UẨN,
XỨ, VÀ GIỚI
Edward
Conze
Dịch
Việt: Hạnh Viên
Các
pháp được phân thành ba loại rất quen thuộc với mọi trường
phái Phật học, đó là năm uẩn, mười hai xứ và mười tám
giới.
1.
Skandhas, uẩn (‘đống’, ‘nhóm’) là năm yếu tố tạo
thành một nhân cách đương thể. Về mặt phân tích, mọi
dữ kiện kinh nghiệm, bản thân chúng ta cùng các đối tượng
liên quan đến chúng ta, đều có thể được phát biểu bằng
thuật ngữ uẩn. Mục tiêu của phân tích là để loại bỏ
cái ‘Tôi’ mơ hồ. Các uẩn ‘xác định tính giới hạn
của nền tảng thủ chấp một bản ngã, cùng những cái thuộc
về một bản ngã.’[1] Chúng bao gồm bất cứ gì và hết
thảy mọi cái chúng ta có thể thâu tóm, hay nắm bắt – như
là tự ngã chúng ta, thuộc về tự ngã, như liên quan đến
tự ngã. Chúng ta được khuyến dạy hãy cứu giúp, nhờ vào
lý trí, những ai đã rơi vào tâm trạng chấp thủ một ‘bản
ngã’.
Cái
xuất hiện trước tầm nhìn chưa được tu tập và quan niệm
ngu dốt của chúng ta như một vật hay sinh vật có vẻ thống
nhất, một đống thô trọng (ghana) có vẻ rắn chắc bên ngoài,
được phân thành năm ‘nhóm’ (rāśi, tụ, đống )[2], hay
bó, một thứ kết tụ các mảnh vụn cộng thêm danh hiệu,
một khối được hình thành từ năm phần tử khác biệt nhau.
Như những ngôi sao trong một chòm sao mà không ngôi sao nào
thuộc về ngôi sao nào, chỉ vì chúng ta sắp xếp chúng vào
một nhóm tùy tiện, cũng vậy ‘cá tánh’ (cá ngã) của chúng
ta là một tập họp qui ước các yếu tố tạp loại, mà hết
thảy đều thuộc về một trong năm tụ nhóm, được gọi
là uẩn.
Bốn
uẩn đầu không có gì khó hiểu, không có nghi ngờ gì về
nội dung của chúng. (1) Sắc, Phạn ngữ rūpa, là phần vật
chất hay vật lý của vạn vật, là những gì còn lại của
người và vật khi đã loại trừ các đặc tính tinh thần
và đạo đức. (2) Thọ[3], Phạn ngữ vedanā, là (cảm nhận)
lạc (= cái ta muốn tiếp diễn), khổ (= cái ta muốn chấm
dứt), và trung dung[4]. (3) Tưởng, (saṃjñā), có sáu loại,
tương ứng với sáu giác quan. (4) Hành, (saṃskārā), là mọi
tính khí, khuynh hướng, động lực, ý chí, khát vọng, xúc
cảm tích cực vv..., ‘có ý thức’ hay bị đè nén, dù luôn
gắn liền với thức theo nghĩa Phật học*. (5) Thức (vijñāna)
là cái quan trọng và dễ nhầm lẫn nhất trong các uẩn. Nó
là cái quan trọng nhất vì người ta cho rằng bốn uẩn kia
lệ thuộc vào nó. Trong công thức về lý duyên khởi, thức
đi trước và tạo điều kiện cho ‘danh và sắc’, là một
thuật ngữ cũ chỉ cơ quan tâm-vật lý, và trong phân tích
của A-tỳ-đàm ba uẩn thuộc tâm kia được cho là do thức
quyết định+.
2.
Mười hai xứ (āyatana) là (1) mắt, (2) cảnh quan, (3) tai, (4)
âm thanh, (5) mũi, (6) mùi, (7) lưỡi, (8) vị, (9) thân, (10) các
xúc chạm++, (11) ý và (12) các pháp đối tượng của ý. Ngữ
nguyên của từ āyatana có vẻ rất đáng ngờ[5], nhưng cách
dùng nó trong Phật giáo rất rõ ràng bằng cách giải thích
nó như từ āyadrāva[6], nghĩa đen là ‘ngõ xuất sinh’, ‘cửa
đến’; āya là ‘khởi lên’ đứng trước chữ vyaya, ‘rơi
xuống’. Có lẽ từ tương đương chấp nhận được là ‘nguồn
gốc’, vì ‘cửa’ cũng có nghĩa là ‘nguyên nhân’ hay
‘phương tiện’.
Vì
quán về các uẩn là khởi sự đánh đổ sự tin vào một
‘tự ngã’, cho nên quán về các xứ là đề cập đến nguồn
gốc các pháp thuộc tâm, ‘tâm và các tâm sở của nó’[7],
và nhìn chúng như đang diễn ra bởi sự kết hợp hay liên
kết giữa các căn với cảnh. Các xứ là nguyên nhân (kāraṇa)
vì sao các sự kiện tâm thức khởi phát hay hiện hành, và
là ‘sinh địa của chúng, như cao nguyên Deccan là nơi sản
sinh các đàn gia súc’[8]. Với tôi thật là sai lầm khi xem
các tư tưởng ‘của tôi’ là những sản phẩm tự do của
tự ngã ‘của tôi’ hay thức ‘của tôi’. Rõ ràng là chúng
ràng buộc với căn và cảnh, vốn phải tiếp xúc nhau để
cho một hành vi của thức khởi phát, và cả hai cái đều
xa lạ với tôi vì tôi không thể nói là đã tạo ra cái thể
tạng sinh học của tôi hoặc các đối tượng tư duy của
tôi. Cả hai được tạo nên rồi áp đặt lên tôi.
3.
Mười tám giới (dhātu) là sáu căn, sáu cảnh, và sáu thức
tương ứng với căn và cảnh. Chữ dhātu, động từ căn dhā,
‘đặt, để’, có thể dùng cho nhiều nghĩa[9]. Các nghĩa
quan trọng nhất là ‘yếu tố’ hay ‘nguyên nhân’ (hetu),
‘cảnh giới’ hay ‘phạm vi’. Trong ngữ cảnh này có lẽ
nó có nghĩa là ‘yếu tố cấu thành’ hay ‘nhân tố’.
Quán về 18 giới là để ‘liễu giải’, bằng một phương
pháp đơn giản và dễ dàng, sự thật về cái mà ở châu
Âu được biết là ‘chủ nghĩa hiện tượng', đồng thời
sử dụng định lý triết học này như là khởi điểm cho
một kết luận đặc trưng Phật giáo.
Giả
dụ bạn nhìn thấy một ‘trái cam’ trước mắt. Về phương
diện ‘các giới’ kinh nghiệm này bao hàm ít nhất ba nhân
tố - một đối tượng của nhãn căn, độ cảm thụ của
nhãn quan, và một hành vi nhãn thức. ‘Trái cam’ là một
dữ kiện kinh nghiệm, một đối tượng nhãn căn được nhìn
thấy, không nên bị nhầm với ‘trái cam’ một sự kiện
khách quan, khi nó ‘ở ngoài kia’, bởi lý do đơn giản là
một sự kiện khách quan, khi xuất hiện trước tâm trí, được
bổ sung thêm bởi hai nhân tố phụ, sau khi trải qua tác động
của giác quan và hành vi của thức*. Không ai có thể biết
nó sẽ ra sao nếu loại trừ phần đóng góp của hai yếu tố
này. Không ai có thể nắm bắt được đối tượng tự thân
đúng như nó là, mà chỉ biết được ‘trái cam’ đã được
biến cải và ngụy tạo qua quá trình chủ quan. Với những
người chuyên tâm tìm hiểu bản chất thực tại, không thể
dễ dàng bỏ qua khám phá này.
Xem
xét các giới như thế chỉ là củng cố thêm ‘chủ nghĩa
hiện tượng' vốn đã giữ vai trò quyết định trong triết
học Tây phương, kể từ thời Protagoras+ về sau. Song những
nhà Phật học không dừng lại ở đây, xa hơn họ còn tự
hỏi: Nếu toàn bộ dữ liệu là ba nhân tố thiết yếu ngang
nhau này, thế tại sao chúng ta hầu như lúc nào cũng hướng
về nhân tố đầu tiên, tức đối tượng, đến mức sự
nhận biết hai nhân tố kia gần như hoàn toàn bị mờ nhạt?
Câu trả lời là hạng phàm phu đã nhiễm phải thói quen nghĩ
rằng hạnh phúc của nó tùy thuộc cách xử lý các đối tượng.
Phật giáo tin đó là điều sai lầm, và hy vọng kết quả
khả quan hơn nhờ việc tập trung chú ý vào các nhân tố chủ
quan thường hay bị bỏ qua. Theo phân tích, các thành phần
chủ quan có ảnh hưởng vượt trội trong việc hình thành
diện mạo một đối tượng mà, là một ‘vật thuần là
nó’, hoàn toàn không thể nắm bắt được. Cũng vậy việc
điều chỉnh của các nhân tố chủ quan này hứa hẹn đáng
bõ công hơn sự xử lý các đối tượng. Chúng ta luôn được
nhắc nhớ rằng vấn đề không phải là thế giới tác động
đến chúng ta như thế, mà là mọi vật tùy vào phản ứng
của chúng ta như thế nào trước thách đố của nó. Cải
tạo thế giới ngoại tại được xem là vô bổ. Cải tạo
được tâm trí của chính mình, không còn gì có thể xâm hại
chúng ta được nữa.
Phần
nội tâm của con người được thể hiện bằng các thuật
ngữ ‘thức’ (uẩn thứ năm), ‘ý’ (xứ thứ mười một
và giới thứ mười hai), và ‘ý-thức’ (giới thứ mười
tám). Những giới hạn của không gian lẫn kiến thức không
cho phép tôi nhận định giá trị đầy đủ khía cạnh này
của tư tưởng Phật giáo, và tôi sẽ chỉ nói đến những
điều tuyệt đối cần thiết để hiểu được những phát
triển sau này được trình bày trong phần II và III của sách
này. Trước hết chúng ta phải hiểu bằng cách nào ‘thức’,
được hiểu như một ‘pháp’ (dharma), có liên quan tới ‘tự
ngã’, thứ hai là định rõ ba ý nghĩa căn bản của từ ‘thức’,
và cuối cùng khảo sát vai trò thiết yếu của ‘thức’
trong quá trình giải thoát khỏi thế gian.
I.
‘Thức’, như ta đã thấy (chương trước, 3.5, a), được
dùng để giải thích cho một trong những chức năng thường
bị quy gán cho một ‘tự ngã’. Như chúng ta được biết,
không hề có các ‘chủ thể’, nhưng có các hành vi khách
quan hóa, hành vi chú ý, hay nhận thức. Khi sử dụng từ ‘thức’,
các nhà Phật học cố nói bằng phong cách phi nhân xưng về
sự kiện theo đó mọi kinh nghiệm tâm lý diễn đến với
‘tôi’, được biết đến bởi ‘tôi’, được nhận thức
bởi ‘tôi’. Trong mọi trường hợp liên quan tới ‘thức’,
‘Tôi’ lúc nào cũng ở hậu cảnh, dù nó hẳn không bao giờ
được nhắc đến. ‘Thức’ là ‘linh hồn’, hay ‘tự
ngã’*, vì đó là thành phần uẩn mà, hơn mọi thành phần
kia, nó gợi lên ảnh tượng của một cá thể tính. Cần phải
phân rã nó một cách hết sức cẩn thận: a) nó không phải
là một vật, mà là một chuỗi liên tục các hành vi; ‘tâm
thức ngày cũng như đêm, khi khởi lên thành cái này, rồi
diệt mất thành cái kia’[10], b) nó không phải là vật sở
hữu hay chủ sở hữu hữu ngã, mà là kết quả của quá trình
duyên sinh hợp lý của các sự kiện phi ngã.
II.
Tùy theo văn cảnh, từ ‘thức’ có thể mang nghĩa (1) nhận
thức thuần túy, (2) một tư tưởng, (3) ý.
1)
Định nghĩa ‘thức’ là ‘nhận thức thuần túy’, hay phân
tích suy xét (ngữ căn Vi, phân tích + jñāna, trí), thì dễ,
nhưng hầu như thực tế không thể trải nghiệm việc nhận
thức như là đơn thuần nhận thức. Điều này một phần
vì lẽ cực kỳ khó chủ tâm vào một hành vi nhận thức mà
không cùng lúc chú ý đến đối tượng của nó, hay nói cách
khác, vì cố tật không sẵn sàng loại bỏ tất cả những
gì thêm vào hành vi đơn thuần đang nhận thức. Hơn nữa,
‘thức’ rất khó nắm bắt vì, là chủ thể cơ bản của
mọi hoạt động tâm lý, nó không thể được biến thành
một đối tượng cứu xét mà không mất đi tính cách đặc
trưng của nó. Một khi bị khách thể hóa hay bị nhận thức
thì chủ thể không còn được nhìn như là nó nữa. Khi nhận
thức về chính nó, ý thức phân hai thành chủ thể và khách
thể. Như vậy chủ thể bị nhận thức không còn là chủ
thể nhận thức, và hy vọng nắm bắt được (ý) thức của
tôi bằng nội quan chẳng khác nào hy vọng bắt được cái
bóng của mình vậy.
Thức
đúng là hoạt động tâm lý ít nhiều được xem xét cách
trừu tượng; trong hành động nó là chủ thể, được quan
sát hầu như bởi chính nó. Ngược với ba uẩn thuộc tâm
còn lại được xác định cách cụ thể bởi các hoạt động
hoặc đối tượng đặc trưng. ‘Thức’ trong ý nghĩa này
được đồng nhất với ‘tâm’ (citta), còn ba tâm uẩn kia
được gọi là ‘tâm sở’ (caitasikā), hay các đồng hành
với tâm thức, những cái được cho là tiếp liền theo tâm,
phối hợp hay liên kết với nó, và rằng chúng phát sinh từ
tâm, rồi trở thành đồng hành với nó. Trong tưởng thì đối
tượng dẫn đầu, trong thức đó là chủ thể; tưởng (saṃ-jñā,
cùng biết) là ta nhận biết cái này cái kia, thức là tự
ý thức ngoài (vi-jñāna) sự cáo tri đối tượng; tưởng đưa
đến sự nhận biết chi tiết các thuộc tính, thức là sự
nhận biết tổng quát về đối tượng đang ở đó.
2)
Trong bản chất cụ thể của nó, chứ không trừu tượng,
một hành vi ý thức là một tư tưởng (citta). Ở đây thuật
ngữ được dùng không để chỉ một tư duy thuần túy, mà
để chỉ tư duy liên quan tới một đối tượng[11]. Một hành
vi nhận thức cụ thể nhất thiết phải có hai tiền tố (căn
và cảnh) đóng vai trò quyết định tính chất của nó khiến
‘thức’ được chia thành sáu loại, tức con mắt – nhãn
thức, vv... cho đến ý thức. Một tư tưởng thường có các
hậu quả của nghiệp của nó, và lúc nào cũng hàm chứa một
số yếu tố cấu thành. Thượng toạ bộ đưa thêm vào thọ
và tưởng năm nhân tố được tìm thấy trong mọi hoạt động
trí năng, là xúc (phassa), tư (cetanā), mạng (jīvita), định
(samādhi) và tác ý (manasikāra)*. Thông qua ‘xúc’ một quá
trình ngoại tại trở thành – có thể nói vậy – một phần
của tâm thức, một sự biến nội tâm bắt đầu các tiến
trình tri thức. Trừ phi sáu nội xứ đã tạo ra một cảnh
vực nội tâm tương phản với một vùng ngoại giới, không
có xúc nào có thể diễn ra. ‘Tư (ý chí)’ là cái được
thực hiện về điều mới xảy đến với tâm thức. Ta bận
tâm về nó và hành động có mục đích diễn ra. ‘mạng’
cho ta khả năng tiếp tục làm điều gì đó về nó, dòng chảy
tư tưởng không ngừng được tiếp nối. ‘Định’ trang
bị cho tư tưởng (a) tính thống nhất nó đòi hỏi phải có
– tính cách đơn nhất của đối tượng và thống nhất của
tâm thức; (b) tính cách loại trừ, bằng sự chú ý có chọn
lọc nhắm đến nỗ lực tâm lý được duy trì liên tục;
(c) tuơng ứng rút ra khỏi những đối tượng khác. Và cuối
cùng, ‘tác ý’ đáp ứng sự biến thiên (trong tác nhân kích
thích) và mở đầu quá trình thay đổi (thành thái độ tâm
lý).
3)
‘Thức’ cũng thường được dùng với nghĩa là ‘ý’ (manas).
Trong trường hợp đó có thể là chúng ta nói về ‘tri thức’,
và các ‘pháp’ (dharmas) tương ứng với nó có thể được
gọi là các ‘đối tượng của tri thức’. Trong tri thức,
là căn thứ sáu, hoạt động tự phát của ý được thấy
rõ hơn trong năm sắc căn kia. Ở đó đa phần nó tự cung cấp
(theo cách kiến tạo dữ liệu), và nhận rất ít từ ngoại
giới (bằng cách tiếp nhận dữ liệu). Có bốn chức năng
được gán cho ‘ý’: (1) là cơ quan tiếp nhận đặc biệt,
nhạy bén với năm loại tâm cảnh là thọ, tưởng, hành (nhận
biết như một loại ‘nội xứ’), sắc vi tế do tâm tạo,
không thấy được, và Niết bàn ở mức độ nào đó. (2)
Tổ chức sắp xếp các dữ liệu của những căn khác, hợp
nhất chúng và biến chúng thành tri giác về người hay vật,
nghĩa là thành cái mà chúng ta gọi là đối tượng tư tưởng.
(3) Là ‘tri thức điển hình’ nó hành sử các chức năng
lý luận, phán đoán, ký ức, hoạch định và tưởng tượng.
(4) Đối với hết thảy mọi khách thể, chính ý phân biệt
cái gì thuộc về ngã cái gì thuộc về ngoại giới, do đó
nó là nguyên nhân chính đưa đến các hành vi ‘tạo ra cái
Tôi’ (aham-kāra).
Trong
hết thảy các căn, ‘ý’ là cái mang tính quyết định nhất
đối với lợi ích của ta, vì chỉ những hành động của
nó mới tạo nghiệp thiện hay bất thiện. ‘Một hành vi của
thân hay khẩu tạo nghiệp thiện hay bất thiện là do ý đằng
sau nó.’[12] Trong bài kệ được cho là quan trọng đáng để
mở đầu kinh Pháp cú: tất cả các pháp đều do ý chi phối,
chủ đạo, và tạo ra[13]. ‘Nếu một người nói hay hành
động với tâm ý xấu, khổ não sẽ theo sau y, như cỗ xe lăn
theo con vật kéo. Nhưng nếu y nói hay làm với ý thanh tịnh,
an lạc sẽ theo sau y, như bóng đi theo hình.’ Nói cách khác,
tất cả những gì là chúng ta, cả về thể chất lẫn tinh
thần, đều được hình thành bởi những gì chúng ta đã nghĩ.
Những việc ‘chẳng đặng đừng’ không phải tự dưng được
áp đặt lên chúng ta, mà mọi người đều, qua những ý nghĩ
trong quá khứ, đã chọn cho mình hoàn cảnh vật chất cũng
như tạo ra cá tính, khả năng và khí chất của mình. Như
vậy chỉ có điều ngự ý mới có thể cải thiện hoàn cảnh
của chúng ta, nội tâm cũng như ngoại giới. Đây là lý thuyết
cốt lõi của đạo Phật, dù có vẻ khó nghe đối với những
lỗ tai hiện đại.
III.
Chân lý nằm ở tận cùng nội tâm con người* là tiền đề
của mọi nền triết học nội quan và thần bí. Thức, hay
tư tưởng, là phần bản thân nơi chúng ta là chính chúng ta
hơn cả. Chính đó là nơi mà con người có thể dễ dàng tin
rằng ta là chính ta, chỉ có bản thân ta và bởi tự thân
ta mà thôi. Thức thuần túy do vậy, khi đạt đến không phải
bằng trí năng trừu tượng, mà bằng sự nhận chân cốt lõi
thầm kín nhất của bản ngã, sẽ giống như ‘tinh thần’
thuần tịnh đơn nhất, trong tự tánh thường an lạc. Giữa
các nhà học Phật đã có một số khuynh hướng muốn rút
ra kết luận này, và sự cô lập của thức đã từng được
coi như một phương pháp đạt đến Niết bàn. Thế nhưng nghịch
lý là tư tưởng thuần túy, khi diễn ra với chính nó, cơ
bản lại hóa thành phi tư tưởng.
Các
định vô sắc là các phương pháp khắc phục và loại bỏ
cảnh (đối tượng), sự y chỉ trên nó, và cái lấy nó làm
sở y. Bậc định thứ hai duy nhất hướng đến một loại
thức được lược đến mức không còn gì ngoài hư không
làm đối tượng; thức này rất tĩnh lặng, gần như thoát
khỏi động loạn hay không còn sợ bị động loạn, gần như
không nhiễm ô và thuần khiết. Vì thức, do tách ra khỏi những
gì không thực sự là nó, càng lúc càng trở nên thuần nhất,
càng trở nên muội lược hơn. ‘Không còn vui thích nơi những
cảm thọ từ nội tâm hay ngoại giới, vị ấy tu tập một
cách tỉnh giác, và làm cho thức ngưng nghỉ.’[14] Trong định
‘phi tưởng phi phi tưởng' thức tiến đến chỗ tắt ngúm,
là nơi ‘tư tưởng không phải là tư tưởng cũng không phải
phi tư tưởng.’[15]
Vượt
lên trên nữa là ‘diệt tận định’ (nirodhasamāpatti), hay
là ‘sự đình chỉ tưởng và thọ’. Phật Âm (Buddhaghosa)[16]
mô tả đó là ‘sự đình chỉ hết thảy các pháp thuộc
tâm và các tâm sở của nó, do bởi chúng dần dần đi đến
diệt tận’. Đây có vẻ là điều đáng ước mong của những
người đã chán việc đối mặt thường xuyên trước các
pháp hữu vi chóng tan rã, những người quyết tâm sống an
lạc trong chính cuộc đời này bằng trạng thái vô tâm (a-cittaka),
và nhất thời đạt đến, trong bảy ngày chẳng hạn, cảnh
giới tịch diệt tương đương với Niết bàn[17]. Nguyên nhân
khiến hành giả đạt đến vô tâm là do hướng các nỗ lực
của ông đến sự diệt tận[18], và điều này phân biệt
rõ trạng thái vô tâm đó khác với trạng thái vô tưởng
của thế gian. Xuất khỏi định này, ông càng càng hướng
tâm đến sự viễn ly và Niết bàn vĩnh cửu[19]. Và định
diệt tận gần như siêu việt đến mức không thể nói nó
là hữu vi hay vô vi, thế gian hay xuất thế gian, ‘vì nó không
có (xác định) tự tánh riêng (sabhāvato natthitāya)[20]. Đây
là loại định rất uyên áo, được đánh dấu bằng sự vắng
bặt tri giác và tư tưởng, rất gần với cứu cánh tối thượng,
dù vị trí của nó trên Thánh đạo có phần khó xác định[21].
Nó gần như là Niết bàn, và một vị Phật đạt đến vào
giây phút đắc Phật quả[22]. ‘Hành giả xuất định này
giống như người đã đến Niết bàn rồi quay trở lại.’[23]
Như vậy là Thế Thân (Vasubandhu) về cơ bản đồng ý với
Phật Âm.
Lại
nữa, Luận Abhidharma-kośa còn đặc biệt cố gắng định nghĩa
‘vô tâm’ vốn được xem như đặc trưng của diệt tận
định. Trước tiên Luận đặt vấn đề liệu đây có phải
là hoàn toàn vô tâm tuyệt đối không, hay vẫn tồn tại một
tiềm thức cực kỳ vi tế [24]. Thứ hai, giả định rằng
‘vô tâm’ đúng nghĩa là vô tam, và hiện hành không có tâm,
không có thức, không có nhận thức đối tượng, thế thì
phải chăng định này đơn giản là một trạng thái si ngốc
như không còn tiếp xúc với bất cứ gì, dù là tiếp xúc
với thực tế Niết bàn vi diệu? Tuy nhiên ngay cả khi vắng
bặt mọi hoạt động tâm thức, các tiến trình sinh lý học
của cơ thể vẫn tiếp diễn, và người ta nói hành giả ‘xúc
chạm Niết bàn bằng chính tự thân’. Thế Thân cũng nói
‘các đại chủng ở trong trạng thái bình đẳng khiến tâm
không sinh khởi’[25]. Đây là một điều kiện vật lý đặc
biệt còn ngăn hành giả khi nhập diệt tận định không bị
tổn hại bởi lửa, nước, gươm dao, hay bị bất cứ ai giết
hại. Thực vậy, trong mọi trường hợp ông không hề bị
gây hại. Thứ ba, thuật ngữ ‘vô tâm’ tự nó đã rất
dễ bị hiểu lầm. Một cái máy điện toán, một cục đá,
cũng ‘không có tâm’, nhưng không hề gần Niết bàn hơn
bất cứ ai trong chúng ta.
Khi
hành giả đã vượt lên một điểm nào đó trên con đường
hướng đến Niết bàn, ông bước đi, có thể nói là, trên
lưỡi dao cạo, và điều gây lo ngại hơn, theo chính những
tiền giả định của Phật giáo, không lý do trực tiếp đáng
thuyết phục nào có thể giải thích tại sao ông không nhắm
đến một mục tiêu thấp hơn nhiều. Lấy ba ví dụ làm rõ
điểm này. Việc theo đuổi tánh không rất khó phân biệt
với triết thuyết hư vô luận vốn coi mọi cứu cánh đều
mơ hồ như nhau, mọi chân lý đều đáng hoài nghi và mọi
thực hành đều vô hiệu quả như nhau. Thứ hai, nếu giải
thoát khỏi khổ đau là mục tiêu của Phật giáo, tại sao
không ai hài lòng với việc tự cứu mình, không chịu cất
lên mình gánh nặng quá sức của một Bồ tát hay Phật? Và
thứ ba, nếu những đau khổ mà chúng ta không thích và kinh
sợ lại gắn liền với nhận thức và tình trạng ý thức
của chúng ta về cái gì đó, tại sao chúng ta không thử chấm
dứt chúng bằng cách thành tựu một tâm trạng tương đối
vô thức thường trực, chẳng hạn như các vị ‘vô tưởng
thiên’[26] trong vũ trụ quan Phật giáo, và bằng cái có thể
được tạo ra bởi các hành giả trong khi nhập “vô tưởng
định” có thể tiếp diễn sau định thứ tư?[27] Giấc ngủ
xem ra hấp dẫn chẳng kém gì tỉnh thức (bodhi, giác) tuy là
phản nghĩa của nó. Trong mọi trường hợp, đâu là khác biệt
thực tiễn giữa trạng thái vô tâm và loại định diệt tận
tưởng và thọ?
Trong
cố gắng xác định sự khác nhau này, luận Abhidharmakośa minh
giải rằng Phật giáo không chỉ bận tâm những muốn lãng
tránh kinh nghiệm không như ý, mà còn được thúc đẩy
bởi tầm nhìn hơn về một thực tại cao cấp. Sự chứng
đắc vô tưởng định và diệt tận định có chung đặc điểm
là cả hai đều đình chỉ tâm và tâm sở, những thứ đồng
hành với nó[28]. Lực (dharma) chặn đứng dòng tâm thức (dharma)
trong một thời gian dài trên các trời vô tưởng tác dụng
như cái đập ngăn chặn dòng chảy một con sông. Nhưng điểm
khác nhau nằm ở chỗ ‘chúng sinh vô tưởng’ chỉ là một
loại thượng đẳng thần cũng phải chết sau một thời gian.
Khi tưởng thức tỉnh lại trong họ, họ lại tái sinh trong
cõi dục giới, và giấc ngủ dài của họ như vậy là kết
thúc trong cơn tỉnh giấc khá sầu thảm. Hơn nữa, các vị
trời vô tưởng bị hấp dẫn bởi hy vọng ‘thoát ly’ (niḥsaraṇa)
khỏi thế giới này, sự chứng đắc diệt tận định bằng
một khái niệm tích cực về tịch tĩnh (śānta)[29]. ‘Vô
tưởng’ không ngăn chặn việc tiếp tục tái sinh, và chỉ
được hạng phàm phu thực hành, trong khi các vị ‘thánh’
nhìn sự chứng đắc này ‘như một vách đá sừng sững và
là tai hoạ’[30] chỉ trì hoãn việc giải thoát mà thôi. Nói
cách khác, phàm phu không thể chứng đắc diệt tận định
vì họ sợ bị hủy diệt, và cũng vì, bởi vì nó dự tri
rằng Thánh đạo tác động như một năng lực hữu hiệu,
cho nên chỉ những ai đã ‘nhìn thấy’ Niết bàn mới có
thể quyết tâm nhập định này.
Trong
các văn tịch của bộ phái Nguyên thủy rất hiếm khi thấy
từ a-citta, a-cittaka,[31] và gần như nó luôn được dùng với
ý nghĩa phỉ báng, là ‘không hiểu biết, vô nghĩa, vô tư
lự, vô thức’. Tuy nhiên họ cũng không bất đồng với Long
Thọ trong quan điểm: ‘Nơi mà tâm hành diệt, ngôn ngữ diệt;
nơi đó Pháp tánh như là Niết bàn, không khởi không diệt.’
Còn trong Thiền Phật giáo ‘vô niệm’ được tán dương
là chứng đắc tối thượng. Sự không nhất quán về thuật
ngữ này không nhất thiết ngăn cản tính đồng nhất căn
bản về quan điểm và khát vọng.
Dịch
Việt: Hạnh Viên
[1]
VM xiv 216, 218.
[2]
VM 478, AK i 37.
[3]
Dịch là ‘cảm giác’ (sensations) dễ gây hiểu nhầm, vì
các nhà tâm lý học cũng miêu tả ‘màu đỏ, khó khăn/ khó
chịu’ vv... là những ‘cảm giác’.
[4]
Chữ ‘trung dung’ này không phải dễ hiểu. Xem thêm e.g. BM
71-2, AK ii 115, v 88.
* Công
nhận một mức độ ý thức nào đó trong quá trình tâm lý
vô thức xem ra cũng hợp lý. Trong giấc ngủ, trạng thái xuất
thần, hôn mê, ức chế và quá khích động, một tiềm bản
ngã vẫn tiếp tục hoạt động, do đó không bao giờ hoàn
toàn không có một ý thức cá nhân.
+ Thức
là ‘sở y’ (nissaya) của ba uẩn thuộc tâm kia và có ảnh
hưởng nổi trội (adhipati, tăng thượng) đối với chúng.
Nó có thể là điều kiện (duyên) trong 19 trường hợp; 1,
10, 13, 17, 18 thì không áp dụng.
++
Thuật ngữ này không giới hạn trong những đối tượng của
cái thường được gọi là ‘cảm giác xúc chạm’. Nói theo
ngôn ngữ tâm lý học hiện đại, nó còn bao gồm cả nhiệt
độ, đau đớn thể xác (như một cảm giác), những đối
tượng cảm giác vận động, quân bình hay mất quân bình,
và những đối tượng thuộc cơ thể (tức những thông tin
về cảm giác bên trong cơ thể chúng ta.)
[5]
Có lẽ nó phát xuất từ chữ ā - YAM, ‘truyền bá, lan truyền’,
hay ā - YAT, ‘đi vào’... Tỳ-bà-sa đưa ra 11 từ nguyên. AK
i 37. VM xv 4-6. Asl. 140-1.
[6]
AK i 37; cf. VM xv 10. S 1410, P. 516.
[7]
AK i 37.
[8]
VM xv 5.
[9]
Edgerton 282-4. VM 85. AK i 37.
* Thực
ra, về khía cạnh chủ quan tất nhiên còn bao hàm nhiều ‘yếu
tố’ (elements, giới) hơn, làm điều kiện cho sự hiện diện
của trái cam. Bởi trái cam mà chúng ta nhìn thấy trước mắt
này không chỉ là một đối tượng nhãn căn (tức một hình
dạng tròn có màu cam lờ mờ). Nó có mùi và vị riêng, nó
có một độ chắc nào đó (khó minh định, nhưng ‘không cứng
bằng trái banh chơi golf’). Ý-giới và ý-thức-giới cũng
có vai trò trong việc (1) phối hợp các dữ liệu giác quan
khác nhau thành một ‘vật’, và (2) gắn cho nó cái nhãn qui
ước ‘trái cam’ không được ‘cung cấp’ cho bất cứ
một trong năm giác quan nào.
+ Triết
gia Hy lạp (481-411 BC) – ND.
* Trong
tâm lý học hiện đại thuật ngữ ‘thức’ cũng được
dùng đến khi khái niệm về ‘linh hồn’, xét như một thực
thể, bị mất vị trí.
[10]
SN ii 94-6.
[11]
Asl. 63
* Nhất
thiết hữu bộ cho rằng có mười tâm sở pháp (caitasikā dharmā)
phổ biến hiện diện trong mọi ý tưởng: 1) thọ, 2) tưởng,
3) tư tâm sở, 4) xúc, 5) dục (chanda), 6) huệ (mati), 7) niệm,
8) tác ý, 9) thắng giải (xác định), và 10) định.
[12]
KSP 89.
[13]
Dhp. vv. 1-2 manopubbaṅgamā dhammā manoseṭṭhā manomayā. Hiểu
chữ dhammā như là ‘bản chất trí tuệ’, Radhakrishnan (pp.
58-9) hơi bị lệch tiêu điểm.
* ‘Dường
như có hai loại kinh nghiệm thần bí chủ yếu có thể phân
biệt được, cả hai đều có thể tìm thấy trong mọi nền
văn hoá cao cấp. Một có thể được gọi là kinh nghiệm thần
bí hướng ngoại, cái kia là hướng nội. Cả hai đều là
những cách hiểu về Thượng đế, nhưng đạt đến bằng
phương pháp khác nhau. Cách hướng ngoại nhìn ra, thông qua
giác quan đạt đến thế giới bên ngoài và tìm thấy Thượng
đế ở đó. Cách hướng nội quy hướng vào trong, tìm thấy
Thượng đế ở tận cùng bản ngã, ở tận đáy nhân tính.
Cái sau có giá trị hơn cái trước nhiều ở tầm quan trọng
trong lịch sử chủ nghĩa thần bí, và cả trong lịch sử tư
tưởng nhân loại nói chung.’ Stace, p. 15.
[14]
Sn IIII.
[15]
VM x 50.
[16]
xxiii 18.
[17]
xxiii 30. AK ii 204 n. 3. iv 123. Theo Vibhāsa (AK ii 207 n. 2), 7 ngày
là giới hạn tột cùng.
[18]
xxiii 43.
[19]
xxiii 50.
[20]
xxiii 52; hay ‘vì trong thực tế nó không tự hữu’? Xem thêm
phần thảo luận trong AK ii 214.
[21]
xem AK vi 225 n. 3.
[22]
AK ii 205.
[23]
AK ii 208.
[24]
AK viii 207-8, II 211 n. 3, 212. Luận đề đầu của Đại tỳ-bà-sa
(Vaibhāshikas), luận đề sau của Thế Thân, Thí dụ bộ (Dārṣṭāntikas),
Kinh lượng bộ (Sautrāntikas), và Phân biệt thuyết (Vaibhajyavādins).
cf. Ms 71-8.
[25]
AK ii 213. mahābhūtasamatāpādanam.
[26]
asaṃjñika, vô tưởng thiên, các vị thần sống trên một
trong những cõi trời thuộc sắc giới, trong khi nirodhasamāpatti
diễn ra trong bhavāgra, cõi ‘hữu hạng’, cao nhất trong bốn
cõi sắc giới.
[27]
AK ii 201. Luận về ‘vô thức' thần bí, xem thêm Stace 17-18.
[28]
AK ii 199, 211.
[29]
AK ii 200 n. 1.
[30]
AK ii 202.
[31]
acc. to CPD.