Khuddaka
Nikàya
Con
Đường Đi Đến Chân Trời Cao Rộng Của Người Xuất Gia.
Thích
Phước An
Khi
Phạm Thiên Sahampati biết được đức Phật đang phân vân
lưỡng lự không muốn thuyết giảng giáo pháp mà Ngài vừa
chứng ngộ dưới gốc cây Bồ Đề cho thế gian đau khổ này
với lý do:
“Con
người còn vấn vương trong tham ái và sân hận, không dễ
gì lãnh hội được giáo pháp mà Như Lai đã chứng ngộ. Người
tham ái chìm đắm trong đêm tối, bị đám mây mù tham ái bao
phủ, sẽ không thấy được giáo pháp, bởi giáo pháp đi ngượi
lại tham ái, giáo pháp sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức
và tế nhị”[1].
Khi
đã nhận ra được sự miễn cưỡng lưỡng lự của đức
Phật như vậy, Phạm Thiên hoảng hốt lo sợ, nếu đức Phật
không truyền bá giáo pháp, và không được nghe giáo pháp thì
thế gian đau khổ này phải chịu sự diệt vong. Nên lập tức
Phạm Thiên Sahampati thưa với đức Phật:
“Cũng
như người đứng trên đỉnh núi cao nhất nhìn xuống, thấy
rõ ràng từng người, ở vòng quanh phía dưới, xin Đấng Thoát
Khổ hãy nhìn xuống chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ
và đang bị lôi cuốn triền miên trong vòng sanh tử”[2].
Lịch
sử chép rằng, khi Phạm Thiên Sahampati thỉnh đến lần thứ
ba thì đức Phật mới dùng con mắt trí tuệ của mình để
quan sát thế gian và:
“Ngài
đã nhận thấy rằng có cát bụi vướng trong mắt, có kẻ
thông minh sáng suốt, nhưng cũng có nhiều kẻ ngu si tăm tối.
Bẩm tính của người này tốt, người kia xấu, có chúng sanh
dễ uốn nắn nhưng cũng có nhiều kẻ khó dạy”[3].
Và
đức Phật đã rút ra được một kết luận quan trọng
là con người cũng giống như một đầm sen. Dù có sen trắng,
vàng hay đỏ, có cọng đã vươn lên khỏi bùn nhưng chưa đến
được mặt nước, có cọng ngang mặt nước rồi mà vẫn
chưa lên khỏi mặt nước, có cái lên khỏi mặt nước rồi
nhưng vẫn chưa nở. Nhưng chúng cùng đều giống nhau là cũng
đều ở dưới bùn mà vươn lên, và khi đã vươn lên được
rồi thì không hề dính bùn nhơ[4].
Sau
khi đã rút ra được một kết luận như vậy, đức Phật
quyết định quay trở lại trần gian để giải thoát trần
gian đang chìm ngập trong đau khổ. Ngài lập tức công bố
thông điệp hy vọng đến cho thế gian đau khổ như thế này:
“Cửa
vô sinh bất diệt đã được mở ra cho mọi sinh linh đau khổ.
Hãy để cho ai có tai muốn nghe được đặt chọn vẹn niềm
tin tưởng”[5].
Bởi
vậy nếu các kinh như Lăng Già, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma,
Thắng Man, Viên Giác, Đại Niết Bàn…, đặc biệt là Bát
Nhã, một bộ kinh đã “y chỉ trên diệu nghĩa “tức sắc
tức không” của Tâm kinh Bát Nhã, đã lưu lại một di sản
đồ sộ, có thể nói là di sản văn học tư tưởng vĩ đại
nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại từ trước đến nay[6].
Bộ
kinh vĩ đại đến nỗi mà, Osho, một nhà tư tưởng của Ấn
độ ở hậu bán thế kỷ 20, người mà Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã nói là “Osho là bậc chân sư giác ngộ, ngài hoạt
động trên mọi lãnh vực để giúp nhân loại vượt qua giai
đoạn khó khăn trong việc trau dồi tâm thức”, khi giảng
kinh Kim Cang Bát Nhã đã phải thốt ra những lời tuyệt đối
như thế này:
“…Tên
tiếng Phạn của kinh này là Vajrachedika Prajna-paramita Sutra.
Nó có nghĩa là “Sự hoàn hảo của minh triết sắt bén như
cú sét đánh”. Nếu bạn cho phép, Phật có thể chém đứt
bạn tựa như cú sét đánh. Ngài có thể chặt đầu bạn,
Ngài có thể giết chết bạn và giúp bạn tái sinh”[7].
Và
Osho đã giải thích vì sao Đức Phật lại phải tàn nhẫn
như vậy?
“Vì
Phật là cả hai – vừa là “sát nhân” vừa là người mẹ.
Một mặt Ngài phải giết chết bạn và mặt khác Ngài làm
sinh thành con người mới trong bạn. Con người mới chỉ có
thể sinh ra được khi con người cũ đã bị phá hủy. Chỉ
trừ tro tàn của con người cũ mà con người mới mới được
sinh ra. Con người là loài Phượng hoàng. Loại Phượng hoàng
thần thoại này không chỉ có trong thần thoại, nó là biểu
tượng. Nó đại diện cho con người, chim Phượng hoàng đó
không có ở đâu khác ngoại trừ trong con người. Con người
cũ sinh linh phải chết đi để được tái sinh”[8] .
Đúng
là như vậy rồi, ta thấy kinh Kim Cang Bát Nhã không phải chỉ
làm tái sinh con “Phượng hoàng” trong lãnh vực tâm linh của
mỗi người trong chúng ta thôi, mà cả trên phương diện quốc
gia và xã hội nữa. Bất cứ một quốc gia nào, một dân tộc
nào được nuôi dưỡng, được “y chỉ trên diệu nghĩa “tức
sắc tức không” của kinh Kim Cang Bát Nhã thì lập tức dân
tộc đó nhất định cũng sẽ được tái sinh, nghĩa là cũng
sẽ cất cánh bay cao như con Phượng hoàng trong huyền thoại
nữa.
Đó
là trường hợp nhà Trần của nước Đại Việt chẳng hạn?
Trong
bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, Trần Nhân Tông, vị hoàng đế
vĩ đại nhất của triều Trần đã viết:
Săn
hỷ xã, nhuyến từ bi
Nội
tự tại kinh lòng hằng đọc
Và
trong bài Phú Vịnh Yên Tử thiền sư Huyền Quang, vị tổ thứ
ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần cũng cho
biết:
Khuya
sớm sáng chong đèn Bát Nhã
Hôm
mai rữa sạch nước Ma Ha
Không
còn nghi ngờ gì nữa, triều đại nhà Trần đã dùng đạo
lý Bát Nhã như ý thức hệ chỉ đường đi cho dân tộc Đại
Việt ở thế kỷ 13. Nếu không thì một quốc gia quá nhỏ
bé (Lúc đó chỉ có các những tỉnh miền Bắc bây giờ) lại
có thể đánh tan ba cuộc xâm lăng của cường quốc quân sự
hùng mạnh nhất, trong khi từ Đông sang Tây thời bấy giờ
đều nằm trong cơn sốt Tartar (Thát Đát).
Nhưng
chắc chắn triều đại nhà Trần không chỉ hùng mạnh về
quân sự thôi, mà trên hơn 1 thế kỷ tồn tại lại còn phát
triển mạnh mẽ trên nhiều lãnh vực nữa, nhất là lãnh vực
văn học và tư tưởng.
Dưới
ánh sáng của đạo lý Bát Nhã, nền văn học trên một thế
kỷ này chắc chắn đã củng cố và khẳng định mạnh mẽ
tinh thần độc lập của dân tộc Việt. Chính vì thấy được
mối nguy hiểm về lâu về dài cho chính sách bá quyền nước
lớn này, nên khi bắt đầu cuộc xâm lăng thì “Nhà Minh đã
quyết tâm đập tan những cơ sở văn hoá đã được xây dựng
trong suốt gần 150 năm của Phật giáo đời Trần. Trương
Phụ lượm lặt hết sách cổ kim của ta, đóng thùng chở
về Kim Lăng. Tháng 7 năm Mậu Tuất (1418) Nhà Minh còn sai hai
cán bộ văn hoá của họ là tiến sĩ Hạ Thì và Hành Nhân
Hạ sang tìm tòi và thu lượm tất cả những sách chép về
lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết. Năm 1419,
Nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Lão giáo và Phất
giáo của họ sang để thay thế cho những sách trước kia đã
bị họ lấy. Chính sách tiêu diệt văn hoá thâm độc đó
đã phá hoại gia tài tinh thần của triều Trần để lại
không phải là ít”[9].
Như
vậy, ta có thể tin chắc rằng những gì mà nền văn học
đời Trần còn để lai cho đến nay là quá ít so với những
gì Nhà Minh đã cướp về nước vậy.
Nhưng
một tư tưởng vĩ đại, bên cạnh sự tác động lớn lao
và dữ dội đó, thì tất nhiên cũng gây ra sự ngộ nhận
lơn lao không phải là ít. Tư tưởng Bát Nhã (hay cả Thiền)
nữa, cũng không ra ngoài thông lệ đó.
Chỉ
có những bậc đại trí hay nói theo Đức Phật “chỉ những
người ít vướng cát bụi trong mắt” thì mới chịu đựng
nổi Vajrachedika Prajnaparamita “sự hoàn hảo của minh triết
sắt bén như cú sét đánh” này.
Còn
ngược lại, những người không chịu nổi cú sét đánh này
thì chỉ lợi dụng ngôn ngữ “sấm chẻ” của Bát Nhã để
bào chữa và che dấu cho tâm hồn yếu đuối và trống rổng
của tâm hồn mình mà thôi.
Trong
tác phẩm Discourses on the Prajnaparamita – Hridayam Sutra of Gautama
the Buhdda, tập hợp những bài giảng về thần chú Bát Nhã
tâm kinh, Osho có kể lại một người suốt đời chạy theo
ngôn từ để rối cuối cùng phải ngã ngục vì ngôn từ trống
rỗng:
“Tôi
biết một người theo J. Krishnamurti, ông ấy là một học giả
nổi tiếng, cả nước ai cũng biết và trong ít nhất 40 năm
ống ấy theo Krishnamurti, cho nên ông ấy không tin Thượng đế,
ông ấy không tin Thiền, ông ấy không tin cầu nguyện.
Thế
rồi một hôm, ông ấy lâm bệnh, bị đau tim. Ngẫu nhiên tôi
cũng đang ở tại thành phố ấy, con trai của ông ấy gọi
cho tôi và nói “cha con đang ở tình trạng nguy ngập. Nếu
Thầy có thể đến thì sẽ an ủi cho cha con nhiều lắm. Rất
có thể cha con không qua khỏi lần này”.
Thế
là tôi tới ngay, khi tôi vào phòng thì ông ấy đang nằm trên
giường mắt nhắm nghiền và niệm “Rama, Rama, Rama” (Danh
hiệu Thượng đế của Ấn độ giáo).
Tôi
không thể nào tin điều đó được! Suốt 40 năm ông ấy đã
liên tục nói “không có Thượng đế, và tôi không tin”
và điều gì đã xảy ra cho ông già này? Tôi lay ông ấy dậy
và hỏi: “ông đang làm gì vậy?”.
Ông
ấy nói “Đừng quấy rày tôi. Hãy để tôi lam theo ý tôi
muốn”. Nhưng tôi nói: “Thế này thì ngược lại Krishnamurti”.
Ông
ấy trả lời: “Hãy quên Krishnamurti đi! Tôi sắp chết rồi
mà ông lại nói về Krishnamurti sao?”.
Nhưng
40 năm qua thì sao, vứt đi à? Và ông chưa bao giờ tin rằng
niệm Phật là ích lợi, hay cầu nguyện là ích lợi.
Ông
ấy nói: “Vâng, điều đó đúng. Tôi chưa bao giờ tin cả,
nhưng tôi sắp chết rồi. Tôi sợ lắm…”
Osho
nói với người bạn thân của mình rằng: “vậy là bạn
cầu nguyện cũng chỉ vì sợ hải mà ra.”
Và
Osho đã lưu ý cho người bạn của mình nhớ rằng Đức Phật
đã từng dạy: “Trí tuệ không thể sanh ra từ sợ hải được”[10].
Người
viết còn nhớ vào khoảng đầu năm 1968, khi tác phẩm
Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng (The first and last freedom) của
Krishnamurti được ra mắt tại Việt Nam. Người viết đã thắc
mắc hỏi dịch giả của tác phẩm là giáo sư Phạm công Thiện
rằng tại sao Krishnamurti là người Ấn độ, nhưng chẳng bao
giờ thấy Krishnamurti đi thuyết giảng ở các quốc gia Châu
Á cả, mà chỉ thuyết giảng ở các nước Tây phương?
Thì người viết được dịch giả trả lời rằng, mặc dù
không bao giờ Krishnamurti nhắc đến Phật giáo, nhưng thật
ra tất cả những gì Krishnamurti phát biểu là một thứ Tánh
Không (Sùnyavàda) khác của tư tưởng Bát Nhã của Phật giáo
vậy. Bởi thế nên Krishnamurti không đi thuyết giảng tại
các nước ở Châu Á, nơi mà tư tưởng của Phật giáo đã
phát triển và tồn tại trên 20 thế kỷ rồi.
Ông
học giả theo Krishnamurti trên có lẽ cũng chẳng khác gì những
người theo Thiền và Bát Nhã của Phật giáo. Họ cũng hay
sử dụng ngôn ngữ của Thiền và Bát Nhã, nhưng tâm hồn
lại chưa đủ sức để chịu đựng cú đánh “sấm sét”
của đại thần chú và đại minh chú này.
Osho
cho là khi Đức Phật tuyên thuyết rằng, “không có khổ,
tập, diệt, đạo” thì “Đức Phật đã đạt tới
đỉnh cao nhất của cách mạng, những người khác đều
bị loại bỏ đằng sau”.
Nhưng
không phải ngẩu nhiên mà Đức Phật đã đạt tới đỉnh
cao nhất của cuộc cách mạng đó, mà như Ngài đã nói lên
lới đầu tiên sau đêm Ngài chứng vô thượng chánh đẳng
chánh giác dưới gốc cây Bồ Đề:
Xuyên
qua nhiều kiếp sống luân hồi,
Như
Lai thênh thang mãi
Như
Lai đi tìm mãi mà không gặp.
Như
Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này.
Lập
đi lập lại, đời sống quả thật là phiền muộn.
Này
hỡi người làm nhà Như Lai đã tìm được ngươi.
Từ
đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.
Tất
cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng
lên
cũng bị phá tan tành.
Chính
trong những kiếp sống được lập đi lập lại “quả thật
là phiền muộn” này, mà Đức Phật mới khởi sự cho cuộc
hành trình dài như vô tận này để rồi cuối cùng mới hoàn
thành cuộc cách mạng cao nhất dước gốc cây Bồ Đề.
Và
cũng chính đã trải qua “nhiều kiếp sống phiền muộn”
này mà Đức Phật mới đứng dậy được, nên Ngài cũng muốn
các đệ tử của Ngài cũng phải từ “kiếp sống phiền
muộn” đó mà đứng dậy và khởi sự cuộc hành trình như
Ngài.
Có
lẽ Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh) là bộ kinh mà Đức Phật
đã dạy đầy đủ và chi tiết nhất cho các đệ tử của
Ngài, đặc biệt là đệ tử xuất gia.
Làm
cách nào để từ cuộc sống đầy bùn nhơ này mà vươn lên
được, cũng như hoa sen vươn lên được mà không bị bùn
nhơ vấy bẩn?
Đọc
Khuddaka Nikàya ta bắt gặp một không khí khác hẳn các kinh
của Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già, Bát Nhã
vv... nghĩa là thay vì tư tưởng cao ngất như Hy Mã Lạp Sơn
hùng vĩ thì trong Khuddaka Nikàya ta ngạc nhiên thấy xã hội
cách đây hơn 20 thế kỷ rồi, mà vẫn chẳng khác gì ờ đầu
thế kỷ 21 này cho lắm. Nghĩa là Đức Phật và các đệ tử
xuất gia của Ngài cũng bị chửi bới, cũng bị lăng nhục,
cũng cùng một luận điệu như ngày nay.
Ví
dụ, một lần Đức Phật cũng bị kết án là “ăn không
ngồi rồi” hay “hộ ăn theo” như kinh Bhàravàja (người
cày ruộng) chẳng hạn. Có khi vô cớ bị kêu la mắng chưởi
giữa đường “kẻ trọc đầu, sa môn ti tiện, bần tiện,
hãy dừng lại” mà kinh Vasalasuttam (Kẻ bần tiện) đã ghi
lại đầy đủ.
Không
phải chỉ chữi bới lăng nhục bằng lời lẽ thô tục thôi
mà còn dùng thủ đoạn độc ác để vu khống và chụp mũ
chúng đệ tử của Ngài nữa.
Kinh
Udana (ud.43) cho biết rằng, vì Đức Phật và chúng đệ tử
của Ngài được “tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn
kính, cùng nhận được các vật dụng như y, đồ ăn khất
thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”, nhưng các du sĩ
ngoại đạo khác không được như vậy nên đã giết một
nữ du sĩ có tên là Sundari, rồi đem chôn nàng vào cái hố
trong cái mương tại Jetavana trong khu vườn của trưởng giả
Anàthapindika. Sau khi đã thực hiện xong thủ đoạn, họ đến
thưa với vua Pasenadi của nước Kosala. Nhà vua lập tức hỏi
họ xác của Sundari chôn ở đâu? Họ liền dẫn đến chỗ
đã chôn xác Sundari, đào lên rồi khiêng xác đặt lên giường
đi vào thành Savatthi từ đường này đến đường khác, chúng
làm cho dân chúng tức giận nói rằng: “các người hãy xem
công việc của các Thích tử! Vô liêm sĩ, là sa môn Thích
tử này, theo ác giới, theo ác pháp, nói láo (….) sa môn hạnh
của chúng đã đi đâu mất”[11].
Nhưng
Đức Phật không hề ngạc nhiên trước tâm địa xấu xa của
con người, vì Ngài đã tiên đoán được điều này. Kinh Kandaraka
thuộc Trung bộ kinh (Majjhima Nikaya), khi Pessa, con trai người
huấn luyện voi đến bạch với Đức Phật rằng:
“Thật
hi hữu thay! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hiểu được hạnh phúc
và bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong
sự rối ren như vậy, trong sự căn bã như vậy, trong sự xảo
quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người,
Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật”.
Và
Đức Phật đã xác nhận lời nhận xét trên của Pessa, con
của người huấn luyện voi là đúng:
“Thật
vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người, và
cởi mở thay như loài thú vật!”.
Trong
tác phẩm Zarathustra đã nói như thế của Nietzsche, một
triết gia Đức ở thế kỷ 19 cũng có câu tương tự: “ước
gì những con thú của ta sẽ dẫn đường ta đi! Ta thấy rằng
sống giữa loài người lại còn nguy hiểm sống giữa loài
thú vật”.
Phải
chăng khi viết câu trên Nietzsche đã lấy cảm hứng từ kinh
Kandaraka của Phật giáo?
Điều
đó gần như chắc chắn vì trong tác phẩm cuối cùng của
đời mình, Nietzsch đã công nhận sự thán phục của mình
đối với Đức Phật:
“
Đức Phật, nhà sinh lý học sâu thẳm, đã liễu ngộ hết
mọi sự ấy, ‘tôn giáo’ của Ngài đáng lẽ phải được
gọi là một loại ‘vệ sinh pháp’ để cho người ta đừng
lầm lẫn với những hiện tượng đáng thương hại như Ky
tô giáo: Sự công hiệu của Phật pháp được thể hiện trong
việc chiến thắng lòng phẫn hận di oán.
Giải
thoát tâm hồn khỏi sự di oán phẫn hận là bước đầu hướng
về sự lạnh bệnh” không phải sự oán thù cừu địch được
chấm dứt bằng sự oán thù cừu địch; sự oán thù cừu
địch chỉ có thể chấm dứt bằng tình thương huynh đệ”.
“Những
lời này được phát ra ngay từ sự chuyển pháp luân đầu
tiên của Đức Phật”[12].
Đọc
câu “tôn giáo” của Ngài đáng lẽ phải được gọi là
một loại “vệ sinh pháp”, khiến ta có thể liên tưởng
đến hai câu kệ vô cùng giản dị trong kinh Pháp cú:
Tự
tịnh kỳ ý
Thị
chư Phật giáo
Giữa
tâm ý cho trong sạch
Đó
là lời dạy của chư Phật
Ta
có thể xem toàn bộ giáo pháp của Đức Phật không gì khác
hơn là làm sao cho ta có thể dọn dẹp sạch sẽ tất cả những
rác rưới nhơ bẩn trong tâm của mỗi người chúng ta.
Khi
Tì Kheo Ittiya, theo Đức Phật đã nhiều năm mà vẫn không
đạt được thánh quả. Cuối cùng Ittiya đến xin Đức
Phật chỉ bày cho một bài học tóm tắt dễ hiểu nhất. Đức
Phật bảo Tì Kheo Ittiya rằng, phải làm cho thanh tịnh nếp
sống căn bản hằng ngày, Tvam adim eva visodha ti.
Vậy
cho nên ta có thể coi toàn bộ Khuddaka Nikaya là bộ kinh mà
Đức Phật đã chỉ bày cặn kẻ nhất cho “một nếp sống
thanh tịnh căn bản” như vậy.
Sở
dĩ những người xuất gia chúng ta không giữa được nếp
sống thanh tịnh căn bản như trường hợp Tì Kheo Ittiya chẳng
hạn, vì chúng ta đã tự đánh mất định hướng lý tưởng
xuất gia của chính mình.
Lý
tưởng của người xuất gia là gì?
Phù
xuất gia giả, phát túc siêu phương
Người
xuất gia cất bước là muốn vượt tới phương trời cao rộng
( HT Trí Quang dịch)
Có
lẽ không có câu nào ngắn gọn hơn câu trên để tóm tắt
định hướng cho người xuất gia như câu trên trong Cảnh Sách.
Đây
là một trường hợp điển hình cho sự đánh mất định hướng
ấy chăng?
“Như
vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi tại Jetavana trong
ngôi vườn của trưởng giả Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều
Tì Kheo sau bữa ăn trưa, sau khi đi khất thực về, ngồi hội
hợp tại rạp tròn có cây Kareri, và câu truyên sau đây được
khởi lên: “Này chư hiền, ai biết nghề gì? Ai học tập
nghề gì? Nghề gì là nghề tối thượng? Ở đây, một số
người nói như sau: Huấn luyện voi là nghề tối thượng!
Một số người nói như sau: Làm xe là nghề tối thượng!
Một số người lại nói như sau: Nghề bắn cung là nghề tối
thượng! một số người nói như sau: Nghề đao kiếm là nghề
tối thượng. Mốt số người nữa lại nói như sau: Nghề
ấn hiệu là nghề tối thượng. (theo HT Minh Châu thì ấn hiệu,
Muddà, có nơi giải thích là dấu hiệu ra bằng tay giữa người
mua và bán châu báu, che dưới một cái khăn, để người chung
quanh không biết giá cả). Một số người nói như sau: Nghề
tính toán là nghề tối thượng! một số nguời nữa lại
nói như sau: Nghề ước lượng là nghề tối thượng! một
số người nói như sau: Nghề viết văn là nghề tối thượng.
Một số người nói như sau: Nghề làm thơ là nghề tối thượng!
một số người lại nói như sau: Nghề phỏng đoán các nguyên
nhân tự nhiên là nghề tối thượng! một số người khác
lại cho rằng: Nghề điều khiển bộ máy quốc gia là nghề
tối thượng! … Rồi Đức Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền
định độc cư đứng dậy, đi đến rạp tròn có cây Kareri.
Sau khi đã ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn, Đức Thế Tôn
hỏi các Tì Kheo đang bàn chuyện gì? Sau khi nghe thuật lại
câu chuyện mà các thầy Tì Kheo đã bàn vừa rồi. Đức Phật
đã rầy la họ:
“Này
các Tì Kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các người,
là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình mà lại đi nói những câu chuyện như
vậy”.
Và
sau đó Đức Phật đã lưu ý các thầy Tì Kheo là, khi nào
hội họp với nhau, có hai điều cần phải làm là:
Nói
pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh
Rồi
Đức Phật đọc lên lời cảm khái của Ngài sau đây
cho các Tì Kheo nghe:
“Ai
sống không nghề nghiệp
Nhẹ
nhàng, muốn lợi ít
Các
căn được chế ngự
Toàn
diện được giải thoát
Không
nhà, không ngã sở
Không
dục, giết ác ma
Vị
Tì Kheo như vậy
Sống
cô độc một mình”
Chính
vì đánh mất định hướng xuất gia của chính mình như vậy
nên mới ngồi lê đôi mách để bàn nghề này là nghề tối
thượng, nghề kia không tối thượng, để mong tìm kiếm một
chút hư danh phù phiếm giữa những người thế tục. Những
người xuất gia như vậy đã bị Đức Phật cho là vẫn “bị
mù bởi các dục”, “bị lưới dục bao phủ”, “bị ái
dục bao trùm”, và tất nhiến họ hiện đang giống “như
cá mắc mạng lưới” không gì mong thoát thân được nữa.
Trong
các dục vọng, mà người xuất gia chúng ta phải cảnh giác,
có thể nói nguy hiểm nhất vẫn là lòng khát khao quyền hành
thế tục. Nếu một người xuất gia bị sắc dục quyến rũ,
thì có thể vị xuất gia đó chỉ tự làm hại chính bản
thân mình thôi, còn say mê quyền lực thế tục thì nhất định
sẽ kéo theo sự sụp đổ không chỉ cá nhân họ, mà còn cho
tập thể của tăng đoàn nữa.
Điều
này chúng ta khỏi cần phải tìm kiếm ở đâu trong quá khứ
lịch sử, mà chỉ nhìn ngay vào hiện tại thì có thể thấy
ngay.
Trong
kinh xuất gia (sn.72), khi vua Bình Sa Vương nước Ma Kiệt Đà
đứng trên lầu thượng của hoàng cung nhìn xuống thì thấy
Đức Phật đang ôm bình bát đi khất thực, với “các tướng
tốt quang minh” nhà vua liền đem lòng ngưỡng mộ, ngỏ ý
muốn trao tặng quốc gia mà nhà vua đang trị vì cho Đức Phật,
Đức Phật đã trả lời
Trên
sườn núi Tuyết sơn
Sống
dân tộc đoan trực
Tài
sản nghị lực đủ
Ở
xứ kô sa la
Dòng
họ thuộc mặt trời
Sanh
tộc là Thích Ca
Từ
bỏ gia tộc ấy
Thưa
vua, Ta xuất gia!
Ta
không có tha thiết
Đối
với các loại dục
Thấy
nguy hiểm trong dục
Bỏ
chúng, là an ổn.
Đức
Phật đã vứt bỏ ngôi vua mà ra đi, bởi vậy cho nên không
có thứ quyền nào được có quyền tồn tại trong đạo Phật
cả.
Chắc
chắn không phải là một sự ngẫu nhiên khi trong phẩm Ngu
của kinh Pháp Cú (cũng thuộc Khuddaka nikaya) có đến hai lần
Đức Phật nói đến những kẻ đã đi xuất gia rồi mà vẫn
mang tâm niệm thế tục vào chốn Già Lam, xem những trách nhiệm
được giao phó có tính cách tinh thần giống như lợi danh
của thế gian:
Câu
thứ 73, Đức Phật chỉ trích những người luôn luôn thấy
mình là một nhân vật quan trọng trong Tăng chúng: “Hãy để
cho người Tăng kẻ tục nghĩ rằng: ‘sự này do ta làm, mọi
việc lớn nhỏ đều phải theo lệnh ta’, kẻ Ngu cứ tưởng
lầm như thế nên lòng tham lam ngạo mạng tăng hoài”.
Và
câu thứ 74, Đức Phật đề cập đến những người xem những
trách nhiệm tinh thần đó như một phương tiện để đạt
mục tiêu là lợi dưỡng cho bản thân mình:
“Kẻ
ngu thường muốn hư danh: chỗ ngồi cao trong tăng chúng, viện
chủ trong tăng viện, mọi người đều đến để cúng dường”
(HT Trí Đức dịch).
Không
phải chỉ gạt bỏ mọi ý nghĩ về quyền hành thôi, mà ngay
cả mọi luận bàn về quyền hành của người thế tục cũng
bị Đức Phật ngăn cấm trong giáo hội thanh tịnh của Ngài:
“Một
thời Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Zetavana, khu vườn trưởng
giả Anàthapindika, lúc bấy giờ, nhiều vị Tì Kheo sau bữa
ăn, đi khất thực về, ngồi họp tại hội trường, và câu
chuyện này được khởi lên.
“Này
chư Hiền, giữa hai vị vua này, vua Seniya Bimbisara ở Ma Kiệt
Đà và vua Pesenadi xứ Kosala, ai giàu có hơn, ai tài sản lớn
hơn, ai kho tàng lớn hơn, ai quốc độ lớn hơn, ai xe cộ lớn
hơn, ai sức mạnh lớn hơn, ai thần lực lớn hơn, ai uy lực
lớn hơn?” rồi câu chuyện đang xảy ra giữa các Tì Kheo
ấy chưa chấm dứt, thì Đức Thế Tôn vào buổi chiều, từ
Thiền định độc cư đứng dậy đi đến hội trường. Sau
khi đến ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Thế Tôn hỏi
các thầy Tì Kheo: “này các thầy Tì Kheo, ở đây, nay các
người ngồi hội họp bàn với nhau chuyện gì? Và câu chuyện
gì giữa chừng chưa chấm dứt giữa các người?”
Sau
khi nghe thuật lại, Đức Phật cũng đã rầy la họ như thường
lệ, nghĩa là đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình, thì không nên đi nói những chuyện có tính chất thế
gian như vậy. Rồi Đức Phật đọc lên lời cảm khái này
cho các thầy Tì Kheo.
Dục
lạc gì ở đời
Không
bằng phần mười sáu
Kể
cả thiện lạc này
Lạc
do ái đoạn diệt
(ud.10)
Chỉ
có ngồi tạp thoại về quyền lực thế gian mà còn bị Đức
Phật ngăn cấm như vậy, huống chi những người đã xuất
gia mà lại đi bắt tay với quyền lực thế gian, rồi lợi
dụng quyền lực đó để củng cố địa vị, tạo “chỗ
ngồi cao trong tăng chúng” thì tất nhiên những người đó
không còn là người xuất gia chân chính nữa rồi, mà họ
mới chính là những kẻ “mượn đạo tạo đời” như
nhóm từ mà ngày nay chúng ta thường nghe nhắc đến gần như
suốt ngày.
Nhưng
chung cục của những người chạy theo quyền lực thế gian
là gì? Là nỗii bất an, lo sợ luôn luôn đè nặng trong tâm
hồn của họ chăng?
“Như
vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Anupiya tại rừng
xoài. Lúc bấy giờ tôn giả Bhaddiya, con của vua Kàligodha,
đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống
rồi nói lên lời cảm hứng:
“Ôi
an lạc thay! ôi an lạc thay! một số đông Tì Kheo nghe Tôn
Giả Bhaddiya con của Kàligodha đi đến khu rừng (…). Nghe vậy,
các Tì kheo ấy suy nghĩ: không nghi ngờ gì, chư Hiền, Tôn
Giả Bhaddiya con của Kàligodha sống phạm hạnh không có hoan
hỷ, vì trước khi còn ở gia đình được hưởng an lạc của
nhà vua, vì Tôn Giả nhớ đến an lạc ấy, cho nên mỗi khi
đi đến khu rừng (…).
“Rồi
một số đông Tì Kheo đến Thế Tôn, sau khi đến Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên, các Tì Kheo ấy Bạch Thế Tôn:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Bhaddiya con của Kàligodha mỗi khi đi đến
khu rừng (…).
“Sau
khi nghe các Tì Kheo trình bày xong, Đức Thế Tôn bảo các Tì
Kheo, này các Tì Kheo, hãy đi và nhân danh ta nói với Bhaddiya,
con của Kàligodha: thưa Hiền giả, Bậc Đạo Sư gọi Hiền
Giả. Thưa vâng, Bạch thế Tôn. Các vị Tì Kheo ấy đến và
nói với Tôn Giả Bhaddiya: Đấng Đạo Sư gọi Hiền Giả.
“Sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế
Tôn hỏi Tôn Giả Bhaddiya:
“Có
thật chăng, này Bhaddiya, mỗi khi người đi đến khu rừng
(…).
Do
mục đích gì khi đi đến những nơi ấy ngươi lại nói lên
những lời cảm hứng như vậy?
“Bạch
Thế Tôn, thuở trước khi con còn ở trong gia đình, được
hưởng an lạc nhà vua, trong nội cung có đặt người khéo
bảo vệ, ngoài nội cung có đặt người khéo bảo vệ;
Trong thành nội có đặt người khéo bảo vệ, ngoài thành
có đặt người khéo bảo vệ. Trong nước cũng có đặt người
khéo bảo vệ, ngoài nước cũng có đặt người khéo bảo
vệ. Bạch Thế Tôn, con được bảo vệ, phòng vệ chặt chẽ
như vậy, nhưng con vẫn sống trong sợ hãi, hồi hộp, run sợ,
hoảng sợ (bhito, ubbiggo, ussanki, utrato). Nhưng nay con đi đến
khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, chỉ
sống có một mình, mà con vẫn không sợ hãi, không hồi hộp,
không run sợ, không hoảng sợ, không rộn ràng, không hốt
hoảng, chỉ có lắng dịu (pannaloma), nhẹ nhàng (paradavutto)
tâm hồn con tự do như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, do thấy
được mục đích như vậy, nên khi con đến khu rừng,
đến gốc cây hay đến ngôi nhà trống, con thường nói lên
lời cảm hứng:
Ôi!
An lạc thay! Ôi! An lạc thay!
Rồi
Đức Thế Tôn đọc lời cảm này để khuyến khích, nâng
đỡ cho tâm hồn của Tôn Giả Bhaddiya:
Với
ai trong nội tâm
Không
có lòng phẫn nộ
Vượt
qua hữu phi hữu
Vị
ấy thoát sợ hãi
An
lạc không sầu muộn
…
(ud.18)
Kể
từ lời bộc bạch chân thành của Tôn Giả Bhaddiya, một người
được sống trong sự bảo vệ và che chở của giới thống
trị cao nhất thời bấy giờ, với Đức Phật, đến nay đã
hơn 20 thế kỷ, thế giới đã đổi thay toàn triệt, nhưng
nỗi sợ hãi, bất an, run sợ của những người đang sống
trong quyền lực dường như đã không thay đổi chút nào mà
lại càng khốc liệt hơn? Vì nỗi bất an đó ngày nay không
còn giới hạn trong giới quyền lực nữa mà đã tràn lan trên
khắp thế giới. Những người dân vô tội bỗng nhiên thấy
mình là nạn nhân của những thế lực đang giành giật quyền
lực với nhau.
Vậy
đoạn kinh ngắn trên có thể được dùng như kinh nhật tụng,
để những người đang khát khao quyền lực thế gian đọc
tụng mỗi ngày để mong tìm một chút thanh thản cho tâm hồn
bất an của họ chăng?
Ngoài
vấn đề khuyên dạy các Tì Kheo không nên tham dự trực tiếp
hoặc gián tiếp ngay cả tạp thoại về quyền lực thế tục
ra, thì trong Khuddaka Nikàya, Đức Phật còn ngăn cấm các đệ
tử xuất gia ba điều quan trọng này nữa.
“Này
các Tì Kheo, Phạm Hạnh được sống, không vì mục đích
lừa dối quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng,
không vì mục đích được lợi ích, lợi dưỡng, cung kính,
danh vọng, nghĩ rằng: “mong quần chúng biết đến ta”, mà
này các Tì Kheo Phạm Hạnh được sống vì mục đích thắng
tri (abhinnattham) vì mục đích liễu tri (parinn-atthamca) (it-28).
Hình
thức bên ngoài tất nhiên cũng rất cần thiết cho người
xuất gia, nhưng nguy hiểm hơn là một số người đã lợi
dụng hình thức đó để lừa dối những người ngây thơ
chỉ biết tin vào hình thức. Đức Phật đã nhìn thấy điều
tai hại này:
“Này
các Tì Kheo, nếu một Tì Kheo nắm lấy viền áo Tăng Già Lê
(Sanghàtikanne) đi theo sau lưng ta, chân bước theo chân, nhưng
vị ấy có tham ái trong các dục, với lòng sắc sảo, với
tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác,
không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại, vị
ấy xa hẳn Ta và Ta xa hẳn vị ấy. Vì sao? Này các Tì Kheo,
Tì Kheo ấy không thấy Pháp. Do không thấy Pháp nên không thấy
Ta. Này các Tì Kheo, nếu Tì Kheo nào sống xa Ta đến 100 do
tuần và vị ấy không tham ái trong các dục, với lòng tham
không sắc sảo, tâm không sân hận, ý tư duy không nhiễm ác,
chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh nhất tâm, các căn được
chế ngự, thì vị ấy gần Ta và ta gần vị ấy. Vì sao? Này
các Tì Kheo, Tì Kheo ấy thấy Pháp. Do thấy Pháp nên thấy
Ta” (it.90).
Chính
vì thế nên khi vua Pasenadi của nước Kosala thấy những tu
sĩ dòng Ni Kiền Tử tu khổ hạnh, dầu bện tóc, không mặt
quần áo, bảy người dùng chung một cái y, thì vua mới đến
thưa với Đức Phật những người Ni Kiền Tử ấy có phải
là những vị đang đi trên con đường đến thánh quả hay
không? Thì được Đức Phật trả lời rằng, những cư sĩ
đang sống trong gia đình, hưởng thụ mọi thứ dục lạc như
nhà vua thì khó mà phân biệt được vị nào đang đi đúng
trên con đường đưa đến các bậc thánh.
Sau
đó Đức Phật đã lưu ý với nhà vua rằng:
“Thưa
đại vương chính phải cộng trú (samvàsena) mới biết được
giới đức của một người, và như vậy phải trong một thời
gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý không
phải không có tác ý, phải có trí tuệ không phải với ác
tuệ. Thưa Đại Vương, chính phải có liên hệ mới biết
được sự thanh liêm của một người, phải trong một thời
gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý, không phải
không có tác ý, phải có trí tuệ không phải với ác tuệ.
Thưa Đại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết
được sự trung kiên của một người”.
Nếu
chỉ nhìn bề ngoài của xã hội hiện nay thì ta sẽ thấy
đạo Phật đang ở trong thời kỳ cực thịnh, vì màu vàng
đang hiện diện khắp nơi. Không chỉ tại nơi các chùa, tự
viện, Thiền viện mà tại các lễ đài, các buổi họp, hội
thảo, meeting v.v… nhưng nếu chúng ta y theo lời Đức Phật,
nghĩa là “phải trong một thời gian dài không thể ít ngày
được” thì chúng ta sẽ nhận ra ngay đó không phải là màu
vàng của từ bi, trí tuệ và kham nhẫn của đạo Phật, mà
sau màu vàng ấy là nơi chứa đầy ác tuệ của những tâm
thức tán loạn, không định tỉnh.
Vậy
là dù họ đang “níu áo Tăng Già Lê” của Đức Phật, nhưng
họ “xa hẳn Đức Phật” Vì sao? Vì như Đức Phật đã
dạy “họ không thấy Pháp. Do không thấy Pháp nên không thấy
Ta”. Mặc dù họ có thể thao thao bất tuyệt trước
đám đông về giáo Pháp của Đức Phật nhưng đúng như Đức
Phật đã nói trong kinh Kokàliya: “cái gì trống thì cái ấy
kêu to” và “cái gì đầy thì cái ấy im lặng” vậy.
Đức
Phật (và có lẽ chúng xuất gia của Ngài nữa) thường được
người đời ca tụng với một hình ảnh đầy thi ca như thế
này:
Nhất
bát thiên gia phạn
Cô
thân vạn lý du
Kỳ
vi sanh tử sự
Giáo
hoá độ xuân thu
Bình
bát xin ăn ngàn nhà
Một
thân cô độc bước đi khắp nẻo đường của trần gian
Chỉ
vì một lý do duy nhất là sống và chết
Giáo
hóa đưa con người vượt khỏi ngục tù của thời gian
Giáo
hóa thì càng khó khăn bao nhiêu Ngài lại càng quyết tâm bấy
nhiêu, như trường hợp Ngài đã giáo hoá tên sát nhân khét
tiếng nhất thời bấy giờ là Angulìmala. Nhưng bình bát xin
cơm ngàn nhà, thì không hẳn như vậy, nghĩa là có những trường
hợp Đức Phật đã từ chối, như trường hợp sau đây:
“Một
thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini,
trong một làng Bà la môn tên là Ekanàlà. Lúc bấy giờ
Bà la môn Kasibhàradvàja có khoảng 500 lưỡi cày sẳn sàng,
vì là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y,
cầm bát đi đến chỗ Bà la môn Kasibhàradvàja đang làm việc.
Lúc bấy giờ, Bà la môn Kasibhàradvàja đang phân phát đồ
ăn. Đức Thế Tôn di đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến,
Ngài đứng một bên. Bà la môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn
đang đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:
‘Này sa môn, Ta cày và Ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn.
Và sa môn, hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!’. –
‘Này bà la môn Kasibhàradvàja Ta cũng cày và cũng gieo. Sau
khi cày và sau khi gieo, Ta ăn!’
‘Nhưng
chúng tôi có thấy cái ách, hay cái cày hay lưỡi cày, hay thúc
(trâu bò), hay các con bò đực của Tôn Giả Gotama. Vậy mà
Tôn Giả Gotama nói: ‘Này Bà la môn Kasibhàradvàja, ta có cày
và ta có gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, ta ăn!’
Lúc
bấy giờ Đức Phật mới giải thích cho Bà la môn Kasibhàradvàja
biết rằng, Ngài đã cày và bừa như thế nào bằng các câu
kệ.
Lòng
tin là hạt giống
Khổ
hạnh là cơn mưa
Trí
tuệ đối với Ta
Là
ách và lưỡi cày
Xấu
hổ là cán cày
Ý
là sợi dây buộc
Và
niệm đối với Ta
Là
lưỡi cày, gậy thúc
(…)
Với
tinh cần tinh tấn
Ta
gánh chịu trách nhiệm
Ta
tự mình đem lại
An
ổn khỏi khổ ách
Như
vậy, ta đi tới
Không
trở ngại thối lui
Chỗ
nào ta đi tới
Chỗ
ấy không sầu muộn
Và
cuối cùng Đức Phật kết luận:
Cày
bừa là như vậy
Được
quả là bất tử
Sau
cày bừa như vậy
Mọi
khổ được giải thoát
Lúc
đó Bà la môn Kasibhàradvàja mới lấy một cái bát bằng đồng
lớn, cho đổ đầy cháo với sữa, dâng Đức Phật và thưa:
‘Thưa
Tôn Giả Gotama, hãy dùng cháo và sữa, Tôn Giả là người
đi cày! Tôn Giả Gotama đi cày quả bất tử!’
Đức
Phật đã từ chối và đưa ra lý do:
Ta
không hưởng vật dụng
Do
tụng kệ đem lại
Đây
không phải là Pháp
Của
bậc có chánh kiến
Chư
Phật đều bác bỏ
Tụng
hát các bài kệ
Khi
Pháp có hiện hữu
Truyền
thống là như vậy
Ta
có thể suy luận rằng, nếu Bà la môn Kasibhàradvàja cúng dường
Đức Phật ngay từ đầu, nghĩa là không đợi đến khi Đức
Phật giải thích rằng Ngài cũng là một người cày bừa nhưng
là một người cày bừa không phải để đem được lúa gạo
về nhà, mà cày bừa để giải thoát mọi khổ đau sầu
muộn của kiếp người. Mặc dù đoạn kinh sau đó Ngài đã
nói là ăn món cháo sữa này rất nguy hiểm, Vì “trừ Như
Lai hay đệ tử của Như lai ăn vào mới tiêu hoá được, còn
lại tất cả kể cả các Phạm Thiên ăn vào đều không thể
tiêu hoá”. Nhưng Ta còn nhớ trong bữa ăn cuối cùng do người
thợ sắt Cunda cúng dường, trong đó có món ăn có tên là
mộc nhĩ món ăn mà Đức Phật cũng bảo cho Cunda biết là
rất nguy hiểm, vì ăn vào không thể tiêu hóa.
Như
vậy Ta có thể tự hỏi, vì sao Đức Phật lại từ chối
sự cúng dường của bà la môn Kasibhàradvàja mà lại nhận
sự cúng dường của người thợ sắt Cunda. Dù biết trước
rằng món ăn của Cunda có thể sẽ đem đến nguy hiểm cho
bản thân mình?
Sở
dĩ Đức Phật nhận sự cúng dường của người thợ sắt
Cunda bởi vì sự cúng dường đó phát xuất từ lòng thành
kính đối với Đức Phật và giáo Pháp của Ngài. Sự cúng
dường chỉ có ý nghĩa khi sự cúng dường đó phải được
phát xuất từ sự tự nguyện, nghĩa là mọi “gợi ý” ,
“gài thế” hoặc “thuyết phục” để được cúng dường
đều trái với giáo Pháp của Đức Phật.
Và
sở dĩ Đức Phật từ chối sự cúng dường của Bà la môn
Kasibhàradvàja vì Kasibhàradvàja chỉ chịu cúng dường sau khi
đã bị chinh phục và phải công nhận rằng đức Phật cũng
là người đang đi cày bừa, chứ không phải là kẻ “ăn
không ngồi rồi” như lúc đầu ông đã có ý nghĩ như vậy.
Trong
kinh Ẩn Sĩ (sn.35) Đức Phật còn nói rằng, một trong những
đức tánh của một ẩn sĩ đi khất thực, không được phân
biệt giàu nghèo, nhưng quan trọng hơn nữa là khi nhận đồ
cúng dường không được ca tụng cũng như không nói lời hạ
mình để được lòng người cúng dường:
Ai
sống nhờ người cho
Nhận
lãnh đồ khất thực
Nhận
từ trên, từ giữa
Hãy
từ chổ còn lại
Không
đủ để tán thán
Không
nói lời hạ mình
Các
bậc trí nhận thức
Vị
ấy thật ẩn sĩ
Tôn
Giả Mahakassapa là người được Đức Phật ca ngợi là người
thể hiện trọn vẹn sự không phân biệt ấy trong khi đi khất
thực:
“Như
vầy tôi nghe, Một thời Thế Tôn trú ở thành Vương Xá tại
Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn Giả
Mahakassapa trú ở hang pipphali, đau bệnh khổ đau, bệnh trầm
trọng. Rồi Tôn Giả Mahakassapa sau một thời gian thoát khỏi
bệnh ấy liền suy nghĩ như sau: ‘Ta hãy đi vào vương xá
để khất thực’. Lúc bấy giờ khoảng 500 thiên nhân, đang
cố gắng sữa soạn để Tôn Giả Mahakassapa nhận được đồ
ăn khất thực. Nhưng Tôn Giả Mahakassapa gạt bỏ 500 thiên
nhân ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, đi vào thành Vương
xá để khất thực, đi ngang những con đường của người
nghèo, con đường những người ăn xin, con đường những người
thợ dệt. Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết được ý nghĩa
này, trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
Ai
sống không nhờ người
Không
được người biết đến
Sống
tự mình chế ngự
An
trú trên lõi cây
Các
lậu hoặc đã đoạn
Sân
hận được trừ diệt
Vị
ấy được ta gọi
Là
vị Bà La Môn
Vì
thấy được sự nguy hiểm trong việc chạy theo đám đông
để được tôn xưng cũng như hưởng thụ nên cũng chính Tôn
Giả Mahakassapa đã khuyến cáo các Tì Kheo
Chớ
du hành đi đầu
Do
quần chúng tôn xưng
Tâm
ý bị loạn động
Thiền
định khó tu chứng
Quần
chúng tụ là khổ
Thấy
vậy, tránh quần chúng
Mặc
dù Tôn Giả cũng thừa biết rằng những Tì Kheo thiếu nội
lực thì việc từ bỏ sự cung kính bề ngoài này thực là
khó khăn, vì theo Tôn Giả “như mũi tên tế nhị, rất khó
rút ra khỏi”:
Đảnh
lễ cúng dường này
Xuất
phát từ gia đình
Nên
biết chúng thật sự
Là
đám bùn sa lầy
Như
mũi tên tế nhị
Rất
khó rút ra khỏi
Kẻ
xấu rất khó lòng
Từ
bỏ sự cung kính
Nhưng
nếu từ bỏ tất cả, quyền thế, quần chúng đám đông,
tiếng tăm, lợi danh vv... vậy thì thông điệp mà Khuddaka Nikaya
gửi đến cho tất cả những người xuất gia là gì?
Có
lẽ chưa có bộ kinh nào mà lại đề cập nhiều đến núi
rừng, đến hạnh viễn ly, đến thiền định độc cư, nghĩa
là những đức tính của một bậc ẩn sĩ nhiều như là Khuddaka
Nikaya đã đề cập.
Tại
sao vậy? Vì Đức Phật đã nói rằng một Tì Kheo thì nhất
định phải “ưa muốn ẩn dật Thiền tịnh (patisallanàmà),
thích thú ẩn dật Thiền tịnh, chuyên chú nội tâm tịnh chỉ
(ceto samatham), không gián đoạn thiền tịnh (Aniràkata-jjhànà),
thành tựu quán trí (vipassanàla samanagata), hành trì hạnh đi
đến các ngôi nhà trống (brùheta sunàgàrànam), thì ngay trong
hiện tại đạt được chánh trí, có nghĩa là lời tuyên bố
về giác ngộ, mà giác ngộ chính là mục tiêu cuối cùng của
hành giả đi tìm chân lý vậy.
Khi
có người hỏi Tôn Giả Mahakassapa vì sao Tôn Giả đã già
rồi mà ngày nào cũng phải leo núi cao, thì được Tôn Giả
trả lời:
Khi
chúng leo núi đá
Một
số bị mạng chung
Thừa
tự bậc Giác ngộ
Tỉnh
giác và chánh niệm
Dựa
trên sức thần lực
Kassapa
này leo núi
Và
trong một đoạn khác Tôn Giả Mahakassapa nói:
Đi
khất thực trở về
Ca
Diếp leo tảng đá
Ngồi
Thiền, không chấp thủ
Đoạn
sợ hãi khinh hoàng
Như
vậy núi non hùng vĩ luôn luôn là sự thử thách cho những
ai đi tìm sự thanh bình cho nội tâm.
Trong
cách trả lời của Tôn Giả Ca Diếp ta có thể hiểu rằng,
Tôn Giả muốn ví sự chinh phục cái tâm của chúng ta cũng
đầy thử thách như khi ta leo lên núi cao. Nguy hiểm và cheo
leo có thể làm cho ta mất mạng, nhưng một khi đã lên đến
tận đỉnh cao rồi thì người leo sẽ thấy được sự hùng
vĩ bao la của đất trời. Cũng vậy, kẻ đã chinh phục được
cái tâm của mình rồi thì tất cả những bất an, hay nói
theo Tôn Giả Ca Diếp thì “sợ hãi khinh hoàng” của con người
đều lập tức được chấm dứt.
Vậy
là, núi cao rừng thẳm chỉ là biểu tượng cho cái tâm đã
được giải thoát chứ không nhất định phải ở trên núi
cao thì mới có thể làm chủ cái tâm của mình.
Đối
với Phật giáo, có lẽ nuôi dưỡng đỉnh núi cao trong chính
mình mới quan trong hơn là sống trên núi cao chăng?
Trong
Trưởng Lão Tăng Kệ có kể lại một cậu bé có tên là Sivaka,
khi mẹ Sivaka được tin em trai mình là Vanavaccha xuất gia, thọ
đại giới, nguyện sống trong rừng suốt đời. Mẹ Sivaka
nói với con: ‘này Sivaka, con hãy xuất gia dưới sự chỉ
dẫn của Vanavaccha và phục vụ cho Ngài, vì nay Ngài đã già!’
Sivaka nghe lời mẹ, xuất gia ở trong rừng hầu hạ săn sóc
cho Vanavaccha. Một hôm đi đến gần làng thì Sivaka bị đau
nặng, khi thuốc không chữa được, Sivaka không thể trở về
rừng, và trưởng lão Vanavaccha đi tìm thì thấy Sivaka đang
bị đau nằm ở gần làng. Sau khi được uống thuốc và săn
sóc, vết thương đã lành thì trưởng lão Vanavaccha liền nói
với Sivaka: ‘này Sivaka, từ khi ta xuất gia đến nay, ta không
sống ở trong làng. Vậy ta hãy cùng nhau vào rừng trở lại’.
Sivaka
trả lời: ‘Dù thân con đang ở trong làng nhưng tâm con thì
bao giờ cũng hướng về nứi rừng’.
Câu
nói trên của Sivaka khiến ta nhớ đến câu của Trần Nhân
Tông trong Cư Trần Lạc Đạo Phú:
Mình
ngồi thành thị
Nết
dùng sơn lâm
Nếu
một Thiền Sư hay một nhà ẩn dật đang sống trên núi cao
thì họ chỉ cần buông bỏ những khát vọng trong tâm tưởng
về dục vọng, nhưng một người như vua Trần Nhân Tông thì
sư buông bỏ để ra đi một mình phải khó khăn gấp bội,
vì vừa phải buông bỏ trong tâm tưởng vưa lại phải buông
bỏ những cám dỗ trong thực tế nữa, vì những lạc thú
của trần gian thì đã có sẳn đó rồi chỉ hưởng thụ hay
không mà thôi.
Vậy
ta có thể nói rằng toàn thể Khuddaka Nikaya là kêu gọi người
xuất gia hãy buông bỏ, từ bỏ và ra đi…
Thí
dụ kinh Con Tê Ngưu Một Sừng chẳng hạn. Kinh có cả thảy
là 368 câu, nhưng có 2 câu được lập đi lặp lại đến những
41 lần. Hai câu đó là:
Hay
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng
Kinh
Con Tê Ngưu Một Sừng kêu gọi người xuất gia hãy buông
bỏ những gì?
Truớc
hết, Đức Phật khuyên những người xuất gia, hãy buông bỏ
những thói hư tật xấu mà tưởng chừng không có gì quan
trọng, nhưng cái tưởng chừng không quan trọng này lại đánh
mất tư cách của người xuất gia, theo kinh thì đó là:
Có
một số người xuất gia
Chung
sống thật khó khăn
Cũng
như các gia chủ
Ở
tại các cửa nhà
Sống
vô tư vô lự
Giữa
con cháu người khác
Không
chạy theo thời thượng, tức là những hình thức phù phiếm
bề ngoài:
Không
trang điểm bày biện
Không
ước vọng mong cầu
Từ
bỏ mọi hào nhoáng
Nói
lên lời chân thật
Và
đặc biệt nhất là kinh nhắc đi nhắc lại nhiều lần người
xuất gia không được giao du với bạn xấu, những người
bạn “ không thấy được mục đích tối thượng của người
xuất gia”:
Với
bạn bè độc ác
Hãy
từ bỏ lánh xa
Bạn
không thấy mục đích
Quen
nếp sống quanh co
Cũng
là dễ hiểu khi Đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần
người xuất gia phải tránh giao du với bạn bè xấu ác, vì
bạn bè đóng một vai trò rất quan trọng chẳng những trong
việc đi lên hay đi xuống (nghĩa là tốt hoặc xấu) của một
cá nhân mà cho cả tập thể Tăng đoàn nữa:
Nếu
tìm được bạn lành
Thận
trọng và sáng suốt
Bạn
đồng hành chung sống
Bạn
thiện trú hiền trí
Cùng
nhau đồng nhiếp phục
Tất
cả mọi hiểm nạn
Hãy
sống với bạn ấy
Hoan
hỷ giữ chánh niệm
Phải
chăng nếu người xuất gia nào cũng luôn luôn thích chung sống
với “bạn thiện trú hiền trí” thì tập thể tăng đoàn
sẽ không gặp thách thức và hiểm nạn như hiện nay.
Cuối
cùng và quan trọng nhất của người xuất gia là:
Từ
bỏ để một bên
Mọi
biểu tượng gia đình
Như
loại cây san hô
Tước
bỏ mọi lá cây
Bậc
anh hùng cắt đứt
Mọi
trói buộc gia đình
Sau
khi đã từ bỏ, buông bỏ để ra đi trong cô độc như con
tê giác một sừng, thì cuối cùng sẽ là gì? Một đời sống
mới sẽ xuất hiện chăng?
Kinh
Con Tê Ngưu Một Sừng đã đưa ra nhiều hình ảnh sự tự
do giải thoát của người đã can đảm từ bỏ ấy như “gió
không vướng mắt” khi thổi qua màn lưới “như con nai trong
núi rừng, không gì bị trói buộc, từ nơi chỗ nó muốn,
để tìm kiếm thức ăn” hay như “Hoa sen không bị nước
thấm ướt”.
Nhưng
hình ảnh quyến rũ nhất, trầm hùng nhất là khi Đức Phật
đã ví sức mạnh của một người đã từ bỏ mọi sự ra
đi một mình như sau:
Giống
như con sư tử
Với
quai hàm hùng mạnh
Bậc
chúa của loài thú
Sống
chinh phục chế ngự
Hãy
sống các trú xứ
Nhàn
tịnh và xa vắng
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng
Nhưng
giữa một xã hội mà lúc nào sức mạnh của tập thể cũng
được đề cao, thì hình ảnh con sư tử cô độc rống lên
tiếng rống oai hùng làm các loài thú nhỏ bé trong rừng sâu
đều phải khiếp sợ có vẻ tiêu cực quá chăng?
Chúng
ta nên nhớ rằng, tất cả những cuộc cách mạng, hay những
cuộc cải cách xã hội vĩ đại (kể cả cuộc cách mạng
vô sản 1917) trên thế giới đều không phải bắt đầu từ
những người gọi là tích cực, nghĩa là những người đang
giữa những địa vị quan trọng trong xã hội mà
thường bắt đầu từ những nhà tư tưởng, những triết
gia, tức là những kẻ sống trầm lặng ngoài đám đông xã
hội, nhưng họ mới là những kẻ rống lên tiếng rống của
con sư tử, làm lay động giữa một xã hội đang ngủ say.
Như
cuộc các mạng Pháp (1789) chẳng hạn, mà sau đó tinh thần
của cuộc cách mạng này đã tràn lan khắp thế giới và ảnh
hưởng cho đến tận ngày nay nữa. Chẳng phải nhờ những
chữ in nằm im lìm bất động trong những tác phẩm Contrat
Social (dân ước), Emile của Rousseau, L’esprit Des Lois (vạn
pháp tinh lý), Lettres persanes (thư Ba Tư) của Montesquieu hoặc
Lettres Philosophiques (thư triết lý) của Voltaile đã thổi một
sức mạnh vào xã hội Pháp đang bị giai cấp tu sĩ và quý
tộc chà đạp bị bắt buộc phải đứng dậy phá tan ngục
Bastille vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 đó sao?
Nhưng
với Phật giáo có một cuộc cách mạng còn quan trọng hơn,
đó là cuộc cách mạng tự thắng những đam mê dục vọng
phát xuất từ bản ngã vị kỷ ở chính nơi mỗi người trong
chúng ta. Cuộc cách mạng này còn quan trọng hơn là mọi cuộc
cách mạng cải tạo xã hội khác đến từ những điều kiện
bên ngoài.
Bởi
vậy, kinh đã nói rằng, trong đêm thái tử Tất Đạt
Đa đánh phá nội ma ngoại chướng hoàn thành tuệ giác vô
thượng dưới gốc cây Bồ Đề thì quả đất đã
rung động đến 7 lần.
Quả
đất có rung động hay không?
Điều
đó không quan trọng, nhưng điều quan trọng với chúng ta,
những con người đang ngụ cư trên mặt đất khổ đau
này là từ cái đêm mà Đức Phật đã tự chiến thắng mình
một cách oanh liệt đó, đến nay đã hơn 20 thế kỷ rồi
vầy mà vẫn còn tiếp tục làm rung động trong trầm lặng
biết bao nhiêu tâm hồn đang khát khao vươn lên khỏi thân
phận bi thảm của kiếp người trên hành tinh đầy bất an
và hiểm nguy này.
Lời
kết:
Kể
từ khi có mặt trên mặt đất này thì điều mà con người
lúc nào gần như cũng bị ám ảnh, phải chăng đó chính là
thời gian?
Vì
thời gian đưa mọi sự đi đến hủy diệt và cuối cùng là
cái chết với mỗi người trong chúng ta.
Tất
cả những gì con người cố tích lũy, xây dựng đều trở
thành vô nghĩa trước sự tàn phá hủy diệt cũng như cái
chết này. Đúng như một văn hào Mỹ, William Faulkner, đã viết
trong tác phẩm The Sound And The Fury (Âm thanh và cuồng nộ):
“Này
Quentin ạ, cha cho con cái đồng hồ này, cha cho con nấm mồ
chôn hết tất cả hy vọng và tất cả ham muốn… con sẽ
dùng đồng hồ này để quy hết tất cả kinh nghiệm của
loài người vào chỗ phi lý Reductio ad absurdum…Tất cả nhu
cầu của đời con sẽ không bao giờ được thỏa mãn, cũng
như tất cả nhu cầu của những người xung quanh con cũng thế.
Cha
cho con cái đồng hồ này không phải để con nhớ đến thời
giờ, mà để con có thể quên nó trong một khoảnh khắc, để
con đừng hì hụt mệt nhọc cố gắng chinh phục nó nữa.
Bởi vì con ạ, người ta không bao giờ thắng trận, và chiến
thắng chỉ là ảo tưởng của những thằng khờ…” (bản
dịch của Phạm Công Thiện).
Cũng
cùng một tiếng nói đầy u uất như vậy, nhưng trầm lặng
hơn của một thi sĩ phương Đông, Nguyễn Du của Việt Nam
cũng nói qua hai câu thơ;
Xuân
lan thu cúc thành hư sự
Hạ
thư đông hàn đoạt thiếu niên
Lan
mùa xuân, cúc mùa thu đã trở thành chuyện hão
Mùa
đông rét, mùa hè nóng đã cướp đoạt tuổi xanh mất rồi
Trong
Khuddaka Nikaya, Đức Phật đã chỉ cho con người thấy có một
nơi mà con người không bị ám ảnh bởi bóng ma của sự hủy
diệt đó nữa, nơi chốn đó được Đức Phật diễn tả
như thế này:
“Này
các Tì Kheo, có một xứ (Ayatana) tại đấy không có đất,
không có nước, không có lửa, không có gió, không có hư không
vô biên xứ; không có thức vô biên xứ; không có vô sở hữu
xứ; không có phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời
này, không có đời sau, không có mặt trăng, không có mặt
trời.
Do
vậy, này các Tì Kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có
đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có an
trú, không có vận chuyển, không có sở duyên... Đây là sự
đoạn tận khổ đau.”
Và
đây là một câu nói khác nữa của Đức Phật cũng về nơi
chốn không có khổ đau ấy :
“Cái
gì có nương tựa, cái ấy có giao động, cái gì không nương
tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có
khinh an, có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về,
thì không có đến và đi. Không có đến và đi, thời không
có diệt và sanh, thời không có đời này, không có đời sau,
không có đời giữa. Đây là sự đoạn diệt khổ đau”
Mặc
dù những lời trên của Đức Phật không nhắc đến Niết
Bàn nhưng HT Minh Châu cũng như hầu hết các nhà nghiên cứu
Phật học đều đồng ý rằng đấy là những đoạn Đức
Phật mô tả về Niết Bàn, tức là trạng thái của một người
đã đạt được tự do và giải thoát hoàn toàn.
Nhưng
ta phải đi tìm cái nơi không có đất, không có nước, không
có lữa, không có gió, không có đi, không có đến, không có
nơi nương tựa… ấy ở đâu?
Tìm
ngay trong cái tâm phân biệt của chúng ta chăng?
Khi
tâm sanh hề sanh tử sanh
Khi
tâm diệt hề sanh tử diệt
Như
Tuệ Trung Thượng Sỹ một tư tưởng gia của Thiền học đời
Trần đã phát biểu như vậy chăng?
Nhưng
dù chúng ta có đi tìm ở bên trong hay bên ngoài, ở trên hay
ở dưới hay bất cứ nơi nào đi nữa thì một khi Niết Bàn
thường được định nghĩa là: “sở dĩ gọi là Niết Bàn
vì Niết Bàn là sự dứt bỏ, sự tách rời (Ni) ra khỏi ái
dục (vàna) sự thèm khát nhục dục” thì nhất định
chúng ta phải buông bỏ, dứt bỏ mọi ràng buộc để ra đi
như con tê giác một sừng bước đi một mình trong rừng sâu
thì mới hy vọng tìm được cái chốn không còn đau khổ ấy,
nếu không thì suốt đời ta vẫn là kẻ:
Vĩnh
vi lãng đãng phong trần khách