PHÉP
ĐẾM HOA NGHIÊM
Hồng
Dương
Số
đếm: Tự biến hay Cọng biến?
Nhiếp
luận thống nghiếp các pháp thành mười một loại, gọi là
thức, trong đó có số thức tức thức số mục. Ba loại đầu
là 6 căn: thân thức tức cái tổng thể gồm 5 giác quan, thân
giả thức là ý ô nhiễm, và thọ giả thức là ý vô gián
diệt; loại 4, bỉ sở thọ thức là 6 cảnh; loại 5, bỉ năng
thọ thức là 6 thức; loại 6, thế thức là thời gian; loại
7, số thức là số mục; loại 8, xứ thức là thế giới chúng
sinh cư trú; loại 9, ngôn thuyết thức là ngôn ngữ xuất từ
thấy nghe hay biết; loại 10, tự tha sai biệt thức là bản
thân với tha nhân; và loại 11, thiện thú ác thú tử sinh thức
là những nẻo đường sinh tử. Năm loại cuối là chi tiết
của 6 căn, 6 cảnh, và 6 thức. Tất cả 11 loại bao gồm hết
thảy mọi sự sai biệt của nhân sinh vũ trụ. Mọi sự sai
biệt này toàn liên hệ với thức, nên gọi là duy thức, dưới
cái dạng gọi là nhiều thứ. (Nhiếp luận. Thích Trí Quang
dịch giải)
Nói
duy thức thời phải nói về a lại da. A lại da là bản chất
hiện hữu của sinh mệnh và của môi trường trong đó sinh
mệnh tồn tại. A lại da có hai tác dụng: năng trì và năng
biến. Năng trì là khả năng duy trì căn thân (thân mệnh) và
khí giới (thế giới vật lý). Năng biến là khả năng phát
hiện hiện tượng từ chủng tử thành hiện hành. Sự phát
hiện này tuân theo nguyên tắc nhân duyên và nghiệp báo. Sinh
mệnh và môi trường sinh hoạt của sinh mệnh là những phát
hiện của a lại da theo tổng thể những giá trị của nghiệp
báo đã qua. Thế giới tánh cảnh, lĩnh vực tự thân của
thực tại tức cảnh giới của thực tánh, là thế giới thực
tại trong đó thân căn sinh hoạt cũng là một phần của nghiệp
báo ấy. Mặc dầu là một phát hiện từ thức a lại da, thế
giới thực tại là một phần của a lại da gọi là tướng
phần, là sở duyên nghĩa là đối tượng cho kiến phần của
a lại da.
Duy
thức học chủ trương sinh mệnh và thế giới là do hai loại
thức biến phát hiện tựu thành, tự biến tức phát hiện
cá nhân và cọng biến tức phát hiện tập thể. Chẳng hạn,
tịnh sắc căn là hoàn toàn tự biến, có gốc rễ từ a lại
da, được phát hiện thành một phần của sinh mệnh cá nhân,
và không liên hệ gì đến kẻ khác. Những pháp khác, như
mắt, tai, mũi, lưỡi, óc, v.v... không hoàn toàn là những hiện
tượng tự biến. Người khác có thể trông thấy chúng, và
chúng có thể ảnh hưởng tới họ. Còn những hiện tượng
trời, mây, sông, núi, thời gian, không gian, v.v... thời được
xem như là những pháp hoàn toàn cọng biến.
Các
a lại da giống nhau về tính chất và tác dụng, bởi vậy
chúng có thể tạo nên thế giới tánh cảnh trong đường lối
cọng biến, phát hiện cộng đồng. Điều này giải thích
sự chung đụng, thụ hưởng, và chia xẻ của những kẻ có
cọng nghiệp, nghĩa là có những hành động giống nhau, và
nhận chịu những quả báo giống nhau. Thiền sư Nhất Hạnh
cho một thí dụ rất dễ hiểu về tự biến và cọng biến.
"Nếu chúng ta thắp đây đó trong phòng một trăm cây nến
cở lớn nhỏ khác nhau, ánh sáng do tất cả những cây nến
ấy cung cấp có thể gọi là ánh sáng "cọng biến". Nhưng
ta biết mỗi cây nến phát ra ánh sáng riêng của nó, ánh sáng
"tự biến". Mỗi cây nến xuất hiện dưới ánh sáng cọng
biến, nhưng trước hết là dưới ánh sáng của chính cây
nến ấy, ánh sáng từ tự thân nó phát ra và gần gũi thân
thiết với nó hơn cả. Khi một cây nến bị thổi tắt, ánh
sáng nó không còn hiện hữu, nhưng ánh sáng cọng biến trong
phòng vẫn còn. Vì vậy, khi một cá nhân chết đi, thế giới
tánh cảnh vẫn còn tồn tại như là sự phát hiện cọng đồng
của tất cả các a lại da khác." (Vấn đề nhận thức trong
Duy thức học. Thích Nhất Hạnh)
Như
vậy, các số nguyên tự nhiên 1, 2, 3, v.v... và hết thảy đối
tượng toán học đúng là những pháp hoàn toàn cọng biến,
những phát hiện cọng đồng của tất cả các a lại da. Nói
theo ngôn ngữ thông thường, những hiện tượng cọng biến
như số nguyên tự nhiên là sản phẩm của kết quả tương
giao giữa tâm thức cá nhân, xã hội, và thế giới vật lý.
Các đối tượng toán học phát hiện từ văn hóa và lịch
sử nhân loại, văn hóa và lịch sử nhân loại nảy
sinh từ thân tâm con người và môi trường sinh vật lý học
của nó. Do đó ngôn ngữ toán học ứng hợp với thế giới
tánh cảnh (thực tại) cũng giống như phổi của chúng ta ứng
hợp với bầu khí quyển quanh trái đất.
Giải
thích sự phân biệt thực tại xã hội và thực tại tâm vật,
nhà khoa học xã hội Pháp Émile Durheim viết: "Lề lối hành
động và suy tư tập thể có một thực tại nằm ngoài cá
nhân mà cá nhân tùy thuận mỗi giây mỗi phút. Các lề lối
suy tư và hành động hiện hữu là do nơi bản tính của chúng.
Cá nhân nhận thấy chúng đã được tác thành và không thể
hành động như vẻ không có chúng hay khác với hình thái chúng
đương hiện. ... Lẽ dĩ nhiên cá nhân có một vai trò trong
sự phát khởi chúng. Nhưng để cho một sự kiện xã hội
hiện hữu, nhiều cá nhân tối thiểu phải góp phần hành
động của mình; và chính do hành động kết hợp như vậy
mới tạo ra một sản phẩm mới. Vì sự tổng hợp tác thành
bên ngoài mỗi một chúng ta (bởi vì có nhiều tâm thức tham
dự), kết quả tất nhiên là thiết định bên ngoài chúng
ta một số cách thức hành động và phán đoán không tùy thuộc
ý muốn cá biệt riêng rẽ." (The rules of sociological method. 1938.
Émile Durkheim)
"Có
hai lớp trạng thái tâm thức khác nhau về nguồn gốc và bản
tính, và về kết quả nhắm tới. Một lớp biểu thị các
cơ thể của chúng ta và đối tượng các cơ thể ấy trực
tiếp liên hệ nhiều nhất. Hoàn toàn cá nhân, các trạng thái
tâm thức thuộc lớp này nối kết chúng ta duy chỉ với chúng
ta, và chúng ta không thể tách chúng ra khỏi chúng ta như không
thể tách chúng ta ra khỏi thân thể chúng ta. Các trạng thái
tâm thức thuộc lớp thứ hai thời trái lại đến với chúng
ta từ xã hội; chúng chuyển xã hội vào trong chúng ta và nối
kết chúng ta với cái gì đó vượt quá chúng ta. Với tính
cách tập thể, vô nhân cách, chúng xoay chúng ta hướng về
những mục đích chung với những người khác; chỉ qua chúng
và chúng mà thôi chúng ta mới có thể truyền thông vói kẻ
khác... Tóm lại, tính nhị nguyên ấy tương ưng với
cuộc sống song phương chúng ta đang sống: một diện thuần
túy cá nhân và có gốc rễ trong cơ thể chúng ta, diện
kia có tính cách xã hội và không gì khác là sự thân triển
của xã hội." (Essays on Sociology and Philosophy. 1964. Émile Durheim)
Vào
cuối đời Carl Jung dự định nghiên cứu tường tận sự
tương quan liên hệ giữa số và nguyên lý đồng thời tương
ưng. Theo ông, số không phải chỉ là khái niệm do tâm thức
thi thiết, mà còn là một nguyên hình, nghĩa là một thành
phần cấu tạo của thiên nhiên: "Số là một nguyên hình của
trật tự đang ở trong quá trình trở thành thức." (Number is
an archetype of order that is in the process of becoming conscious)
Hãy
dùng số "2" làm thí dụ. Nó có hai vai trò trong ngôn ngữ,
có khi là một hình dung từ, có khi là một danh từ. Trong một
câu chuyện về kinh nghiệm toán, có hai khủng long tìm đến
một hố nước vào thời kỷ Jura và gặp hai khủng long khác
đang vui chơi đùa vẫy nước, như vậy là có bốn khủng long
ở tại hố nước mặc dầu không một người nào ở đó
để suy ra "2+2=4". Martin Gardner, nhà báo chuyên vấn đề toán,
bảo rằng đó là bằng chứng 2+2 thật bằng 4 trong thực tế,
không phải chỉ là một tác dụng của thức, mà thật sự
2+2=4 là một định luật của thiên nhiên, độc lập với
tư duy của con người.
Trong
"hai khủng long", chữ "hai" là một hình dung từ tập thể (collective
adjective). Câu "hai khủng long cọng hai khủng long bằng bốn
khủng long" là một mệnh đề về khủng long. Khi tôi nói:
"Hai đối tượng riêng biệt, tạm thời tồn tại, và đồng
thời có mặt, góp lại với hai đối tượng khác thành ra
bốn đối tượng như thế" là tôi đang muốn phát biểu phần
nào ý nghĩa về tính cách tương giao giữa các đối tượng
riêng biệt, tạm thời tồn tại, và đồng thời có mặt.
Câu nói đó là một mệnh đề trong khoa vật lý học sơ cấp.
Điều đáng lưu ý là trong trường hợp đối tượng riêng
biệt, tạm thời tồn tại, và đồng thời có mặt, thời
kinh nghiệm cho biết 2+2=4.
Đối
lại, câu "hai là một số nguyên tố nhưng bốn là số hợp"
là một mệnh đề về số trừu tượng trong khoa số học
sơ cấp. Ở đây, "hai" và "bốn" là danh từ, chứ không phải
hình dung từ. Chúng biểu thị số trừu tượng là những khái
niệm. Đó là những khái niệm đối tượng mà mọi người
hiểu biết số học sơ cấp thừa nhận ý nghĩa và được
diễn tả bởi các tiên đề và định lý quen thuộc.
Những
hình dung từ tập thể hay "số đếm" (counting numbers) đều
hữu hạn. Giới hạn là số đếm lớn đến nổi không ai
có thể đếm thấu. Tuy nhiên không có số nào là số đếm
cuối cùng. Nếu đếm lên chẳng hạn, đến một tỷ thời
vẫn có thể đếm tới một tỷ cọng một, luôn luôn ở trong
tình trạng gọi là tiềm thế vô hạn. Trong số học trừu
tượng, hai tính chất, hữu hạn và tiềm thế vô hạn, mâu
thuẫn nhau, bởi vậy số đếm không thể là số trừu tượng.
Bây
giờ chọn số trừu tượng 10 lũy thừa 10 lũy thừa 10 (101010).
Ta có thể chứng minh một vài tính chất của số này, ví
như: “Số này chỉ có hai thừa số nguyên tố là 2 và 5 mà
thôi”. Nhưng không ai có thể đếm thấu số này. Nói cách
khác, không có số đếm nào bằng một số như vậy.
Thời
xưa, người Hy Lạp đã phân biệt số đếm (hình dung từ
tập thể) và số trừu tượng (danh từ), gọi chúng là arithmos
và logistiké. Như vậy, “hai” và “bốn” đều có hai nghĩa,
số đếm hay số trừu tượng. Công thức 2+2=4 cũng có hai
nghĩa. Nghĩa đầu là về đếm, về cách tương giao giữa các
đối tượng riêng biệt, tạm thời tồn tại, và đồng thời
có mặt. Theo nghĩa thứ hai thời đó là một định lý số
học, số học Peano chẳng hạn. Thường không nhận thấy sự
khác biệt giữa số đếm và số trừu tượng thời đó là
do tính chất hàm hồ của ngôn ngữ. Số trừu tượng sinh
xuất từ số đếm. Trong một tiến trình trừu tượng hóa,
số đếm lìa xa sự vật cụ thể và số trừu tượng phát
hiện trong tâm não những người hiểu biết số học sơ cấp
như là những phát hiện cọng biến. Theo Duy thức, mỗi chủng
tử của các pháp đều có thể là bản hữu hay tân huân.
Chủng tử số thúc cũng vậy, số đếm là do chủng tử bản
hữu và số trừu tượng là do tân huân.
Đếm
lên: trí sai biệt, đếm xuống: trí bình đẳng.
Trong
tác phẩm Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn, Trí Nghiễm,
kế tổ của Hoa nghiêm tông, đã dùng phép đếm từ một đến
mười làm thí dụ để minh giải nguyên lý Pháp giới duyên
khởi. Ngài tựa trên bài kệ sau đây của Tinh Tấn Lâm Bồ
tát, kinh Hoa nghiêm, Phẩm 20 - Dạ Ma cung kệ tán:
“Như
nương vật bị đếm/ Mà có cái hay đếm/ Tánh kia vốn không
có/ Nên rõ pháp như vậy.//
Ví
như pháp toán số/ Thêm một đến vô lượng/ Phép đếm không
thể tánh/ Vì trí nên sai khác.//”
Vô
lượng hay tiềm thế vô hạn là vô hạn thấu đạt bằng
trí óc, bằng suy luận. Thí dụ, liệt số vô hạn số nguyên
tự nhiên {n} = 1, 2, 3, ..., n, n+1, ... ... .... Tiềm thế vô hạn
của tập hợp {n} là khả năng tiếp diễn vô cùng tận phép
đếm bằng cách cọng thêm 1 vào bất cứ hạng từ cuối nào
của dãy số để thấu đạt hạng từ kế tiếp. Đây là
vô hạn của một thế giới mà trật tự (order) và lượng
độ (measure) có thể dùng để giải thích thuyết Pháp giới
duyên khởi. Tự thân của Pháp giới được biểu tượng bằng
ký hiệu {n}, hàm ý là phi không gian, phi thời gian, bình đẳng,
vô tướng, không sắc, nhưng có công năng sanh ra vô lượng
số nguyên. Đếm và cái bị đếm đều nương vào sự chuyển
biến của thức (A lại da thức) mà hiện ra, ví như gió thức
làm nổi dậy lớp lớp sóng thức là các số duyên khởi trên
biển tàng thức thường trụ {n}. Phép đếm, đếm lên hay
đếm xuống, tạo nên dãy số nguyên tự nhiên vô hạn. Dẫu
đếm tăng hay đếm giảm vô số vô lượng lần, dãy số nguyên
tự nhiên vẫn duy trì tiềm thế vô hạn của nó.
Trong
thí dụ đếm đến mười của Trí Nghiễm, số mười có thể
là bất cứ số nguyên nào trong dãy số vô hạn các số nguyên
tự nhiên. Số mười sử dụng trong suốt toàn bộ kinh Hoa
nghiêm được xem là số hiển thị tánh huyền diệu và toàn
hảo. Các số một, hai,..., mười là pháp duyên khởi (duyên
dĩ sinh). Hết thảy chúng đều xuất sanh từ một căn bản
hữu pháp {n}, và quan hệ với nhau. Một do đếm mà có không
khác hai, hay ba,..., hay mười do đếm mà có, vì hết thảy
chúng đều do duyên sinh, hoàn toàn khác với tiếng “một”
thường được sử dụng trong ngôn ngữ thông tục với ý
nghĩa biểu hiện một vật tự hữu, có tự tính.
Trí
Nghiễm cắt nghĩa: “Thí dụ phép đếm đến mười cho thấy
hai mặt của một và nhiều, dị thể và đồng thể. Mặt
dị cũng có hai mặt:
(1)
Nhiều ở trong một, một ở trong nhiều. Kinh (Hoa nghiêm) nói:
'Trong một: hiểu vô lượng/ Trong vô lượng: hiểu một/ Rõ
kia sanh lẫn nhau/ Sẽ thành vô sở úy.//' (Lời kệ của Bồ
tát Văn Thù Sư Lợi, Phẩm 9 - Quang minh giác). Đây là nói
theo Sự.
(2)
Một đồng nhất nhiều, nhiều đồng nhất một, như có nói
trong đoạn Bồ tát bất thối trụ (chỗ trụ bực thứ bảy),
Phẩm 15 - Thập trụ: 'Một tức là nhiều, nhiều là một/...
Như vậy tất cả xoay vần thành/ Bực bất thối nên vì chúng
nói.//' Đây là nói theo Lý.”
“Bây
giờ giải thích “nhiều trong một, một trong nhiều” theo
phép đếm đến mười: nếu đếm tới từ một đến mười
thời đó là đi lên; nếu đếm lui từ mười đến một thời
đó là đi xuống. Là “một”, một có là do duyên sinh, vậy
trong một có mười, đó là lý do tại sao có một; không có
mười thời không thể có một, bởi vì một không có tự
thể và duyên thành. Bởi mười hàm nhiếp trong một nên một
do đó mới thành; hai, ba, bốn, v.v... cũng vậy, đều do đó
mà thành. Nếu một tự hữu, thời mười không thể thành;
và mười không thành thời một cũng không thành.
Hỏi:
Mỗi một vật cá biệt không có tự thể thời làm thế nào
tạo thành một và nhiều?
Đáp:
Điều này tùy theo sức duyên khởi các phẩm đức của vũ
trụ, phù hợp với cảnh giới Phổ Hiền. Do đó, một và
nhiều luôn luôn hiện hữu, không tăng không giảm. Kinh Duy
Ma Cật có câu: “Do gốc vô sở trụ mà các pháp được kiến
lập”. Trung luận nói: “Do tánh Không mà tất cả pháp được
thành tựu và hợp lý”.
Hỏi:
Nhìn sự bao hàm (nhiều trong một, một trong nhiều) khắp toàn
vũ trụ, thời cùng tận hay không cùng tận?
Đáp:
Có một nghĩa theo đó bao hàm cùng tận, và một nghĩa theo
đó bao hàm vô cùng tận. Vì sao? Một trong mười là cùng tận;
mười trong một, nếu giải thích đầy đủ, thời vô cùng
tận. Phải hiểu “một” và “nhiều” cả hai đều cùng
tận và không cùng tận.
Thứ
đến, giải thích “một đồng nhất mười, mười đồng
nhất một”. Cũng không khác gì đi lên và đi xuống, như
đã cắt nghĩa trước đây. Như một đồng nhất mười bởi
tại chúng thành lập trong thế tương y tương đối, vậy nếu
một chẳng phải là mười thời mười không thể thành, do
đó đi từ cao đến thấp cũng thế: mười đồng nhất một
tại vì chúng thành lập trong thế tương y tương đối, vậy
nếu mười chẳng phải là một, thời một không thể thành.
Hỏi:
Làm thế nào mà nếu chỉ một không thành thời mười cũng
không thành?
Đáp:
Điều đó như thế này: nếu cột không phải là nhà, thời
nhà không có; nếu có cái nhà thời có cột. Vậy bởi tại
cột đồng nhất nhà, khi có nhà thời có cột. Bởi tại một
là mười và mười là một cho nên một thành hàm ý mười
thành.
Hỏi:
Nếu một là mười và không có một thời không có mười,
vậy làm thế nào có thể nói đến một và mười và bảo
rằng chúng có thể thành là bởi tại chúng đồng nhất?
Đáp:
Một là mười thời không phải một: đây không phải một
hiểu theo nghĩa thông thường cho rằng một tự hữu độc
lập. Vì một ở đây do duyên thành cho nên không phải là
một thông thường. Do đó kinh nói: “Một cũng không phải
một”. Dùng số là cốt để phá: kẻ trí thiển cận chấp
thủ ái trước và khi thấy “một” thời cho tự nó là một.
Hỏi:
Trước kia đã giải thích mười trong một. Bây giờ giải
thích tánh đồng nhất của một và mười. Khác nhau ở chỗ
nào?
Đáp:
Lần trước giải thích mười trong một, lìa một thời không
có mười, nhưng mười không phải một. Lần này giải thích
tánh đồng nhất của một và mười, lìa một thời không
có mười, và mười ngay chính nó là một, bởi vì chúng thành
lập trong thế tương y tương đối.
Hỏi:
Nếu một và mười tương y tương đối, thử hỏi chúng hiện
khởi đồng thời hay theo thứ tự trước sau?
Đáp:
Vì tương y tương đối cho nên chúng luôn luôn hiện khởi
đồng thời tuy vẫn theo thứ tự trước sau. Tại sao? Vì một
là mười và mười là một, chúng luôn luôn đồng thời câu
khởi, nhưng vì đếm lên và đếm xuống cho nên chúng theo
thứ tự trước sau.
Hỏi:
Vì rõ ràng có sự đếm lên đếm xuống nên có tăng có giảm.
Làm sao có thể bảo đó là không động chuyển từ nguyên
tướng?
Đáp:
Mặc dầu theo thứ tự trước sau, chúng không từng động
chuyển. Do đó, kinh nói: “Đến không có tướng đến. (Duy
Ma Cật sở thuyết. T. 14, 544b)” Như thế này: một là nhiều
nhưng không vì thế mà tướng một biến mất. Một này cũng
không phải là một hiểu theo nghĩa thông thường. Lý luận
như vậy với nhiều: mặc dầu nhiều là một, điều
này không phá nghĩa nhiều của nhiều. Đó cũng không phải
là nghĩa thông thường của nhiều.
Hỏi:
Vì một và nhiều thành lập tương y tương đối và khác nghĩa
với cách hiểu thông thường, vậy một và nhiều là vốn
có hay xuất sinh từ một nguồn gốc?
Đáp:
Hỏi như vậy là muốn minh giải tánh vốn có bằng trí hay
bằng vào đương thể của một và nhiều? Nếu chỉ bằng
vào đương thể của một và nhiều mà không cần đến trí
hay thức thời đương thể bất khả tư nghì, giống như quả
cứu cánh viên mãn thời bất khả ngôn thuyết. Nếu cần phân
tích một và nhiều bằng trí, thời như đã dẫn trên, kinh
nói: “Vì trí nên sai khác.” Kinh cũng nói: “Sẽ thành vô
sở úy”. Do đó mà nói đến một và nhiều theo trí.
Hỏi:
Nếu chúng vốn có là do thấy biết, phải chăng đó không
phải là sự kiện vì thấy biết chúng nên chúng là vốn có?
Đáp:
Như không gian trong một căn phòng. Khi mở cửa và nhìn vào,
không gian ấy vốn có sẵn đó. Như kinh Niết bàn nói: “Nếu
thấy Phật tánh, Phật tánh không ở trong quá khứ, hiện tại,
hay vị lai. (T. 12, 581a)”
Hỏi:
Chúng có thể sinh xuất từ một nguồn gốc hay không?
Đáp:
Thấy thời mới nói là có. Nếu không thấy thời không thể
nói là có. Do đó, cũng có thể nói chúng có một nguồn gốc.
Hỏi:
Nếu đương thể của một và nhiều tùy thuộc tưởng và
bao gồm hữu và Không, thử hỏi tưởng có thể nào bao gồm
cả tưởng lẫn phi tưởng?
Đáp:
Vì chúng vốn có cho nên trí không phải là tưởng (nghĩa là,
hữu và trí là một, bởi thế không có tưởng ban sơ). Vì
chúng là Không, nên tưởng tùy thuộc trí. Do đó, biết được
tưởng bao gồm cả tưởng lẫn phi tưởng. Mọi sự vật đều
như thế.
Về
đồng thể: “Mặt đồng này giống mặt dị kia là làm sáng
tỏ ý nghĩa của nhiều trong một, một trong nhiều, một là
nhiều, nhiều là một. Bây giờ nhằm giải thích “trong một”,
thời phải cắt nghĩa rõ ràng phép đếm lên đếm xuống,
trong đó có tiến có thoái, mỗi hướng gồm mười diện.
Giả sử mô tả tiến trình một cách tóm lược thời khi nói
đến một và mười, trong một có mười là bởi tại một
và mười do tương y tương đối mà thành, vì không có mười
thời một không thành được, và cũng vậy, với hai, ba, v.v....
Trong trường hợp mười đồng nhất một cũng lý luận như
thế.
Hỏi:
Mặt đồng và mặt dị khác nhau những gì?
Đáp:
Trên phương diện dị thể, nói mười trong một là bởi tại
tùy thuộc hay nhìn vào chín số kế tiếp. Trên phương diện
đồng thể, nếu bảo mười trong một thời đã có chín trong
một, vì thế mới nói mười trong một.
Hỏi:
Nếu có chín trong một, thời có gì khác với “một trong
mười” trong trường hợp dị thể?
Đáp:
Ở đây khi nói một có chín, thời trong nó có chín, nhưng
một không phải là chín. Đối với trường hợp dị thể
trước đây, một đồng nhất với dị thể của mười, và
mười không lìa một.
Hỏi:
Nếu trong một có chín dữ sinh, thời không phải là tương
giao thành lập nữa.
Đáp:
Nếu không tương giao thành lập thời làm thế nào có thể
có chín?
Hỏi:
Làm thế nào đương thể của một có chín?
Đáp:
Nếu không có chín thời không có một.
Thứ
đến giải thích tánh đồng nhất của một và mười trên
phương diện đồng thể. Khi nói đến một thời một là duyên
thành, vì vậy một là mười. Tại sao? Nếu mười không phải
một, một không thành. Như một là mười, một là hai, là
ba, v.v... Đi lui đi tới, mười mặt đều tất cả như vậy.
Hỏi:
Ở đây nói rằng một đồng nhất mười. Khác với một trong
mười trong trường hợp đồng thể như thế mào?
Đáp:
Trước đây đã giải thích về mặt đồng thể có mười
trong một, tuy nhiên một không phải là mười. Ở đây giải
thích một là mười, khác nhau ở chỗ một đồng nhất mười.
Hỏi:
Ở đây giải thích đương thể của một là mười. Đương
thể ấy có bao hàm đến tận cùng hết thảy sự vật?
Đáp:
Tùy theo cách làm thế nào để biết, nó bao hàm đến tận
cùng hay vô tận. Nếu một bao hàm mười thời đó gọi là
tận cùng. Nếu giải thích đầy đủ, thời vô tận.
Hỏi:
Tự nó bao hàm vô tận hay bởi tại nó bao hàm những mặt
khác (của hai cho đến mười)?
Đáp:
Nếu một vô tận, các số khác cũng thế; nếu những số
khác không tận cùng thời một cũng thế. Nếu thành lập một,
tất cả số khác cũng thành lập; nếu không thành lập một,
không có số nào được thành lập. Do đó, bao hàm tất cả
sự vật là vô tận, và vô tận làm đầy đủ ý nghĩa của
một. Đối với ba hay bốn, ý nghĩa (của một) tương quan
tương duyên, rỗng như không gian, vì thế mà tận cùng, chẳng
bao hàm số khác. Do đó, được gọi là vô tận bởi tại
bao gồm cả tận lẫn vô tận. [Giải thích: một xem như cá
thể vừa bao hàm tất cả cá thể khác, vừa tương quan tương
duyên với tất cả cho nên Không. Do đó, nó tận cùng trên
phương diện hoại tướng, chứ không tận cùng trên phương
diện thành tướng. Nhìn trên khía cạnh biệt tướng, nó bao
hàm tất cả, tất cả thành lập, vì vậy nó tận cùng do
bao hàm, nhưng vô tận vì tất cả là vô hạn.]
Hỏi:
Bảo rằng một bao hàm tất cả, như thế là chỉ bao hàm mười
trong cái một hay còn bao hàm những mười chỗ khác?
Đáp:
Bao hàm những mười chỗ khác cũng có nghĩa tận và vô tận.
Tại sao? Bởi vì tự tha bất tương ly. Một bao hàm những
chỗ khác là vô hạn, vô hạn làm đầy đủ ý nghĩa của
một. Ý nghĩa những mười chỗ khác giống như không gian rỗng
(vì tương quan tương duyên với “một” mười), vậy tận
cùng theo nghĩa đó.”
Phép
đếm đến mười của Trí Nghiễm được Pháp Tạng áp dụng
một cách cụ thể vào “Phép đếm mười tiền” (Sổ thập
tiền pháp) để chứng minh tánh đồng nhất là kết quả của
quan hệ tương y tương đối trong Hoa nghiêm Nhất thừa giáo
nghĩa phân tề chương.
Phép
đếm mười tiền của Pháp Tạng.
Kinh
nghiệm cho thấy trí Bát nhã chỉ thực chứng đối tượng
cứu cánh mà thôi chứ không chứng kiến và tri nhận các hiện
tượng tục ước. Nghĩa là, trí Bát nhã tuy chứng ngộ tánh
Không nhưng trong giây phút chứng ngộ không thấy xuất hiện
những hiện tượng tục ước như sắc tướng, sinh khởi,
hoại diệt, .... đồng thời với tánh Không của chúng. Tự
thân và tha thể không thể thực chứng cùng một lúc, trực
thị Chân tâm thời không còn thấy trần giới, theo đuổi
trần giới thời không thể giác ngộ. Bởi thế khi nghe nói
Phật thuyết kinh Hoa nghiêm trong đại định, có người hỏi:
“Làm thế nào Phật nhập định Hải ấn mà có thể trong
một lúc đồng thời diễn thuyết 10x10 pháp môn? Trong tam muội,
cả chúng sinh lẫn thế giới đều tiêu biến thời Phật nói
pháp là nói cho ai?”
Để
giải đáp thắc mắc trên Pháp Tạng triển khai thuyết đếm
mười tiền (sổ thập tiền pháp). Pháp Tạng ví quan hệ giữa
Phật và thế gian giống như giữa Một và Tất cả. Đếm
từ một lên là hướng tới thế giới sai biệt, đếm lui
lại một là trở về pháp bình đẳng của chư Phật, hướng
đến cảnh giới của Như Lai. Thường khi đang đếm tới thời
không thể đồng thời đếm lui hay ngược lại. Duy chỉ có
đức Phật trong tam muội mới có thể đồng thời vừa đếm
tới vừa đếm lui cùng một lúc, nghĩa là đồng thời quán
được tánh Không mà vẫn ở trong trạng thái thấy biết mọi
pháp. Chỉ có Phật trí mới đủ khả năng trực nhận đồng
thời tục đế lẫn chân đế, thấy biết cùng một lúc mọi
hiện tượng tục ước và tánh Không của chúng. Chỉ có chư
Phật mới có một cái nhìn viên dung kết hợp hiện tượng
và bản thể, tục đế và chân đế, không thiên chấp.
Sở
dĩ không trực ngộ cùng một lúc cả thế tục đế (hiện
tượng) lẫn chân đế (tánh Không của hiện tượng) là do
đối với toàn thể cảnh giới sở tri, trí Bát nhã chưa phải
là cái trí thấy biết tinh tế không còn vướng mắc không
còn chướng ngại. Đây là trí Bát nhã thành tựu ở Bồ tát
địa thứ sáu, Hiện tiền địa. Trên lộ trình Bồ tát đạo,
sau khi hoàn tất sáu sự tu học: thí độ, giới độ, nhẫn
độ, tiến độ, định độ, và tuệ độ, Bồ tát chứng
Bát nhã Ba la mật tức trí Bát nhã. Kinh Bát nhã chấm dứt
ở đỉnh cao là trí Bát nhã. Kinh Hoa nghiêm đi xa hơn. Nhằm
thực hiện tinh thần Đại thừa chân không diệu hữu, thượng
cầu bồ đề hạ hóa chúng sinh, kinh Hoa Nghiêm triển khai thêm
bốn pháp Ba la mật: phương tiện, nguyện, lực, và trí. Theo
kinh Giải thâm mật, bốn độ này làm sự hỗ trợ cho sáu
độ kia, thành cái gọi là Mười Ba la mật. Phương tiện độ
làm sự hỗ trợ cho ba độ đầu, thí độ, giới độ, nhẫn
độ; nguyện độ làm sự hỗ trợ cho tiến độ; lực độ
làm sự hỗ trợ cho định độ, trừ hẳn phiền não, thành
đạt tịnh lự biết cả tục đế lẫn chân đế và tịnh
lự dẫn ra lợi ích chúng sinh. Cuối cùng, trí độ làm sự
hỗ trợ cho tuệ độ và do trí độ mà Bồ tát hiểu rõ các
pháp, giữ vững Trung đạo, không chán sinh tử, không ham niết
bàn, có đại xả tâm, thương xót chúng sinh. Từ đó mới
có thể dẫn ra cái tuệ xuất thế tức Phật trí (Jnàna).
Khác với trí thuần lý của Bồ tát chứng Bát nhã Ba la mật
ở địa thứ sáu, “trí tuệ nơi quả vị Phật trí thấy
hết mọi sự trong không thời gian, vượt ngoài cảnh giới
tương đối và sai biệt vì nó thâm nhập khắp mọi biên tế
của vũ trụ và trực nhận cái chân thường trong chớp mắt”
(Thiền luận, D. T. Suzuki, Tập Hạ).
Sau
đây là những đoạn văn trong Ngũ giáo chương do Thầy Tuệ
Sỹ dịch giải, liên hệ đến phép đếm mười tiền.
Hoa
nghiêm Nhất thừa giáo, quyển 4:
Phần
thứ 10, nghĩa lý phân tề, có 4 môn: 1. Ý nghĩa đồng dị
của ba tính (biến kế, y tha, viên thành thật); 2. Sáu nghĩa
pháp của duyên khởi nhân môn; 3. Pháp vô ngại của Thập
huyền duyên khởi; 4. Nghĩa viên dung của sáu tướng.
Trong
đó, mục 3, Thập huyền duyên khởi vô ngại pháp môn phân
làm 2 đoạn: 1 Trình bày quả chứng, tức cảnh giới của
Mười Phật; 2. Tùy nhân, ước duyên, biện giáo nghĩa,
nói về cảnh giới Phổ Hiền. Giáo nghĩa quả chứng là viên
dung tự tại, nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất.
Để giải thích ý nghĩa này, Nhất thừa giáo nêu thí dụ
phép đếm 10 tiền.
(T.
45, 1866, 503b) “Dùng thí dụ để trình bày, ở đây là phép
đếm 10 tiền (sổ thập tiền pháp). Nói là 10, để phù hợp
với ý nghĩa viên giáo (tròn đầy), nêu rõ lý vô tận. Trong
đây có hai: 1. dị thể; 2. đồng thể. Sở dĩ có hai
môn này là vì trong các duyên khởi môn đều có hai nghĩa:
1. Không hỗ tương quan hệ (bất tương do nghĩa); bởi vì mỗi
cái tự thân đầy đủ các phẩm tính (cụ đức), như trong
nhân không cần hội đủ duyên (bất đãi duyên). 2. Hỗ tương
quan hệ (tương do nghĩa), như cần hội đủ các duyên vậy.
Nghĩa đầu là đồng thể; nghĩa sau là dị thể. Trong dị
thể, có hai môn: tương tức và tương nhập.”
...
... ...
1.
Dị thể
“Trong
đây, trước hết nói về tương nhập. (T. 45, 1866, 503b24 -
503c25)
Thứ
nhất, đếm số 10 theo chiều lên (hướng thượng). 1 là 1,
đó là số cơ bản. Vì sao? Vì duyên thành vậy. Cho đến,
10 là 10 trong 1. Vì sao? Nếu không có 1, thì 10 bất thành. 1
tức toàn có lực nên bao hàm 10 vậy; tuy nhiên, 10 vẫn không
phải là 1. Chín số còn lại cũng vậy. Mỗi mỗi đều có
10. Chuẩn theo đó mà biết.
Đếm
số 10 theo chiều xuống (hướng hạ), cũng có 10 môn. 1 là
10 tức bao hàm 1. Vì sao? Vì duyên thành vậy. Nếu không có
10 tức 1 bất thành. Tức 1 toàn vô lực nên quy về 10; nhưng
1 vẫn không phải là 10. Số còn lại, suy diễn theo đây mà
rõ.
Như
vậy, trong hai môn căn bản (gốc) và chi mạt (ngọn), mỗi
môn đủ cả 10 môn. Còn lại, trong mỗi một tiền, chuẩn
theo đây mà suy diễn.
Trên
đây là ước theo dị môn quan hệ lẫn nhau mà nói.
Hỏi:
Đã nói là 1; làm sao có thể trong 1 có 10?
Đáp:
Trong pháp đại duyên khởi đà-la-ni, nếu không có 1, tức
thì tất cả (nhất thiết) bất thành. Xác định biết như
vậy. Nghĩa này là thế nào? Cái gọi là 1, không phải tự
tính của nó là 1, vì do duyên thành. Cho nên, trong 1 có 10,
là do duyên mà thành 1. Nếu không vậy, tự tính không do duyên
khởi nên không thể nói đến số 1. Cho đến 10, không phải
tự tính là 10. Vì do duyên thành. Trong 10 mà có 1, đó là cái
10 do duyên thành, vô tính. Nếu không vậy, tự tính, không
duyên khởi, không thể nói đến số 10. Cho nên, tất cả duyên
khởi đều không phải tự tính. Vì sao? Bất cứ khi nào, loại
bỏ duyên là 1 thì tất cả (nhất thiết) bất thành. Cho nên
trong 1 tức đủ cái nhiều, như thế mới gọi là cái 1 duyên
khởi.
Hỏi:
Nếu loại bỏ duyên 1 tức bất thành, đây là vô tính. Không
có tự tính, làm sao có thể thành duyên khởi của một và
nhiều?
Đáp:
Chỉ do vô tính mà có thể thành duyên khởi một-nhiều. Vì
sao? Do bởi duyên khởi này là yếu tính chân thực của pháp
giới, nên cảnh giới của Phổ Hiền mới có đầy đủ phẩm
tính, tự tại vô ngại. Kinh Hoa nghiêm nói: Bồ tát khéo quán
pháp duyên khởi, trong một pháp mà thấu hiểu nhiều pháp;
trong nhiều pháp mà thấu hiểu một pháp. Do đó mà biết,
1 trong 10, 10 trong 1, tương dung vô ngại, mà cái này vẫn không
phải là cái kia (bất tương thị). Trong phạm trù số 1 (nhất
môn) đầy đủ cả 10 nghĩa. Rõ ràng, trong phạm trù số 1
(nhất môn) có vô tận nghĩa. Các phạm trù (môn) khác cũng
vậy.
Hỏi:
Trong số 1, có bao hàm cùng tận số 10 không?
Đáp:
Cùng tận và không cùng tận. Vì sao? 1 trong 10, cho nên cùng
tận. 10 trong 1, cho nên không cùng tận.
Diệu
lý của duyên khởi là như vậy.”
Đoạn
sau đây nói về tương tức (T. 45, 1866, 503c25 – 504a22)
“Trong
đây, có hai phương diện (môn), theo chiều đi lên (hướng
thượng), và theo chiều đi xuống (hướng hạ). Trong trường
hợp đầu, có 10 môn: 1 là 1. Vì sao? Duyên thành, cho nên 1
tức là 10. Vì nếu không có 1 thì không có 10. Do bởi
1 có tự thể (hữu thể), còn lại thảy đều không; cho nên,
1 này chính là 10. Theo chiều đi lên như vậy cho đến
10, chuẩn theo đó mà suy diễn.
Theo
chiều đi xuống cũng có 10 môn: 1 là 10. Duyên thành, cho nên
10 tức là 1. Nếu không có 10, tức là không có 1. Do bởi 1
là vô thể, còn lại là hữu; cho nên, 10 này tức là 1.
Theo chiều hướng hạ như vậy, cho đến 1, cũng chuẩn theo
đó mà suy diễn.
Do
ý nghĩa này, nên biết, mỗi một tiền là nhiều tiền.
Hỏi:
Nếu 1 không tức là 10, có sai lầm gì?
Đáp:
Nếu 1 không tức là 10, có hai sai lầm. Sai lầm thứ nhất
là không thành 10 tiền. Vì nếu 1 không tức là 10, nhiều cái
1 cũng không thành 10; vì mỗi cái 1 đều không phải là 10.
Nay đã có thể thành 10, cho thấy rõ 1 tức là 10 vậy.
Sai lầm thứ hai là 1 không thành 10. Nếu 1 không tức là 10,
10 không thể thành. Do không thành 10, nghĩa 1 cũng không thành.
Nếu không có 10, thì đó là 1 của cái gì? Nay đã có 1, cho
thấy rõ 1 tức 10.
Lại
nữa, nếu không tương tức (cái này tức là cái kia), trong
duyên khởi môn, hai nghĩa Không và Hữu sẽ không hiện tiền,
như vậy là sai lầm lớn. Như khái niệm về tự tính, v.v...,
suy nghiệm rõ thì có thể biết.
Tiếp
theo là phương diện đồng thể (Đồng thể môn), chuẩn theo
đây mà rõ. Các môn khác cũng chuẩn theo đó mà suy diễn.
Hỏi:
Nếu 1 tức 10, nó không phải là 1. Nếu 10 tức 1, nó cũng
không phải 10.
Đáp:
Chính vì 1 tức 10 nên gọi nó là 1. Nói là 1, không phải cái
đó là 1. Do duyên thành, vô tính, nên nó là 1. Vì chính 1 này
tức là nhiều nên gọi nó là 1. Nếu không như vậy, nó không
được gọi là 1. Vì nó không có tự tính. Không duyên, không
thành vậy.”
2.
Đồng thể môn (T. 45, 1866, 504b07 – 504c08)
“Cũng
có hai nghĩa: Một, 1 trong nhiều; nhiều trong 1. Hai, 1 tức nhiều,
nhiều tức 1.
Một,
1 trong nhiều; nhiều trong 1.
A.
1 trong nhiều, có 10 môn bất đồng: 1 là 1. Do duyên thành nên
nó là số cơ bản; trong 1 đủ 10. Bởi vì, đây là 1 tiền,
mà tự thể là 1. Rồi nó lại là 1 (đơn vị) cho số 2; tức
là 2 (lần) cái 1. Cho đến, nó là 1 (đơn vị) cho 10; tức
là 10 (lần) cái 1. Như vậy, trong cái 1 này, chính tự
nó có đủ 10 cái 1. Dù vậy, 1 vẫn không phải là 10. Vì đây
chưa phải là phạm trù tương tức (tức môn).
Đồng
tiền số 1 đã vậy; còn lại, 2, ..., 9, cũng đều như vậy.
Chuẩn theo đó mà suy.
B.
nhiều trong 1, cũng có 10 môn: 1 là 10. Duyên thành, cho
nên 1 trong 10. Do cái 1 này làm 1 (đơn vị) cho 10. Tức là,
cái 1 ban đầu là 1 trong 10 lần 1. Ngoài cái 10 lần 1, không
có cái 1 ban đầu. Cho nên, cái 1 này chính là 1 trong 10. Dù
vậy, 10 vẫn không phải là 1. Trở xuống: 9, 8, ..., 1, cũng
vậy; chuẩn theo đó mà suy diễn.
Hỏi:
trường hợp này cùng với dị thể trên kia, khác nhau chỗ
nào?
Đáp:
Trong phạm trù dị thể trên kia, cái 1 ban đầu đối
chiếu 9 cái sau là dị môn tương tức (cái này tức cái kia
trong phạm trù cá thể dị biệt). Ở đây, trong phạm trù
đồng thể này, trong 1 đủ cả 10. Không phải do quan hệ thứ
tự trước sau trong phạm trù dị thể.
Hai,
1 tức 10 (nhiều), 10 (nhiều) tức 1.
Cũng
có 2 môn:
A.
1 tức 10 cũng có 10 môn bất đồng. 1 là 1; vì duyên thành.
1 tức 10, vì do chính 10 (lần) cái 1 này là cái 1 ban đầu;
và vì không có tự thể riêng biệt. Cho nên, 10 chính là 1
vậy. 9 số còn lại cũng vậy.
B.
10 tức 1 cũng có 10 môn bất đồng. 1 là 10; do duyên thành,
10 tức 1. Vì cái 1 ban đầu kia chính là 10, chứ không có cái
1 nào nữa của chính nó. Cho nên, chính cái 1 ban đầu là 10
vậy. 9 số còn lại cũng vậy.
Hỏi:
Trong đồng thể này, 1 tức 10, đó chỉ bao hàm trong số 10
thôi hay bao hàm cho đên vô tận?
Đáp:
Tùy theo trí mà thành; cần thiết 10 tức 10, hay cần thiết
vô tận tức vô tận. Như vậy, tăng hay giảm vận hành tùy
theo trí. 10, như đã giải thích trên. Vô tận, đó là, trong
phạm trù 1 có 10. Nhưng cái 10 này tự nó tiến vào tương
tức, tương nhập, trùng trùng thành vô tận. Tuy nhiên, vô
tận trùng trùng này cũng được bao hàm ngay trong phạm trù
ban đầu vậy.”
Phép
đếm mười tiền được giải thích trước đây trong bài
Tương giao và Nhất thể, phần Tương tức tồn tại: tánh
đồng nhất. Với khái niệm đồng thời đếm lên và đếm
xuống, phép này giúp ta thông đạt ý nghĩa của Hải ấn tam
muội, trong đó chẳng hề rời tuyệt đối vô sai biệt của
tánh Không, mà vẫn có thể chứng kiến mọi sự sai thù, biến
động của thế giới hiện tượng. Sau đây là đoạn văn
(T. 45,1866, 482b21 - 482c04) trong Ngũ giáo chương do Thầy Tuệ
Sỹ dịch giải, nói về trong hai tuần thất đầu sau khi mới
thành đạo, Phật ở trong định Hải ấn mà thuyết pháp.
“Trong
định Hải ấn, diễn thuyết đồng thời 10 (lần) mười pháp
môn, chủ bạn đầy đủ (tính thống nhất của chủ thể
- khách thể), viên thông tự tại; bao trùm nơi 9 thế x 10 thế
(cộng với căn bản 10 = 10 x 10 thế), suốt tất cả cảnh
giới vi tế của mạng lưới nhân-đà-la. Tức là, ngay chính
nơi thời gian này mà tất cả sự lý của nhân quả, tất
cả pháp môn trước và sau, cho đến đời tối hậu với sự
thấy nghe xá-lợi được lưu thông; hết thảy sự ấy đồng
thời hiển hiện. Vì sao? Vì giản nở và co rút (thư quyển)
một cách tự tại. Ở đây, co rút chính là giản nở; giản
nở chính là co rút. Vì sao vậy? Vì đồng nhất duyên khởi,
không có tướng hai, nhị nguyên tính. Kinh (Hoa nghiêm) nói:
trong một hạt bụi mà thể hiện tất cả Phật sự suốt
cả ba thời, v.v... Trong một niệm mà hiện thành tám tướng
thành đạo, cho đến nhập niết bàn, lưu thông xá lợi, v.v...
Chi tiết như được nói trong Kinh. Do đó, căn cứ trên nhận
thức phổ quát này (phổ văn: nghe khắp), tất cả Phật pháp
được bao gồm trong tuần thất thứ hai. Trong một thời mà
sự thuyết có thứ tự trước sau; thứ tự trước sau được
thuyết trong một thời. Như phương pháp ấn (đóng dấu ấn)
của thế gian; khi đọc văn thì cú nghĩa có thứ tự trước
sau; nhưng khi ấn thì đồng thời hiển hiện. Lý tính của
thứ tự trước sau và đồng thời không mâu thuẫn lẫn nhau.”
Một
số thắc mắc nhân đọc đoạn văn trên được Thầy Tuệ
Sỹ giải thích như sau.
Hỏi:
Thế nào là “cho đến đời tối hậu với sự thấy nghe
xá-lợi được lưu thông”? “xá lợi lưu thông” nghĩa là
gì?
Đáp:
Sau khi Phật đã nhập Niết-bàn, tất cả đều trở thành
tịch diệt, không còn gì tồn tại, nhưng xá-lợi tức tro
cốt vẫn còn được lưu truyền phổ biến. Nghĩa là, những
sự việc xảy ra trong lúc Phật tại thế và sau khi Phật đã
nhập Niết-bàn rất lâu, cho đến thời tận thế, tất cả
đều hiển hiện đồng thời: tất cả sự lý nhân quả, hết
thảy pháp môn trước và sau, đồng nhất thời hiển hiện.
Hỏi:
Kinh nói: “... ... ... Trong một niệm mà hiện thành tám tướng
thành đạo, cho đến nhập niết bàn, lưu thông xá lợi, v.v...”.
“Tám tướng thành đạo, cho đến nhập niết bàn” nghĩa
là gì? Trong Phẩm nào Kinh Hoa nghiêm nói như vậy?
Đáp:
Tám tướng thành đạo chỉ tám sự kiện quan trọng trong đời
Phật Thích-ca: 1. Đâu-suất giáng thần, 2. Ma-da thai tạng (thác
thai), 3. Lâm tì ni viên vô ưu thọ hạ thị hiện đản sinh
(giáng sinh), 4. Tý dạ du thành thanh sơn đoạn phát (xuất gia),
5. Hàng phục ma quân (hàng ma), 6. Đỗ tinh thành đạo (thành
đạo), 7. Sơ chuyển Pháp luân (thuyết pháp), 8. Sa-la song thọ
thị hiện Niết-bàn (Niết-bàn). Thị hiện tám tướng thành
đạo hình như không phát xuất từ kinh Hoa nghiêm, mà từ các
Luận về sau như Nhiếp đại thừa, Thập địa kinh luận.
Theo Mochiyuki (Phật giáo Đại từ điển), thuyết "bát tướng"
này bắt đầu từ thời đại của Vô Trước trở đi.
Hỏi:
Có hai câu chữ Hán: “Thư tác cai ư cửu thế, quyển tắc
tại ư nhất thời” (T45n1866 p0482b25 - p0482b26) nên dịch
như thế nào? Phải hiểu như thế nào để đi đến ý của
câu “co rút chính là giản nở, giản nở chính là co rút”?
Hai cụm chữ “cửu thế” và “nhất thời” liên hệ với
nhau có phải như “lý tính của thứ tự trước sau và đồng
thời không mâu thuẫn lẫn nhau”?
Đáp:
Hán: “thư” là trải ra (stretching, spreading, developing), chỉ
sự triển khai theo hướng tăng gia. Hán: “quyển” là cuốn
lại, chỉ sự giản lược theo hướng giảm thiểu hay giảm
trừ. Cửu thế: trong ba thời, mỗi thời lại chia thanh ba thời,
tổng cọng thành 9 thời: 1. Quá khứ của quá khứ, 2. Hiện
tại của quá khứ, 3. Vị lai của quá khứ, ... ... ...
Quan
niệm về thời gian, khi được triển khai thì thành 9 (thư);
khi được thống nhất thì trở thành một (quyển). Phật thuyết
pháp có thứ tự trước sau nhưng xét theo lý thì trước và
sau xảy ra trong nhất thời. Pháp được thuyết trong nhất
thời nhưng vẫn có thứ tự trước sau. Như phương pháp in
(ấn văn). Khi đang in, cú nghĩa theo tuần tự trước sau xuất
hiện; khi in và đọc xong, văn nghĩa đồng nhất thời hiển
hiện. Trong thí dụ hải ấn, khi in thời khắc chữ theo thứ
tự; khi đọc cũng theo thứ tự, nhưng khi hiểu thời đồng
loạt và đồng thời.
Để
tóm tắt, đây là những nét chính yếu của phép đếm Hoa
nghiêm: đếm lên là trí sai biệt, đếm xuống là trí bình
đẳng. Sai biệt thời đếm nhiều, bình đẳng thời đếm
một. Trong Hải ấn tam muội, đếm lên đếm xuống cùng một
lúc. Vì đồng nhất duyên khởi, giản nở chính là co rút,
co rút chính là giản nở. Lý tính của thứ tự trước sau
và đồng thời không mâu thuẫn lẫn nhau.
Ý
nghĩa tương giao nhất thể, hỗ tức hỗ nhập của phép đếm
Hoa nghiêm được tìm thấy bao hàm trong các thuyết về mạng
lưới (networks) hiện đang được khai triển với sự phối
hợp của nhiều ngành khoa học, như vật lý học, sinh học,
y khoa, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, chính trị
học, sinh thái học, tín học, v.v.... Các lý thuyết này tìm
cách sử dụng toán học giải thích sự sinh khởi các mẫu
hình tổ chức, các cấu trúc năng động, và các tiến trình
tự hội tập và tự phối trí trong thương mãi, trong khoa học,
và trong cuộc sống hằng ngày.
H.D.