên
một ngàn cánh hoa mà bảo rằng:
Hỡi
quý Ngài! Xin hãy đem pháp môn Tâm địa của tôi mà đi truyền
đạt lại cho một trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca và tất
cả chúng sanh.
Hỡi
quý Ngài! Xin hãy nói tuần tự về pháp môn Tâm địa của
tôi ở trên.
Hỡi
quý Ngài! Xin các Ngài thọ và trì, đọc và tụng, nhất tâm
mà thực hành.” (Phạm Võng Kinh, tr 1003, Đại Chính 24).
Như
vậy, Đức Phật Tỳ Lô Xá Na là ai, mà Ngài là vị đầu
tiên trao truyền pháp môn Tâm địa tức là Bồ Tát Giới cho
hàng nghìn Đức Phật Thích Ca hóa thân và lại còn khuyến
khích một ngàn Đức Phật Thích Ca hóa thân ấy, lại tuần
tự trao truyền cho trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca hóa thân
khác và hết thảy chúng sanh?
Tỳ
Lô Xá Na hay Tỳ Lô Giá Na Phật là chuyển ngữ của Phạn
âm Vairocanabuddha.
Vairocana,
Hán dịch là “Biến nhất thế xứ”, nghĩa là có mặt khắp
cả mọi không gian và mọi thời gian, có khi cũng dịch là
“Tịnh mãn”, nghĩa là hoàn toàn thanh tịnh; hoặc “Quảng
bác nghiêm tịnh”, nghĩa là sự nghiêm tịnh cùng khắp; hoặc
“Quang minh biến chiếu”, nghĩa là ánh sáng soi chiếu khắp
hết thảy thời-không ; và cũng dịch là “Đại nhật”,
nghĩa là mặt trời soi chiếu vĩ đại.
Vậy,
Vairocanabuddha hay Đức Phật Tỳ Lô Giá Na là Đức Phật có
mặt khắp mọi thời-không; Đức Phật nghiêm tịnh cùng khắp,
Đức Phật mặt trời vĩ đại…
Đức
Phật nầy, hiện đang ngồi trên Tòa Sư Tử sáng chói rực
rỡ của thế giới “Liên hoa đài tạng”, một thế giới
theo lời Ngài Phổ Hiền thuật lại, ở trong Kinh Hoa Nghiêm
là rất nghiêm tịnh, được Đức Phật Tỳ Lô Xá Na tạo
nên, bởi vô số đại nguyện thanh tịnh, trải qua vô số
kiếp tu tập, gần gũi vô số đức Phật mà hình thành, và
hiện nay, Ngài là vị đang làm giáo chủ trên thế giới ấy.
(Hoa Nghiêm kinh, Phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Đại Chính 10).
Đức
Phật Tỳ Lô Xá Na cũng chính là bản thân hay Pháp thân của
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hay
ngàn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là thọ nhận thân của Đức
Phật Tỳ Lô Xá Na , và trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni là “Biến hóa thân” của Đức Phật Tỳ Lô Xá Na.
Nói
cách khác, ngàn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trên ngàn cánh hoa
sen, ở nơi thế giới “Liên hoa đài tạng”, hay trăm ngàn
ức Đức Phật Thích Ca đều là báo thân, ứng hóa thân của
Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, nghĩa là các đức Phật Thích Ca
ở trong mười phương đều ứng hóa từ Pháp thân của Phật.
Pháp
môn Tâm địa hay Bồ Tát giới, đã được Đức Phật Pháp
Thân tức là Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, nói tại “Liên hoa
đài tạng thế giới”, cho một ngàn Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni, ngồi trên một ngàn cánh hoa sen nghe. Và một ngàn Đức
Phật Thích Ca nầy đã vâng lời Đức Phật bản thân, để
truyền đạt pháp môn Tâm địa cho một trăm ngàn ức Đức
Phật Thích Ca hóa thân và hết thảy chúng sanh.
Tóm
lại, Pháp môn Tâm địa hay Bồ Tát Giới đã được Đức
Phật bản thân nói ra, từ nơi Bản Nguyên Tự Tánh Thanh Tịnh,
và đã được phụng hành, đọc tụng bởi các Đức Phật
Thích Ca hóa thân ở nơi mỗi thế giới mà các Ngài hiện
đang ứng thân để giáo hóa.
2-
Từ đức Phật hóa thân:
Bồ
Tát Giới mà có khởi điểm từ nơi Bản Nguyên Tự Tánh Thanh
Tịnh, được nói ra bởi Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, tại thế
giới “Liên hoa đài tạng”, đó là Bồ Tát Giới có tính
truyền thừa siêu không gian, siêu lịch sử.
Tính
nầy, những người không có đức tin Đại Thừa, không có
bản chất của Bậc Hiền trí và Hiền đức, thì họ không
dễ gì chấp nhận.
Tuy
nhiên, dù họ có chấp nhận hay không, điều đó chẳng có
gì quan trọng đối với sự thật tuyệt vời ấy.
Nhưng,
đối với mặt lịch sử, theo Phạm Võng giới kinh, thì
Bồ Tát Giới là do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói ra từ pháp
môn Tâm địa, ngay khi Ngài mới thành đạo dưới gốc cây
Bồ Đề.
Kinh
nói: “ Bấy giời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới
gốc cây Bồ Đề, khi mới thành tựu Tuệ Giác Vô Thượng,
đầu tiên Ngài quy định Bồ tát giới. Ngài nói, sự hiếu
thuận với Cha Mẹ, Thầy, Chúng Tăng và Tam Bảo. Hiếu là
Pháp của Đạo Chí Thượng, sự hiếu thuận ấy cũng gọi
là giới, cũng gọi là sự chế ngự và đình chỉ các ác.
Chính
từ nơi miệng của Đức Phật, Ngài đã phát ra vô lượng
ánh sáng. Bấy giờ, đại chúng có trăm vạn ức, gồm các
vị Bồ Tát, mười tám vị cõi Phạm thiên, sáu vị thiên
tử ở cõi trời Dục Giới, các vua của mười sáu nước
giàu mạnh, hết thảy họ đều chắp tay, lắng hết tâm trí
mà nghe Đức Phật tụng lại Giới Pháp Đại Thừa, của tất
cả chư Phật.
Đức
Phật dạy các vị Bồ tát rằng, nay tôi cứ nửa tháng đích
thân tụng lại giới pháp của chư Phật. Quý vị, tất cả
những hàng Bồ Tát mới phát tâm cũng phải tụng, cho đến
các hàng Bồ Tát ở địa vị Mười Phát thú, Mười Trưởng
dưỡng, Mười Kim cang và Mười địa cũng phải tụng.
Do
đó, ánh sáng từ nơi miệng tôi phát ra, là vì có duyên cớ,
chứ không phải không có lý do.
Ánh
sáng của hào quang ấy, không lệ thuộc màu xanh, đỏ, vàng,
trắng và đen, không lệ thuộc vào vật lý và tâm lý, không
lệ thuộc vào các khái niệm có và không, không liên hệ đến
các pháp thuộc về nhân quả, mà ánh sáng ấy là Bản Nguyên
của chư Phật, là căn bản hành trì Bồ Tát đạo, là căn
bản hành trì của toàn thể Phật tử.
Do
đó, toàn thể Phật tử phải học tập, thọ và trì, đọc
và tụng một cách thông minh.
Hỡi
những Phật tử thông minh! Quý vị hãy lắng nghe kỹ, nếu
những ai đã lãnh thọ giới pháp của chư Phật, dù là QuốcVương,Vương
tử,Tể tướng, Bách quan,Tỷ khưu,Tỷ khưu ni, chư Thiên của
mười tám tầng trời thuộc Sắc giới, chư Thiên của sáu
tầng trời thuộc Dục giới, tất cả dân chúng những kẻ
hoàng môn, dâm nam, dâm nữ, nô bộc, tỳ thiếp, các vị quỷ
thần trong tám bộ loại, các thần Kim cang, các loài súc sanh
cho đến những kẻ biến hóa, hễ hiểu rõ tiếng nói của
Pháp sư trong lúc truyền giới, thì hết thảy họ có thể
thọ và đắc giới, đều có thể gọi là Bậc thanh tịnh
số một”.(Phạm Võng Giới Kinh, tr 1004, Đại Chính 24).
Như
vậy, ở mặt lịch sử, thì Bồ Tát Giới do Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni nói và trao truyền cho đại chúng Phật tử, mà trong
đó gồm đủ, các vị Bồ Tát, trời, người… và chính ở
đây và lúc nầy, Ngài cũng đã quy định một số điều cần
thiết đối với sự lãnh thọ và hành trì Bồ Tát Giới.
3-
Từ các Kinh và Luận:
3-1.
KINH HOA NGHIÊM.
Bồ
Tát Giới có gốc rễ từ Kinh Hoa Nghiêm, kinh này do Đức Phật
nói ra dưới gốc cây Bồ Đề trải qua hai mươi mốt ngày
kể từ khi Ngài thành đạo.
Ở
trong kinh nầy, Bồ Tát Giới liên hệ chặt chẽ với các Phẩm
Hoa Tạng Thế Giới, Tỳ Lô Xá Na, Tịnh Hạnh, Hiền Thủ,
Tu Di Đảnh Kệ Tán Thập Trú, Sơ Phát Tâm Công Đức, Minh
Pháp, Thập Hạnh, Vô Tận Tạng, Thập Hồi Hướng, Thập Địa…
Kinh
Hoa Nghiêm có ba bản dịch:
a.
Hoa Nghiêm Kinh 60.
Do
Ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch, vào đời Tấn (359-429).
Phật
Đà Bạt Đà La, là chuyển ngữ của Phạn ngữ Buddhabhadra,
Tàu dịch là Giác Hiền, Ngài là người ở Bắc Ấn, nghiêm
trì giới luật cẩn mật, rất tinh thông Thiền học, Ngài
đã đến Trung quốc năm Hoằng thủy thứ 10, tức năm 408 TL.
Ở
Trung quốc, Ngài dịch rất nhiều Kinh và Luật, trong đó có,
bộ Hoa Nghiêm sáu mươi quyển nầy, Ngài mất năm 429 thọ
71 tuổi.
b.
Hoa Nghiêm Kinh 80.
Do
Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch, vào đời Đường (618-907).
Thật
Xoa Nan Đà là chuyển âm của Phạn ngữ Sikshànanda, Tàu dịch
là Học hỷ, Ngài người nước Vu Điền, đến Trung quốc
năm 695, do đáp ứng lời mời của Tắc Thiên Võ Hậu. Ngài
đã trú tại chùa Đại-Biến-Không, ở Lạc Dương để dịch
Kinh. Ngài tịch năm 710, thọ 59 tuổi.
c.
Hoa Nghiêm Kinh 40.
Do
Ngài Bát Nhã dịch vào đời Đường.
Bát
Nhã là chuyển âm của Phạn ngữ Prajñà, Ngài người Bắc
Ấn, đến Trung quốc năm 786 TL, và dịch xong bộ Kinh Hoa Nghiêm
bốn mươi cuốn nầy vào năm 798.
Ba
bản Kinh Hoa Nghiêm nầy, hiện trong đại Tạng Tân Tu đều
có đủ.
3-2.
KINH BÁT NHÃ.
Bồ
Tát Giới cũng được đề cập đến rất nhiều ở trong hệ
thống Kinh tạng Bát Nhã mà cụ thể nhất là các Kinh:
a.
Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa kinh, từ quyển 584 đến 588:
Do
Ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường.
Ngài
người Trung Hoa, sinh khoảng năm 600 và mất năm 664, Ngài là
người đã vượt suối băng ngàn từ Trung Hoa đến Ấn Độ
học Phật tại tu viện Nalanda vào năm 629, và rồi đã trở
về Trung Hoa năm 645, sự nghiệp tu học và dịch kinh của Ngài
vô cùng vĩ đại.
Trong
bản kinh Đại Bát Nhã do Ngài dịch nầy, nói về thọ và
đắc, trì và phạm cũng như công đức hành trì Bồ tát Giới
rất rõ.
Kinh
hiện có trong Đại Tạng Tân Tu 7, từ trang 1019-1044.
b.
Đại Thừa lý thú lục ba la mật đa kinh:
Do
Ngài Bát Nhã dịch. Trong bản kinh nầy có đề cập đến trì,
phạm và sáu mươi lăm giới tướng của Bồ Tát.
Trong
đó, mười giới hoàn toàn giống Thập Thiện giới, và các
giới còn lại, nội dung đề cập đến quy tín Tam Bảo, Hiếu
kính cha mẹ, hiếu kính đối với Hoà Thượng truyền giới,
với vị Giáo Thọ và với các vị tôn Chứng. Tôn trọng các
giới, không cầu học và chấp trước ở nơi các quả vị
Thanh Văn và Độc Giác. Phòng hộ các oai nghi lúc giao tiếp
với ngoại đạo, với những nhà giàu có… để tránh những
cơ hiềm của kẻ khác. Phòng hộ năm căn. Phải học tập
để hiểu biết. Phải luôn luôn giữ bốn vô lượng tâm.
Phải tự xét lỗi mình không dòm ngó lỗi người. Phải thường
nghe, thân gần thiện tri thức, tránh xa ác tri thức. Phải
quán niệm vô thường mà không tiếc thân mạng…
Trong
bản kinh có đề cập đầy đủ giới hành của Bồ Tát, ở
đây chúng tôi chỉ dịch lược.
Những
ai muốn nghiên cứu kỹ để hành trì, xin đọc thẳng vào
Đại Chính Tân Tu 8, trang 889-890.
3-3.
PHẠM VÕNG KINH.
Bồ
Tát Giới được đề cập trong Kinh Phạm Võng rất cụ thể.
Kinh
nầy theo lời tựa của Ngài Tăng Triệu, thì Pháp sư Cưu Ma
La Thập dịch gồm có 120 cuốn, bao gồm 61 phẩm. Nhưng, hiện
tại ở Đại Tạng Tân Tu chỉ hai cuốn Thượng và Hạ.
Nội
dung của cuốn Thượng nói rằng: Đức Phật Thích Ca bấy
giờ, ở tại cõi trời Ma Hê Thủ La của sắc giới, đã đưa
tất cả đại chúng đến Liên Hoa Đài Tạng Thế Giới để
gặp Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, nhằm hỏi con đường thành
tựu hàng Bồ Tát Thập địa và cũng như những hình thái
để thành tựu Phật quả.
Và
bấy giờ, Đức Phật Tỳ Lô Xá Na, đã nói cho đại chúng
nghe pháp môn Tâm địa, tức là con đường tu tập thành Phật
của Ngài, và thế giới Liên Hoa Đài Tạng là do Ngài tu tập
pháp môn Tam địa nầy mà tạo nên, cũng như trăm ngàn ức
Đức Thích Ca cũng đều là hóa thân từ Ngài.
Đức
Phật Tỳ Lô Xá Na đã nói cho ngàn Đức Phật Thích Ca báo
thân và trăm ngàn Đức Phật Thích Ca ứng hóa thân về pháp
môn Tâm Địa, mà trong đó gồm có: Thập Phát Thú Tâm, Thập
Trưởng Dưỡng Tâm, Thập Kim Cang Tâm và Thập Địa.
Cuốn
Hạ, thì kinh đề cập đến sự ẩn một của Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni từ nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng và sự
xuất hiện của Ngài trong thế giới Ta Bà nầy. Trong đó,
nội dung đề cập đến thân thế, chí nguyện xuất gia, tu
tập, thành đạo và nói năm mươi tám giới của Bồ Tát,
gồm mười giới tướng là thuộc về giới pháp vô tận.
Bốn
mươi tám giới còn lại là thuộc về giới nhẹ, nghĩa là
chúng không quan trọng so với mười giới pháp vô tận, nhưng
nó lại cần thiết để thành tựu pháp môn Tâm địa.
Kinh
do Ngài cưu Ma La Thập (Kumarajìra) dịch vào thời hậu Tần.
Ngài
người Kucha (Khâu Tư) thuộc Ấn Độ, xuất gia năm bảy tuổi.
Ngài là vị thần đồng không thua bất cứ ai về sự thông
minh vào thời bấy giờ.
Ngài
học thông Tam Tạng, đáp ứng lời mời của vua Phù Kiên đời
Tiền Tần, nên đã đến Trung Quốc năm 383-386.
Ngài
đã ở Tràng An để dịch thuật nhiều kinh điển từ Phạn
sang Hán và mất năm 413 T L.
Sự
nghiệp dịch kinh của Ngài đã để lại cho đời rất vĩ
đại. Kinh Phạm Võng là một bản kinh do Ngài dịch, hiện
đang được lưu hành, trì tụng rất phổ biến ở các nước
Phật giáo Đại Thừa. Kinh hiện có ở Đại Tạng Tân Tu 24,
trang 997.
3-4.
BỒ TÁT ANH LẠC BẢN NGHIỆP KINH.
Kinh
nầy có hai cuốn thượng và hạ, bao gồm tám phẩm, do Ngài
Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần (317-419 TL).
Cuốn
thượng, Kinh đề cập đến bốn mươi hai địa vị Hiền
Thánh. Trong đó, gồm có: Thập Trú, Thập Hạnh,Thập Hướng,
Thập Địa, Vô Tướng Vô Cấu Địa, Diệu Giác Vô Thượng
Địa.
Ở
trong Kinh còn trình bày hai mươi bốn đại nguyện trong lúc
tu tập Bồ Tát Hạnh.
Nội
dung của hai mươi bốn đại nguyện nầy bao gồm, Mười Ba
la mật và các nguyện liên hệ đến Phật tâm, Phật hạnh,
Phật trí, Phật đức và Phật thân…
Cuốn
hạ, kinh giải thích cụ thể ý nghĩa của bốn mươi hai địa
vị Hiền Thánh. Và ở phẩm đại chúng thọ học của kinh
nầy, có đề cập rất rõ về cách lãnh thọ và truyền Bồ
Tát Giới, cũng như nêu rõ mười giới pháp vô tận.
Mặc
dù thứ tự của mười giới pháp vô tận ở kinh Anh Lạc
có khác đôi chút so với kinh Phạm Võng, nhưng nội dung của
hai kinh đều giống nhau.
Và
hễ đã thọ và trì mười giới pháp vô tận nầy mà huỷ
phạm một trong mười, thì đều mất hết bốn mươi hai địa
vị Hiền Thánh, quan điểm nầy đồng với kinh Phạm Võng.
Còn
về phần giới nhẹ, kinh nầy không nêu rõ từng phần như
kinh Phạm Võng, chỉ nêu lên một câu rất tổng quát là “Hết
thảy giới thuộc về tám vạn oai nghi, gọi là phần nhẹ,
nếu có phạm cần đối thủ sám hối, thì tội liền diệt”.
(Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh, tr 1024, Đại Chính 24).
3-5.
BỒ TÁT NỘI GIỚI KINH.
Kinh
nầy do Bồ Tát Văn Thù khởi thỉnh Đức Phật nói . Và Đức
Phật đã nói cho Ngài Văn Thù Sư Lợi cũng như hội chúng
về công đức tu tập của hàng Sơ Phát Ý Bồ Tát kể cả
tại gia và xuất gia.
Đức
Phật đã dạy cách lãnh thọ Bồ Tát Giới cho hàng Bồ Tát
sơ phát ý như sau: Phải lãnh thọ ba pháp tự quy, sám hối
ba nghiệp kể từ mười vạn kiếp đã trải qua cho đến ngay
lúc mới phát ý hành Bồ tát đạo, phải thực hành lục độ,
phải phát khởi ba nguyện.
a.
Nguyện tu tập là để thành Phật và dựng xây Vương quốc
tịnh độ theo mô thức tịnh độ của chư Phật.
b.
Nguyện sanh về cảnh giới tịnh độ của Đức Phật A Di
Đà.
c.
Và phải thực hành các oai nghi, trong lúc vào chùa, cũng như
trong lúc ăn uống.
Trong
kinh nầy, Đức Phật cũng nêu ra mười hai phần thích hợp,
để hàng Bồ Tát Sơ Phát Ý tu tập.
Phần
thứ nhất là đề cập đến bốn mươi bảy giới tướng
mà hàng Bồ Tát Sơ Phát Ý phải thọ trì.
Mười
một phần còn lại là đề cập đến các phương pháp tu tập
để tăng trưởng giới đức, giới hạnh của Bồ Tát Sơ
Phát Ý.
Kinh
do Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch vào đời Tống, Nam Bắc Triều.
Cầu
Na Bạt Ma là chuyển âm từ Phạn ngữ Gunavarman, Ngài người
Kế Tân Ấn Độ, đến Trung Quốc vào năm 431. Ngài đã ở
đấy 9 tháng, dịch được một số kinh luật và tịch năm
413, thọ 54 tuổi.
3-6.
BỒ TÁT THIỆN GIỚI KINH.
a.
Kinh 9 cuốn.
Kinh
nầy cũng do Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch, vào đời Tống, Nam
Bắc Triều, gồm có 9 cuốn.
Nội
dung của kinh là nói đến sự phát tâm Bồ Đề, tu tập Bồ
Tát hạnh, chứng đắc các Bồ tát địa cho đến Phật địa.
Cụ
thể là các phẩm “Bồ Tát Địa Thiện Hành Tánh, Bồ Tát
Địa Lợi Ích Nội Ngoại, Bồ Tát Địa Bồ Đề, Bồ Tát
Địa Bồ Đề Lực”… và cụ thể nhất là “Bồ Tát Địa
Giới”.
Trong
phẩm Bồ tát địa giới nầy, kinh nêu rõ Bồ tát giới có
chín tướng loại và giải thích từng loại khá thấu đáo,
trong đó cũng đề cập đến thọ, trì và phạm…
b.
Kinh một cuốn.
Cũng
do Ngài Cầu Na Bạt Ma dịch. Nội dung kinh đề cập đến cách
thức thọ trì Bồ Tát giới, nêu rõ các giới tướng, gồm
có tám trọng giới và các khinh giới mà vị đã thọ trì
Bồ tát giới phải phụng hành.
Cả
hai bản kinh đều có ở trong Đại Tạng Tân Tu 30, trang 960
và trang 1013.
3-7.
BỒ TÁT ĐỊA TRÌ KINH:
Bồ
tát địa trì kinh liên hệ chặt chẽ với Bồ tát giới, nhất
là các phẩm:
- Chủng
tánh: Phẩm nầy đề cập đến mười pháp của Bồ tát đạo.
- Phát
Bồ Đề tâm: Phẩm nầy nói về phát khởi tâm Bồ Đề bao
gồm những thệ và nguyện.
- Tự
tha lợi: Phẩm nầy đề cập đến bảy cứ điểm thực hành
Bồ Tát và liên hệ chặt chẽ với Bồ tát giới phẩm là
phẩm nói rõ thọ, đắc, trì, phạm đối với Bồ tát giới,
về giới tướng thì nói rõ bốn pháp Ba La Di và ba mươi lăm
pháp thuộc về Đột Kiết La.
Kinh
có mười cuốn, do Ngài Đàm Vô Sấm dịch từ đời Bắc lương.
Tên
Phạn của Ngài là Dharmaraksa, Ngài người Trung Ấn, đến Trung
Quốc vào đời Bắc Lương năm 412, và đã bỏ ra hai mươi
năm để dịch rất nhiều kinh.
Bồ
Tát giới bản và Bồ Tát địa trì kinh, đều do Ngài dịch,
hiện có trong Đại Tạng Tân Tu 24, trang 1107 cho Bồ tát giới
bản và Đại Tạng Tân Tu 30, trang 888, cho Bồ Tát địa trì
kinh.
3-8.
ƯU BÀ TẮC GIỚI KINH :
Mặc
dù kinh có tên gọi là Ưu bà tắc giới, nhưng thật chất
nội dung là nói về Bồ Tát giới.
Ngay
ở phẩm Tập hội của kinh, Đức Phật đã dạy cho Thiện
Sanh rằng: Kính lễ sáu phương là thực hành Lục Ba La Mật
và sáu phương ấy không ra ngoài tâm của chúng sanh.
Ngay
ở phẩm nầy, Đức Phật còn giải thích ý nghĩa Bồ Tát
cho Thiện Sanh nghe như sau: “Vì có được Bồ Đề, nên gọi
là Bồ tát; vì có bản chất Bồ Đề, nên gọi là Bồ tát”.
Và
phẩm Phát Bồ Đề tâm, phẩm phát nguyện, phẩm tự lợi
tha, phẩm thọ giới… đều đề cập đến Bồ tát giới.
Trong
phẩm thọ giới, kinh có nêu rõ sáu trọng giới và hai mươi
tám giới khinh, mà người thọ Bồ Tát Ưu Bà Tắc Giới phải
hành trì.
Kinh
có bảy cuốn, cũng do Ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Lương,
hiện có ở trong Đại Tạng Tân Tu 24, trang 1034.
3-9.
DU GIÀ SƯ ĐỊA LUẬN:
Bộ
Luận nầy, do Bồ Tát Di Lặc nói, Ngài huyền Tráng đã dịch
gồm 100 cuốn.
Luận
liên hệ chặt chẽ đến Bồ tát Giới. Và luận cũng đã
giải thích cặn kẽ con đường tu tập để thành tựu đạo
quả Vô Thượng Bồ Đề.
Cuốn
bốn mươi của luận nêu rõ các loại giới tướng và giải
thích từng loại rất chu đáo kể cả các cách thọ và trì.
Du
Già Sư Địa Luận, hiện có ở trong Đại Tạng Tân Tu 30,
trang 279.
Ngoài
các kinh, Luận ở trên chúng ta còn có các bản kinh liên hệ
đến Bồ Tát giới như sau:
- Bồ
tát giới yết ma văn, do Ngài Di Lặc nói, Ngài Huyền Tráng
dịch.
- Đại
Thừa Giới Kinh, do Ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống.
- Thanh
Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh, Ngài Cưu Ma La Thập dịch.
- Bồ
Tát Tạng Kinh, Ngài Tăng Già Bạt La dịch vào đời Lương.
- Đại
Thừa Tam Tụ Sám Hối Kinh, do Ngài Xà Na Quật Đa và Cấp Đa
dịch ở đời Tùy.
Và
hai cuốn Bồ tát giới bổn do Bồ tát Di Lặc nói, một cuốn
do Ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương và một cuốn
do Ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường.
Như
vậy, nguyên ủy Bồ Tát giới là có từ chư Phật Pháp Thân,
Báo Thân, Ứng Hóa Thân và các kinh luận do các vị Tổ sư
qua các thời đại đã phiên dịch, trước tác và truyền thừa.
(còn tiếp)