LƯỚI
TƯƠNG GIAO
Hồng
Dương
(I)
Mạng
lưới ngẫu duyên.
Chắc
ai cũng có lần chứng kiến một em bé ngồi khóc vì đã lỡ
tháo đồ chơi ra từng bộ phận rồi sau đó không thể lắp
lại nguyên vẹn như cũ. Hiện giờ, các nhà khoa học cũng
ở trong tình trạng giống hệt. Với trí sai biệt, suốt ba
thế kỷ qua, tốn hao vô kể tiền tài và công sức, họ tiếp
tay nhau phân xẻ vũ trụ thành mảnh, cuối cùng đến nay lâm
vào ngõ cụt, không thấy manh mối làm thế nào để tiến
phát, ngoại trừ tiếp tục “đếm lên”, phân tán nhỏ thêm
các mảnh.
Lực
dẫn khởi mọi công trình nghiên cứu khoa học trong thế kỷ
20 là nguyên lý quy giảm (Principle of reductionism). Theo nguyên
lý này, muốn thông hiểu thiên nhiên thời phải khai phá các
thành phần của thiên nhiên. Một khi thấu đạt thành phần,
thời nắm bắt toàn thể sẽ không gặp khó khăn. Bởi thế
nhiều thập niên qua quan điểm chung là muốn hiểu vũ trụ
thời phải hiểu nguyên tử và các siêu sợi (superstring); muốn
hiểu sự sống thời phải hiểu các phân tử; muốn hiểu
tập tính con người thời phải hiểu các gen cá nhân. Các
hệ thống phương trình vi phân tuyến tính của vật lý học
cổ điển rất thích hợp với phép phân tích và tổng hợp
như vậy. Có thể phân chúng ra từng phần, mỗi phần đem
giải riêng biệt, cuối cùng hợp các lời giải riêng biệt
thời có lời giải chung. Do đó, một hệ tuyến tính hoàn
toàn bằng tổng các phần của nó.
Kinh
nghiệm cho thấy càng đếm lên, càng sai biệt, thời mức phức
hợp (complexity) càng gia tăng. Theo nghĩa toán học, phức hợp
chẳng những có nghĩa là phi tuyến tính mà còn có nghĩa bao
gồm vô lượng phần tử biến chuyển với nhiều số độ
tự do (number of degrees of freedom). Nghĩa là, không thể sử dụng
hệ tuyến tính mà phải dùng hệ thống phương trình vi phân
phi tuyến tính (còn gọi là hệ động lực; dynamical systems)
để mô tả sự tương tác giữa vô lượng phần tử của
một hệ phức hợp. Toán học tánh phức hợp là toán hình
học về các mẫu hình được phân tích trong khung tôpô do
Poincaré khởi xướng, như quỹ đạo hấp dẫn kỳ dị (strange
attractors), hình thể biến lập (fractals), chân dung pha (phase
portraits), ... Ngoài ra, phải áp dụng cơ học thống kê (statistical
mechanics) để tính phân bố xác suất trong chuyển động của
vô lượng phần tử vì không thể mô tả đầy đủ chi tiết
sự vận chuyển của từng cá thể phần tử. Cơ học thống
kê cho phép thành lập những lý thuyết thâm sâu về trật
tự thế giới vĩ mô, khám phá sự hiện hữu những tính chất
thiết yếu của các hệ thống phức hợp mà không cần tìm
hiểu chi tiết chính xác của những chuyển động ngẫu nhiên
phức tạp và bất quy tắc ở mức vi mô.
Càng
ngày càng đông khoa học gia công nhận không có hiện tượng
hay biến cố nào hiện khởi độc lập riêng biệt. Họ khám
phá nguồn gốc phát sinh tánh phức hợp chính là mạng lưới
gồm các giao liên nối kết và quan hệ nhân quả giữa tất
cả mọi sự mọi vật trong vũ trụ. Do đó họ tin rằng mạng
lưới phức hợp có một cấu trúc rất chính xác và tề chỉnh
cần được nghiên cứu tường tận vì liên quan mật thiết
và ảnh hưởng sâu xa đời sống con người. Con người cùng
với mọi sự mọi vật là những mắt lưới vừa là thành
quả tác dụng của hết thảy các mắt lưới khác, vừa là
nhân hữu lực dự phần cấu tạo, bồi dưỡng, phát triển,
và vận chuyển toàn thể mạng lưới.
Trong
những năm gần đây, nhờ sử dụng toán học biểu tượng
những mạng lưới trừu xuất từ pháp giới trùng trùng duyên
khởi, nhiều định luật toán học và nhiều mẫu hình có
ý nghĩa được khám phá trong thế giới hiện tượng và trong
các sinh hoạt xã hội. Do toán học, các nhà xã hội học,
vật lý học, sinh học, và nhiều khoa học gia khác tìm thấy
nhiều quan hệ bất ngờ giữa những sinh hoạt xã hội và
tác dụng của nhiều hiện tượng tưởng như không liên can
nhau: từ tế bào sống và hệ sinh thái toàn cầu (global ecosystems)
đến Internet và não bộ người. Sự nhận biết những quan
hệ này thuần túy phát xuất từ toán học mạng lưới, soi
sáng một số vấn đề bấy lâu chưa được giải quyết trong
nhiều ngành khoa học kể cả tâm lý học và xã hội học.
Toán
gia Leonhard Euler được xem như là người khởi xướng toán
học mạng lưới vào năm 1736, khi ông chứng minh không thể
có một con đường chạy qua bảy chiếc cầu, mỗi cầu chỉ
một lần, trên sông Pregel, thành phố Konigsberg. Một biểu
đồ ông phác họa kèm theo phần luận chứng đã làm phát
khởi cả một ngành toán học rộng lớn và rất quan trọng.
Đó là thuyết biểu đồ (graph theory), cốt lõi của thuyết
mạng lưới hiện nay.
Luận
chứng của Euler tuy đơn giản và ưu mỹ, rất dễ hiểu ngay
đối với người không chuyên toán, nhưng chính cái lối nhìn
của ông mới thực sự làm nên lịch sử. Đối với ông,
vùng bảy chiếc cầu ở Konigsberg hiện ra như một biểu đồ
(graph), nghĩa là một tập hợp gồm nút (nodes) nối lại với
nhau bởi những đường dây nối nút (links).
Các
nút biểu diễn bốn vùng đất bị sông chia cách, đặt tên
là A, B, C, và D. Các đường dây nối nút là những chiếc
cầu nối kết các vùng ấy với nhau. Lý do không có đường
nào đi qua tất cả bảy chiếc cầu mỗi cầu chỉ một lần
là vì nút nào có một số lẻ đường dây nối thời nút
đó phải là điểm khởi đầu hay điểm cuối cùng của hành
trình. Một con đường liên tục đi qua hết thảy bảy chiếc
cầu chỉ có thể có một điểm khởi đầu và một điểm
cuối cùng. Như thế, con đường này không thể hiện hữu
trong một biểu đồ có nhiều hơn hai nút với một số lẻ
đường dây nối. Vì biểu đồ Konigsberg có bốn nút với
một số lẻ đường dây nối cho nên không thể tìm ra con
đường nói trên.
Nên
lưu ý sự hiện hữu của con đường nói trên không tùy thuộc
trí thông minh suy lý của con người mà thật ra là một tính
chất của biểu đồ. Với cách bố trí các chiếc cầu như
ở Konigsberg hồi đó, dẫu tài giỏi đến đâu ta cũng không
tìm ra được con đường nói trên. Dân chúng thành phố Konigsberg
đồng ý với Euler không còn thắc mắc về sự hiện hữu
của một con đường như vậy nữa và đến năm 1875 xây thêm
một cầu mới nối liền B và C, gia tăng số đường dây nối
ở B và C lên thành bốn. Do đó chỉ còn lại hai nút, A và
D, với một số lẻ đường dây nối, trở thành điểm khởi
đầu và điểm kết thúc một hành trình qua tám chiếc cầu,
mỗi cầu chỉ đi qua một lần mà thôi.
Tóm
lại, câu chuyện trên chỉ cho thấy trong cấu trúc của các
biểu đồ hay mạng lưới ẩn khuất những tính chất mà tác
dụng có thể hạn chế hay tăng gia khả năng giao liên tác
động của chúng ta với chúng. Cấu trúc luôn luôn ảnh hưởng
trên tác dụng, chẳng hạn địa hình các mạng lưới xã hội
ảnh hưởng sự loan truyền tin tức hay lan tràn các bịnh truyền
nhiễm. Một trường hợp địa hình mạng lưới các trạm
phát điện ảnh hưởng đến tánh bền vững của sự truyền
dẫn điện: Ngày 10 tháng tám, 1996, một lỗi lầm trên
hai đường dẫn điện ở Oregon, Hoa kỳ, làm phát khởi một
dãy hỏng máy điện qua các trạm phát như dòng thác đổ,
tắt điện trong 11 tiểu bang ở Hoa kỳ và 2 tỉnh ở Gia nã
đại, hơn 7 triệu nhà không điện suốt 16 tiếng đồng hồ.
Một thí dụ khác về ảnh hưởng của cấu trúc mạng lưới
trên tác dụng: Ngày 4 tháng năm, 2000, con sâu Love Bug, một
chương trình phá hoại máy tính tồi tệ nhất chưa từng thấy,
bò lan khắp thế giới qua Internet gây thiệt hại hàng tỉ
Mỹ kim.
Bởi
thế nghiên cứu sự hình thành cấu trúc của mạng lưới
là then chốt để thông hiểu thế giới phức hợp quanh ta.
Chỉ cần một vài thay đổi nhỏ trên các nút hay đường
dây nối nút cũng đủ phát khởi nhiều khả năng mới từ
sau những cánh cửa ẩn kín. Hiện nay hết thảy mọi ngành
khoa học nghiên cứu hệ thống phức hợp đã bắt đầu quan
tâm khảo sát sự hình thành và biến chuyển cấu trúc và
động lực của các mạng lưới tương giao.
Ban
đầu, các nhà toán học chỉ chú tâm khám phá và sắp hạng
các loại mạng lưới. Thí dụ: các mạng do nguyên tử tạo
thành trong một tinh thể hay các mạng lục giác do ong thiết
lập làm tổ là những mạng lưới có sắp đặt (ordered graphs).
Nhưng về sau, vấn đề đặt ra là các mạng hiện khởi như
thế nào? Những định luật nào qui định địa hình, tướng
dạng, và cấu trúc của chúng? Phải đợi đến thập niên
giữa thế kỷ 20, các vấn đề ấy mới được giải quyết
lần đầu tiên do bởi công trình xây dựng thuyết mạng lưới
ngẫu duyên (random networks) của hai nhà toán học Hungary, Paul
Erdos và Alfréd Rényi.
Hãy
tưởng tượng tổ chức một buổi tiệc gồm khoảng một
trăm thực khách. Họ được chọn và mời là vì họ không
quen biết bất kỳ ai trong danh sách những người được mời
dự tiệc. Khi rượu thịt dọn ra thời bầu không khí xa lạ
giữa họ đổi hẳn. Họ bắt đầu trò chuyện, làm quen với
nhau. Không bao lâu, có chừng từ ba mươi đến bốn mươi nhóm
họp thành, mỗi nhóm gồm độ hai hay ba người. Bây giờ đến
kề tai một thực khách nói cho người này hay rằng rượu
chát đỏ đựng trong những chai màu lục đậm không dán nhãn
hiệu là thứ rượu rất quý và trăm lần ngon hơn rượu đựng
trong những chai có dán nhãn hiệu màu đỏ. Và yêu cầu vị
thực khách đó truyền tin này đến chỉ những người mà
vị ấy mới làm quen mà thôi. Chớ vội nghĩ rằng làm như
thế thời chỉ có thêm hai hay ba người nữa biết tin rượu
quý cất ở đâu. Thực ra, khách thường chán nói chuyện với
một người và hay di chuyển nhập vào nhóm khác. Có những
nối kết xã hội giữa hai thực khách vừa gặp nhau trước
đó nay ở trong hai nhóm khác nhau. Kết quả là nhiều đường
dây rất tinh tế bắt đầu nối kết những người đang còn
xa lạ. Chẳng hạn, Ất chưa bao giờ gặp Giáp tuy cả Giáp
và Ất đều quen Bính, như vậy tức có đường dây nối kết
Ất và Giáp qua Bính. Nếu Ất biết cái tin về rượu quý
thời bây giờ Giáp cũng có cơ may biết đến, vì do Bính nghe
Ất nói rồi thuật lại. Với thời gian trôi qua, các thực
khách càng lúc càng vướng mắc nhau qua những nối kết không
thể xúc mạc tạo thành một mạng lưới quen biết tinh vi
bao gồm một số khá lớn thực khách. Giả thiết mỗi thực
khách chuyển tin rượu quý cho tất cả những người mình
mới quen, thử hỏi trước khi tan tiệc tin ấy có lan truyền
khắp đủ mọi người dự tiệc hay không? Theo Erdos và Rényi,
chỉ cần ba mươi phút là đủ thời giờ để hình thành một
mạng lưới nối kết xã hội vô hình bao gồm hết thảy thực
khách của buổi tiệc. Nghĩa là, nếu mỗi thực khách làm
quen với ít nhất một người, thời trong thoáng chốc tất
cả đều biết tin và tìm đến cạn hết những chai rượu
quý.
Thực
khách trong buổi tiệc là nút và mỗi gặp gỡ giữa hai thực
khách là một đường dây nối nút xã hội. Xuất hiện với
một số nút kết nhau qua những đường dây nối nút, mạng
lưới quen biết là một biểu đồ. Để tìm hiểu bí ẩn
của những mạng lưới lẫn xen vào cuộc sống hằng ngày
của chúng ta, các khoa học gia tìm cách triển khai thuyết biểu
đồ, thường gọi là thuyết mạng lưới (network theory), đặt
trọng tâm nghiên cứu vào những mẫu hình tương giao tác dụng
giữa những cá thể. Máy tính kết nhau qua dây điện thoại,
phân tử trong cơ thể kết nhau qua tác dụng sinh hóa, công
ty và người tiêu thụ kết nhau qua giao dịch, tế bào thần
kinh kết nhau qua sợi trục (axon), máy phát điện kết nhau
qua đường dây cao thế, đảo kết nhau qua chiếc cầu, tất
cả là những thí dụ biểu đồ. Một nhà chuyên khảo mạng
lưới khi nhìn vào bất cứ hệ thống thành phần kết liên
nào sẽ hình dung nó như là một mẫu hình trừu tượng, một
biểu đồ, gồm nút kết nhau qua những đường dây nối nút.
Họ không quan tâm đến gốc tích và thể tánh cá biệt của
các nút mà chỉ chú trọng đến mẫu hình và cấu trúc của
mạng lưới các quan hệ, nhằm tìm cách khám phá tánh đồng
nhất của một số nhiều mạng lưới. Nói theo Phật giáo,
những mẫu hình và cấu trúc họ quán sát là những mạng
trừu xuất từ mạng lưới bao la pháp giới trùng trùng duyên
khởi.
Vấn
đề đơn giản hóa các mạng lưới thành những biểu đồ
gặp nhiều khó khăn thách đố. Tuy xã hội, Internet, tế bào,
hay não bộ tất cả đều có thể tượng hình bằng biểu
đồ, nhưng biểu đồ của chúng đâu có giống nhau! Khó mà
tưởng tượng một sự dung hợp giữa một bên là xã hội
con người, trong đó sự làm quen và tìm bạn là do phối hợp
những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên với những quyết định có
ý thức, và một bên là tế bào, trong đó các định luật
nhân quả tất yếu hóa học và vật lý học chi phối hết
thảy mọi tương tác phản ứng giữa các phân tử. Chắc chắn
có sự sai biệt giữa các qui luật cai quản cách phối trí
các đường dây nối nút trong những mạng lưới khác nhau.
Vì mục đích của mọi khảo sát khoa học là phát hiện cách
giải thích đơn giản nhất để cắt nghĩa những hiện tượng
vô cùng phức tạp, cho nên các khoa học gia nỗ lực phát minh
một mô hình chung để miêu tả tất cả những mạng lưới
phức hợp khác nhau.
Một
lời giải toán học ưu mỹ miêu tả tất cả mọi biểu đồ
phức hợp cùng trong một khung ý niệm đã được Erdos và
Rényi đề nghị. Nhận thấy các hệ thống khác nhau tùy thuận
những luật tắc dị biệt qui định sự hình thành cấu trúc
của chúng, Erdos và Rényi quyết định gạt bỏ mọi bất đồng
và chọn một giả thiết hết sức đơn giản là các nút nối
kết nhau một cách ngẫu nhiên. Như vậy dưới mắt của hai
nhà toán học Hungary, biểu đồ và thế giới biểu tượng
đều có bản tính ngẫu nhiên, hoàn toàn ngược lại với
quan điểm của Albert Einstein (bạn thân của Erdos) cho rằng
“Thượng đế không chơi súc sắc với vũ trụ (God does not
play dice with the universe).” Nói cách khác, mọi mạng lưới
trừu xuất từ pháp giới duyên khởi không hình thành do ngẫu
duyên, mà thường do một số định luật cơ bản xác định
và điều khiển.
Hãy
trở lại câu chuyện buổi tiệc và tìm hiểu đặc tính của
mạng lưới ngẫu duyên. Ban đầu, biểu đồ gồm một số
lớn nút cô lập. Sau đó các nút được nối kết bởi những
đường dây ngẫu duyên phỏng theo sự gặp gỡ tình cờ giữa
các thực khách. Khi một số đường dây nối kết được
kẻ thêm, các nút sẽ kết thành nhiều cặp. Tiếp tục thêm
nữa thời không làm sao tránh khỏi nối kết các cặp nút
ấy lại với nhau tạo thành những quần tụ (cluster) tập
trung nhiều nút. Nếu kẻ thêm đến chừng mỗi nút có trung
bình một đường dây nối, thời đột nhiên hiện khởi một
quần tụ khổng lồ duy nhất. Nghĩa là, hầu hết mọi nút
trở nên thành phần của một quần tụ đơn nhất, từ bất
kỳ nút nào làm khởi điểm ta có thể di chuyển đến một
nút khác thông qua những đường dây nối nút. Đó là lúc
tin đồn về rượu quý có thể lọt đến tai của bất cứ
thực khách nào trong buổi tiệc. Hiện tượng đó là sự xuất
khởi (emergence) một bộ phận khổng lồ gồm đa số nút đối
với các toán gia, là một sự ngấm lọc (percolation) dẫn khởi
một chuyển tiếp pha (phase transition) đối với các nhà vật
lý học, là sự hình thành một cộng đồng đối với các
nhà xã hội học. Mặc dầu ngành khác nhau đặt tên khác nhau,
nhưng tất cả đồng ý rằng khi chọn ngẫu nhiên nút trong
một mạng lưới để nối kết thành cặp thời một biến
chuyển lớn đột khởi khi số đường dây nối kết đạt
trị tới hạn. Trước đó, các nút nối kết họp thành quần
tụ nhỏ cô lập, thực khách gặp gỡ quen biết trong vòng
nhóm nhỏ rời rạc. Sau đó, xuất hiện một quần tụ khổng
lồ với sự tham dự của hầu hết thực khách.
Mỗi
người trên quả đất là thành phần của một mạng lưới
rộng lớn, mạng lưới xã hội thế giới hay mạng lưới
nhân loại. Không một ai bị gạt bỏ ra ngoài. Giữa hai người
bất cứ ở đâu trên quả đất dẫu không quen biết nhau vẫn
có một đường dây nối kết họ lại với nhau. Cũng vậy,
có một đường dây nối kết bất cứ hai neuron (tế bào thần
kinh) nào trong não bộ, bất cứ hai công ty nào trên thế giới,
bất cứ hai hóa chất nào trong thân thể con người. Paul Erdos
và Alfréd Rényi giải thích điều kiện nối kết với bất
cứ nút nào khác trong mạng là mỗi và mọi nút chỉ cần
có một đường dây nối. Cá nhân làm quen ít nhất một người,
neuron có ít nhất một đường dây nối với một neuron khác,
hóa chất có khả năng tham gia ít nhất một phản ứng trong
thân thể con người, công ty giao dịch với ít nhất một công
ty khác. Một là ngưỡng (threshold) nối kết. Toàn mạng sẽ
phân tán thành nhiều quần tụ nhỏ rời nhau nếu các nút
có trung bình ít thua một đường dây nối; nếu có trung bình
nhiều hơn một đường dây nối thời cơ nguy mạng lưới
phân tán có thể tránh được.
Trong
thực tế, các nút thường có nhiều hơn một đường dây
nối. Các nhà xã hội học ước lượng mỗi chúng ta quen biết
tên họ độ chừng từ 200 đến 5 000 người. Trung bình một
neuron nối kết với hàng tá, có khi với cả ngàn neuron khác.
Mỗi công ty nối kết với hàng trăm hãng cung cấp và khách
hàng, nhiều công ty lớn nối kết với hàng triệu. Trong thân
thể con người, hầu hết các phân tử tham gia một số rất
nhiều phản ứng, như nước chẳng hạn, tham gia đến hàng
trăm phản ứng. Theo thuyết mạng lưới ngẫu duyên khi số
trung bình đường dây nối của mỗi nút tăng quá trị tới
hạn, số nút bị gạt bỏ ra ngoài quần tụ khổng lồ sẽ
giảm bớt theo hàm số mũ. Nghĩa là, thêm càng nhiều đường
dây nối thời càng khó tìm ra những nút cô lập. Như thế
các mạng lưới quanh ta rất dày đặc, không nút nào thoát
khỏi, trong đó mỗi nút nối kết với mọi nút.
Trước
Erdos và Rényi, tiêu điểm của thuyết biểu đồ không phải
là các buổi tiệc, các mạng xã hội, hay các mạng lưới
ngẫu duyên, mà hoàn toàn là các biểu đồ tuần quy (regular
graphs; ordered graphs; biểu đồ có sắp đặt) có cấu trúc
xác định. Đặc tính của biểu đồ tuần quy là nút nào
cũng có một số đường dây nối kết giống nhau. Thí dụ
trong một mạng lưới phẳng ô vuông do các đường trực giao
tạo thành, nút nào cũng có bốn đường dây nối. Hoặc trong
mạng lưới lục giác tổ ong, nút nào cũng có ba đường dây
nối. Tánh tuần quy đó không tìm thấy trong những mạng phức
hợp hiện hữu như Internet hay tế bào.
Erdos
và Rényi là những người đầu tiên khám phá, từ những mạng
lưới xã hội đến những mạng dây điện thoại, hầu hết
những biểu đồ trong thực tế đều không có tánh tuần quy
và vô cùng phức tạp. Đứng trước bức tường phức hợp
khó vượt qua, hai ông thấy chỉ có cách duy nhất là giả
thiết mạng lưới hình thành ngẫu nhiên. Hai ông mở rộng
cửa toán học cho thấy một thế giới mới, một thế giới
bình đẳng. Vì các đường dây được thiết lập hoàn toàn
ngẫu nhiên, nên mọi nút có cơ hội đồng đều tiếp nhận
một đường nối. Tuy nhiên, chớ tưởng lầm do ngẫu duyên
mà có nút tiếp nhận rất nhiều đường dây nối và có nút
quá rủi ro không tiếp nhận được đường nối nào cả.
Cái thế giới ngẫu duyên hai ông đề xướng tuồng như có
tính cách vừa bất công vừa độ lượng. Thật ra không phải
vậy. Nếu là một mạng lưới rộng lớn thời mặc dầu các
đường dây nối thiết lập ngẫu nhiên, nút nào cũng tiếp
nhận một số xấp xỉ như nhau.
Để
thấy được điều đó, hãy phỏng vấn các thực khách sau
buổi tiệc, hỏi mỗi thực khách làm quen được bao nhiêu
người tất cả. Rồi vẽ một tuyến đồ (histogram) biểu
diễn bao nhiêu thực khách làm quen k (k=1, 2, ... ) người trong
suốt buổi tiệc.
Mô
dạng của tuyến đồ được chứng minh là một phân bố Poisson
[do Béla Bollobhás, một môn sinh của Erdos, giáo sư tại Đại
học Trinity College, Anh quốc, 1982]. Nghĩa là có một chóp đỉnh
nổi bật chỉ cho thấy đa số nút đều tiếp nhận một số
đường nối gần bằng số đường nối của nút trung bình.
Hai bên chóp đỉnh, sự phân bố giảm xuống rất nhanh, cho
thấy không có nhiều nút lệch xa nút trung bình.
Nếu
áp dụng phân bố Poisson vào một xã hội 6 tỉ người thời
kết quả là số bạn bè quen thuộc của mỗi người trong
đa số chúng ta xấp xỉ bằng nhau. Như vậy, nếu ghép ngẫu
nhiên những đường dây nối kết xã hội, thuyết mạng lưới
ngẫu duyên dự đoán tiến tới một xã hội “dân chủ”
trong đó tất cả chúng ta ai cũng là trung bình và rất ít
kẻ lệch xa chuẩn (norm) để trở thành quá xã giao hay vô
cùng cô lánh. Mạng lưới ngẫu duyên, một mạng lưới tương
đồng với trung bình là chuẩn, quả là một mạng tương giao
lý tưởng.
Mãi
đến gần đây để mô tả vũ trụ các tương giao, hầu hết
toán gia không tìm thấy cách gì khác hơn là đồng ý với
Erdos và Rényi giả thiết các mạng phức hợp hình thành trên
cơ sở ngẫu duyên: các mạng phức hợp là những mạng lưới
ngẫu duyên. Thuyết mạng lưới ngẫu duyên được xem như
phát minh vào năm 1959 khi Paul Erdos đề nghị lời giải bài
toán rất nổi tiếng của thuyết biểu đồ, bài toán tìm
số đường dây nối bé nhất nối kết các nút của một
biểu đồ để bất kỳ hai nút nào cũng được nối nhau.
Tưởng
cần nhắc lại đây một số định nghĩa và kết quả quan
trọng của toán mạng lưới. Toán mạng lưới sử dụng tỉ
số m/N để tiêu biểu một mạng lưới gồm N nút và m đường
dây nối, mỗi đường nối hai nút. Số đường dây nối dính
vào một nút gọi là độ của nút ấy. Để tính mỗi nút
trung bình có bao nhiêu đường dây nối, hãy cọng độ của
tất cả nút, rồi đem chia cho tổng số nút kể cả những
nút không có đường dây nối. Gọi k là số trung bình đường
dây nối tại mỗi nút, ta có k = 2m/N; k gọi là độ trung
bình. Erdos và Rényi chứng minh một định lý nổi tiếng nay
được gọi là định lý Erdos-Rényi: “Xác suất xuất hiện
của một bộ phận khổng lồ đơn nhất gồm hầu hết mọi
nút của mạng nhảy vọt từ 0 đến 1 khi tăng tỉ số tiêu
biểu m/N quá trị tới hạn 0.5.” Tại điểm này, k = 1. Theo
Erdos và Rényi, k = 1 là ngưỡng nối kết, nghĩa là mỗi và
mọi nút chỉ cần có 1 đường dây nối thời sẽ nối với
bất kỳ nút nào khác trong mạng. Một dạng khác của định
lý Erdos-Rényi: “Khi số đường dây nối ngẫu nhiên m lớn
hơn hay bằng (N/2)ln(N) với ln(N) là logarit tự nhiên của N,
hay k ³ ln(N), thời “hầu hết mọi” mạng lưới ngẫu duyên
đều hoàn toàn nối kết.”
Giả
thiết biểu đồ có 50 nút, mỗi nút là một thành phố chẳng
hạn. Nếu không tính toán, nhắm mắt nối mỗi thành phố
với 49 thành phố kia thời phải xây 1 225 đường. Nhưng theo
Erdos, nếu nối một cách ngẫu nhiên thời chỉ cần xây độ
chừng 98 đường, nghĩa là 8 phần trăm số 1 225 đường, là
đủ để nối kết hầu hết các thành phố với nhau. Erdos
khám phá số nút dẫu lớn bao nhiêu, chỉ cần một tỷ lệ
phần trăm nhỏ các đường dây nối ngẫu nhiên cũng đủ
thắt nối kết hợp mạng lưới thành một toàn thể. Tỷ
lệ phần trăm ấy giảm thiểu rất nhanh khi mạng lưới bành
trướng rộng lớn thêm. [Công thức toán của tỷ lệ ấy
là ln(N)/N]. Thí dụ: với 300 nút, trong số gần 50 000 đường
có thể nối chúng, chỉ cần 2 phần trăm là đủ. Với 1 000
nút, tỷ lệ ấy bé thua 1 phần trăm. Với 10 triệu nút, tỷ
lệ là 0.0000016.
Trở
lại với mạng lưới xã hội 6 tỉ người trên mặt đất,
thử hỏi số bạn bè quen thuộc của mỗi người trung bình
là bao nhiêu để hai người, bất kỳ là ai, bất cứ ở đâu,
một làm nghề đánh cá ở Bắc cực, một làm thủ tướng
ở Úc chẳng hạn, nối kết nhau? Theo Erdos và Rényi, tỷ lệ
là 4 phần tỉ. Nghĩa là, trung bình mỗi người chỉ cần quen
biết 24 người là đủ để bất kỳ hai người nào trên mặt
đất nối kết nhau.
Sau
đây là một thí nghiệm mô phỏng bài toán mạng lưới ngẫu
duyên của Erdos và Rényi. Tưởng tượng vung vãi một số nút
áo trên nền nhà. Chọn một cách ngẫu nhiên hai nút và nối
chúng bằng một sợi dây. Lại chọn ngẫu nhiên hai nút nữa
và nối chúng bằng một sợi dây khác. Lúc đầu những nút
được chọn không thuộc cặp nào đã nối trước đó. Nhưng
về sau thế nào cũng chọn nhằm một nút đã kết cặp để
nối vào một nút khác, tạo thành một quần tụ ba nút. Nếu
tiếp tục nối các cặp nút ngẫu nhiên như thế, thời một
lúc sau, các nút nối với nhau bắt đầu trở thành một quần
tụ rộng lớn. Trong thời gian thí nghiệm, lâu lâu thử
nhấc lên một nút bất kỳ và đếm xem có bao nhiêu nút khác
cùng nhấc theo. Tất cả nút cùng nhấc theo đó tạo thành
cái gọi là một bộ phận của mạng lưới ngẫu duyên. Cuối
cùng, có những nút không nối với nút nào, trong khi số lớn
nối thành cặp, thành bộ ba, hay quần tụ lớn.
Khi
tỉ số tiêu biểu vượt quá 0.5 thời một chuyển tiếp pha
phát khởi, một quần tụ khổng lồ đột nhiên xuất hiện.
Chẳng hạn, nếu số nút n=10 000, bộ phận khổng lồ sẽ
đột khởi khi số đường dây nối đạt mức vào khoảng
m=5 000. Lúc bộ phận khổng lồ phát hiện, hầu hết mọi
nút hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nối lại với nhau. Nếu
nhấc lên một nút, sẽ có cơ may nhấc theo một loạt độ
chừng 8 000 trong số 10 000 nút. Số đường dây nối càng tăng
thời số nút lẻ loi còn lại và số quần tụ riêng biệt
càng giảm thiểu vì nối nhau sáp nhập và bành trướng bộ
phận khổng lồ.

Trên
đây là đường biểu diễn chuyển tiếp pha của một mạng
lưới ngẫu duyên có 400 nút. Đường có dạng chữ S. Số
nút trong quần tụ lớn nhất lúc đầu tăng chậm, rồi tăng
rất nhanh, rồi tăng chậm lại, tương ứng với sự tăng của
tỉ số tiêu biểu m/n. Sự tăng rất nhanh là dấu chỉ của
hiện tượng chuyển tiếp pha. Đường biểu diễn vọt
cao lên với độ giốc gần thẳng đứng khi tỉ số tiêu biểu
vượt qua trị 0.5. Độ giốc đứng tại trị tới hạn 0.5
tùy thuộc tổng số nút của mạng lưới. Khi số nút bé thời
phần giốc đứng của đường biểu diễn “cạn”, nhưng
khi số nút tăng, chẳng hạn từ 400 đến 100 triệu, thời
phần giốc đứng dựng đứng thẳng hơn. Ví như số nút tăng
đến vô cực, thời khi tỉ số tiêu biểu vượt qua trị tới
hạn 0.5, độ lớn của bộ phận lớn nhất của mạng lưới
nhảy vọt một cách gián đoạn từ bé tí đến khổng lồ.
Hiện tượng đột khởi được xem như là một chuyển tiếp
pha, giống trường hợp vô lượng phân tử nước đột nhiên
đóng băng thành nước đá khi nhiệt độ vừa giảm thấp
dưới 0 độ bách phân.
Định
lý Erdos-Rényi hết sức lợi ích trong sự tìm hiểu và chế
ngự các hiện tượng phức hợp như tánh bền vững của hệ
sinh thái, động lực tính của thị trường, và tổ chức
phản ứng của hệ miễn dịch. Kết quả quan trọng của định
lý là khi tỉ số tiêu biểu m/n vượt quá 0.5, rất nhiều
nút bỗng nhiên được nối với nhau tạo thành một mạng
rộng lớn trong hệ thống. Sự đột khởi một bộ phận khổng
lồ như vậy không có gì là huyền bí mà chỉ là một tính
chất tự nhiên và tất yếu của mạng lưới ngẫu duyên.
Theo Stuart Kaufman, nhà nghiên cứu nổi tiếng về nguồn gốc
của sự sống, mẫu hình tổ chức của hết thảy mọi hệ
thống sống (living systems) thường gọi là mạng lưới sống
cũng đột khởi như vậy. Mạng lưới sống là một hiện
tượng chuyển hóa tự xúc tác (autocatalytic metabolism), một
mạng phản ứng tự duy trì, một xuất hiện tánh (emergent
property), đồng thời câu khởi như một chuyển tiếp pha khi
tánh phức hợp của mạng các hóa chất trước thời sinh vật
và tương giao phản ứng giữa chúng đạt mức tới hạn. Mạng
lưới sống xuất hiện phức hợp và hoàn chỉnh, tiếp tục
y nhiên phức hợp và hoàn chỉnh.
(II)
Sự
xuất hiện mạng lưới sống.
Đã
từ lâu các khoa học gia chuyên về sự sống nhận thấy mẫu
hình tổ chức của các hệ thống sống luôn luôn là một
mẫu hình mạng lưới. Tuy nhiên không phải mạng lưới nào
cũng là hệ thống sống. Mạng lưới là một hệ thống phức
hợp, được cấu thành bởi một số lớn thành phần (nút)
giao hỗ tác dụng một cách không đơn giản. Các hệ phức
hợp không những chỉ phức tạp mà thôi. Hoa tuyết phức tạp,
nhưng chúng sinh xuất từ những luật tắc đơn giản. Hơn
nữa, cấu trúc hoa tuyết không thay đổi, và kết tinh, từ
khi hiện đến lúc tan không giống các hệ phức hợp thường
xuyên biến đổi theo thời gian. Nhưng sự biến đổi của
hệ phức hợp khác hẳn sự biến đổi hỗn độn của một
dòng nước chảy cuồn cuộn trong một lòng sông chật hẹp
đầy thác ghềnh. Trật tự của hệ phức hợp xuất hiện
trong khoảng từ hoàn toàn trật tự của hoa tuyết kết tinh
đến vô trật tự của dòng nước lưu chuyển hỗn độn.
Đó là biên duyên của hỗn độn, ở xa vị trí cân bằng,
thường gọi là “trên bờ hỗn độn” (at the edge of chaos).
Trong
hệ thống phức hợp, toàn thể nhiều hơn tổng các thành
phần. Ở đây không nói theo nghĩa siêu hình học mà nói theo
nghĩa thực dụng, nghĩa là dù biết những tính chất của
các thành phần và những luật tắc chi phối sự giao hỗ tác
dụng giữa chúng thời cũng chẳng dễ gì suy diễn tìm ra những
tính chất của toàn thể. Nhưng khi bảo toàn thể nhiều hơn
tổng các thành phần, thử hỏi cái gì có thêm nhiều nơi
toàn thể mà không có nơi các thành phần? Xuất hiện tánh
(emergence) là câu trả lời. Thuyết hệ thống phức hợp tìm
cách giải thích sự xuất hiện một số hiện tượng vĩ mô
qua những giao hỗ tác dụng phi tuyến tính giữa các phần
tử vi mô trong hệ phức hợp mà không cần biết đến hết
thảy mọi chi tiết của các tương giao tương tác. Cơ học
thống kê được sử dụng để giải thích xuất hiện tánh
tức sự xuất hiện những hiện thành thống kê tuần qui tương
ưng với sự xuất hiện các hiện tượng vĩ mô. Các luật
thống kê phát biểu rằng trong những phạm vi rộng lớn các
hiện thành thống kê tuần qui có thể xuất hiện ở mức
vĩ mô, hầu như hoàn toàn không liên hệ với những chi tiết
chính xác của những chuyển động ngẫu nhiên phức tạp và
bất qui tắc đang vận hành ở mức vi mô.
Thuyết
xuất hiện tánh (emergence theory) giải thích nguồn gốc phát
sinh những tính chất sinh học thiết yếu của các hệ thống
sống không tùy thuộc các chi tiết giao hỗ tác dụng giữa
các thành phần của hệ. Đến nay mọi chủ trương về nguồn
gốc của sự sống không nương vào thuyết xuất hiện tánh
đều gặp nhiều khó khăn không giải quyết được. Thí dụ,
trong một bài viết đăng tập san Scientific American trong năm
1954, George Wald, giải Nobel Sinh lý học 1967, đưa ra thắc mắc
không hiểu làm thế nào có thể xảy ra hiện tượng một
tập hợp phân tử tụ hội đúng cách tạo thành một tế
bào sống. Theo Wald, sau vô số lần thử tụ hội theo cách
này hay cách khác, cuối cùng với thời gian, các phân tử thành
tựu hình thành một tế bào sống. Thời gian là yếu tố quyết
định sự cải biến bất khả thành khả năng, khả năng thành
hoặc hữu, hoặc hữu thành thực tế.
Để
phản bác ý kiến yếu tố thời gian, Robert Shapiro trong tập
sách Origins (Nguồn gốc) đã tìm cách trước hết tính trong
lịch sử của trái đất có bao nhiêu lần thử để tạo sự
sống một cách ngẫu nhiên và thấy rằng con số ấy vô cùng
lớn: 25 nhân 10 lũy thừa 50 ( 25 đèo theo 50 zero). Sau đó cần
phải tính mỗi lần thử có bao nhiêu cơ duyên thành tựu.
Ông cho biết hai nhà thiên văn học, Fred Hoyle và N. C. Wickramasinghe,
đã tính xác suất thành tựu của mỗi lần thử là 1 phần
của 10 lũy thừa 40 000. Để thấy 10 lũy thừa 40 000 lớn như
thế nào, hãy so sánh với số nguyên tử Hydro hiện có trong
vũ trụ là 10 lũy thừa 40 mà thôi. Như thế với xác suất
1 phần của 10 lũy thừa 40 000, sự sống gần như không bao
giờ có cơ duyên sinh khởi.
Một
số khoa học gia khác bảo đó là một sự phát sinh tự nhiên
(spontaneous generation). Nhưng nếu tính xác suất để một biến
cố tự phát như vậy xảy ra thời có thể so sánh xác suất
tính được với cơ duyên để một cơn lốc xoắn ốc thổi
quét một bãi đồ phế thải góp nhặt các thứ vật liệu
ở đó tạo thành một chiếc Boeing 747!
Theo
Stuart Kauffman, sự sống là một xuất hiện tánh, xuất hiện
theo cách thức một chuyển tiếp pha từ những hệ thống hóa
chất xa vị trí cân bằng bao gồm những chu kỳ xúc tác (catalytic
cycles). Chất xúc tác thông thường là enzim, là bất kỳ phân
tử nào thôi xúc tốc độ của một phản ứng hóa học mà
không biến đổi hay bị tiêu thụ trong quá trình. Một sinh
vật là một hệ thống hóa chất có khả năng xúc tác sự
tự tái sản xuất.
Kauffmann
mô phỏng sự xuất hiện một hệ thống tự xúc tác bằng
cách thiết lập một biểu đồ phản ứng gồm nút là các
polymer [hợp chất hóa học gồm nhiều chất đơn phân (monomer);
thí dụ: protein, phân tử RNA] và đường dây nối là những
phản ứng hóa học. Mỗi polymer có hai nghĩa: vừa là quả
vì là cơ chất hay sản phẩm của một phản ứng hóa học,
vừa là nhân vì là chất xúc tác trong một phản ứng khác.
Trong thực tế hết thảy mọi phân tử hữu cơ đều có hai
nghĩa như vậy. Trypsin chẳng hạn, là một enzim có chức năng
phân cắt các protein ta ăn vào thành mảnh nhỏ (nhân của sự
phân cắt) đồng thời tự phân cắt nó ra mảnh nhỏ (quả
của sự phân cắt). Cũng thế, các protein và phân tử RNA là
polymer cơ chất (substrate; chất trên đó enzim tác dụng) hay
sản phẩm của các phản ứng, nhưng đồng thời tác dụng
xúc tác các phản ứng khác.
Biểu
đồ phản ứng được giả thiết gồm chỉ hai loại phản
ứng, phản ứng buộc thắt (ligation; kết liên nhau) và phản
ứng phân cắt (cleavage; chia phân ra). Thí dụ một polymer gồm
bốn chất đơn phân abbb. Nếu xét trên phương diện phản
ứng buộc thắt thời nó có thể là kết quả buộc thắt
a với bbb, hay ab với bb, hay abb với b, như vậy nó hình thành
ba cách khác nhau, do ba phản ứng khác nhau. Nếu tăng độ dài
của polymer thêm một chất đơn phân, abbba, số phản ứng
của polymer sẽ tăng: abbba có thể là kết quả buộc thắt
a với bbba, hay ab với bba, hay abb với ba, hay abbb với a. Vì
một polymer có độ dài L thường có L-1 liên kết cho nên nó
có thể hình thành từ những polymer bé hơn theo L-1 cách khác
nhau. Nếu xét trên phương diện phản ứng phân cắt, thời
abbb có thể xem như kết quả phân cắt a ra khỏi phía bên
phải của polymer abbba. Nói tổng quát, số phản ứng có khả
năng sản xuất các polymer nhiều hơn số polymer.
Bây
giờ giả thiết thêm rằng các phản ứng trong biểu đồ đều
là phản ứng có xúc tác, nghĩa là không xảy ra tự nhiên
mà có sự thôi xúc của các polymer trong hệ thống. Tựa trên
phương pháp nối ngẫu nhiên các nút của Erdos và Rényi, Stuart
Kaufman ghép ngẫu nhiên với mỗi polymer một số phản ứng
mà polymer ấy có thể xúc tác. Tỷ số m/N (đường dây nối/nút)
tức tỷ số (phản ứng có xúc tác/polymer) tăng theo với sự
gia tăng mức phức hợp của các polymer trong hệ thống. Khi
tỷ số ấy vượt quá trị tới hạn thời một bộ phận
khổng lồ gồm toàn phản ứng có xúc tác đột khởi theo
cách thức một chuyển tiếp pha, tạo thành cái gọi là tập
hợp phân tử tự xúc tác (autocatalytic set of molecules). Nghĩa
là, mỗi phân tử của tập hợp là sản phẩm của ít nhất
một phản ứng được xúc tác bởi ít nhất một phân tử
khác của tập hợp. Do polymer này có thể xúc tác phản ứng
phát sinh polymer kia, các tập hợp tự xúc tác sinh khởi, tiến
hóa với thời gian, có khả năng xúc tác tập thể mạng lưới
phản ứng hóa học và tạo nhiều loài phân tử phức hợp,
hết thảy đều nối kết qua một chuỗi phản ứng. Bằng
cách tiêu tán vật chất và năng lượng, hay nói vắn tắt
là ăn và bài tiết, chúng tự tổ chức và duy trì cấu trúc
phức hợp của chúng mặc dầu có một số bộ phận hiện
đến và biến đi với thời gian. Ngoài ra, chúng còn tự tái
sản xuất nữa. Các đức tính tự xúc tác, tự tổ chức,
tự duy trì, và tự tái sản xuất là đặc tánh của sự sống.
Kết
quả mô phỏng nói trên cho thấy sự xuất hiện của mạng
lưới sống là một tính chất của biểu đồ phản ứng,
một mạng lưới ngẫu nhiên. Khi mức phức hợp của hệ thống
các hóa chất có trước thời sinh vật tăng gia vượt quá
ngưỡng phức hợp thời toán học chứng minh sự đột khởi
của sự sống. Trên quan điểm xuất hiện tánh, sự sống
xuất hiện toàn thể, viên dung, hoàn chỉnh. Sự sống không
ở trong các phần tử cấu thành mà ở trong những tính chất
xuất hiện tập thể của cái toàn thể mà chúng tạo sinh.
Không có gì huyền bí về xuất hiện tánh (emergence) và toàn
thể tánh (holism) mặc dầu sự xuất hiện của sự sống có
tính cách huyền diệu. Không một sinh lực hay chất liệu nào
có mặt trong cái toàn thể đồng thời câu khởi và tự tái
sản xuất. Tập thể hệ sống có một tính chất kỳ diệu
mà các thành phần của nó không có. Đó là khả năng tự
tái sản xuất và tiến hóa. Tập thể hệ sống linh hoạt,
các thành phần chỉ là hóa chất.
Nhiều
nhà sinh học cho rằng vì DNA và RNA cất giữ bền vững các
thông tin di truyền nên rất cần thiết để có tiến hóa.
Nhưng nếu tiến hóa cần khuôn DNA để tái bản và mã di truyền
để sản xuất protein thời đây đúng là bài toán vòng vo
gà - trứng cái nào đến trước. Bởi vì không thể có tiến
hóa nếu không có những cơ chế tái bản hay sản xuất và
những cơ chế này chỉ xuất hiện khi có tiến hóa. Như vậy
cần đặt câu hỏi: Nếu khởi đầu sự sống là một tập
thể tự xúc tác, thử hỏi làm thế nào sự sống có thể
tiến hóa mà không cần đến những biến hóa phức tạp của
một bộ gen?
Mạng
lưới nhị phân.
Để
giải đáp thắc mắc trên, Kaufman khai triển thuyết mạng lưới
nhị phân (binary networks) để khảo sát sự phát triển và
tiến hóa của hiện tượng chuyển hóa tức của toàn thể
các tiến trình vật lý và hóa học trong một cơ thể (metabolism).
Ta có thể hình dung mạng lưới nhị phân như một mạng dây
điện nối kết nhiều bỏng điện. Nút (bỏng điện) có thể
là các phân tử enzim, cơ chất, hay sản phẩm của các phản
ứng hóa học. Giả thiết giao hỗ tác dụng giữa các phân
tử chỉ có hai cách: kìm hãm hay xúc tác phản ứng sản xuất.
Do đó mỗi bỏng điện ví như cái công tắc đóng-mở, không
điện hay có điện. Như vậy, nút nào trong mạng lưới
nhị phân cũng có hai khả năng, HỮU (ON) và KHÔNG (OFF). Các
nút được nối kết một cách rất phức tạp không như trong
một mạng có sắp đặt. Các mạng nhị phân còn gọi là mạng
lưới Boole, theo tên của nhà toán học người Anh George Boole
đã sử dụng các phép toán nhị phân (yes-no, có-không) vào
giữa thế kỷ 19 để khai triển một logic ký hiệu thường
gọi là đại số Boole.
Kết
quả kỳ lạ của sự tương giao đóng mở các nút không phải
là một trạng thái hoàn toàn hỗn độn mà ngược lại, là
khả năng mạng lưới tự tổ chức thành những mẫu hình
hoạt động bền vững. Làm thế nào những thao tác đóng-mở
tuồng như ngẫu nhiên của mỗi nút cá biệt điều động
được toàn thể mạng lưới tự phối trí thành một cấu
trúc bền vững hữu hiệu? Nếu đây là mạng lưới gen của
tế bào, thời thuyết Darwin không thể giải đáp thỏa mãn
vì thuyết này chủ trương những kiểu cơ thể mới chỉ có
thể sinh khởi do những đột biến ngẫu nhiên và sự chọn
lọc tự nhiên mà thôi. Theo Kaufman, nguyên do là các hệ thống
phức hợp có đặc tính tự động tổ chức thành những mẫu
hình bền vững hữu hiệu. Ông bảo: “Darwin không biết gì
về tánh tự tổ chức.”
Sau
đây là thí dụ một mạng lưới nhị phân đơn giản gồm
6 nút, hai đen (ON; HỮU) và bốn trắng (OFF; KHÔNG).
Mỗi
nút nối kết với ba nút kế cận. Mẫu hình HỮU-KHÔNG của
mạng nhị phân biến đổi gián đoạn từng bước. Các nút
được móc nối theo thể cách khả năng sắp đến của một
nút do khả năng hiện tại của các nút kế cận xác định
theo một qui luật đóng-mở (a switching rule). Thí dụ, với
mạng nhị phân đơn giản trên, ta có thể tưởng tượng một
qui luật đóng-mở như sau: “Trong bước sắp đến một nút
sẽ HỮU nếu hiện tại có ít nhất hai nút kế cận HỮU,
và sẽ KHÔNG trong những trường hợp khác.” Nhìn hình sau
đây ta sẽ có một ý niệm về trình tự biến thái của mạng
lưới đơn giản theo sự điều khiển của qui luật đóng
mở.
Ba
trình tự biến thái A, B, và C tùy thuộc trạng thái đầu
và tuân theo qui luật đóng-mở. Trình tự A dẫn đến một
trạng thái bền vững với tất cả nút đều HỮU sau hai bước
biến đổi từ trạng thái A1 qua trạng thái A2, rồi qua trạng
thái bền vững A3. Trình tự B bước từ trạng thái B1 qua
B2, rồi dao động giữa hai trạng thái bổ sung B2 và B3. Trình
tự C, với một trạng thái bền vững ngay từ lúc đầu, lặp
đi lặp lại một trạng thái hay mẫu hình không thay đổi:
nó tự tái sản xuất trong mọi bước.
Với
hệ thống chuyển hóa tự xúc tác, tổng số đủ loại phân
tử của mạng lưới nhị phân có thể lên đến 1 000. Mỗi
phân tử có hai khả năng, HỮU (xúc tác) và KHÔNG (kìm hãm),
do đó tổng số trạng thái khả hữu lên đến 2 lũy thừa
1 000. Mỗi mẫu hình (pattern) hay trạng thái (state) được xác
định bởi 1 000 biến số nhị phân (HỮU-KHÔNG). Tập hợp
hết thảy trạng thái khả hữu tạo thành cái gọi là không
gian trạng thái (state space), trong đó mỗi điểm biểu tượng
một trạng thái. Khi mạng lưới biến đổi từng bước kế
tiếp từ trạng thái trước sang trạng thái sau, điểm trạng
thái vẽ một quỹ đạo trong không gian trạng thái. Quỹ đạo
của các trình tự biến thái được phân hạng theo loại vùng
hấp dẫn (attractors). Có thể tưởng tượng một loại vùng
hấp dẫn là một cái hồ và lưu vực vùng hấp dẫn là vùng
nước chảy vào hồ. Giống như một vùng núi có nhiều hồ,
một mạng lưới nhị phân có nhiều chu kỳ biến thái, mỗi
chu kỳ lưu chuyển trong lưu vực vùng hấp dẫn của nó.
Trong
thí dụ mạng nhị phân 6 nút nói trên, trình tự C chỉ
có độc nhất một trạng thái bền vững không có lưu vực
vùng hấp dẫn. Trạng thái này chỉ đạt được khi nào mạng
lưới khởi đầu từ đó. Vì gồm độc nhất một trạng
thái, nên chu kỳ biến thái có độ dài 1. Độ dài của một
chu kỳ biến thái là tổng số trạng thái bao gồm trong chu
trình. Trình tự B dao động nên liệt vào loại vùng hấp dẫn
tuần hoàn (periodic attractor). Độ dài chu kỳ biến thái ở
đây là 2 vì bao gồm chỉ hai trạng thái bổ sung B2 và B3.
Trình tự A vì tiến đến một trạng thái bền vững nên liệt
vào loại điểm hấp dẫn (point attractor).
Kaufman
và nhóm cọng sự ở Viện Santa Fe, New Mexico, đã dùng mạng
lưới nhị phân mô phỏng những hệ thống hóa chất và cơ
thể vô cùng phức hợp mà phương trình vi phân không thể
miêu tả được. Trình tự biến thái của những hệ thống
phức hợp ấy được biểu diễn bởi những quỹ đạo trong
không gian trạng thái. Vì tổng số trạng thái khả hữu của
bất kỳ mạng lưới nhị phân nào cũng hữu hạn mặc dầu
có thể vô cùng lớn, cho nên mạng lưới bắt buộc phải
quay trở lại một trạng thái đã trải qua trước kia. Vào
lúc đó, hệ thống tái diễn trình tự biến thái trước kia
vì tập tính của hệ thống hoàn toàn quyết định. Do đó,
hệ thống sẽ lặp lại mãi mãi vẫn một chu kỳ biến thái,
mạng lưới nhị phân vẽ ra một quỹ đạo trong lưu vực
vùng hấp dẫn tuần hoàn. Bất kỳ mạng lưới nhị phân nào
cũng có ít nhất một lưu vực vùng hấp dẫn tuần hoàn. Nếu
để tự nhiên thời cuối cùng hệ thống sẽ vận hành mãi
mãi trong một lưu vực vùng hấp dẫn tuần hoàn nào đó. Theo
kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, số lớn hệ thống
sống như mạng gen, mạng miễn dịch, mạng tế bào não, hệ
thống các cơ quan, và hệ sinh thái, đều có thể biểu tượng
bởi những mạng lưới nhị phân với nhiều loại vùng hấp
dẫn.
Trong
một mạng nhị phân, độ dài của các chu kỳ biến thái có
thể khác nhau nhiều. Có những chu kỳ với độc nhất một
trạng thái bền vững, nhưng cũng có những chu kỳ với số
trạng thái vô cùng lớn không tưởng tượng được. Trong
nhiều mạng, độ dài chu kỳ tăng theo hàm số mũ khi số nút
tăng. Kauffman đặt tên những vùng hấp dẫn có chu kỳ vô
tận với tỉ tỉ trạng thái khác nhau là vùng hấp dẫn hỗn
độn (chaotic attractor). Nếu chu kỳ biến thái bé, thời hệ
thống vận hành có trật tự. Nhưng nếu chu kỳ quá lớn thời
hệ thống vận hành hỗn độn, không lường trước được.
Hỗn độn ở đây có nghĩa là trật tự bậc vô hạn, đối
lại với hoàn toàn trật tự là trật tự bậc thấp nhất.
[Xem bài Hữu thể và Thời gian]
Để
tìm hiểu quan hệ giữa hoàn toàn trật tự và hỗn độn trong
các mạng nhị phân, Kauffman khảo sát vô số mạng nhị phân
phức hợp với nhiều qui luật đóng-mở khác nhau, kể cả
những mạng trong đó tại các nút khác nhau, số (đường dây)
tín hiệu vào khác nhau. Hai thông số, N, số nút, và k, số
trung bình (đường dây) tín hiệu vào tại mỗi nút, được
sử dụng để tóm lược sự vận hành của các mạng ấy.
Sau 30 năm gia công tìm kiếm điều kiện thuận lợi để động
lực trật tự xuất hiện từ mạng lưới nhị phân, ông trình
bày những kết quả gặt hái được trong tập sách At home
in the universe do ông viết vào năm 1995.
Hãy
tưởng tượng một mạng lưới nhị phân gồm N=80 000 bỏng
điện, mỗi bỏng (nút) trung bình nhận vào k tín hiệu (k đường
dây nối) và được kết hợp ngẫu nhiên với một qui luật
đóng-mở (một hàm số Boole khả hữu).
Khi
k=1, mỗi bỏng điện nhận một tín hiệu vào từ một bỏng
khác. Trình tự biến thái của mạng biến đổi rất nhanh
chuyển thành nhiều quỹ đạo với chu kỳ rất ngắn, có chu
kỳ gồm duy nhất một trạng thái. Trong mạng xuất hiện một
bộ phận khổng lồ đóng băng gồm những bỏng cố định
trong khả năng HỮU hay KHÔNG và nhiều đảo nhỏ gồm những
bỏng nhấp nháy giữa HỮU và KHÔNG. Đây là một mạng hoàn
toàn trật tự, lặp đi lặp lại một mẫu hình đông đặc
không thay đổi, không vùng hấp dẫn.
Ở
đầu kia thang, k=N, mỗi bỏng điện nhận tín hiệu vào từ
khắp tất cả bỏng điện, kể cả chính nó. Trong trường
hợp này, độ dài các chu kỳ biến thái tính ra là 2 lũy thừa
40 000, bằng căn số bậc hai của số trạng thái khả hữu
2 lũy thừa 80 000. Như thế quá dài, không thể quán sát hay
đoán định bất kỳ chu kỳ biến thái nào. Tuy nhiên nếu
tính số vùng hấp dẫn (=N/e, e=2,71828... là cơ sở của logarit
tự nhiên) thời mạng sẽ có độ 30 000 vùng hấp dẫn. So
với tổng số 2 lũy thừa 80 000 trạng thái khả hữu thời
số 30 000 quá bé. Bởi vậy có thể bảo đó là dấu hiệu
của trật tự. Đáng tiếc là khi mạng lưới bị nhiễu loạn
đôi chút, chẳng hạn đổi khả năng một bỏng điện HỮU
thành KHÔNG hay ngược lại, thời sự tiến hóa của mạng
sẽ thay đổi đại quy mô không thể lường trước được.
Những trạng thái đầu tương tợ trở thành mỗi lúc mỗi
dị biệt hơn, do đó lưu chuyển theo những quỹ đạo càng
lúc càng tách ra xa. Nhạy cảm đối với điều kiện đầu
mạng k=N là một mạng lưới hỗn độn. Hầu hết các mạng
nhị phân đều hỗn độn. Ngay những mạng trong đó k nhỏ
hơn N nhiều, k=4 hay k=5, sự vận hành cũng hỗn độn, không
thể dự đoán được.
Khi
k=2, trật tự tức thời kết tinh. Không gian trạng thái gồm
tất cả 2 lũy thừa 80 000 trạng thái khả hữu, tức vào khoảng
1 đèo theo 24 000 zero, dồn nén lại trong một số vùng hấp
dẫn, trung bình là ÖN=283. Chu trình trong các lưu vực vùng
hấp dẫn thường gồm một số nhỏ trạng thái, nhưng cũng
có khi thu gọn thành một điểm bền vững. Chẳng khác nào
mạng lưới rộng lớn bị ép vào trong một phần nhỏ xíu
của không gian trạng thái. Như vậy trong mạng lưới nhị
phân k=2, động lực trật tự tự phát đã thôi động dồn
ép hệ thống vào một góc vô cùng bé của không gian trạng
thái, và giữ mãi ở đó.
Trong
những mạng nhị phân k=2 trật tự biểu hiện theo nhiều cách
khác nhau. Những trạng thái đầu tương tợ trở thành càng
tương tợ hơn, do đó lưu chuyển theo những quỹ đạo hội
tụ gần nhau hơn, và tập trung hệ thống về cùng một vùng
hấp dẫn. Những hệ thống như vậy không nhạy cảm đối
với điều kiện đầu nên không hỗn độn. Hệ quả là mạng
lưới một khi chuyển vào một lưu vực vùng hấp dẫn thời
hầu như luôn luôn quay trở lại lưu vực ấy dầu bị nhiễu
loạn. Đó gọi là tánh nội cân bằng (homeostasis), điều kiện
cần để hệ thống là một mạng lưới có trật tự. Mạng
lưới có trật tự có thể trải qua một đột biến (mutation)
như sửa đổi cách đặt đường dây nối hay qui luật đóng-mở
mà không trở thành hỗn độn. Vùng hấp dẫn và lưu vực
vùng hấp dẫn thay đổi rất ít và hệ thống tiến hóa đều
đặn. Cuối cùng, tuy có trật tự nhưng không hoàn toàn trật
tự đóng băng như các mạng k=1, mạng lưới k=2 đủ khả
năng hành hoạt như một hệ phức hợp.
Bernard
Derrida và Gerard Weisbuch, giáo sư vật lý trạng thái rắn tại
École Normale Supérieure, Paris, cho biết trong trường hợp độ
trung bình k lớn hơn 2, có thể dùng một thông số gọi là
P để chuyển một mạng hỗn độn thành mạng có trật tự.
Thông số thiên áp P (bias parameter) mô tả khuynh hướng nhiều
khả năng HỮU hay nhiều khả năng KHÔNG trong hàm số Boole
kết hợp với mỗi bỏng điện (qui luật đóng-mở).
Tóm
lại, chỉ cần hai thông số, k và P, là đủ để điều khiển
mạng lưới nhị phân vận hành trật tự hay hỗn độn. Nếu
bộ phận khổng lồ đóng băng xuất hiện, thời mạng lưới
ở trong chế độ trật tự. Nếu nó không xuất hiện thời
mạng lưới ở trong chế độ hỗn độn. Ngay giữa hai chế
độ trật tự và hỗn độn, ngay gần lúc chuyển tiếp pha,
ngay trên bờ hỗn độn, có thể xuất hiện những mạng phức
hợp nhất, có trật tự đủ để bảo đảm tánh bền vững,
nhu nhuyễn, và luôn luôn đổi mới. Kaufman tin rằng chính luật
tiến hóa là nguyên nhân hệ thống phức hợp hiện hữu trên,
hay trong chế độ trật tự gần, bờ hỗn độn. Sự chọn
lọc tự nhiên thiên vị và chi trì các hệ thống sống trên
bờ hỗn độn, bởi vì chúng có ưu điểm là điều hợp bền
vững với nhu nhuyễn, có khả năng thích nghi và tiến hóa.
Mô
hình mạng lưới nhị phân được Kaufman áp dụng khảo cứu
các hệ gen của sinh vật. Mỗi gen là một nút nhị phân, có
thể HỮU hay KHÔNG. Khả năng HỮU hay KHÔNG của mỗi gen tùy
thuộc hoạt động điều tiết của một số gen khác. Phản
ứng của mỗi gen khi nhận tín hiệu vào được xác định
bởi hàm số Boole, qui luật đóng-mở kết hợp ngẫu nhiên
với nó. Như vậy, hệ gen là một mạng lưới nhị phân trên
bờ hỗn độn.
Có
hai cách nhiễu loạn mạng gen. Cách thứ nhất, nhiễu loạn
tối thiểu là do một nút nhị phân tình cờ chuyển từ HỮU
qua KHÔNG hay ngược lại. Do tánh nội cân bằng, đặc tính
của mọi hệ sống, các chu kỳ biến thái của mạng không
bị lay chuyển bởi nhiễu loạn tối thiểu. Cách thứ hai,
nhiễu loạn thay đổi vĩnh viễn cấu trúc của hệ thống.
Chẳng hạn, biến đổi mẫu hình nối kết các nút hay thay
đổi qui luật đóng-mở. Nhiễu loạn như vậy xem như một
đột biến trong hệ gen. Thường đột biến không mấy ảnh
hưởng tập tính của mạng gen ở trên bờ hỗn độn. Tuy
nhiên một số ít đột biến có thể xô đẩy quỹ đạo của
mạng vào trong một lưu vực vùng hấp dẫn khác, tạo một
chu kỳ biến thái mới và một mẫu hình tập tính mới. Do
đó, Kaufman nghĩ rằng mạng gen, một mạng lưới nhị phân
trên bờ hỗn độn, có thể dùng làm mô hình của sự thích
nghi tiến hóa.
Mô
hình mạng lưới nhị phân trên bờ hỗn độn giải thích
hiện tượng tế bào biệt hóa (cell differentiation) trong quá
trình phát triển cơ thể. Mặc dầu hình dáng và chức năng
sai khác, tất cả kiểu tế bào (cell type) trong một cơ thể
chứa những lệnh di truyền giống nhau. Vì vậy các nhà sinh
học cho rằng kiểu tế bào khác nhau không phải vì chứa gen
khác nhau, mà thật ra vì các gen trong tế bào có hoạt tính
khác nhau. Nói cách khác, trong tất cả tế bào cấu trúc mạng
lưới gen giống nhau, nhưng trạng thái (mẫu hình) hoạt động
của gen khác nhau. Các trạng thái hoạt động của gen tương
ứng với các chu kỳ biến thái khác nhau trong mạng nhị phân
cho nên theo Kaufman các kiểu tế bào tương ứng với các chu
kỳ biến thái khác nhau, và do đó, với các vùng hấp dẫn
khác nhau. Kiểu tế bào trong cơ thể ví như vùng hấp dẫn
trong mạng gen.
Quan
điểm xem tế bào biệt hóa như những vùng hấp dẫn cho phép
dự đoán nhiều kết quả khá chính xác. Mỗi tế bào trong
thân thể con người chứa một mạng gen độ chừng 80 ngàn
gen. Số trạng thái hoạt động khả hữu của gen vô cùng
lớn: 2 lũy thừa 80 000. Tuy nhiên, số vùng hấp dẫn trong một
mạng như vậy bằng Ö80 000=283. Do đó, theo Kaufman, một mạng
80 000 gen biểu hiện 283 kiểu tế bào khác nhau. Số 283 ấy
rất gần số 256 tế bào biệt hóa tìm thấy trong thân thể
con người.
Một
trong những vấn đề khó giải quyết nhất trong sinh học là
giải thích chức năng của gen trong quá trình phát triển cá
thể (ontogeny). Trong con người, quá trình ấy bắt đầu là
một gen đơn nhất, trứng thụ tinh hay zygote. Zygote trải qua
độ chừng 50 lần phân bào tạo ra vào khoảng 10 lũy thừa
15 (1 đèo theo 15 zero) tế bào cấu thành đứa trẻ sơ sinh.
Cùng một lúc, zygote biệt hóa hình thành chừng 260 kiểu tế
bào trong thân thể, như tế bào mô mềm của gan, tế bào thần
kinh, tế bào hồng huyết cầu, tế bào bắp thịt, ... Những
kiểu tế bào khác nhau của phôi và những quỹ đạo trong
quá trình phát triển cá thể biểu thị tập tính của mạng
gen phức hợp. Mạng gen trong mỗi tế bào của bất kỳ cơ
thể nào tuy là thành quả của ít nhất một tỷ năm tiến
hóa, nhưng trật tự xuất hiện (emergent order) trong quá trình
phát triển cá thể không do luật tiến hóa phát khởi.
Thuyết
mạng lưới nhị phân thuyết minh trật tự xuất hiện là
trật tự tự phát, biểu hiện tánh tự tổ chức và tự điều
chỉnh vô cùng phức hợp của mạng lưới. Các mẫu hình bền
vững tự phát giống như những vùng hấp dẫn của một hệ
động lực. Và chính do sự giao hỗ tác dụng giữa các vùng
hấp dẫn bền vững và không bền vững, giữa các hoạt động
hợp tác và cạnh tranh, mà các mẫu hình của sự biến đổi
và các thời kỳ của trạng thái ngưng nhiên có thể dần
dần tiến hóa. Sự hình thành những mẫu hình bền vững,
theo Kaufman, là điều không thể tránh được, dẫu mạng lưới
lúc khởi đầu hỗn độn đến đâu. Sự giao hỗ tác dụng
giữa các nút là động lực xô đẩy mạng lưới tự tổ
chức thành một cấu trúc có khả năng tồn tại.
Mô
hình toán học mạng lưới nhị phân là một công trình nghiên
cứu lợi ích nhằm góp phần chứng minh chính do sự giao hỗ
tác dụng phức tạp giữa sự vật với nhau và với toàn thể
tất cả sự vật trong vũ trụ mà mọi sự vật xuất hiện
luôn luôn mới toanh và không ngừng chuyển biến. Trên quan
điểm Phật giáo, mạng lưới nhị phân đó chỉ là tượng
trừu xuất từ một toàn thể cấu trúc duyên khởi tương
do rộng lớn hơn: Pháp giới trùng trùng duyên khởi. Đây là
Pháp giới duyên khởi của Nhất thừa tức sự sự vô ngại
pháp giới hay Nhất chân pháp giới, “bao gồm vô biên thế
giới, mười thứ huyền môn tổng nhiếp vô lượng pháp môn,
tức sự tức lý, tức tánh tức tướng, tức tục tức chân,
tức nhân tức quả, tức năng tức sở, tức thánh tức phàm,
tức đa tức nhất, tức chánh báo tức y báo, như lưới báu
của Đế thích, trùng trùng biểu hiện, chẳng phải thần
thông làm thành, vốn là pháp tánh như thế, kẻ mê gặp đâu
đều chướng ngại, kẻ ngộ ngay đó toàn hiển bày.” (Hoa
nghiêm nhất thừa giáo nghĩa chương. Tuệ Sỹ dịch)
Pháp
Tạng dùng thí dụ Lưới báu của Đế thích (Nhân đà la võng)
để điển hình cho cách thế hiện hữa của vạn pháp trong
Pháp giới Hoa nghiêm. Hết thảy mọi pháp đều vừa Không
vừa Hữu bởi vì theo nghĩa đồng thể thời làm nhân sinh
khởi, theo nghĩa dị thể thời sinh khởi do tương y tương
đối. Một sự vật duyên tất cả sự vật, tất cả sự
vật duyên một sự vật, trong một có tất cả, trong tất
cả có một, một tức tất cả, tất cả tức một. Ảnh hưởng
giao tiếp của các loại pháp đối với mỗi pháp không giống
nhau, cái thời trực tiếp, cái thời gián tiếp qua một hay
nhiều lớp, do đó tác động cũng không giống nhau. Toàn thể
các quan hệ phức hợp giữa các duyên được thí dụ bằng
một tấm ảnh lưới của trời Indra, mỗi mắt lưới là một
hạt ngọc. Hạt này hạt nọ phản chiếu nhau, chói sáng nhau,
lớp lớp không cùng tận. Trong mỗi pháp có nhiều pháp khác,
trong nhiều pháp khác lại trùng trùng điệp điệp vô số
pháp khác nữa.
Cuộc
giao thoa toàn diện của các luồng sáng biểu hiện những quan
hệ hỗ tương cấu thành mạng lưới Pháp giới có thể ví
với chuyển động thu nhiếp của ánh sáng laser dùng trong phép
ghi ảnh toàn ký (holography). Hết thảy luồng sáng laser di chuyển
từ mọi phần của vật thể ta muốn chụp ảnh đều thu nhiếp
vào trong mỗi và mọi vùng nhỏ của tấm kính ảnh. Do đó
dù nhìn ảnh toàn ký trên bất cứ mảnh phần nhỏ nào của
tấm kính ảnh ta vẫn thấy hình ảnh toàn bộ của vật thể
giống như khi nhìn nó trên toàn cả tấm kính ảnh.
Giản
đồ Feynman (Richard P. Feynman, giải Nobel Vật lý 1965 chung với
hai vật lý gia khác về công trình khai triển lượng tử điện
động lực học) có thể giúp ta có một ý niệm về trật
tự thu nhiếp nằm trong chuyển động phức tạp của các điện
từ trường dưới dạng sóng ánh sáng. Sóng ánh sáng chuyển
động truyền dẫn khắp nơi và trên nguyên tắc, sự chuyển
động truyền dẫn đó thu nhiếp toàn thể không thời gian
của vũ trụ vào trong mỗi mỗi vùng. Khi ý niệm nhận biết
khởi lên thời với một cặp mắt tốt hay một kính viễn
vọng là có thể thấy mọi sự vật thu nhiếp phóng khai trở
lại, tướng dạng hiện ra như những tượng trừu xuất từ
toàn thể hoàn chỉnh của vũ trụ.
Giản
đồ Feynman là một cấu trúc gồm những đường thẳng biểu
hiện chuyển động của các sóng. Trước hết một sóng nhỏ
phát ra từ một điểm cố định P được vẽ ra như sau.
Các
đường thẳng tuôn ra từ P cho thấy cách thức sóng truyền
từ điểm ấy. Sau đó một điểm bất kỳ Q, nơi gặp sóng
nhỏ từ P lan đến, trở thành nguồn phát khởi một sóng
nhỏ khác, và cứ như vậy mà có sóng lan đến điểm R, điểm
này trở thành nguồn phát khởi một sóng nhỏ khác, v.v...

Điều
đáng lưu ý ở đây là mỗi mỗi điểm thu nhiếp mọi sóng
truyền đến từ khắp hết thảy các điểm khác và đồng
thời là nguồn phát khởi một sóng với cường độ lớn
hay bé tùy theo cường độ của làn sóng lan đến.
Nếu
nhìn quá trình truyền dẫn sóng như một toàn thể, thời tất
cả sóng xuất phát từ một điểm A truyền dẫn đến một
điểm B trải qua rất nhiều bước chuyển tiếp trung gian,
tạo thành một sóng tổng hợp tại B bao gồm hết thảy các
sóng truyền dẫn theo hết thảy mọi quỹ đạo khả hữu nối
A với B. Mặt khác, khi nhìn hình các đường thẳng tuôn ra
từ P diễn tả trật tựï phóng khai từ mỗi một điểm lan
ra khắp toàn thể, đồng thời ta nhận thấy các sóng từ
toàn thể đổ dồn vào trong mỗi một điểm theo trật tự
thu nhiếp, như hình sau đây.
Như
vậy chuyển động sóng là tổng hợp hai biến chuyển đồng
thời và nghịch chiều, thu nhiếp và phóng khai, cuốn lại
và mở ra, co rút và giản nở theo lý đồng nhất duyên khởi,
không nhị nguyên tánh của Hoa nghiêm.
Pháp
Tạng giải thích chuyển động ấy như sau. “Hạt bụi không
có tự tánh. Khi bản chất lên trước và hoàn toàn thẩm thấu
khắp mười phương, thời đó là giản nở. Mười phương
không có bản chất và hoàn toàn hiện thành trong hạt bụi
do duyên khởi, thời đó là co rút. ... ... ... Khi co rút, mọi
vật đều hiện thành trong một hạt bụi. Khi giản nở, một
hạt bụi thẩm thấu phổ cập khắp mọi vật. Giản nở là
luôn luôn co rút, vì một hạt bụi liên can mọi vật. Co rút
là luôn luôn giản nở, vì mọi vật liên can một hạt bụi.
Đó là cắt nghĩa thế nào là giản nở và co rút một cách
tự tại.” (Hoa nghiêm nghĩa hải bách môn).
(III)
Mạng
Toàn Cầu.
“Giả
thử hết thảy thông tin chứa đựng trong máy tính khắp nơi
được nối kết ... Tất cả những thông tin giá trị nhất
trong mọi máy tính của CERN (Trung tâm Âu châu Nghiên cứu Hạt
nhân) và trên thế giới sẵn sàng để tôi và mọi người
sử dụng. Thế là xuất hiện một không gian thông tin toàn
cầu đơn nhất.” Đó là mộng ước của Tim Berners-Lee khi
ông làm việc thảo chương tại CERN, Geneva, Thụy Sĩ. Chương
trình điện toán ông lập vào năm 1980 để nối kết máy tính
hầu chia sẻ thông tin không ngờ mười năm sau biến thành
Mạng Toàn Cầu www (World Wide Web), mạng lưới nhân tạo rộng
lớn nhất từ trước đến nay. Mạng Toàn Cầu là diện bộ
của Internet, Internet là hình thù hóa thân của Mạng Toàn Cầu,
là một mạng máy tính nối kết qua những đường truyền
dẫn điện.
Hầu
giúp tìm kiếm dễ dàng tài liệu cất giữ với một bộ máy
sưu cầu (search engine) đơn giản, nội dung các trang Mạng (Webpage)
được sắp xếp theo thông liệu (information; tài liệu thông
tin) chứ không theo vị trí (location). Ted Nelson, giáo sư Đại
học Brown, Hoa kỳ, là người đầu tiên có ý kiến dùng máy
tính thiết kế một hệ thống tổ chức thông liệu mới mà
ông gọi là siêu bản (hypertext). Ông có nhu cầu viết một
quyển sách về triết lý trên máy tinh trong đó ông muốn trình
bày toàn bộ tư tưởng của ông một cách có hệ thống. Theo
ông siêu bản với những đường dây nối (links) đi khắp
mọi hướng mới có thể truy dụng tức thời trên máy giám
thị (monitor) những lời ông chú thích, kể cả bất kỳ bản
văn nào khác mà ông dẫn chứng.
Trong
bản sách chữ in, câu, đoạn, chương, và trang nối nhau theo
một trật tự được quyết định không những bởi tác giả
mà còn bởi cấu trúc vật lý và thứ tự theo chuỗi của
chính cuốn sách. Tuy có thể ngẫu nhiên lật đến bất cứ
trang nào và tình cờ đặt mắt nhìn vào bất kỳ đoạn nào,
cuốn sách chữ in mãi mãi bị giữ chặt trong khuôn khổ cố
định ba thứ nguyên. Không gian thông tin không bị hạn chế
như vậy. Câu văn phô diễn một ý niệm hay một chuỗi tư
tưởng thường đính theo một mạng dấu hiệu đa thứ nguyên
chỉ nơi cất giữ những chú giải đầy đủ hay những luận
chứng biện minh để nếu cần thời móc ngay ra trên máy giám
thị. Cấu trúc của bản văn có thể ví với một mô hình
phân tử phức hợp trong một không gian nhiều thứ nguyên.
Chữ và câu có thêm thứ nguyên thời giống như thủy tinh
với vô số khắc diện. Chúng có thể hiện ra dưới nhiều
góc độ khác nhau, đặt kề nhau hay chồng chập lên nhau.
Các
mẫu thông liệu có thể sắp đặt lại theo thứ tự mới,
câu văn có thể viết lại dài hơn, và danh từ được định
nghĩa ngay tại chỗ. Những đường dây nối đó có thể do
chính tác giả thêm vào khi “xuất bản” hay do độc giả
ghép thêm sau này. Vì có khả năng truy dụng tức thời bất
kỳ bản văn nào cho nên đường dây nối xem như hàm ý một
bước nhảy. Với bước nhảy, tất cả mọi bản văn đều
xem như đồng thời câu khởi và sẵn sàng ứng hiện trên
máy giám thị nếu cần.
Song
song với sự phát triển dung lượng các bộ nhớ chứa đựng
thông liệu và với sự truyền dẫn dữ liệu qua các vệ tinh
thông tin, nhóm Berners-Lee và đồng sự ở CERN khai triển siêu
bản thành một môi trường thích ứng với ngôn ngữ thính
thị, biến siêu bản thành đa môi trường (multimedia) [điện
thị (video), thành âm (audio), và dữ liệu (data)], và tạo ra
một khổ siêu bản đặt tên là HTML (hypertext markup language;
ngữ pháp siêu bản) rất thích dụng. Ngữ pháp riêng của
các máy tính có thể chỉnh hợp để thích nghi với khổ siêu
bản của toàn Mạng. Ngoài ra, nhóm ấy còn thiết lập một
thủ tục truyền chuyển siêu bản (hypertext transfer protocol)
gọi tắt là HTTP với mục đích hướng dẫn sự truyền thông
giữa những bộ máy tầm triển hồ sơ (browser) và các trạm
cất giữ tài liệu trên mạng (web servers). Họ còn đặt ra
một mẫu địa chỉ tiêu chuẩn gọi là URL (uniform resource
locator; thiết bị định vị tài nguyên nhất luật), một loại
đường dây nối phối hợp thông tin trên thủ tục truyền
chuyển với thông tin trên địa chỉ của máy tính đang có
yêu cầu truy dụng. Thí dụ trên Mạng sử dụng thủ tục
truyền chuyển HTTP một đường dây nối URL có thể là:
http://www.ietf.org/rfc/rfc2396.txt
Đường
dây nối URL này nêu rõ ba điều: (1) http tức ứng dụng thủ
tục truyền chuyển HTTP, (2) www.ietf.org tức địa chỉ máy
tính đang có yêu cầu truy dụng, và (3) rfc/rfc2396.txt tức con
đường dẫn đến vị trí của bản văn rfc2396.txt trong máy
tính ấy.
Tóm
lại, Mạng Toàn Cầu là một mạng lưới ảo, nút là các
trang nhà (Webpage) trưng bày hầu hết mọi thứ thông liệu
như tin tức, hát bóng, quảng cáo, chuyện tầm phào, địa
đồ, hình ảnh, tiểu sử, sách, v..v.... Bất cứ thứ gì có
thể viết ra, vẽ hình, hay chụp ảnh đều có thể tìm thấy
được trong một nút của Mạng Toàn Cầu dưới một hình
thức nào đó. Công năng của Mạng là do các thiết bị URL
cho phép click trên con chuột là có thể di chuyển từ trang
này sang trang khác. Nhờ các đường dây nối URL mà ta có thể
lướt (surf), định vị và xâu nối thông tin lại với nhau.
Do các đường dây nối này mà thu tập những tài liệu cá
nhân biến chuyển và do những click trên con chuột mà một
mạng lưới thông tin khổng lồ được bện thành. Nếu cắt
bỏ các đường dây nối thời Mạng Toàn Cầu bị hủy diệt,
vô số cơ sở dữ liệu hóa thành vô dụng.
Do
siêu bản hủy bỏ giới hạn của trang chữ in, cuộc sống
trên mạng trở nên độc lập đối với một vị trí nhất
định vào một lúc xác định. Ngoài ra, vị trí còn có thể
truyền chuyển nữa. Ngồi tại một nơi mà vẫn có thể chứng
kiến trên Mạng cảnh hoạt động ồn ào náo nhiệt ở một
nơi khác như tuồng đang đứng tại đó. Có những việc của
sở có thể làm ngay tại nhà ngồi trước một máy tính cá
nhân, không khác gì ngồi trong văn phòng tại sở. Ngay định
nghĩa thế nào là địa chỉ cũng đã thay đổi vì hiện nay
mang một ý nghĩa mới có tính cách như một số an sinh xã
hội (Social security number) chứ không còn là tọa độ trên
một con đường. Địa chỉ hóa thành ảo.
Hãy
ví siêu bản với một tập hợp thông điệp co dãn, thun lại
hay trương ra tùy theo tác động của người đọc. Ý tưởng
có thể khai phát và phân tích ở nhiều mức độ chi tiết
khác nhau. Ta có cảm giác hết thảy biểu tượng khắp mười
phương và nơi chín thế đều hóa hợp trong cùng siêu bản,
thứ tự thường xuyên thay đổi, và truyền đạt bất kỳ
lúc nào, bất cứ ở đâu, tùy thuận quyền lợi của người
gửi và tánh khí của người nhận. Nói cách khác, Mạng Toàn
Cầu đã tạo ra một mô phỏng thực tại trên máy tính, một
thực tại ảo (virtual reality). Thực tại ảo là thực tại
của chúng ta vì chính cái khung ý niệm về các hệ thống
biểu tượng phi không gian, phi thời gian ấy là nơi ta y cứ
để tạo lập các phạm trù và hoán khởi các ảnh tượng,
chính cái khung ý niệm ấy đã hình thành tập tính, nuôi dưỡng
vọng tưởng, và gây phiền não.
Nếu
sống trở lại thời đại thông tin hiện nay, nữ hoàng Vũ
Tắc Thiên chắc chắn sẽ không cần đến thí dụ Sư tử
vàng hay căn phòng đầy mặt kính với ở chính giữa một
ngọn đèn đốt sáng đặt bên cạnh một tượng Phật của
ngài Pháp Tạng. Vì lẽ cố nhiên nữ hoàng thừa thông minh
để biết cách tận dụng Mạng Toàn Cầu, để nhận thấy
Mạng có nhiều tính chất của lưới báu Đế Thích, và do
đó thông đạt ý nghĩa viên dung của Hoa nghiêm tông. Nhưng
thế nào là lưới báu của Đế Thích? Hầu giải thích ý
nghĩa viên dung, Đỗ Thuận, khai tổ của Hoa nghiêm tông, đã
miêu tả lưới báu của Đế Thích trong Hoa nghiêm ngũ giáo
chỉ quán như sau, Tuệ Sỹ dịch:
“[T45n1867_p0513b09]
Mạng lưới bằng các hạt châu của trời Đế Thích được
gọi là lưới của Nhân-đà-la. Mạng lưới của Đế Thích
này được làm thành bằng châu báu. Do ánh sáng của các hạt
châu rọi suốt, lần lượt hiện ảnh lẫn nhau, lẩn vào trong
nhau, trùng trùng vô tận. Trong một hạt châu mà đột nhiên
đồng thời xuất hiện. Cứ mỗi hạt châu đều như vậy,
hoàn toàn không có đến hay đi. Nay hãy nhắm về phía tây
nam, lấy một hạt châu mà nghiệm. Ngay nơi một hạt châu
mà đồng loạt hiện ảnh của tất cả hạt châu. Hạt châu
này đã như vậy, mỗi một hạt châu khác cũng như vậy. Mỗi
một hạt châu cùng một lúc đồng loạt hiện hết thảy hạt
châu đã vậy, mỗi một hạt châu khác cũng vậy. Như vậy
trùng trùng vô tận, không có biên tế. Có biên tế chính là
bóng các hạt châu trùng trùng không biên tế, thảy đều hiện
trong một hạt châu, rỡ ràng xuất hiện trên cao. Những cái
khác không phương hại đến cái này. Khi ngồi trong một hạt
châu tức là ngồi trong hết thảy hạt châu, trùng trùng vô
tận. Vì sao vậy? Trong một hạt châu có tất cả toàn bộ
hạt châu. Khi trong tất cả toàn bộ hạt châu có một hạt
châu, chính cái toàn bộ ấy cũng mang tất cả hạt châu. Chuẩn
theo đây mà tư duy về toàn bộ (nhất thiết).
Tất
cả toàn bộ hạt châu đã lẩn vào trong một hạt châu mà
hoàn toàn không ra khỏi một hạt châu này. Một hạt châu
lẩn vào trong tất cả hạt châu mà hoàn toàn không dậy lên
một hạt châu này.
Hỏi:
Đã nói tất cả toàn bộ hạt châu lẩn vào trong một hạt
châu mà hoàn toàn không ra khỏi hạt châu này, làm sao lại
có thể lẩn vào trong tất cả hạt châu?
Đáp:
Chỉ do không ra khỏi hạt châu này nên mới có thể lẩn vào
tất cả hạt châu. Nếu ra khỏi một hạt châu mà lẩn vào
tất cả hạt châu, tức là không thể lẩn vào trong tất cả
hạt châu vậy. Vì tách ra ngoài hạt châu này bên trong không
có hạt châu nào khác nữa.
Hỏi:
Nếu tách ra ngoài hạt châu này mà bên trong không có tất
cả toàn bộ hạt châu, vậy thì mạng lưới này được làm
thành chỉ do bởi một hạt châu; vậy sự kiện do nhiều hạt
châu mà làm thành là thế nào?
Đáp:
Chỉ do độc nhất một hạt châu mới bắt đầu từng hạt
một để kết nhiều hạt thành mạng lưới. Vì sao vậy? Vì
do một hạt châu này độc nhất làm thành mạng lưới. Nếu
bỏ đi hạt châu này, toàn thể không có lưới.
Hỏi:
Nếu duy độc nhất một hạt châu, làm sao có thể bắt đầu
làm thành lưới?
Đáp:
Sự kiện kết nhiều hạt châu làm thành lưới, đó chính
là duy độc nhất một hạt châu. Vì sao vậy? Một chính là
tổng tướng, có đủ sẵn cái nhiều để làm thành. Nếu
không có cái một, tất cả toàn bộ cũng không. Cho nên, bằng
một hạt châu mà làm thành mạng lưới vậy. Tất cả (nhất
thiết) lẩn vào một, chuẩn theo đây mà biết.”
Trong
đoạn văn trên, có câu: “Do ánh sáng của các hạt châu rọi
suốt, lần lượt hiện ảnh lẫn nhau, lẩn vào trong nhau, trùng
trùng vô tận. Trong một hạt châu mà đột nhiên đồng thời
xuất hiện. Cứ mỗi hạt châu đều như vậy, hoàn toàn không
có đến hay đi.” Trên Mạng Toàn Cầu cũng vậy. Khi lướt
Mạng, tất cả những trang hiện trên máy giám thị (monitor)
xuất khởi từ các trạm cất giữ tài liệu (servers) khắp
nơi trên thế giới, có khi nào mắt ta rời khỏi trang nhà
trên màn ảnh của máy giám thị, tức hạt châu mà ta chăm
chú quan sát như một nhà chiêm bốc nhìn vào quả cầu thủy
tinh? Mỗi lần bắt buộc phải lướt Mạng, có phải ta thật
sự chẳng bao giờ đến hay đi?
Đặc
biệt là Mạng Toàn cầu phản chiếu chẳng những tất cả
hạt châu mà còn cấu trúc các đường dây nối giữa các
hạt châu, một cấu trúc “nhất đa tương dung” hay “tương
tức”. Các gói thông liệu tuy khác nhau nhưng không rời nhau,
vì chúng hỗ tương nhiếp nhập trong một không gian phi không
gian, trống rỗng và mỗi nút hay trang nhà phản chiếu toàn
Mạng, đúng như lời của Đỗ Thuận: “Tất cả toàn bộ
hạt châu đã lẩn vào trong một hạt châu mà hoàn toàn không
ra khỏi một hạt châu này. Một hạt châu lẩn vào trong tất
cả hạt châu mà hoàn toàn không dậy lên một hạt châu này.”
Đỗ
Thuận còn nói: “Sự kiện kết nhiều hạt châu làm thành
lưới, đó chính là duy độc nhất một hạt châu. Vì sao vậy?
Một chính là tổng tướng, có đủ sẵn cái nhiều để làm
thành. Nếu không có cái một, tất cả toàn bộ cũng không.
Cho nên, bằng một hạt châu mà làm thành mạng lưới vậy.”
Mỗi hạt châu là nhân của toàn thể mà đồng thời cũng
là quả do toàn thể hạt châu khác làm nhân. Trong toàn thể,
nhân quả đồng thời. Như vậy, khi lướt Mạng, bất cứ
màn nào móc ra trên máy giám thị không phải chỉ “ở trên”
Mạng mà thật ra là toàn Mạng. Màn đó là hiện thân của
tấm thảm Mạng. Trong một mạng lưới không có trung tâm,
bất cứ nút nào cũng là trung tâm.
Mạng
hình thành là do sự tự do đóng góp xây dựng của nhiều
tài năng khắp thế giới và do tương giao tác dụng rất tự
do với hàng triệu người sử dụng nó. Vì phần mềm được
phân phát rộng rãi và bất cứ ai cũng có thể tùy tiện ghép
thêm nút vào Mạng rất dễ dàng chẳng tốn kém bao nhiêu cho
nên những người sử dụng đồng thời góp phần sản xuất
kỹ thuật, uốn nắn Mạng thích nghi với những nhu cầu riêng
biệt. Hơn nữa, thời gian cách biệt giữa tiến trình học
hỏi bằng cách sử dụng và tiến trình sản xuất bằng cách
sử dụng, đặc biệt thu ngắn rất nhiều. Nghĩa là có một
sự hồi tiếp cải tiến giữa sự truyền bá và sự hoàn
chỉnh kỹ nghệ, nguyên nhân Mạng Toàn Cầu phát triển với
một tốc độ khác thường. Số người sử dụng tăng vọt
từ 20 triệu trong năm 1996 lên 300 triệu vào năm 2 000. Từ
một số ít trang năm 1993 nhảy vọt lên hàng triệu trang năm
1998, và cứ sáu tháng độ lớn của Mạng gia tăng gấp đôi.
Sự
tăng trưởng của Mạng với một tốc độ không ngừng gia
tăng là do tân kỹ nghệ điện tử, máy tính, và viễn thông
phát triển nhanh chóng, dẫn khởi những vòng hồi tiếp khiến
Mạng đã phức hợp càng phức hợp thêm. Khi thông liệu thay
đổi, các đường dây nối và tần số thăm viếng một số
dịch trạm (site) cũng thay đổi theo. Mạng biến thành một
hệ sinh thái với số thông liệu nhiều đến đỗi không máy
sưu cầu tối tân ưu hạng nào có thể sắp hạng số trang
không ngớt tăng gia trên Mạng.
Ngoài
tác dụng thông tin, Mạng còn là nguồn sanh lợi và cạnh tranh
đối với hết thảy mọi ngành thương mãi. Mạng cho phép
thiết lập những cơ sở giao dịch buôn bán trực tuyến (online)
thường gọi chung là e-B, e tức electronic (điện tử) và B
tức business (giao dịch thương mãi). Các cơ sở này thực hiện
những dịch vụ không thực thể, như giải trí, du lịch, thông
tin, và ngân hàng, đồng thờiø buôn bán những hàng hóa nặng
nề của kinh tế tập truyền như xe hơi và máy tính. Mạng
đã biến đổi lề lối giao dịch thương mãi trong quan hệ
với người cung cấp và người tiêu thụ, trong phương pháp
quản trị và điều hành, trong tiến trình sản xuất, trong
sự hợp tác với những hãng khác, trong cách xuất vốn và
lượng định giá cổ phần trong thị trường chứng khoán.
Mạng
xuất hiện như là một hệ thống thông tin phức hợp có tác
dụng giao liên truyền chuyển những kinh nghiệm nhận thức
và hành động của con người, điều chỉnh và phối hợp
hết thảy mọi thứ kiến thức bị chia chẻ và phân tán trong
không gian và thời gian. Hiện Mạng chứa ước chừng hàng
trăm triệu trang nhà đầy ắp thông liệu nối kết nhau một
cách rất hỗn tạp và tùy tiện cọng thêm rất nhiều cơ
cấu truy nhập. Các trang thông liệu chuyêån vận xoay vòng,
trang thông liệu cung cấp trang thông liệu tạo thành những
vòng tự phản thân (self reflexive loops). Nghĩa là, Mạng cung
cấp những trang thông liệu, rồi đến phiên các trang thông
liệu trở lại tái thiết Mạng, Mạng trở lại cung cấp những
trang thông liệu, cứ xoay vần như vậy tương tợ một hệ
thống sống liên tục tự tạo tự sinh (autopoietic system). Các
vòng tự phản thân không khép kín mà trái lại mở đường
cho những trang thông liệu giao liên vướng mắc với hệ thống
khác, mạng lưới khác. Do tương tác và biến đổi, các trang
nhà không ngừng tái xây dựng Mạng, nơi phát sinh chúng.
Tóm
lại, Mạng Toàn Cầu là toàn thể hỗ tương giao thiệp đa
thứ nguyên giữa các trang nhà với trang nhà và giữa các trang
nhà với Mạng. Mạng và các trang nhà hỗ tương y tồn, hỗ
tương nhiếp nhập. Mạng Toàn Cầu đáng được xem là một
thí dụ cụ thể biểu dương ý nghĩa tương giao và nhất thể
của Hoa nghiêm.
Bit:
Không hay Bất không.
Sự
phát triển Mạng Toàn Cầu bắt nguồn từ cuộc cách mạng
phương pháp khảo sát thế giới hiện tượng, nguồn gốc
phát sinh văn hóa mạng lưới (network culture). Thế giới không
do những mối quan hệ tuyến tính cấu thành mà là một hệ
thống gồm vô số mạng lưới phức hợp tương tức tương
nhập. Thế giới không phải là một hệ thống máy móc mà
là một mạng lưới rộng lớn bao gồm vô số hệ sinh thái
(ecosystem) hỗ tương nhiếp nhập.
Sự
xuất hiện văn hóa mạng lưới xảy ra đồng thời với cuộc
cách mạng thông tin (information revolution) phát xuất từ quan
niệm thông tin là bản chất của thực tại. Mở đầu bản
tuyên ngôn (Manifesto) của cuộc hội thảo về “Tánh phức
hợp, Entropy, và Vật lý Thông tin” (Complexity, Entropy, and the
Physics of Information) do Viện Santa Fe, New Mexico, Hoa kỳ. bảo
trợ vào Xuân 1989, khoa học gia Wojciech Zurek phỏng theo câu
mở đầu Bản tuyên ngôn của Đảng Cọng sản (1848; A spectre
is haunting Europe – the spectre of communism) viết về cuộc cách
mạng thông tin như sau: “Quỷ thông tin đang quấy nhiễu các
ngành khoa học.” (The specter of information is haunting the sciences)
Sau đó, ôâng nhấn mạnh sự gia tăng tầm quan trọng của
thông tin trong nhiều ngành khoa học: “Nhiệt động học, phần
lớn căn bản của cơ học thống kê, thuyết lượng tử
về đo lường, vật lý học về kế toán, và rất nhiều vấn
đề về thuyết hệ động lực, phân tử sinh học, di truyền
học, và khoa học máy tính, tất cả cùng chia xẻ một đề
chung là thông tin.” Nhưng thử hỏi đối với các nhà vật
lý học thế nào là thông tin? Muốn hiểu thế nào là thông
tin, thời phải định nghĩa, nhưng muốn định nghĩa thời
phải hiểu thế nào là thông tin. Vậy bắt đầu từ đâu?
Các
nhà vật lý học thường thi thiết những khái niệm mới một
cách rất thực tiễn. Vì toán là ngôn ngữ của vật lý học,
và toán liên hệ số, cho nên một thành tố chủ yếu của
mọi lý thuyết vật lý là đo lường, sự ghép lượng vào
phẩm. Bởi thế các khái niệm mới đều được định nghĩa
bằng cách mô tả cách thức đo lường chúng. Định nghĩa
như vậy gọi là định nghĩa khả dụng (operational definition),
không bắt buộc phải biết rõ vật đem đo lường là cái
gì. Thí dụ: Vào khoảng năm 1600 khái niệm nhiệt độ được
định nghĩa là đại lượng đo bằng một nhiệt kế. Sau đó
một phần tư thiên kỷ tức là vào giữa thế kỷ 19, nhờ
sự hiểu biết thêm về nhiệt bằng thí nghiệm, nhiệt độ
được định nghĩa là độ đo tốc độ trung bình của các
phân tử.
Đơn
vị đo lường thông tin trong thế giới hiện tượng là bit
(binary digit; chữ số nhị phân). Bit không màu sắc, kích thước,
hay trọng lượng, và có thể truyền dẫn với tốc độ ánh
sáng. Bit là phần tử bé nhất của thông liệu. Bit là một
trạng thái của hữu: mở hay tắt, đóng hay cắt, lên hay xuống,
vào hay ra, đen hay trắng. Vì lý do thực dụng, ta xem bit biểu
tượng sự lựa chọn giữa hai chữ số là 1 hay 0. Ý nghĩa
của 1 hay 0 là một vấn đề khác. Mặc dầu bit là một khái
niệm trừu tượng, nhưng vì không tránh khỏi dùng vật liệu
như giấy mực, chip vi tính, hay tế bào não để mã hóa, cho
nên một chuỗi bit là một tài nguyên vật lý. Có thể hình
dung thế giới các bit như một thế giới vô tướng châu biến
hàm dung trong thế giới hiện tượng gồm nguyên tử (hạt)
và bức xạ (sóng).
Một
tập hợp ký hiệu 0 và 1 có giá trị thông liệu chỉ khi nào
tổ chức thành những mẫu hình đặc thù riêng biệt. Ký hiệu
xây dựng hạ tằng cơ sở, thông liệu chuyên chở ý nghĩa.
Trong buổi ban sơ của máy tính, một chuỗi bit thường biểu
tượng một thông liệu số. Nhưng trong vòng ba chục năm nay,
nhiều thứ thông liệu khác như thành âm (audio) và điện thị
(video) cũng đã được mã hóa nhị phân, biểu tượng bằng
bit.
Để
có một ý niệm về cách thông liệu trong thiên nhiên truyền
qua mắt dẫn đến não bộ, hãy nghĩ đến một máy chụp hình
số tự (digital camera) được chế tạo để mã hóa hình ảnh
thành bit. Thiên nhiên biến đổi mọi thứ thông liệu ta chú
ý thành xung điện sai biệt trong không gian và thời gian. Những
xung điện này được chuyển tải đến mắt bởi các hạt
photon (quang tử), thực ra cũng là cơ cấu mã hóa nhị phân.
Khi các xung điện truyền đạt đến mắt, tức thời bị mắt
mã hóa như do bởi cái máy chụp hình số tự. Thông liệu
cũng được mã hóa qua tai, mũi, lưỡi, và thân giống như
qua mắt rồi truyền chuyển đến não để được xử lý và
ghi thâu. Bộ não cũng vậy, bao gồm hết thảy các giao liên
trao đổi tín hiệu giữa các tế bào não, là một tiến trình
xử lý thông liệu mã hóa rất công hiệu. Thông liệu được
xử lý không duy nhất trong bộ não mà trong tất cả mọi chất
sống. Thật vậy, môn phân tử sinh học mô tả các tế bào
như nơi chứa đựng thông liệu di truyền, sự sinh trưởng
và tập tính các sinh vật như do mã di truyền kiểm định.
Giống
như trường hợp năng lượng, thông tin có thể mô tả bằng
ngôn ngữ toán học và xem như một sản vật có thể đo lường,
mua bán, chế định, và đánh thuế. Tuy nhiên, khác với năng
lượng, thông tin có tánh chủ quan (subjectivity). Không hoàn
toàn ở trong một hệ thống vật lý, như năng lượng chuyển
hóa ở trong kẹo bánh, điện năng trong bình ắcquy, hóa năng
trong thùng xăng, động năng trong làn gió, thông tin còn có
một phần ở trong tâm thức. Hãy lấy số 14159265 làm thí
dụ. Đối với ai chưa từng làm quen với số pi thời số
đó không có ý nghĩa gì cả. Nhưng đối với các nhà khoa
học thời đó là phần lẻ của một thông liệu khoa học
quan trọng.
Thông
tin như chữ “sách” chẳng hạn, không những biểu dương
một thông điệp viết mà còn chỉ thị những ký hiệu tự
mẫu s, a, ‘, c, h, dùng viết chữ ấy. Vì vậy, thông tin xem
như có hai nghĩa. Một, trong ngôn ngữ hằng ngày, thông tin
mang ý nghĩa của một thông điệp nào đó, và hai, nó là ký
hiệu có công dụng truyền chuyển thông điệp, ký hiệu có
thể là chữ cái, số, hay chuỗi 0 và 1. Theo nghĩa thứ hai,
“công nghệ thông tin” (information technology) là ngành kỹ
thuật chuyên cất giữ, truyền chuyển, phô bày, và xử lý
ký hiệu, không cần biết đến ý nghĩa của chúng.
Các
thành phần chính yếu của khoa học thông tin, theo vật lý
gia Benjamin W. Schumacher, có thể lược giản thành một phương
pháp ba giai đoạn:
1.-
Xác định một tài nguyên vật lý. Thí dụ một chuỗi lựa
chọn nhị phân, một chuỗi câu hỏi chỉ có hai cách trả
lời: có hay không? đúng hay sai? sấp hay ngữa? zero hay một?
Claude E. Shannon, nhà khoa học sáng thiết thuyết thông tin, tương
hợp mỗi lựa chọn với một bit.
2.-
Xác định một công việc xử lý thông tin có thể thực hiện
với sự sử dụng tài nguyên vật lý xác định trong giai đoạn
1. Thí dụ công việc phần đầu là áp nén (compression) xuất
liệu (output) từ một nguồn thông tin, như bản văn trong một
quyển sách chẳng hạn, vào trong một chuỗi bit, và phần sau
là khử áp (decompression) chuỗi bit ấy, tức phục hồi thông
tin nguyên thỉ áp nén trong chuỗi bit.
3.-
Xác định một tiêu chuẩn về sự thành tựu công việc xác
định trong giai đoạn 2. Thí dụ: tiêu chuẩn bảo rằng xuất
liệu sau khi khử áp phải hoàn toàn trùng hợp với nhập liệu
trước khi áp nén.
Như
vậy câu hỏi căn bản của thông tin học là “Tối thiểu
cần bao nhiêu số lượng tài nguyên vật lý (giai đoạn 1)
để thực hiện công việc xử lý thông tin (giai đoạn 2) theo
đúng tiêu chuẩn thành tựu (giai đoạn 3)?” Câu hỏi này
tuy không chuyển đạt hết tất cả những gì thuộc khoa học
thông tin nhưng có thể giúp ta nhận xét và phân tích những
công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực thông tin.
Ví
như trong trường hợp áp nén dữ liệu (data compression), câu
hỏi là: “Tối thiểu cần bao nhiêu bit để chứa đựng thông
tin do một nguồn nào đó sản xuất?” Để giải quyết vấn
đề này hầu giúp các kỹ sư điện thiết lập những hệ
thống viễn thông công hiệu, Shannon phát minh một cách đo
lường thông tin do một nguồn thông tin sản xuất và phổ
biến ý kiến của ông trong bài báo nổi tiếng “Thuyết toán
học về truyền thông” (The Mathematical Theory of Communication;
1948).
Áp
dụng cách đo lường Shannon để đo ‘số lượng thông tin’
trong một thông điệp thời kh