NHÀ
THƠ CỦA AM MÂY TRẮNG Ở THẾ KỶ XVI
CÓ
BÀI BÁC PHẬT GIÁO HAY KHÔNG?
Thích
Phước An
Tiểu
sử cho biết rằng, vào năm 1542 sau khi dâng sớ lên vương
triều Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần, nhưng không được
vua Mạc bấy giờ là Mạc Phúc Hải chấp thuận. Nguyễn Bỉnh
Khiêm liền cáo quan về lại quê quán ở làng Trung Am. Nay là
huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng.
Dù
thất bại ở triều đình không thực hiện được hoài bão
như dự tính lúc ban đầu:
Dân
giai thức mục quan tân chính
Thùy
vị quân vương trí thái bình
Dân
chúng đều dụi mắt ngước xem nền chính sự mới
Ai
đây sẽ là kẻ vì nhà vua đem lại cảnh thái bình[1]
Nhưng
dường như Nguyễn Bỉnh Khiêm không thất vọng, vì ông thừa
biết rằng, tại những nơi áo mũ cân đai đó, người ta chỉ
biết mải mê với lợi danh với quyền hành, hưởng thụ trên
sự đau khổ của người khác, chứ có ai biết lo gì cho dân
cho nước đâu? Như một lần ông đã đau đớn tâm sự:
Lão
lai vị ngải tiên ưu chí
Đắc,
táng, cùng, thông, khởi ngã ưu
Tấm
lòng tiên ưu đến già chưa thôi
Cùng,
thông, đắc, táng ta có lo chi cho riêng mình đâu.
(Tự
thuật)
Và
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ví những kẻ đang nắm giữ triều
chính đó giống như một lũ chuột. Chúng chui rúc, cắn phá,
gặm nhắm mà không một chút xót thương đối với sinh mệnh
của người dân:
Thạc
thử hồ bất nhân
Thảo
thiết tứ âm độc.
Nguyên
dã hữu cảo miêu
Lẫm
dữu vô dư túc.
Lao
phí nông phu thán
Cơ
ích điền dã khấp
(…)
Dân
mệnh vi chí trọng
Tàn
hại hà thái khóc
Con
chuột lớn kia sao mày bất nhân
Vụng
trộm thêm nhiều âm mưu độc hại
Đồng
nội có mạ khô
Kho
đụn không thóc thừa.
Vất
vả nghèo khổ, người nông phu than vãn
Đói
và gầy, trên ruộng đồng kêu khóc
(…)
Sinh
mệnh của dân rất là trọng
Tàn
hại sao mà quá thảm khốc
Nhưng
vì sao loài chuột dơ dáy ấy vẫn sống mà không bị tiêu
diệt? Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng vì chúng có chỗ ẩn nấp
an toàn:
Thành
xã ỷ vi gian
Thần
nhân oán mãn phúc
Chốn
thành, xã dựa vào mà làm điều gian
Cả
thần và người đều oán chứa đầy bụng.
Một
nhà nghiên cứu văn học hiện đại đã giải thích hai câu
thơ ấy như sau:
“Loài
chuột và loài cáo làm tổ ở tường thành và dưới đàn
xã, đàn tắc, thường không bị người ta bắt vì không ai
dám đào phá tường thành là nơi cần phải củng cố hoặc
đàn xã, đàn tắc là nơi thờ cúng uy nghiêm. Bọn quan lại
bóc lột tàn tệ mà nhân dân không chống lại được vì chúng
dựa vào uy thế và sự bao che của nhà nước cũng như loài
chuột, loài cáo dựa vào tính bất khả xâm phạm của tường
thành hoặc đàn xã, đàn tắc”. [2]
Trong
một lúc đau đớn cùng cực, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phải
nói lên lòng căm tức muốn được báo thù:
Ký
thất thiên hạ tâm
Tất
thụ thiên hạ lục
Triều
thị tứ nhĩ thi
Ô
diên khiết nhĩ nhục
Mi
đã làm mất lòng thiên hạ
Tất
sẽ bị thiên hạ giết chết
Phơi
xác mi ở chốn triều thị
Quạ
và diều rỉa thịt mi
(Tăng
thử)
Ta
có quyền tin chắc như vậy, chỉ trong một lúc nào đó thôi,
vì một kẻ sĩ chân chính như Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông đủ
sáng suốt để tin rằng, cái còn mãi trên đời này là lòng
nhân chứ không phải sự hận thù:
Cổ
lai nhân giả tư vô địch
Hà
tất khu khu sự chiến tranh
Từ
xưa đến nay người có nhân là không ai địch nổi
Việc
gì phải khư khư theo đuổi sự giết chóc lẫn nhau (chiến
tranh)
Và
trong một bài thơ khác Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng khẳng định
lại lập trường ấy:
Dĩ
nhân phạt bất nhân
Cứu
thử điêu sái tâm
Lấy
nhân mà đánh kẻ bất nhân
Cứu
cho dân đang bị điêu tàn ốm yếu
(Thương
loạn)
Nhưng
cái lòng nhân ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm biết trao truyền cho
ai? Chắc chắn không phải là những người đang ở trên giai
cấp thống trị, đang say sưa với quyền lực ở triều đình.
Vậy thì ông chỉ còn hy vọng nơi những người trẻ tuổi,
chỉ những người chưa bị lợi danh làm mờ mắt như vậy
mới có hoài bão lớn, chí khí lớn cho dân cho nước mà thôi.
Bởi
vậy nên khi vừa về đến quê nhà, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã
lập tức cùng với các bô lão trong làng Trung Am lập một
cái quán để trao truyền lòng nhân ấy. Nguyễn Bỉnh Khiêm
đặt quán ấy là Trung Tân Quán. Trong số những người trẻ
tuổi đến học với Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Trung Tân Quán này
có Nguyễn Dữ, tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục và Phùng Khắc
Khoan, người mà Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút đã nói
là: “Lý học như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan đều
là tinh anh của non sông đúc lại”.
Vì
sao ông đặt cái tên như vậy. Hãy nghe Nguyễn Bỉnh Khiêm
giải thích:
“Trung
là ở chính giữa, giữ được tính thiện là Trung, không giữ
được tính thiện thì không phải là Trung vậy; Tân có nghĩa
là bến, biết chỗ đậu là bến, không biết chỗ đáng đậu
là lầm bến vậy. Nghĩa của tên quán là như vậy”.
Đoạn
dưới Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:
“Thấy
của mà không tham, thấy lợi mà không tranh, vui điều nghĩa
mà rộng lượng với người, đem lòng thành mà đối đãi
với vật, đó là Trung. Trung ở chỗ nào thì sự chí thiện
ở chỗ ấy”.
Nguyễn
Bỉnh Khiêm cho rằng, cái tính Thiện ấy vốn có sẵn trong
mỗi người, nhưng rồi con người lại tự đánh mất nó,
ông vạch rõ lý do vì sao:
“Do
tự ràng buộc ở bẩm khí, bị che lấp vì vật dục, có kẻ
không giữ được trọn vẹn như thuở đầu mới sinh ra, trở
nên kiêu sa, biển lận, gian tà, thiên lệch, không có điều
gì không làm. Ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ
búa thì giành nhau cái lợi. Khoe là sang thì xe mát quán ấm,
khoe là giàu thì nhà múa lầu hát. Thấy người chết đói
dọc đường không dám bỏ một đồng tiền ra cứu giúp. Thấy
nơi trống trải không có gì che mưa, không dám bỏ một bó
tranh để che đậy. Điều thiện không được tu dưỡng đã
lâu vậy”.
Nguyễn
Bỉnh Khiêm chỉ mới thất vọng chứ chưa tuyệt vọng, vì
cái Thiện, cái lòng nhân ấy, vẫn còn ở đây, vẫn bàng
bạc nơi tấm lòng của những người nông dân hiền lành chơn
chất này, những người chưa hề biết lợi danh là gì.
Trong
bài ký ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm vui biết bao khi được cùng
với người dân làng khởi sự làm những điều thiện tưởng
chừng không mấy quan trọng này. Nhưng nếu không có những
điều Thiện tưởng chừng không quan trọng này, thì những
hoài bão có tính cách to lớn đều chỉ là ảo tưởng:
“May
mà trong làng người hướng về điều Thiện chưa hề mất
hết. Các cụ già cùng ta khuyên nhau làm điều thiện: bắt
cầu, làm chùa, làm quán, chốn chốn đều được tu sửa.
Ta cũng lấy làm vui mừng về điều ấy, trong lòng thường
khen ngợi”.[3]
Bên
cạnh Trung Tân Quán, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho xây một cái am
mà ông đặt tên là Bạch Vân Am.
Dù
bề ngoài Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn thường tự nhận rằng,
mình là kẻ sĩ an nhàn nhất, một ông tiên an nhàn:
Cao
khiết thùy vi thiên hạ sĩ?
An
nhàn ngã thị địa trung tiên
Cao
khiết ai là kẻ sĩ trong thiên hạ
An
nhàn ta là tiên trong đời
Nhưng
khi đọc bài Trung Tân ngụ hứng bằng chữ Hán, dù ông cố
giấu nhưng ta vẫn nhận ra nỗi ưu tư dằn vặt của Nguyễn
Bỉnh Khiêm đối với cuộc đời:
Phía
Tây Nam quán ấy có làng xóm
Phía
Tây Bắc quán ấy có sông ngòi
Ở
giữa có nửa mẫu vườn.
Vườn
ở bên Am Bạch Vân.
Bụi
xe ngựa không bám vào được cái am ấy.
Hoa
và trúc trong vườn chính ta trồng lấy.
Khi
chống gậy, lê dép ra vườn hoa
Chơi
thì hương thơm của hoa bám vào gậy, dép
Khi
nâng chén rượu để thưởng thức
Thì
sắc hoa ánh vào chén rượu
Khi
đun nước pha trà thì loài chim lánh khoái
Khi
rửa nghiên mực, nước mực chảy xuống thì loài cá nuốt
lấy
Khi
thích thì ngâm thơ vịnh trăng để tiêu khiển.
Lại
nhờ có chén rượu nhấp cho hăng hái để đỡ sức già yếu.
Người
ta khéo léo mà mình thì vụng về,
Biết
đâu vụng về ấy chẳng là một đức tốt.
Ta
khờ dại mà người thì xảo quyệt,
Biết
đâu lòng xảo quyệt ấy chẳng là cái hại lớn.
Khi
tỉnh, suy lẽ tạo hóa
Lúc
nhàn, ngẫm việc xưa nay.
Không
gì hiểm bằng đường đời,
Nếu
không biết cách bỏ đi thì toàn là chông gai cả.
Không
gì nguy bằng lòng người
Nếu
không biết giữ gìn mà buông lỏng ra thì hóa thành quỷ quái
cả.
Vì
vậy người quân tử phải tìm nơi đứng cho vững
Lấy
điều chí thiện làm tiêu chuẩn tuyệt đối
Sau
này mỗi khi bị triệu lên triều đình để bàn việc quốc
gia đại sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn cứ muốn quay về lại
cái nơi chốn đầy mây trắng ấy. Vì chỉ tại nơi chốn
u tịch vắng vẻ, nơi chốn mà ông cho là “bụi xe ngựa không
bám vào được ấy” thì Nguyễn Bỉnh Khiêm mới tìm lại
được con người tự do đích thực của chính mình:
Hội
khang chỉnh đốn càn khôn phủ
Tân
quán vân am mịch cựu du
Chờ
xem trời đất có được chỉnh đốn hay không
Về
tìm lại chốn cũ ở quán Trung Tân và am mây trắng.
Bây
giờ chúng ta thử xem một tâm hồn như vậy, có thể nào bài
bác Phật Giáo được không? Và nếu có, chắc phải có một
lý do nào đó để một tâm hồn như Nguyễn Bỉnh Khiêm bị
bắt buộc phải lên tiếng những điều mà lòng ông chẳng
muốn chút nào?
Mỗi
lần nói đến việc Nguyễn Bỉnh Khiêm không thích Phật Giáo
thì giới nghiên cứu văn học đều nghĩ ngay đến bài thơ
Nôm của ông có nhan đề là Giới sùng Phật vô ích, trong
đó rõ ràng nhất là hai câu:
Hiền
lành hãy giữ bề tu kỷ
Dối
trá đừng nghe đứa xuất gia.
Trước
khi có thể đưa ra được một kết luận về bài thơ này
thì ta thử xem xét lại bối cảnh xã hội mà Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã được sanh ra và lớn lên.
Nguyễn
Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) tức vào năm Hồng Đức
thứ 22. Như vậy là những năm tháng tuổi ấu thời của ông
được xem là giai đoạn thịnh trị nhất của nhà Lê. Nhưng
giai đoạn ấy quá ngắn ngủi, năm Nguyễn Bỉnh Khiêm lên
13 tuổi thì Lê Hiến Tông (1497 - 1503) qua đời, thời kỳ thịnh
trị nhất của nhà Lê được xem như chấm dứt. Tiếp sau
đó là Lê Túc Tông rồi đến Lê Duệ (Uy Mục Đế) được
dân gọi là “Vua quỷ”. Năm 1509 thì Uy Mục Đế bị giết.
Lê Oanh lên ngôi (Tương Dực Đế) nhưng chẳng khá gì hơn
Uy Mục Đế, cũng hoang dâm vô độ, cũng huynh đệ tương tàn
nên cũng được người dân gọi là “Vua lợn”.
Sử
gia Trần Quốc Vượng đã phê phán gay gắt nhà Lê như sau:
“Nhà
Lê ban đầu có làm được một số việc tốt: tài giảm binh
bị, quân cấp công điền, xây dựng bộ luật có chú ý đến
phong hóa dân tộc. Song cũng ngay từ buổi đầu, triều Lê
đã tự làm hoen ố bởi việc vấy máu các công thần khai
quốc, bởi các cuộc thanh trừng nội bộ (Nghi Dân giết Nhân
Tông rồi triều thần giết Nghi Dân và Thánh Tông bức tử
Khắc Xương), bởi xu hướng chuyên quyền của quan và của
vua, nhà Lê thiếu tinh thần cảnh giác với Tống Nho và văn
minh Trung Hoa, đặt Tống Nho lên vị trí độc tôn, xây dựng
nhà nước, triều đình theo mô hình quân chủ Tống Nho, vọng
ngoại và có xu hướng Hoa hóa cung đình, quay lưng lại với
bản sắc “dân gian”. Tình trạng như phân hóa giữa cung
đình và nhân gian này càng rõ rệt (triều Lê bài xích Phật
Giáo và Đạo Giáo, xua đuổi chèo, ghét bỏ dân ca, mô phỏng
lễ nhạc, kiến trúc và điêu khắc Trung Hoa) và chính quyền
Lê Sơ đã sớm phi nhân dân (Impopulaire).
Còn
đối với người được xem là đưa nhà Lê đến cực điểm
của thịnh trị, thì giáo sư Trần Quốc Vượng viết:
“Thời
trước cho đến rất gần đây, người ta thường đề cao
thời Lê Thánh Tông (Hồng Đức) như một thời thịnh trị
nhất của một thời đại “Vua Thánh tôi hiền”, thời đại
của Tao Đàn, của Quỳnh Uyển Cửu Ca, của Thiên Nam Dư Hạ
Tập. Cái nhìn ấy bắt nguồn từ tầng lớp sĩ phu theo và
đề cao nho học. Nhưng cũng ông vua Lê Thánh Tông ấy đã giết
hại anh ruột – người từ chối ngôi vua cho ông ta được
hưởng, đã giam cầm hoàng hậu Trường Lạc. Ngay sử gia chính
thống triều Lê phải chê Thánh Tông là “công việc thổ
mộc quá chế độ xưa, tình nghĩa anh em thiếu lòng nhân ái”.
Nhiều phi tần quá nên mắc phải bệnh nặng. Thọ có 56 tuổi.
Trạng Lường Lương Thế Vinh “tài hoa danh vọng vượt bực”
(Lê Quý Đôn) nên không “thích nghi” nổi với triều Hồng
Đức, ông thích khôi hài, quay về với toán học, Phật học
và hý trường. Hãy xem xét một tác phẩm đích thực của
Thánh Tông là hoàng thái tử Tranh – tức Lê Hiến Tông: chiếu
chỉ nào của ông vua này cũng dẫn la liệt những Kinh Thư,
Kinh Thi, Kinh Lễ… của thời cổ đại Trung Hoa và coi đó
là khuôn vàng thước ngọc của thế ứng xử Đại Việt ở
đầu thế kỷ 16. Tư cách ông không xấu mà tư tưởng ông
thì đã lỗi thời… Và con cháu ông thì đã là “Vua lợn”,
“Vua quỷ”.
Lịch
sử truyền bá của Đạo Phật trên thế giới cũng như tại
Việt Nam xưa nay vẫn được các sử gia ca tụng như là tôn
giáo duy nhất chưa hề làm đổ bất cứ một giọt máu nào,
và đặc biệt là khi đến với dân tộc nào thì Đạo Phật
cũng chia xẻ bao nỗi thăng trầm cùng với dân tộc đó, nhất
là những lúc dân tộc đó bị giới thống trị đàn áp.
Trường
hợp Phật Giáo ở đời Lê có lẽ cũng như vậy. Khi mà cả
dân tộc đang chìm ngập trong bóng tối, cái ác đang hoành
hành khắp nơi, thì những bậc chân tu phải tạm lánh xa trong
những am cốc hẻo lánh ở núi rừng hoặc nơi thôn dã âm
thầm giữ gìn giới hạnh của chính mình.
Bởi
vậy, nếu bài Giới sùng Phật vô ích, đúng là của Nguyễn
Bỉnh Khiêm thì nhất định sự chỉ trích của Nguyễn Bỉnh
Khiêm chỉ nhắm vào những kẻ đi tu vì thời thế, vì lợi
danh đang a dua xu nịnh với giới thống trị chứ nhất định
không phải Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ trích đạo Phật.
Sở
dĩ ta đặt nghi vấn như vậy vì bài thơ theo giáo sư Nguyễn
Huệ Chi chưa hẳn là của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Bài thơ không
thuộc một 100 bài thơ Nôm vô đề mà các bản sao thơ Nôm
Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sao chép thống nhất. Có thể về
mặt văn bản học có vấn đề phải bàn lại”.
Cũng
trong bài viết ấy, bài Phác họa diện mạo tư tưởng Nguyễn
Bỉnh Khiêm thì hai tác giả Nguyễn Huệ Chi và Tạ Ngọc Liễn
cho rằng:”Nguyễn Bỉnh Khiêm sống vào một thời đại mà
vai trò của Phật Giáo trong đời sống tư tưởng đã ít nhiều
lu mờ. Sự dung hòa giữa các hệ tư tưởng Phật, Đạo và
Nho trong vòng 5 thế kỷ đầu tiên người Việt giành lại
và củng cố nền tự chủ, đã tạo nên bộ mặt phóng khoáng,
khởi sắc và cái hương vị “đa nguyên” dễ thở trên nhiều
phương diện sinh hoạt tinh thần; song rốt cuộc sự cân bằng
đó đã bị phá vỡ ở thế kỷ 15, khi Nho giáo giành lấy
cây gậy độc tôn, nhảy lên chỉ huy sân khấu chính trị”.
Và hai tác giả cũng đồng ý là chưa hẳn Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã bài bác đạo Phật “nhưng hãy bình tâm mà xem xét hình
như bài thơ trên chưa đến nỗi đi tới một thái độ cực
đoan. Câu thơ mở đầu cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm nắm rất
vững giáo lý cơ bản của nhà Phật “suy lý cho cùng Phật
ấy ta”. “Phật ấy ta” là một cách diễn đạt khác đi
mệnh đề “tâm tức Phật, Phật tức tâm”. Nguyễn Bỉnh
Khiêm rất tâm đắc với mệnh đề này và dùng nó để chống
lại thói tệ mượn nhà chùa để lẩn tránh việc đời, chắc
cũng khá tràn lan thưở ấy; vậy bài thơ chưa hẳn đã phản
ảnh tinh thần bài Phật của ông”.
Nhân
đây, chúng ta cũng xem thử Phật Giáo có chủ trương che đậy
những thói hư tật xấu của những cá nhân đã lợi dụng
Giáo hội thanh tịnh với mục đích “mê hoặc” quần chúng
hay không? Chắc chắn là không, bởi vì đạo Phật lấy con
người làm trung tâm điểm, đã là con người thì phải có
tốt có xấu là một chuyện tất nhiên. Điều quan trọng là,
Phật Giáo luôn luôn khuyến khích sự nỗ lực tu tập của
mỗi người để loại bỏ cái xấu và từ đó mỗi người
phải tự hoàn thiện nhân cách của chính mình vậy.
Câu
chuyện sau đây trong kinh Na Tiên vấn đáp (Milindapànha) sẽ
cho chúng ta thấy đạo Phật hoàn toàn minh bạch trong việc
đánh giá về tập thể tăng đoàn của chính mình:
“Sau
buổi cúng dường trọng thể, đức vua thỉnh tất cả tỳ
kheo tăng về chùa an nghỉ, chỉ xin lưu lại 10 vị. Cùng với
đại đức Na Tiên dự buổi Pháp đàm.
Đức
vua thỉnh đại đức Na Tiên cùng 10 vị tỳ kheo ngồi cao phía
trên, Ngài ngồi bên dưới cùng với quần thần, rồi bạch:
Thưa,
Trẫm đã sẵn sàng rồi.
Tâu,
bần Tăng đã sẵn sàng rồi, Đại Vương hãy tùy nghi.
Thế
thì Trẫm xin hỏi:
Sống
đời xuất gia có gì là lợi ích? Có gì là cao thượng?
Tâu
Đại Vương! Người sống đời xuất gia thành tựu được
4 lợi ích lớn:
Thứ
nhất là không còn sầu khổ, khi ngũ uẩn sanh, hay gọi là
“khổ sanh”.
Thứ
hai, không còn sầu khổ khi ngũ uẩn héo mòn tiều tụy, hay
gọi là “khổ già”.
Thứ
ba, không còn sầu khổ khi ngũ uẩn đau đớn, nhức nhối,
khó chịu, hay gọi là “khổ bệnh”.
Thứ
tư, không còn sầu khổ, khi ngũ uẩn tàn hoại, diệt mất,
hay còn gọi là “khổ chết”.
Sự
thay đổi, biến hoại, tiêu diệt của ngũ uẩn từ sanh, lão,
bệnh đến tử – người xuất gia hằng suy niệm, hằng quán
tưởng nên sẽ thoát khỏi sầu bi, khổ, ưu, não chi phối
– là những lợi ích thù thắng đấy, tâu Đại Vương.
Đúng
thế! Quả thật là lợi ích to lớn giữa cõi nhân sinh này.
Còn có cái gì gọi là cao thượng, thật sự cao thượng của
người xuất gia nữa, thưa Đại Đức?
Thưa,
khi người xuất gia không bị sanh, lão, bệnh, tử của ngũ
uẩn ma vương ấy chi phối nữa, vị ấy thân chứng một trạng
thái quân bình tuyệt hảo, hạnh phúc tuyệt hảo, vượt cao,
vượt trên tất cả hạnh phúc của trần thế, siêu việt
ý niệm, ngôn ngữ; cái ấy giả danh là Niết Bàn; nơi không
còn sanh tử, khổ đau và phiền não nữa! Đấy là sự cao
thượng trên tất cả mọi sự cao thượng, tâu Đại Vương!
Đức
vua rất hoan hỉ hỏi tiếp:
Tất
cả Sa Môn đều có nguyện vọng như thế sao?
Tâu
Đại Vương! Cứu cánh Sa Môn hạnh thì như thế, nhưng trong
Tăng Lữ hiện nay có 7 hạng người xuất gia vì lý do khác
nhau:
1 –
Có người xuất gia vì muốn trốn luật Vua, phép nước.
2 –
Có người xuất gia là để được thân cận với giới quyền
quý cao sang.
3 –
Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi
chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4 –
Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm
manh áo.
5 –
Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6 –
Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
7 –
Có người xuất gia vì sự sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt
khổ đau phiền não.
Thấy
Đại Đức Na Tiên trả lời đâu đó rõ ràng, minh bạch, lại
tự nhiên như hít thở khí trời; Đức Vua phục lắm, thử
ướm hỏi:
Vậy
chắc Đại Đức vì mục đích cao thượng của hạng người
thứ 7 mà xuất gia làm Sa Môn?
Đại
Đức Na Tiên mỉm cười gật đầu:
Thưa,
không phải thế! Bần Tăng rời khỏi gia đình lúc 7 tuổi,
còn rất nhỏ thì nào biết được gì! Sau dần lớn lên, nhờ
Thầy Tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hóa, trí
óc mới khai mở được chút ít. Hiện giờ có thể nói rằng,
Bần Tăng xuất gia là cốt để diệt khổ, đấy không còn
là lời nói dối nữa!
Đức
Vua Mi-lan-đà nghe cách trả lời, cách nói đầy khiêm tốn
của Đại Đức Na Tiên, ngài kính trọng quá, quỳ xuống vập
đầu nói lớn:
Ôi!
Lành thay! Cao quý thay!” (*)
Triều
đại Mi-lan-đà chỉ cách xa thời Đức Phật chỉ khoảng 500
năm, chắc chắn còn rất nhiều các bậc Thánh Tăng chứng
đạo, người cai trị đất nước lại anh minh, thông thái
nhất là biết tôn trọng những giá trị tâm linh siêu việt.
Vậy mà vẫn còn có người vào chùa lợi dụng hình thức
tu sĩ để “được thân cận với giới quyền thế”…
huống chi một triều đại được cai trị bởi những ông
“Vua lợn”, “Vua quỷ”, một triều đại mà Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã than là:
Phong
vũ thời hối minh
Cương
thường nhật điêu thỉ
Lễ
nghĩa thán quải trương
Quan
cái tùy đảo trí
Sự
quân, thần bất thần
Sự
phụ, tử bất tử
Gió
mưa gặp lúc u ám tối tăm
Cương
thường ngày một suy sụp lỏng lẻo
Lễ
nghĩa, than ôi ngang trái
Mũ
lộng theo đó đảo ngược
Thờ
vua, tôi chẳng ra tôi
Thờ
cha, con chẳng ra con
(Cảm
hứng)
Một
chế độ như vậy thì hậu quả là “thượng bất chánh”
thì “hạ tắc loạn” là một chuyện tất nhiên.
Chùa
chiền cũng như giới tăng sĩ cũng không ra khỏi thông lệ
đó. Nghĩa là cũng bị những kẻ bất lương vào chùa để
phỉnh gạt những Phật tử mộ đạo hiền lành. Nếu quả
thật đây là hai câu thơ nữa của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Cơm
áo bỗng xui người hóa quỷ
Oản
xôi dễ khiến Bụt nên ma
Thì
cũng là điều chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Nhưng
những điều Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ trích về nhà chùa và
Tăng lữ trên dù sao cũng chỉ là những hiện tượng bên ngoài,
những thói hư tật xấu muôn thửa của con người dù là con
người đang ở trong chốn Thiền môn.
Còn
tận trong sâu thẳm của tâm hồn thì Nguyễn Bỉnh Khiêm nghĩ
sao về ngôi chùa?
Nguyễn
Bỉnh Khiêm có hai câu thơ Nôm than thở về nỗi cô độc của
đời mình:
Có
ai biết được lòng tri kỷ
Vời
vợi non cao nguyệt một vần
Và
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tự trả lời bằng hai câu thơ chữ
Hán:
Ưu
thời thốn niệm bằng thùy tả
Duy
hữu hàn sơn bán dạ chung
Nỗi
lòng lo cho đời biết nói cùng ai
Chỉ
có tiếng chuông chùa trên núi lạnh lúc nửa đêm
(Tân quán ngụ hứng)
Vậy
là trong những giờ phút cô độc nhất của đời mình thì
Nguyễn Bỉnh Khiêm cuối cùng cũng phải thừa nhận là ông
chỉ biết đem nỗi buồn đó tâm sự với tiếng chuông chùa
trên núi cao kia!
Nguyễn
Bỉnh Khiêm còn có một bài thơ nữa cũng được xem như là
bài bác Phật Giáo. Đó là bài ông thắc mắc về lòng từ
bi của ngày lễ Vu Lan hay xá tội vong nhân theo cách gọi truyền
thống có từ ngàn đời của dân tộc Việt. Nguyễn Bỉnh
Khiêm ghi lại thắc mắc ấy qua bài thơ ông viết theo thể
thất ngôn tứ tuyệt:
Thiên
địa na dung tội ác nhân
Thị
hà xá tội hữu lương thần
Ngã
kim dục trượng từ bi lực
Cứu
đắc vô cô đồ thán nhân
Trời
đất nào dung tha kẻ ác
Cớ
sao còn có lễ Vu Lan
Từ
bi ta muốn nhờ công sức
Cứu
được bao người chịu khổ oan
(Ngộ
trung nguyên xá tội)
Nhưng
bài thơ này theo ý kiến của giáo sư Nguyễn Huệ Chi thì “có
thể thấy trong Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn luôn có một nhà Nho
‘kinh bang tế thế’ cứ muốn đối thoại với những hệ
thống giáo lý đi chệch khỏi kênh hình tư tưởng của mình”.
Đúng
là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ muốn nói lên thắc mắc của mình
một cách nghiêm chỉnh (và chắc chắn còn nhiều người nữa).
Thắc mắc tất nhiên phải khác với bài bác.
Trong
một văn bia viết cho chùa Cao Dương theo lời yêu cầu của
nhà sư trụ trì có tên là Huệ Hiền và các bô lão thuộc
xã Cao Dương tỉnh Thái Bình, nhân việc chùa cho tạo tượng
Tam Giáo (Phật, Lão, Khổng). Văn bia được mở đầu bằng
những lời lẽ hết sức tôn kính đối với ngôi chùa:
“Chùa
cổ Cao Dương ở Thụy Anh linh ứng từ lâu. Điện Phật trang
nghiêm khiến người ngửa trông thành kính. Gác chuông cao ngất,
tiếng vang được nghe thấy từ xa. Đã cầu khẩn, không có
gì không được báo ứng. Đó là đất ban phúc, đệ nhất
của Thái Bình”.
Tiếp
theo Nguyễn Bỉnh Khiêm xác nhận ảnh hưởng tinh thần của
ngôi chùa đối với làng xã điều ấy được thể hiện qua
việc tạo tượng Tam Bảo và Diệu Thiện công chúa:
“Trong
xã có những cụ ông hiền hiểu sâu đạo lý, cụ bà nhân
từ, vào những năm niên hiệu Thuận Thiên đã cúng 7 mẫu
ruộng làm của Tam Bảo. Tấm lòng vui làm điều thiện người
người ngợi khen. Nay lại có các vị thiện sĩ như (…) và
các sải vãi cùng nhau quyên góp tài sản, thuê thợ tạo tác
tượng Tam Giáo và Diệu Thiện. Công việc xong xuôi, xin bài
Minh để ghi lại sự việc có thực này”.
Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng nói rằng vì mình là một nhà Nho, nên kiến
thức về Phật học cũng như Đạo học rất có giới hạn:
“Tôi
cũng có lòng thích điều thiện không dám từ chối. Nhưng
tôi là nhà Nho. Tuy chưa được nghe thấu đáo về Đạo Phật,
Đạo Lão; song đọc rộng, suy nghĩ nhiều những điều nghi
hoặc cũng nắm được một hai về luận thuyết này”.
Và
đây là đoạn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đứng trên quan điểm
Nho giáo để giải thích Phật giáo và Đạo giáo:
“Đại
loại Đạo Phật gốc ở chỗ làm sáng sắc và tâm, phân biệt
rõ nhân và quả. Đạo Lão chú trọng vào khí để tới chỗ
mềm dẻo. Nắm cái lý duy nhất giữ bản chất chân thực
của mình. Đạo lý đức Khổng, gốc ở đạo đức nhân nghĩa.
Văn hạnh, trung tín, tất cả đều là giáo lý tuân theo tính
tự nhiên con người mà tu dưỡng đạo đức; cùng với vị
Diệu Thiện do lòng thiện mà được nổi tiếng chẳng phải
là không xuất phát từ tâm tính con người. Các vị Thiện
Sĩ ví như có thể mở mang con đường Thiện, tuân theo và
giữ gìn giáo lý làm điều tốt lành. Vững gốc ở bản thân
mình để biểu lộ đối xử với người thì hạnh phúc tỏa
rộng không cùng. Công đức ấy vượt ngoài sự tưởng tượng
và luận bằng. Nhân ghi vào đá cứng để truyền dài lâu.
Bài
Minh rằng:
Trời
ban cho là tính
Tuân
theo tính là Đạo
Gốc
vốn ở trong lòng
Gởi
vào lời huấn giáo.
Tượng
còn lại trang nghiêm
Trời
mênh mông bất lão” [4]
Ta
thấy trong lời kết trên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lấy sách
Trung Dung, kinh điển chính của Nho học để quy kết Tam Giáo
lại thành một, và cột trụ vẫn là Nho giáo.
Thật
ra, sự quy kết cả ba lại thành một mà Nho giáo là cột trụ
chính này đã bị Thiền sư Cửu Chỉ ở đời Lý bác bỏ:
“Khổng Mặc chấp “hữu”, Trang Lão nhược “vô”, thế
tục chi điển, phỉ giải thoát pháp. Di hữu Phật Giáo bất
“hữu”, “vô”, khả liễu sanh tử”. Khổng học và Mặc
học chấp vào thế gian là có thật. Trang học và Lão học
chủ trương không có thật. Kinh sách thế tục chẳng phải
pháp học giải thoát cho con người. Chỉ có Phật Giáo mới
không chấp vào có, không, nên có thể hiểu rõ sự sống và
sự chết.
Nhưng
phải đọc hết đoạn văn bia ta mới thấy được tấm lòng
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một tấm lòng mà Phan Huy Chú ở thế
kỷ 19 đã ca tụng là: “Ưu thời tư thập niên, kỳ tâm vị
thường nhất nhật vong thế, ưu thời thế tục”. Sống cuộc
đời thong thả nhàn nhã mà trong lòng chưa từng một ngày
quên đời, lo cho thế tục.
Nhưng
chúng ta phải giải thích thế nào đây đối với sự thắc
mắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm về ngày lễ Vu Lan hay ngày xá
tội vong nhân Rằm tháng 7?
Trước
hết, ta phải xét đến tâm trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
đối với thời thế. Như ta đã biết đó là những ngày có
thể gọi là cực kỳ bi thảm, cái ác hoành hành khắp nơi,
ông căm phẫn muốn được báo thù, giết chết chúng (như
giết một lũ chuột đang chui rúc phá hoại) rồi đem phơi
xác chúng giữa phố chợ cho đã giận. Từ sự phẫn nộ có
tính thời thế này nên Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đặt vấn
đề về ý nghĩa của ngày xá tội vong nhân? Tại sao không
đem lòng từ bi đến với người dân hiền lành vô tội đang
bị chà đạp, bị áp bức mà lại đem lòng từ bi đó để
xá tội cho những kẻ đã làm ác? Vì kẻ ác thì theo Nguyễn
Bỉnh Khiêm trời đất cũng không còn dung tha thì làm sao lại
tha tội bằng sức chú nguyện được?
Sở
dĩ ta kết luận rằng sự căm phẫn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
chỉ mang tính thời thế (nghĩa là chỉ xảy ra trong nhất thời)
vì như trên ta đã biết rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm từng khẳng
định:
Dĩ
nhân phạt bất nhân
Cứu
thử điêu sái tâm
Vì
nhân mà đánh kẻ bất nhân
Cứu
dân đang bị điêu tàn ốm yếu
(Thương loạn)
Và
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng xác nhận rằng chỉ có lòng nhân mới
tồn tại ở trên đời này, chứ không phải lòng thù hận
muốn được trả thù:
Cổ
lai nhân giả tư vô địch
Hà
tất khu khu sự chiến tranh
Từ
xưa đến nay chỉ có người có lòng nhân là không ai địch
nổi
Việc
gì phải khư khư ôm lấy hận thù giết chóc.
Nếu
đã lấy lòng nhân để đánh kẻ bất nhân thì Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã chấp nhận quan điểm của Phật Giáo rồi, vì Phật
Giáo cũng chủ trương: không phải sự oán thù cừu địch
được chấm dứt bằng sự oán thù cừu địch, sự oán thù
cừu địch chỉ được chấm dứt bằng tình thương huynh đệ.
Vậy
lý do gì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại lên tiếng đặt nghi vấn
về tinh thần ngày lễ Vu Lan của Phật Giáo? Hay ngày xá tội
vong nhân theo truyền thống của dân tộc?
Ta
có thể xét đến một lý do nữa, trên quan điểm của một
nhà Nho thực tế, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng, kẻ nào đã
làm ác thì kẻ ấy phải nhận lấy hậu quả mà chính mình
đã gây ra, còn cầu nguyện để cứu vớt cho kẻ đã làm
ác là điều không thực tế, là viễn vông chăng?
Giả
sử Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thắc mắc như vậy thì Phật Giáo
phải giải thích thế nào?
“Có
người đến hỏi Phật về ý nghĩa của sự cầu nguyện.
Đức Phật trả lời, như một hòn đá nặng được thả chìm
xuống đáy hồ, cho dù với sức cầu nguyện của số người
đông đảo, hòn đá không vì vậy mà nổi lên mặt nước.
Sự thăng trầm hay đọa lạc của một chúng sinh tùy theo hành
vi mà nó đã làm, chứ không phải vì bất cứ lời cầu nguyện
nào.
Tuy
vậy, trong kinh điển cũng cho thấy sự tin tưởng nơi năng
lực chuyển hóa của tâm đối với môi trường chung quanh;
và ảnh hưởng ấy lại được chuyển tải bởi ngôn ngữ.
Khi
có nhiều Tỳ Kheo sống trong rừng sâu bị rắn độc cắn
chết, Phật nói nếu các Tỳ Kheo ấy mà đã rải tâm từ
đến các loài rắn độc, nhất định đã không bị hại bởi
chúng. Rồi Phật dạy bài kệ. Nội dung bài kệ không phải
là những câu thần chú bí hiểm, mà chỉ là những ước nguyện
mong cho tâm từ của hành giả lan đến chúa tể các loài rắn
độc, các sinh vật không chân, hai chân và bốn chân; ước
nguyện các sinh loại đều được an lành, không làm hại các
Tỳ Kheo. Ước nguyện này được gọi là “hộ chú” (Parittam).
Các
Paritta này hay hộ chú xuất hiện trong kinh điển Pa li không
phải là ít. Ý nghĩa của nó, do đâu mà ước nguyện chủ
quan như vậy lại được tác động mọi giới, có thể giải
thích bằng điển hình của Angulimāla. Tôn giả vốn là một
tướng cướp khét tiếng, mà con người thứ một nghìn định
giết chính là Đức Phật. Nhưng Angulimāla được Phật hóa
độ, trở thành Tỳ Kheo, rồi đắc quả A La Hán, nổi bật
với tâm từ. Một hôm tôn giả kể với Phật trường hợp
một sản phụ đau đớn, nguy kịch vì khó sinh. Phật dạy
Angulimàla đến đọc cho sản phụ ấy một Paritta, như là
thần chú cứu nguy. Nội dung thần chú là viện dẫn sự thật
rằng, kể từ khi Angulimāla tái sinh trong Thánh đạo này chưa
từng cố ý giết hại một sinh mạng nào, bằng sự thực
ấy, ước nguyện sản phụ sinh sản an toàn. Tất nhiên trong
quá khứ, Angulimāla là một tướng cướp giết người không
ghê tay; đó là một sự thật. Nhưng từ khi được Phật hóa
độ, Angulimāla sống bằng tâm từ với tất cả mọi sinh
loại, đó cũng là một sự thực. Sự thực trong Thánh đạo
của Angulimāla là đã chuyển hóa tai họa của sản phụ, khiến
cho được an lành: “tena saccena sotthi ti hotu”. Bằng sự thực
này, ước nguyện này, ước nguyện chị được an lành”.[5]
Một
bác sĩ người Pháp lừng danh ở những năm đầu thập niên
thế kỷ 20 cũng xác nhận rằng nhờ “rải tâm từ” mà
ông đã thoát được nạn rắn độc. Đó là trường hợp
bác sĩ Yersin:
“Năm
1894 bác sĩ Yersin đi từ cao nguyên Lang Bian đến Darlac rồi
từ Darlac đến Attopeu, một bữa nọ bác sĩ đang đi trong rừng,
mắt chăm chú nhìn lên các ngọn cây cao, thì bỗng nghe sau
lưng có tiếng động. Quay lại thì ngó thấy một con rắn
hổ mang to lớn đứng thẳng lên trên đuôi, phùng mang le nọc
độc.
Bác
sĩ Yersin đứng yên, thái độ hoàn toàn bình thản. Rắn lắc
lư chiếc đầu dẹp muốn nhảy đến chụp, nhưng lại trù
trừ. Hồi lâu hạ mình xuống vụt phóng vào bụi rậm rồi
đi mất.
Nghe
được câu chuyện, có người đến hỏi bác sĩ có phải nhờ
thuật thôi miên mà thoát nạn chăng? Bác sĩ cười đáp:
Rắn
độc cũng như thú dữ, cắn người chỉ để tự vệ. Chúng
đều có linh tính. Một khi nhận biết rằng mình không có
ác tâm, ác ý đối với chúng thì không bao giờ chúng làm
hại mình”[6].
Thế
giới vốn đã đen tối, nhưng sẽ đen tối hơn nữa nếu con
người không chịu dừng lại như Angulimàla đã từng dừng
lại trước lòng thù hận mà từ lâu Angulimàla đã ôm giữ,
rồi sau đó còn đem lòng từ rải đến những con người đang
đau khổ như trước đó Angulimàla đã đau khổ.
Chẳng
phải đó cũng là thông điệp mà Phật Giáo mang đến cho thế
giới đau khổ này trong ngày lễ Vu Lan, ngày mà Đức Phật
đã khuyên dạy các đệ tử xuất gia cũng như tại gia của
Ngài hãy rải lòng từ của mình đến không phải chỉ với
những người mà mình thương yêu mà cả đối với những
người đã thù ghét oán hận mình trước đó nữa?
Và
chẳng phải tổ tiên của dân tộc Việt chúng ta đã học
được bài học về lòng Từ Bi không phân biệt này từ Phật
Giáo? Và ngày xá tội vong nhân không chỉ là ngày thuần tín
ngưỡng thôi mà còn thể hiện tất cả sự hiếu hòa truyền
thống mấy ngàn năm của dân tộc Việt?
Lịch
sử của nhân loại nói chung và dân tộc Việt nói riêng đã
từng chứng minh một cách hùng hồn rằng, bất cứ một triều
đại nào, một thể chế chính trị nào cai trị dân bằng
một chính sách bao dung, cởi mở, nhất là biết khiêm tốn
học hỏi những tinh hoa của mọi tư tưởng thời đại, thì
nhất định sẽ đem lại sức mạnh của sự đoàn kết, điều
kiện tất yếu để đưa dân tộc mình đến giàu mạnh và
phú cường.
Cố
giáo sư Nguyễn Đăng Thục, một người đã dâng hiến trọn
đời mình cho lịch sử tư tưởng dân tộc, đã viết về
hậu quả của chính sách “độc tôn” của nhà Lê như sau:
“Triều
đại nhà Lê, kể từ Lê Thái Tổ, sau 20 năm chinh chiến với
quân Minh, giới lãnh đạo nhất định đoạn tuyệt với tư
tưởng truyền thống Lý Trần để độc tôn một mình Nho
học dùng làm ý thức hệ quốc gia, bắt chước Tống Nho “tịch
Thích Đạo” nghĩa là bài bác Phật Giáo và Đạo Giáo. Sự
độc tôn ấy đi đến tuyệt đỉnh của chế độ phong kiến
với Lê Thánh Tông (1460 – 1497).
Ý
thức hệ Nho giáo vốn bế quan nên làm cho chính thể chuyên
chế, bè phái tranh giành, quan liêu và lợi danh”.
Cố
giáo sư còn so sánh về sự khác nhau của hai cái chết của
hai vị vua được xem là lỗi lạc nhất của hai triều đại.
Vua Lê Thánh Tông thì tin vào Nho giáo, chê nhà Lý nhà Trần
là mê tín Phật Giáo, đến lúc gần chết thì thốt ra những
lời đầy hoang mang và tuyệt vọng:
Ngũ
thập niên lai thất xích khu
Cương
trường như thiết khước thành nhu
Phong
suy song ngoại hoàng hoa tạ
Lô
ấp đình tiền lục liễu sưu
Bích
hán vọng cùng vân yểu yểu
Hoàn
lương mộng tỉnh dạ du du,
Bồng
lai sơn thượng âm dung đoạn
Băng
ngọc hương hồn nhập mộng vô
Năm
mươi năm, bảy thước thân trai
Dạ
sắt lòng gan chợt yếu rồi.
Gió
thổi ngoài song vàng cúc rụng
Sương
sa thềm trước liễu xanh gầy
Trông
lên Trời biết mây thăm thẳm
Mộng
tỉnh kê vàng, năm canh chầy.
Bồng
Lai đỉnh núi âm thanh dứt
Lòng
tuyết hồn thơm mộng hão thôi.
Còn
Trần Nhân Tông của đời Trần thì chấp nhận sống chung
với cả ba tôn giáo, nói theo ngôn ngữ ngày nay là người
chủ trương “đa nguyên”, khi đối diện với cái chết lại
hết sức bình thản, nhà vua đã xem cái chết là bắt đầu
bước vào một thế giới mà ở đó “tràn ngập một màu
xuân”:
Thế
số nhất sách mạc
Thời
tình lưỡng hải ngân
Ma
cung hồn quản thận
Phật
quốc bất thắng xuân
Số
đời một hơi thở
Tình
đời hai biển trăng
Cung
ma đâu sá kể
Cõi
Phật một trời xuân.[7]
Bởi
vậy khi Nguyễn Bỉnh Khiêm một người được thời đại
đánh giá là “cây đại thọ tỏa bóng mát suốt thế kỷ
16” đã đến chùa Phổ Minh không phải như mọi khách vãn
cảnh khác, mà chắc chắn ông đã đến để tỏ lòng tôn
kính đối với ngôi chùa đã từng đóng một vai trò quan trọng
trong việc đưa nước Đại Việt phát triển rực rõ trong
suốt một thế kỷ mà bây giờ ngôi chùa cũng như đất nước
đã lâm vào cảnh điêu tàn.
Loạn
hậu trùng tầm đáo Phổ Minh
Viên
hoa dã thảo cựu nham quynh
Bỉ
văn bác lạc hòa yên bích,
Phật
nhãn thê lương chiếu dạ thanh.
Pháp
giới ưng đồng thiên quảng đại,
Hương
nhân do thuyết địa anh linh.
Liêu
liêu cổ đỉnh kim hà tại
Thức
đắc vô hình thắng hữu hình.
Sau
loạn lại tìm đến Phổ Minh
Hoa
vườn cỏ nội cổng xưa quen
Bia
văn tàn đổ khói mờ biếc
Mắt
Phật lạnh lùng đêm quạnh tanh.
Cõi
Pháp một vùng Thiền rộng lớn
Người
làng vẫn bảo đất thiêng linh
Xa
xăm cổ đỉnh rày đâu tá
Mới
biết vô hình thắng hữu hình.
(Du Phổ Minh tự)[8]
Cũng
như nhà Nho Nguyễn Trãi ở thời Lê Sơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm
cũng cảm thấy cô độc lạ thường giữa một đám Nho thủ
cựu, cố bám chặt ý thức hệ Nho giáo của mình, để cuối
cùng đưa đất nước đến chỗ khốn cùng, ông than lên trong
đau đớn:
Nho quan tự tín đa thâm ngộ
Đình thực thùy năng vị quốc mưu
Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ
Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu
Cái
mũ nhà Nho tự biết đã làm cho tấm thân mắc nhiều lầm
lỡ
Ăn
bằng vạc, có ai là kẻ vì nước mưu toan
Rốt
cục (ai) muốn tìm cái chỗ vui của ta.
Thì
cần biết rằng ta được vui sau thiên hạ
Vì
biết lo trước thiên hạ
Mỗi
khi nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư tưởng Phật Giáo,
thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều trích hai câu trong bài
Cảm thời cổ úy của ông:
Tùng đầu sắc thị không
Bản lai vô nhất vật
Và
đều công nhận rằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất nghiêm chỉnh
trong việc tìm hiểu chữ “không” của Phật Giáo Đại Thừa
“cái gì có hình thể, có tên gọi, có màu sắc biểu hiện
đều giả hợp mà có, đều nhân duyên với nhau mà sinh, cho
nên không có vật gì trong thế giới hiện tượng là tự có
mà chỉ là tương đối. Cho nên “không” có thực thể tuyệt
đối. Thế nên mọi sự là hỗ tương quan hệ (Pratitya samputpāda
– nhân duyên) thì không có vật gì có tính độc lập, cho
nên gọi là “không”[9]
Trong
bài Đọc Phật kinh hữu cảm Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên nên
đọc kinh Phật bằng một tinh thần như thế này:
“Nếu
trong lòng bạn có mảnh ruộng bỏ hoang, thì nên cắt bỏ thứ
cỏ hoang đó đi, để vun trồng lấy thứ hoa khác, đóa hoa
của giác ngộ”.[10]
Đọc
lời khuyên trên, ta có cảm tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm không
còn là một nhà Nho nghiên cứu kinh Phật để thoả mãn tính
hiếu kỳ, mà là một hành giả nhiệt tâm đi tìm kiếm con
đường để tự giải phóng ra khỏi mọi đau khổ và triền
phược của chính mình.
Theo
lời thuật lại trong bài Đi tìm lại dấu vết ông Trạng
trên hai bờ sông Vĩnh Trinh quá khứ [11] thì Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã cùng với nhân dân góp công sức xây dựng các chùa như
chùa Sông Mai, chùa Vọng Nguyệt, chùa Ngân Mai, chùa Kế, chùa
Mét, đặc biệt là chùa Trang Hoa, ngôi chùa mà ông thường
lui tới để đàm đạo và ngâm vịnh với vị sư trụ trì
có tên là Bùi Ngu Dân. Chính tại ngôi chùa này, Nguyễn Bỉnh
Khiêm có viết bài ký có tên là Thạch khánh Ký (bài ký viết
về chiếc khánh đá). Trong bài ký có đoạn:”Nguyên có chùa
Trang Hoa ở làng Đồng Địch, huyện Vĩnh Lại, thuộc Hồng
Châu, đất cổ mà thanh u, cảnh đẹp mà vắng vẻ, rõ ràng
là vùng trời Thiền ở cõi Chấn Đan…”
Bài
thơ sau đây sẽ cho ta thấy vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại
say mê với những ngôi chùa đến như vậy:
Trường
tùng ông uất trúc âm sum
Danh
lợi nguy nga ỷ mục sầm
Địa
khả tuyệt trần lưu nguyệt tĩnh
Môn
trường lan lục tỏa vân thâm
Mộ
lai sơn sắc thanh tăng nhãn
Dạ
hướng đăng hoa chiếu Phật tâm
Cảnh
giới trang nghiêm đàm bất tận
Du
quan thùy bất mỹ đăng lâm
Thông
cao vút rậm rạp, tre trúc sum xuê
Dựa
trên núi cao nguy nga nhìn lợi danh
Đất
sạch hẳn bụi trần chỉ giữ lại bóng trăng yên tĩnh,
Cửa
ngăn cách thói tục nhờ làn mây khóa lại.
Chiếu
đến cảnh sắc núi rừng làm trong mắt nhà sư,
Đêm
về ánh đèn soi tỏ tâm Phật.
Cảnh
giới trang nghiêm đàm luận không thể tận cùng
Người
đến viếng ai mà không gợi lên mỹ cảm.
(Tự
thi)[12]
Cuộc
đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn chặt với chùa chiền đến
nỗi gần hai thế kỷ sau (18) Nguyễn Thiếp một nhà Nho lỗi
lạc cũng được tôn là phu tử (La sơn phu tử) như ông (Tuyết
giang phu tử), từ Nghệ An ra Bắc muốn tìm lại dấu vết
của ông cũng phải vào các ngôi chùa ở các vùng quê Hải
Dương.
Trong
bài thơ nhan đề Quá trình tuyền mục tự (Qua chùa Mục của
trình tuyền) Nguyễn Thiếp đã xem Thiền sư Vạn Hạnh ở
thế kỷ thứ 10 và Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ 16 đều
là những nhà tiên tri vĩ đại. Chỉ có khác là, Vạn Hạnh
đã đưa được học trò của mình là Lý Công Uẩn lên ngôi,
mở ra triều đại nhà Lý, một triều đại đã khẳng định
nền tự chủ và độc lập mạnh mẽ nhất sau hơn một ngàn
năm Bắc thuộc. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ 16, mặc
dầu được Nguyễn Thiếp ca tụng là “áo cơ thâm tạo hóa”
(mưu cơ thâm kín tham dự vào việc của tạo hóa) nhưng cũng
chẳng làm được gì trước thời loạn “Bạch vân bất khả
đương” (Bạch vân cũng khó đảm đương nổi):
Tích
văn Mạc trình tuyền
Kim
đáo Tuyết kim tân
Cổ
quán dư thương kệ
Di
am chỉ Bạch vân.
Bắc
giang tăng Vạn Hạnh,
Nam
độ Tấn Tham Quân
Thao
thao trục lưu Mác
Chân
tri hữu kỷ nhân
Viêm
vận tao dương cửu
Gian
hùng xuất chấn phương
Tiêu
sơn tăng dĩ hỉ
Bạch
Vân bất khả đương.
Áo
cơ thâm tạo hóa
Nhàn
khí miểu công vương.
Phiến
ngữ toàn tam tính
Hồn
hỗn vị dị lương.
Am
không bi diệc diệt
Lưu
lạc tuyết kim giang
Xưa
nghe tiếng Trạng Trình đời nhà Mạc
Nay
đến bên sông Tuyết Kim
Quán
cổ còn lại tấm bia đá phủ rêu xanh
Dấu
vết am chỉ còn mây trắng.
Bắc
Giang có Sư Vạn Hạnh
Bến
đò Nam có Tấn Tham Quân
Nước
cuồn cuộn chảy xuống cuối dòng
Có
mấy ai được là “chân tri”
Vận
nước vùng nóng nực này gặp lúc rủi ro
Ở
phương Đông xuất hiện kẻ gian hùng,
Nhà
sư ở chùa Tiêu Sơn không còn nữa
Bạch
Vân cũng khó đảm đương nỗi.
Mưu
cơ sâu kín tham dự vào việc của tạo hóa
Phong
khí nhàn nhã xa cách các bậc công vương
Chỉ
câu nói ngắn mà bảo toàn được ba họ
Rất
hồn nhiên mà không dễ suy đoán được
Am
không, bia cũng hỏng mất
Sông
Tuyết Kim vắng vẻ đìu hiu.[13]
Bởi
vậy ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng, Nguyễn
Bỉnh Khiêm không hề bài xích Phật Giáo. Nếu có, thì ông
cũng chỉ chỉ trích những người đã làm hoen ố chốn Thiền
Môn, một nơi mà ông đã gọi là “địa khả tuyệt trần”
(đất sạch hẳn bụi trần).
Và
mặc dù không phải là một Phật tử thuần hành như Nguyễn
Trãi ở thế ky 15 hay Nguyễn Du ở thế kỷ 18, nhưng Nguyễn
Bỉnh Khiêm vẫn xem chùa chiền như nơi chốn cuối cùng mà
ông trở về, phải từ một mảnh đất sạch hẳn bụi trần
(địa khả tuyệt trần) ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới hy vọng
tìm thấy lại Phật tâm trong chính ông (dạ hướng đăng hoa
chiếu Phật tâm) giữa đêm dài tăm tối của sanh tử, như
chính Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xác nhận vậy.
Những
nhà nghiên cứu văn học hiện nay mỗi lần viết về các nhà
thơ cổ điển nói chung và Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng, vẫn
thường dùng nhóm từ như “hạn chế thời đại” hoặc
là “sự bế tắc của chế độ phong kiến”. Như vậy, mặc
nhiên ai cũng phải thừa nhận rằng thời hiện đại là thời
“không bế tắc” và “không hạn chế”. Nhưng điều đáng
ngạc nhiên là những thời đại mà ta cho là “bế tắc”
và “hạn chế” đó lại đối đãi với các nhà trí thức
rất mực là “văn hóa” nói theo cách nói hiện nay.
Trường
hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng hạn, ông đã lớn tiếng mạt
sát giới thống trị bấy giờ, gọi họ là một lũ chuột
chui rúc (tăng thử). Trong một bài thơ khác ông còn ví họ
như một lũ ruồi, lũ kiến, hễ thấy nơi nào có mùi tanh
hôi, có mật ngọt, có mỡ béo thì nhào tới mà chẳng hề
biết liêm sĩ là gì:
Thớt
có tanh tao ruồi đậu đến
Ang
không mật mỡ kiến bò chi
Vậy
mà chẳng những họ (giai cấp thống trị thời bấy giờ)
đã không gây khó dễ cho ông mà còn xem ông như một bậc
Thầy. Tất cả các tập đoàn phong kiến đang giành giựt lẫn
nhau (Trịnh, Lê, Mạc, Nguyễn) mỗi khi cần lại đến thỉnh
ý kiến ông. Đến khi chết, vương triều Mạc còn sai các
thái tử về lo tang lễ cho ông và phong tặng ông nhiều tước
hiệu cao quý nhất dưới chế độ mà ngày nay ta gọi là “bế
tắc phong kiến”.
Có
lẽ chỉ những nghệ sĩ tự nguyện làm nô lệ cho thời đại
còn những nghệ sĩ chân chính bằng tất cả sức mạnh nội
tâm của mình, ngòi bút của họ có đủ sức lay động trái
tim của nhiều thế hệ sau. Nguyễn Bỉnh Khiêm tất nhiên đứng
vào hàng ngũ của những nghệ sĩ cự phách ấy.
Chẳng
hạn bài thơ Nôm sau đây của ông:
Một
mai, một cuốc, một cần câu
Thơ
thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta
dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người
khôn, người đến chốn lao xao.
Thu
ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân
tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu
đến gốc cây ta sẽ uống
Nhìn
xem phú quý tựa chiêm bao.
“Chốn
lao xao” là chốn nào vậy? Có phải là chốn của lợi danh,
của cửa quyền để rồi cuối cùng đưa đến đấu tranh
và sát phạt lẫn nhau chăng?
Có
lẽ trừ Truyện Kiều của Nguyễn Du ra, thì bài thơ Nôm dễ
đọc dễ nhớ trên của Nguyễn Bỉnh Khiêm là được nhân
dân truyền khẩu không phải ở thời đại Nguyễn Bỉnh Khiêm
thôi, mà cả đến ngày hôm nay nữa.
Điều
ấy chứng tỏ rằng không phải chỉ có thời “phong kiến
bế tắc” mà người dân ở mọi thời đại (kể cả thời
đại hôm nay) vẫn luôn luôn là nạn nhân cho lòng tham ích
kỷ của một thiểu số người vậy!
T.P.A.
[1]
Tất cả thơ văn trong bài này đều trích từ Nguyễn Bỉnh
Khiêm, tác giả và tác phẩm. Nhiều tác giả. Nxb. Giáo dục
[2]
Theo Đinh Gia Khánh, sđd.
[3]
(*): Theo Nguyễn Nghiệp trong Trạng Trình (Sấm và ký), Nxb.
Văn hóa Thông tin, 2004.
[4]
Vũ Tuấn Sán và Đinh Khắc Thuân dịch.
[5]
Thiền và Bát Nhã của D.T. Suzuki, Tuệ Sỹ giới thiệu và
dịch. Viện CĐPH Hải Đức, 2004.
[6]
Xứ Trầm hương của Quách Tấn. Hội Văn học nghệ thuật
Khánh Hòa tái bản 2003.
[7]
Lịch sử tư tưởng VN, Nxb. Tp. HCM, tái bản 1998.
[8]
Nguyên Hiệp – Hữu Thể dịch.
[9]
Theo Nguyễn Đăng Thục, sách đã dẫn.
[10]
Theo Nguyễn Nghiệp, sách đã dẫn.
[11]
Trịnh Khắc Nguyễn và Nguyễn Trung Hán.
[12]
Ngôi chùa, một vùng tâm thức, một vùng thi ca. Nguyên Hiệp
Nguyễn Khắc Mai, Nxb. Tôn giáo, 2001.
[13]
Nguyễn Bỉnh Khiêm, sđd.