Triết
Học Thế Thân
Lê
Mạnh Thát
MỘT
SỐ KẾT QUẢ LUẬN LÝ
(tiếp
theo số trước)
Annambhatta,
người cùng thời với ông, cũng đề nghị một định nghĩa
theo hướng đó, nói rằng “Thực hữu-phổ biến là cái có
cái lan truyền luôn luôn xác thực, như trong suy luận ‘cái
bình có thể được đặt tên vì nó có thể được biết
đến, giống như tấm vải’, bởi vì trong trường hợp này
không có sự lan truyền phủ định của tính khả danh và tính
khả tri, do mọi vật đều vừa có thể được đặt tên vừa
có thể được biết đến.”[1] Đối với các định nghĩa
này, Staal đề nghị thuyết minh như sau:[2]
(13)
-($x) -A(s,x) hoặc ("x) A(s,x)
Nay
ta biết rằng trong số các lý luận sai khác nhau Thế Thân
có liệt kê trường hợp một suy luận căn cứ trên quan hệ
ngược lại, trường hợp chúng ta đã bàn đến trước đây.
Quan hệ này cho phép đối thủ của Thế Thân chuyển luận
đề đúng của ông “bất kỳ cái gì sinh khởi do một cố
gắng đều không trường cửu” thành một luận đề sai “bất
kỳ cái gì không trường cửu đều khởi do một cố gắng.”
Việc ông nhận ra sự áp dụng sai quan hệ đó và, từ đó,
nhận ra nguồn gốc của ngộ nhận này chứng tỏ một cách
rõ ràng rằng chắc chắn ông phải biết đến luật đối
hoán mà sau này Kumārila Bhatta đã diễn tả một cách đơn
giản nhưng rất rõ ràng như sau: “Nếu duy trì quan hệ của
cái lan truyền và cái được lan truyền giữa hai thực thể,
thì tất nhiên cũng duy trì được quan hệ ngược lại giữa
các phủ định của chúng.”[3] Với luật này, ta có thể
chuyển công thức (2) thành một công thức tương đương:
(14)
("x) [A(h,x) ® A(s,x)] ↔ ("x) [-A(s,x) ® -A(h,x)]
nói
rằng Per(A,B) nếu Per(-B,-A), và ngược lại. Thế nhưng, rõ
ràng công thức (14) và vì thế công thức (2) không đứng vững
nếu công thức (13) có giá trị, bởi vì chi bên phải của
(14) trong trường hợp đó không thể định nghĩa được. Như
vậy, nếu thuyết lan truyền của Thế Thân thực sự dựa
vào luật đối hoán, thì phê phán của Gangeśa, được diễn
giải trong phạm vi định nghĩa của Navyanaiyāyika về thực
hữu-phổ biến như Ingalls và Goekoop đã làm, hoàn toàn có
giá trị. Thật vậy, khái niệm thực hữu-phổ biến chỉ
có thể được tri nhận song song với luật đó. Tuy nhiên,
nếu thuyết của Thế Thân không dựa trên luật đó thì chúng
ta sẽ có một tình huống hoàn toàn khác hẳn. Vì thế, bắt
buộc phải tìm xem thuyết của ông có thật sự căn cứ vào
luật đó hay không.
Như
Staal đã lưu ý, việc phân loại suy luận thành ba nhóm, trong
đó suy luận thực hữu-phổ biến bắt nguồn từ thuyết được
gọi là “ba đặc tính của h”, có thể thuyết minh theo các
công thức sau nếu sử dụng giải thích của Pháp Xứng:
(i)
“h chỉ xảy ra trong cái được suy luận”
(15)
("x) [h(x) ® A(x,p)]
trong
đó p thay cho cái được suy luận.
(ii)
“h chỉ xảy ra trong các trường hợp tương tợ”
(16)
("x) {h((x) ® [Si(x,p) ٨ s(x)]
(iii)
“h không xảy ra trong các trường hợp không tương tợ.”[4]
(17)
("x) – [h(x) ® s(x)]
Ba
đặc tính này được Thế Thân công bố lần đầu tiên trong
Như Thực Luận của ông.[5] Có người cho rằng chính
Pháp Xứng đã cho chúng một dạng được định lượng bằng
cách đưa vào phụ từ eva, chỉ.[6] Tuy nhiên, một đề nghị
như thế hình như thiếu cơ sở, nhất là đối với tình trạng
manh mún của hiểu biết chúng ta về các tác phẩm luận lý
của Thế Thân, những hiểu biết chủ yếu xuất phát từ
các bản dịch Hán văn và Tạng văn. Như vậy, ngày nay chúng
ta biết đến công bố trên trong Như Thực Luận là nhờ bản
dịch Hán văn, một điều không có gì bảo đảm cho cách dùng
chữ chính xác của bản Phạn, nhất là khi nó được dịch
bởi Chân Đế, một dịch giả đôi khi đã không bám sát nguyên
bản nhiều lắm, như ta đã thấy trong bản dịch Câu Xá Luận
của ông. Vì thế, nếu không quá chú trọng đến vấn đề
này ở đây thì ta có thể cho rằng thuyết về ba đặc tính
của h ở dạng định lượng của nó đã được Thế Thân
giảng giải, và rằng các công thức (15), (16) và (17) mô tả
thuyết này bằng ngôn ngữ ký hiệu.
Vì
lẽ đó, cần phải lưu ý thêm rằng không phải “Trong các
bản về sau chỗ của Anumeya đã thay bằng pakṣa và chỗ của
asapakṣa bằng vipakṣa”, như Staal đã yêu cầu, bởi vì các
chữ này, tức pakṣa và vipakṣa, đã xuất hiện trong các
tác phẩm của Thế Thân rồi, và vì chúng ta biết rằng Pháp
Xứng, theo chân Trần Na, thường sử dụng cách dùng từ của
Trần Na thay vì của Thế Thân.[7] Việc ông sử dụng nhiều
lần từ avyabhicāra để thay cho avinābhāva ở trong Nyāyabindu
cũng như trong Pramāṇavārttika, là trường hợp điển hình
nhất.[8]
Với
ba đặc tính này của h, người ta tự hỏi có thể có sự
loại suy của một suy luận tổng quát theo dạng được diễn
đạt trong công thức (2) không. Theo Staal, câu trả lời cho
câu hỏi này là chỉ có thể trong trường hợp luật đối
hoán được giả thiết. Thế nhưng, như Berg đã chỉ ra một
cách chính xác,[9] yêu cầu phải có luật này thực sự sinh
khởi từ hệ thống chính thức của Staal hơn là từ ba đặc
tính do Thế Thân đề ra. Trong hệ thống của Staal, các đặc
tính (ii) và (iii) được chính thức hóa như sau:
(a)
("y) {A(h,y) ® {y = αx [(x ≠ p) ٨ A(s,x)]}
(b)
[αx –A(s,x)] -A[h,αx –A(s,x)]
Nay,
nếu ta loại suy (2) từ (b), thì luật đối hoán phải được
giả thiết, vì (b) chỉ cho câu đối hoán của (2) theo luật:
[αxF(x)] G[µxF(x)] ↔ ("x) [F(x) ® G(x)]
được
đề ra trong hệ thống của Staal, và một loại suy như thế
sẽ cho chúng ta chi bên phải của công thức (14) tương đương:
("x)
[-A(s,x) ® -A(h,x)]
Tuy
nhiên, nếu ta thuyết minh ba đặc tính này theo hệ của Berg
hay của chúng ta, như đã thấy trước đây, thì không cần
đến luật đối hoán như thế, vì ta có thể loại suy (2)
từ (16) và (17) rất dễ dàng do (16) thì tương tợ với định
nghĩa (7), và (17) tương tợ với (11). Như vậy, người ta sẽ
có khuynh hướng đồng ý với đánh giá của Berg rằng “cố
gắng của Staal nhằm thiết lập một hình ảnh đồng hình
dị chủng về ‘ngôn ngữ tự nhiên được phân tích’ trong
hệ thống chính thức của riêng ông thật không thích hợp
về cả luận lý lẫn sư phạm.”[10]
Điều
khá thú vị là thuyết minh của Staal, mặc dù “không thích
hợp về cả luận lý lẫn sư phạm”, đã ném một ánh sáng
kỳ lạ lên lời phê phán của Gangeśa đối với năm định
nghĩa về sự không-tách-ly và định nghĩa về nối kết bất
khả phân. Hãy nhớ là Goekoop đã nhận ra sự tương đương
với nhau về luận lý của sáu định nghĩa này cũng như sự
tương đương giữa chúng với định nghĩa có giá trị về
lan truyền, khi ông thuyết minh chúng dựa vào hàm số diễn
toán lần thứ nhất, trong hệ thống của ông như sau:
(g1)
(y) {Ay ® -(Ex) {(z) (Bz ® -SZX) ٨ Ryx]}
(g2)
(y) {Ay ® -(Ex) [(w) (Ez) (Bz & Szw) ® (x≠w) & Ryx]}
(g3)
(y) {Ay ® (x) [(z) (Bz -Szx) ® -Ryx]}
trong
đó (g1) là biểu thức của các định nghĩa số 1 và 2, và
tôi phải thêm rằng, kể cả định nghĩa về nối kết bất
khả phân, mà chính Goekoop đã thừa nhận là một dạng khác
của định nghĩa số 1; (g2) là biểu thức của các định
nghĩa số 3 và 5; và (g3) là biểu thức của định nghĩa số
4. Kế đó ông so sánh chúng với định nghĩa có giá trị về
lan truyền:
(g4)
(x) [(Ey) (Ay & Ryx) ® (Ey) (By & Syx)]
và
nhận ra rằng chúng thực sự tương đương với (g4) và vì
thế, “theo quan điểm thuần luận lý”, chúng chính xác.
Tuy nhiên, ông tiếp tục nhận xét rằng “trong trường hợp
của các thực hữu-phổ biến thì điều kiện:
(g5)
(Ex) (y) (By ® -Syx)
không
thành. Kết quả là (g4) vốn là biểu thức của định nghĩa
lan truyền được chính ông lập thành và vì thế được xem
như có giá trị đã không đáp ứng được (g5); vì thế tự
thân định nghĩa này không đáp ứng khái niệm lan truyền.[11]
Những sự không liên quán này có lẽ sẽ không lôi cuốn được
chú ý của chúng ta nếu không có sự kiện điều kiện (g5)
là một biểu thức khác của công thức (13). Và điều kiện
được (13) đặt ra thì có thể áp dụng cho các định nghĩa
về lan truyền và cho suy luận chỉ khi luật đối hoán được
diễn đạt bởi (14) được giả thiết, như thuyết minh của
Staal đã chỉ rõ. Thế nhưng, Goekoop đã đề cập đến luật
đó không chỉ một lần, mặc dù ông tiếp tục cho rằng cả
năm định nghĩa và định nghĩa về nối kết bất khả phân
đều đúng do chúng tương đương với định nghĩa lan truyền
của ông, định nghĩa mà chúng ta giả thiết là phải có giá
trị ít nhất theo quan điểm ông. Nếu không, người ta sẽ
tự hỏi tại sao rốt cùng ông phải mất công thiết lập
nó. Một tình huống khó hiểu như thế có lẽ xảy ra do ông
nghĩ mình chỉ là người truyền đạt tư tưởng của Gangeśa.
Thật
vậy, Gangeśa đã thiết lập phê phán của mình về các trường
hợp thực hữu-phổ biến mà không hề đề cập đến luật
đối hoán trong phạm vi khảo sát của ông về khái niệm lan
truyền. Nếu chúng ta tạm thời loại trừ khả năng những
phê phán của ông vẫn dựa trên khái niệm chủng loại, thì
rồi chúng ta cũng buộc phải nhìn nhận rằng ông đã phải
dựa vào luật đối hoán. Theo thuyết minh nói trên của Staal,
khả năng này rất có thể xảy ra, bởi vì mặc dù Gangeśa
không nhắc đến luật đó trong khảo sát của ông về khái
niệm lan truyền, nhưng ông đã sống vào thời khoảng mà việc
chuyển thể ba đặc tính của h do Thế Thân tìm ra thành ba
kiểu suy luận đã hoàn chỉnh và được lập thành. Chính
ông là người đã mở ra thời kỳ của Navya-nyāya và góp
phần vào việc phổ biến và phát triển phân loại đó.
Ta
có thể nói rằng phân loại mới này, dù bắt nguồn từ ba
đặc tính của h, hầu như không có được nền tảng chung,
một điều sẽ được nhận ra ngay, với luận lý đặt nền
tảng trên thuyết ba tánh của h. Nó chia suy luận thành ba loại
phù hợp với s là phổ biến, trống rỗng hoặc không phải
cả hai. Trong trường hợp s là phổ biến, nó được gọi
là “thực hữu-phổ biến.” Nếu nó trống rỗng, nó được
gọi là “phủ định-phổ biến.” Nếu không phải hai trường
hợp đó, nó được gọi là “thực hữu-phủ định.” Gangeśa,
theo chân Uddyotakara, đã cho chúng ta phân loại này cùng với
định nghĩa của nó.[12] Cần lưu ý rằng cả ba trường hợp
này đều được định nghĩa dựa vào s mà không phải h, bởi
vì đây là điểm khác biệt rất quan trọng, một điều đã
bị hầu hết các tác giả sau Gangeśa bỏ qua, kể cả các
tác giả thời nay.
Chẳng
hạn, Viśvanātha, khi bình giải câu “Suy luận có ba loại”
trong tác phẩm Siddhānatamuktāvalī của ông, đã nói rằng:
Suy
luận có ba loại tùy theo nó là thực hữu-phổ biến, phủ
định-phổ biến hay vừa thực hữu vừa phủ định. Trong
số này, cái không có các trường hợp không tương tợ là
thực hữu-phổ biến, như ‘Một cái bình thì có thể được
đặt tên và được biết’, bởi vì trong đó không có các
trường hợp không tương tợ bởi lẽ mọi vật đều có thể
được đặt tên. Cái không có trường hợp tương tợ là
phủ định-phổ biến, như “Đất thì khác với các vật
khác vì nó có mùi’, bởi vì trong đó do không biết rõ sự
khác biệt với mười ba thực thể như nước, v.v., cho nên
đã thiếu mất một trường hợp tương tợ, hoặc những gì
rõ ràng có cái được suy luận. Cái có cả trường hợp tương
tợ và không tương tợ là thực hữu-phủ định, như ‘Nó
có lửa vì nó có khói’, bởi vì nó có các trường hợp
tương tợ, như nhà bếp, và các trường hợp không tương
tợ, như cái hồ.[13]
Như
vậy, qua giải thích ba kiểu suy luận theo cách trên, Viśvanātha
đã đồng nhất thuyết về ba kiểu suy luận với thuyết ba
đặc tính của h; và làm thế là không chính xác. Lý do là
vì trong khi Gangeśa định nghĩa sự phân loại của ông dựa
vào s thì Thế Thân và, như sẽ thấy, Trần Na lại căn cứ
sự phân loại của họ vào h. Sự nhầm lẫn này đã lan rộng
vào thời của Viśvanātha. Annambhatta, không mắc phải tình
trạng tối nghĩa của Viśvanātha, đã minh nhiên đề cập đến
ba loại của h và gọi chúng là thực hữu-phủ định, thực
hữu-phổ biến và phủ định-phổ biến. Ông nói:
h có
ba loại: thực hữu-phủ định, thực hữu-phổ biến và phủ
định-phổ biến. Thực hữu-phủ định là cái có cả lan
truyền xác định lẫn phủ định, như trong trường hợp có
cái gì đó có khói và lửa là vật được suy luận, thì phát
biểu “nơi nào có khói, nơi đó có lửa, như trong nhà bếp’
là một lan truyền xác định; và phát biểu ‘nơi nào không
có lửa thì cũng không có khói, như trong hồ’ là một lan
truyền phủ định. Thực hữu-phổ biến là cái khiến cho
cái lan truyền luôn luôn xác định, như “Cái bình thì có
thể được đặt tên và được biết, như tấm vải’, bởi
vì trong trường hợp này không có lan truyền phủ định của
tính khả tri và khả danh, bởi lẽ mọi vật đều có thể
được biết và đặt tên. Phủ định-phổ biến là cái khiến
cho cái lan truyền luôn luôn phủ định, như “Đất thì khác
với các vật khác, không có mùi, và cái này thì không phải
như vậy, cho nên cái kia không phải như vậy’, bởi vì trong
trường hợp này không có thí dụ xác định cho phát biểu
‘bất cứ cái gì có mùi đều khác với các vật khác’,
bởi lẽ pakṣatva đó luôn luôn là đất.[14]
Như
vậy, Annambhatta đã pha trộn thuyết ba kiểu suy luận với
thuyết ba đặc tính của h để gây ra nhầm lẫn là ‘h có
ba loại: thực hữu-phủ định, thực hữu-phổ biến và phủ
định-phổ biến.”
Nhầm
lẫn này vẫn lan tràn cho đến ngày nay. Chẳng hạn như Matilal,
dù ông đã phân biệt thành công quan niệm của Trần Na về
“thực hữu-phổ biến” với quan niệm của Uddyotakara cũng
như trình bày chính xác các định nghĩa của Gangeśa về ba
kiểu suy luận, nhưng lại không thể làm rõ tại sao hai người
này lại đưa ra một thuyết mới như thế và những hệ quả
gì mà thuyết này đã mang lại đối với quan niệm của Trần
Na.[15] Thay vì thế, ông lại tiếp tục bàn về quan điểm
của Uddyotakara và Gangeśa, chỉ ra rằng những người này đã
sử dụng ngôn ngữ và các thí dụ của Trần Na, và vì thế
đã tạo một ấn tượng sai lạc là không có những khác nhau
cơ bản nào cả giữa luận lý của Trần Na và họ. Ta còn
có thể nói rằng Matilal đã không nhận ra ý nghĩa phát biểu
của Gangeśa về trường hợp thực hữu-phổ biến mà, trong
những trường hợp này, nó là “đặc tính luôn luôn hiện
hữu”, điều mà chính Matilal đã nói đến. Trong trường
hợp của Staal và vì thế cũng của Goekoop, nhầm lẫn này
còn lớn hơn và không phải ít hứng thú. Staal mở đầu bằng
việc chứng minh rằng với hệ thống chính thức của ông
ta có thể loại suy công thức (2) từ (16) và (17) chỉ khi luật
đối hoán được giả thiết. Rồi ông phê phán Stcherbatsky
và những người khác đã không biết được rằng (16) và
(17) là tương đương và “rằng sự tương đương này tạo
thành mối quan hệ luận lý, tức sự đối hoán.”[16]
Và
vì thế mối quan hệ luận lý này được quan niệm là nền
tảng của luận lý Pháp Xứng, nếu không phải là của Trần
Na và Thế Thân. Cuối cùng, ông tiếp tục bày tỏ rằng mối
quan hệ đó cũng là cơ sở của luận lý Gangeśa đã thống
ngự phần còn lại của luận lý học Ấn độ sau Trần Na
và Pháp Xứng. Với một trình bày như thế, Staal đã không
phân biệt được, giống như Matilal, các lập luận giữa Trần
Na và Uddyotakara, tức nên xem h hay s là phổ biến, mặc dù
ông có tình cờ nhắc đến tên của người sau. Như vậy,
đối với Staal, kể từ khi Thế Thân tìm ra ba đặc tính của
h cho đến thời của Viśvanātha, Annambhatta và những người
khác, chẳng có một chút khác biệt nào giữa các quan điểm
liên quan đến ba đặc tính đó, cho dù có lập luận của
Uddyotakara và các định nghĩa mới của Gangeśa. Vì vậy, đó
là một nhầm lẫn hoàn toàn.
Như
đã nói trên, nhầm lẫn của các nhà nghiên cứu ngày nay bắt
nguồn từ nhầm lẫn của các tác giả đi trước, trong số
đó chúng ta đã nhắc đến Viśvanātha và Annambhatta như những
người đại diện. Thật vậy, sau khi dẫn hai tác giả này
và chính thức hóa các phát biểu của họ về ba kiểu suy
luận, Staal nhận xét rằng “trong nhiều bản văn khác nhau
này sự đối hoán được mặc nhiên thừa nhận đối với
sự lan truyền và suy luận trong các điều kiện sau:
V(h,s)
↔ V(negation of s, negation of h)”
Vì
thế, khi Visvanātha định nghĩa một cách mơ hồ thực hữu-phổ
biến là “cái không có những trường hợp không tương tợ”,
ông đã ngầm giúp Staal nối kết, và sau đó là đồng nhất
định nghĩa đó với định nghĩa về đặt tính thứ hai được
diễn ta qua công thức (16), và từ đó, đã xem sự tồn tại
của luật đối hoán dưới dạng tiêu chuẩn của suy luận
Ấn độ như đã được viết trong công thức (2). Nay ta đã
chỉ rõ rằng thuyết ba đặc tính của h hoàn toàn khác với
sự phân loại suy luận thành ba kiểu, bởi vì trong khi thuyết
đầu căn cứ vào h thì thuyết sau lại đặt nền tảng ở
s. Sự khác nhau này thật cơ bản bởi lẽ nó sẽ cho ta hai
loại luận lý hoàn toàn khác nhau, một căn cứ trên thuyết
lan truyền, và một căn cứ trên luật đối hoán. Và Berg phải
là người nhận lãnh vinh dự đã nhận ra đầu tiên sự khác
nhau cơ bản này.
Trong
bài phê bình của mình về khảo luận “Đối Hoán Trong Luận
Lý Ấn Độ” của Staal,[17] Berge đã chỉ ra rằng “sự nhận
ra luật này (tức luật đối hoán) rõ ràng tùy thuộc vào
việc chính thức hóa của riêng tác giả căn cứ vào những
cái khả biến có hạn chế” và “theo một cách diễn dịch
khác, trực tiếp hơn, . . ., thì vấn đề đối hoán trong trường
hợp đặc thù này đã biến mất.” Sau đó ông tiếp tục
nhận xét biện luận của Staal về luật đó. Trong nhận xét
này, ông nối kết luật đó với phân loại suy luận thành
ba kiểu của Navya-naiyāyika “tùy theo sādhya có phải là (a)
phổ biến, (b) trống rỗng, hay (c) không phải cả hai.” Ông
còn thêm nhận xét rõ ràng rằng “các nhà luận lý Navya-nyāya
đã áp đặt sự hạn chế lên luật đối hoán khi cho rằng
các trường hợp (a) và (b) phải bị loại trừ, bởi vì nếu
không thì các phần đối hợp của hai phụ thức chính của
luật này sẽ không thể là các điểm nhận thức có giá trị.”
Nhận xét này, dù rất hiển nhiên, nhưng thật thú vị ở
chỗ nó cho chúng ta một cái nhìn khá kín đáo về những gì
thực sự tạo thành nền tảng cho phân loại các suy luận
của Navya-naiyāyika.
Thật
vậy, nó mở đường cho việc nhận ra rằng Navya-naiyāyika,
kể cả Gangeśa, thiết lập luận lý của họ phần lớn và
chủ yếu dựa vào luật đối hoán. Và chính từ quan điểm
của luật này mà họ nhìn và phán xét các hệ thống luận
lý khác. Sau khi nói về điều này, cần phải nói thêm rằng
điều đó không có nghĩa là chúng tôi gán cho Berg khẳng định
rằng luận lý của Gangeśa chủ yếu dựa vào luật đối hoán.
Khẳng định đó là của chúng tôi. Ý nghĩa của khẳng định
này nằm ở sự kiện nó không chỉ cho chúng ta thấy những
gì làm nền tảng cho phê phán của Gangeśa về các định nghĩa
không-tách-ly và nối kết bất khả phân, mà nó còn ném một
tia sáng lên vấn đề có phải Trần Na và luận lý của trường
phái ông đã đặt nền tảng trên cùng luật đối hoán này
không, như Staal đã chỉ ra. Thật vậy, điểm thứ hai là đặc
điểm thú vị nhất của sai lầm và nhầm lẫn to lớn của
Staal.
Việc
các nhà luận lý hậu-Gangeśa xem luận lý của họ được
thiết lập trên luật đối hoán thì quá hiển nhiên khi đọc
các tác phẩm của họ. Thí dụ như trường hợp của Annambhatta
đã nói ở trên. Ông định nghĩa loại suy luận thực hữu-phủ
định như sau: “Thực hữu-phủ định là cái có sự lan truyền
vừa xác định vừa phủ định, như trong trường hợp có
cái gì đó có lửa và khói là vật được suy luận thì phát
biểu ‘nơi nào có lửa, nơi đó có khói, như trong nhà bếp’
là lan truyền xác định, và phát biểu ‘nơi nào không có
lửa, nơi đó không có khói, như trong hồ’ là lan truyền
phủ định.” Định nghĩa này chắc chắn là một phát biểu
thuộc luật đối hoán, như Staal nhìn nhận và thuyết minh
thành công thức tương đương (14), sau khi đã dẫn quan điểm
của Kumārila và bình giải của Keśavamiśra về nó.[18] Như
vậy, không còn nghi ngờ gì nữa về vị trí của luật này
trong luận lý hậu-Gangeśa.
Ngay
trong luận lý của Gangeśa, dù đã có sự phân biệt rõ ràng
nhưng trường hợp thực hữu-phổ biến có liên quan đến
h và trường hợp thực hữu-phổ biến liên quan đến s cũng
dã được kết hợp trong nỗ lực đạt đến một “định
nghĩa cuối cùng về lan truyền” của ông, trong đó không
những các trường hợp của loại thực hữu-phủ định được
kể đến mà còn cả các trường hợp của thực hữu-phổ
biến. Kết quả là ta phải kết luận rằng luận lý của
ông trước sau đều dựa vào luật đó. Thật vậy, cái gọi
là “định nghĩa cuối cùng” của ông không gì khác hơn
một loạt tám định nghĩa được kết liên với nhau để
bảo đảm rằng mọi trường hợp, không kể thuộc loại gì,
đều được bao gồm trong đó; mặc dù lúc đầu nó nhằm
vượt qua cái giới hạn mà luật đối hoán, vốn được họ
sử dụng một cách vô tình, đã áp đặt lên họ; đó là
“mọi trường hợp trong đó s là phổ biến hay trống rỗng
phải được loại trừ bởi lẽ luật đó không thể áp dụng
cho chúng.[19] Vì thế, các nhà luận lý sau này như Viśvanātha
và Annambhatta bắt đầu đơn giản hóa định nghĩa này và
đồng thời duy trì ý định ban đầu của nó, tức định
nghĩa lan truyền như thế nào đó để có thể bao hàm tất
cả các trường hợp. Khi làm thể họ đã vứt bỏ mọi cái
tinh tế mà Gangeśa đã dùng để tô điểm cho định nghĩa
của ông như cách dùng các đại từ liên hệ và chỉ thị
thế chỗ cho các từ thông thường như h và s, một đặc điểm
mà một số nhà khả cứu hiện đại xem là “thú vị” và
có “một tính chất trang trọng.”
Như
vậy Annambhatta định nghĩa nó là “tình trạng của h có cùng
nơi với s, vốn không phải là một đối hữu của một sự
vắng mặt tuyệt đối, có cùng nơi với h.”[20] Viśvanātha
đề ra một định nghĩa tương tợ, nói rằng: “lan truyền
được cho là tình trạng của h có cùng nơi với s, vốn không
thể là một đối hữu của một sự vắng mặt ở nơi có
h.”[21] “Định nghĩa cuối cùng” của Gangeśa vì thế có
thể thuyết minh như sau:[22]
(18)
($x) (h(x) & s(x) & ("x) {h(x) ® ("F) [-F(x) ® -("y) (s(y) ®
F(y))]})
một
thuyết minh mà nó có thể không tương đương với định nghĩa
có giá trị về lan truyền, như Goekoop đã khẳng định. Staal
đã chỉ ra “nhiều phê phán” mà biểu thức trên chỉ ra
và những phê phán này không phải hoàn toàn vô căn cứ.[23]
Đào sâu thêm về vấn đề này không phải là việc của chúng
ta ở đây. Chừng đó cũng đủ để nói rằng với việc đưa
ý tưởng quỹ tích vào định nghĩa này để làm điều kiện
chính thì “định nghĩa cuối cùng” này đã chứng kiến
một sự thoái bộ đáng tiếc đối với tiến trình chính
thức hóa luận lý học.
Vì
vậy, khi gạt qua diễn giải về phê phán của Gangeśa đối
với năm định nghĩa không-tách-ly và định nghĩa nối kết
bất khả phân dựa vào luận lý chủng loại đồng thời quan
sát nó từ quan điểm của một nhà bình luận truyền thống
hiểu rõ từ ngữ ‘thực hữu-phổ biến’ chính xác như
những gì nó được dự định, chúng ta đã đạt đến một
khám phá thú vị là phần lớn phê phán của Gangeśa đã không
dựa vào khái niệm chủng loại, một khái niệm mà chúng ta
đoán có lẽ vẫn còn rối rắm đối với ông, mà lại dựa
vào quan điểm của ông về nền tảng luận lý của ông. Nền
tảng này không gì khác hơn là luật đối hoán. Và trong khi
nghiên cứu các hệ luận lý khác, ông đã lập tức phóng
cái nhìn đó lên chúng. Vì thế, ông nghĩ rằng các định
nghĩa của Thế Thân và Trần Na về nối kết bất khả phân
và sự không-tách-ly có thể được diễn dịch theo luật đó.
Vì vậy, cái kết quả mà ta có thể nói trước là chúng không
bao hàm các trường hợp mà luật đó áp đặt.
Tuy
nhiên, ta đã chứng minh rằng luật đó không vận hành trong
thuyết của Thế Thân về ba tánh, và trong đó nó cũng không
hề được xem là luật. Nhiều lắm là nó được dùng như
một đề dẫn mà dưới đó ông liệt kê tất cả các suy
luận sai được bao gồm dưới cái tên “phản chuyển ngữ.”
Cùng với Berg, ta đã chứng minh thêm rằng thuyết ba đặc
tính của h do Thế Thân tìm ra và sau đó được Trần
Na và Pháp Xứng khai triển không cần phải và không nên thuyết
minh bằng luật đó, như Staal đòi hỏi và Gangeśa cũng như
những người nối tiếp ông như Viśvanātha và Annambhatta đã
hiểu. Như vậy, có thể nói rằng phê phán của Gangeśa về
năm định nghĩa không-tách-ly và định nghĩa nối kết bất
khả phân như đã nói đến thì không giá trị và đã phát
sinh do ngộ nhận của ông về vai trò của chúng. Và mọi nhầm
lẫn đã bắt nguồn từ ngộ nhận này, cuối cùng đã dẫn
đến thuyết minh của Staal, khẳng định rằng luật đối
hoán phải đang vận hành trong luận lý về ba đặc tính của
h.
Chắc
chắn ngộ nhận đó cũng có nguồn gốc của nó. Chúng ta đã
chỉ ra rằng mặc dù Gangeśa phân biệt được trường hợp
thực hữu-phổ biến đối với h và trường hợp thực hữu-phổ
biến đối với s, cuối cùng ông đã kết thúc bằng cách
hòa trộn chúng với nhau để phù hợp với quan điểm của
ông trên nền tảng luận lý của ông và sự phân loại các
suy luận thành ba kiểu của ông; và cả hai đều căn cứ vào
luật đối hoán. Những nhầm lẫn như thế không hề gây ngạc
nhiên khi được xét trong khuôn khổ thời đại của ông. Chẳng
hạn, một người cùng thời với ông, có tên là Manikantha,
vẫn giải thích từ “thực hữu-phổ biến” không phải
liên quan đến s, như Gangeśa đã làm, mà lại liên quan đến
h, làm như nó là một từ mới dành cho một trong ba đặt tính
trong luận lý của Thế Thân và Trần Na. Và nếu truy tầm
thêm thì ta sẽ lập tức nhận ra rằng ngộ nhận và những
nhầm lẫn nói trên không hề khởi đầu với Gangeśa và những
người khác, mà ít nhất là với Pháp Thượng.
Trong
luận thư Nyāyabindutīkā của mình, Pháp Thượng đã hiểu
các đặc tính (16) và (17) qua luật đối hoán, như Stcherbatsky
đã đề cập và sau đó Staal đã thuyết minh về nó.[24] Sau
khi giải thích ba đặc tính của h qua các thuật ngữ của
Pháp Xứng, Pháp Thượng đặt ra vấn đề sau đây cùng với
giải đáp của ông:
Nay,
khi nói rằng sự xảy ra chỉ có trong các trường hợp tương
tợ, thì có phải là không nhất thiết kết luận rằng sự
không xảy ra chỉ có trong các trường hợp không tương tợ?
Vậy tại sao hai mệnh đề được đề cập? Câu trả lời
như sau. Hoặc xác định hoặc phủ định nên được sử dụng,
mỗi cái đều cần thiết, và không cách nào khác. Vì thế,
để nhấn mạnh nó, cả hai mệnh đề được đề cập. Tuy
nhiên, nếu cả hai mệnh đề được dùng không với sự cần
thiết, thì kết quả tiếp theo sẽ xảy ra là bất kỳ cái
gì xảy ra trong trường hợp tương tợ và không xảy ra trong
trường hợp không tương tợ đều là h. Và rồi sẽ có [những
suy luận không giá trị như] ‘Nó thì đen, vì nó là con của
người đó, như ở những đứa trẻ chúng ta thấy’, trong
đó tình trạng ‘là con của người đó’ là h. Vì thế,
cả xác định và phủ định nên được sử dụng chỉ với
sự cần thiết để việc nối kết h chứng thực với s của
nó nhất thiết phải xảy ra. Và vì chúng cần phải được
sử dụng mà không có ngoại lệ, cho nên chỉ một trong hai
được dùng đến chứ không phải hai, tức là, hoặc xác định
hoặc phủ định cần phải được sử dụng. Như vậy, vì
tính chất sư phạm, cả hai mệnh đề được đề cập.[25]
Rõ
ràng, việc hỏi câu hỏi và trả lời nó theo cách đó “chỉ
có thể được giải thích bằng giả thiết rằng tác giả
đã biết luật đối hoán và sự cần thiết của nó trong
nội dung này”, như Staal đã phát biểu. Chắc chắn, trong
đoạn văn trên rõ ràng Pháp Thượng, dù cố ý hay vô tình,
đã xem xét thuyết ba đặc tính của h qua luật đó. Vì vậy,
hiển nhiên ông phải là người tạo ra mọi thứ nhầm lẫn
và ngộ nhận mà những nhà luận lý nối tiếp ông phải hứng
chịu, kể cả Gangeśa và Staal, ở các thời đại sau cho đến
ngày nay. Thật vậy chính Staal đã nhận ra nguồn gốc của
những suy luận ưa chuộng nhất như ‘Nó có sự tiếp xúc
với một con khỉ vì nó là cây này’, một suy luận mà, như
đã thấy, Raghunātha và Mathurātha thường xuyên nhắc lại
trong các tác phẩm của họ khi bình giải các bài viết của
Gangeśa, trong thí dụ mà Pháp Thượng đã cho ở trên, tức,
‘Nó thì đen vì nó là con của người đó.’
Như
vậy, nhờ thuyết minh của Staal, mặc dù “tính chất không
thích nghi về cả luận lý lẫn sư phạm” của nó, nay ta
không chỉ có thể thấy được tại sao Gangeśa phê phán năm
định nghĩa không-tách-ly—những định nghĩa phải thừa nhận
là chính xác “từ một quan điểm thuần luận lý”—, mà
còn biết được ông đã rút ra phê phán này từ đâu. Vì
thế, không phải bàn thêm gì nữa, ngoại trừ sự gợi ý
về vấn đề luận lý chủng loại trong các tác phẩm luận
lý của Thế Thân, ta có thể gạt bỏ những nhận xét phê
phán của Gangeśa giống như chỉ là một ngộ nhận, và trở
lại các định nghĩa-không-tách ly và nối kết bất khả phân
đã được thuyết minh trước đây.
Về
căn bản, thuyết minh của chúng ta về năm định nghĩa không-tách-ly
chính là thuyết minh của Berg, như được chứng minh rõ ràng
qua sự so sánh các công thức (7) – (11) với các công thức
(i) – (v), chỉ trừ một điều là ta thay ký hiệu chủng loại
Î của ông bằng ký hiệu đồng nhất = của chúng ta vì những
lý do đã nói trước đây. Chúng ta cũng chỉ ra rằng định
nghĩa nói kết bất khả phân của Thế Thân là một dạng
khác của định nghĩa thứ nhất và vì thế có thể biểu
thị bằng cùng công thức (7), nếu không phải là (11). Tuy
nhiên, chúng ta đã không nói đến việc xác minh cách dùng
ký hiệu của chúng ta, và người ta có thể thắc mắc không
biết rốt cùng nó có được xác minh hay không, nhất là khi
hầu hết mọi người đều tin rằng Thế Thân có chủ trương
thuyết gọi là “sự biến thiên phổ quát.”[26]
Vả
lại, chúng ta đã không nói gì về định nghĩa có thể có
về ký hiệu trong luận lý của Thế Thân. Bây giờ là cơ
hội để tiếp cận các vấn đề này và để xem chúng ta
sẽ có nhữg giải pháp gì đối với chúng. Trước hết, trong
tình trạng manh mún hiện nay của các tác phẩm luận lý của
Thế Thân, không có phát biểu nào được giữ lại có liên
quan đến vấn đề đồng nhất, hoặc bất kỳ loại quan hệ
luận lý nào khác về vấn đề đó. Thứ hai, ta còn không
thể biết ông có từng bàn về các vấn đề thuộc loại
đó hay không trong các tác phẩm của ông khi chúng vẫn còn
giữ được nguyên vẹn. Tuy nhiên, dựa vào thuyết mô tả
của ông, ta phải cần thiết giả định rằng có lẽ ông
đã biết đến các quan hệ luận lý này, kể cả quan hệ
đồng nhất, bởi lẽ nếu không có giả định như thế thì
không thể nào quan niệm được lý thuyết đó.
Thay
thế một từ n bằng một thuộc từ N để có một mô tả
(ix)N(x) mà không biết đến sự tồn tại của một loại quan
hệ nào đó giữa chúng là điều khó có thể tưởng tượng
được. Thật vậy, trong những vận hành như thế thì quan
hệ đồng nhất đã được giả định; nếu không, điều
trước tiên là chúng không thể nào tự khởi động. Hơn nữa,
một loại quan hệ nào đó phải có sẵn trong định nghĩa
nối kết bất khả phân của Thế Thân. Vì vậy, mặc dù chúng
ta không có phát biểu minh nhiên nào từ các tác phẩm của
ông về vấn đề các quan hệ luận lý, nhưng chắc chắn là
ông đã dùng đến chúng. Vào các thế kỷ tiếp đó, khi khám
phá của ông được khai triển thêm trong tay của Trần Na và
Pháp Xứng, ta biết rằng ba loại quan hệ đã được bàn đến,
những quan hệ mà họ cho là cơ bản và chúng có thể dùng
làm tiêu chuẩn để phân biệt ba loại luận lý. Quan hệ thứ
nhất trong số này là quan hệ phủ định mà ta có thể tìm
thấy trong các suy luận như ‘Không có cái bình ở đây vì
không có sự tri nhận về nó.’ Quan hệ thứ hai gọi là quan
hệ đồng nhất thuộc loại ‘Đây là một cái cây vì nó
là sisampa.’ Loại thứ ba gọi là quan hệ “nhân quả” như
được tìm thấy trong suy luận ưa ý nhất ‘Nó có lửa vì
nó có khói.’[27]
Tạm
gác qua một bên quan hệ phủ định thì hai quan hệ còn lại
được nhận ra rất rõ trong các tác phẩm của Thế Thân.
Quan hệ đống nhất đã được nhắc đến trong sự nối kết
với thuyết mô tả. Tuy nhiên, thí dụ Pháp Xứng đã cho thì
thú vị ở điểm nó không chỉ diễn đạt quan hệ đó trong
một trường hợp đặc trưng, mà điều đáng nói là nó đặt
lại vấn đề chủng loại. Bởi vì nói rằng sisampa có một
quan hệ đồng nhất với cái cây cũng là nói rằng cây là
một tổ hợp A mà sisampa là một thành viên của nó trong số
các thành viên khác. Như vậy, quan hệ này không hoàn toàn
là đồng nhất mà đúng hơn nó là quan hệ thành phần. Vì
lẽ đó, quan hệ đồng nhất được biểu hiện trong thuyết
mô tả của Thế Thân không hoàn toàn là một với thuyết
mà Pháp Xứng có ý ám chỉ. Tuy nhiên, điều này không dẫn
đến kết luận rằng cái gọi là quan hệ đồng nhất thuộc
loại sau không được Thế Thân biết tới. Chúng ta sẽ chỉ
ra rằng chính sự tìm ra quan hệ đó đã thúc đẩy ông đi
đến một thuyết minh mới về lý luận luận lý và một định
nghĩa mới về lan truyền mà những nhà luận lý tiếp đó
muốn gọi là “lan truyền nội tại.”
Loại
quan hệ thứ ba đều có trong hầu hết các mảng còn lại
của các tác phẩm luận lý của Thế Thân. Điểm đặc trưng
của quan hệ này nằm ở sự kiện nó có tên là “quan hệ
nhân quả” (causal relation), hay chính xác hơn, là “quan hệ
hệ quả” (consequential relation). Thí dụ về nó như sau: ‘Nó
có lửa vì nó có khói.’ Để có giá trị, kể từ thời
của Thế Thân suy luận đó phải có phát biểu chứng tỏ
sự “nối kết bất khả phân” giữa khói và lửa, và thường
có dạng “bất cứ cái gì có khói thì có lửa.” Vì thế,
ở đây chúng ta có một quan hệ ngoại động hơn là một
quan hệ nhân quả, bởi vì qua quan hệ này, thí dụ sẽ có
dạng:
(19)
A = B
B = C
A = C
(Hiển
nhiên, nó cũng thuộc dạng: {[(p ® q) & p] ® q}, nhưng chúng
ta không cần bàn đến ở đây). Vì vậy, cái gọi là quan
hệ nhân quả thực sự là một quan hệ ngoại động. Và vì
lẽ đó, xét về thể cách suy luận thì nó là một phương
pháp khẳng định (modus ponens). Trong Vādavidhi, Thế Thân chủ
yếu vẫn nói về quan hệ này và các modus ponens của nó. Và
chúng ta không nên ngạc nhiên về điều này, bởi vì với
quan hệ ngoại động ta luôn có thể loại suy phần còn lại.
Chẳng hạn, cho R(A,B) và R(B,C), ta không chỉ có R(A,C) mà còn
R(A,A), là biểu thức của một quan hệ tự phản trong trường
hợp B=A, và R(A,B) và R(B,A) là biểu thức của một quan hệ
đối xứng khi A=C.
Điều
thú vị là một khi quan hệ như thế được thiết lập, tức
một quan hệ mang tính chất tự phản, đối xứng và ngoại
động, thì ta có thể dễ dàng định nghĩa khái niệm đồng
nhất như sau:[28]
(20)
x = y « ("w) {[r(x,w) « r(y,w)] & [r(w,x) « r(w,y)]}
và
có thể giản lược thành
(21)
x = y « ("w) [w(x) « w(y)]
Công
thức này có thể được viết lại theo công thức (12)
x = y « ("w) (x Î w « y Î w)
để
diễn đạt định lý khoáng trương. Và đây là điểm thú
vị, bởi vì hiển nhiên là khái niệm đồng nhất có thể
được định nghĩa bằng khái niệm chủng loại, và khái niệm
đồng đẳng (pure equality) bằng khái niệm quan hệ tương đương.
Cần chú ý là quan hệ tương đương là quan hệ tự phản,
đối xứng và ngoại động. Như vậy, trong văn mạch phạm
vi này, người ta có thể xem quan hệ đồng nhất có nghĩa
chính xác như những gì Pháp Xứng muốn nói, đó là quan hệ
chủng loại. Và vì thế, ngay trong phạm vi của Vādavidhi, quan
hệ đồng nhất cũng có thể định nghĩa bằng quan hệ chủng
loại. Như vậy, nếu không quá nới rộng luật thay thế trong
thuyết mô tả của Thế Thân, ta có thể nói rằng trong tác
phẩm đó quan hệ đồng nhất có thể được diễn giải như
là quan hệ chủng loại. Lúc đó điều tất yếu là các công
thức (7) – (11) có thể viết lại thành các công thức (i)
– (v) của Berg mà không có bất kỳ nhầm lẫn nào đối với
vấn đề chủng loại trong luận lý của Thế Thân.
Sau
khi định nghĩa khái niệm lan truyền trong các công thức (5)
– (11), thật dễ dàng thấy rằng Thế Thân đã thiết lập
các biểu đồ luận lý của ông như thế nào. Ngày xưa, mặc
dù chúng ta có các biểu đồ rõ ràng về suy luận, nhưng chưa
có cái nào trong số chúng được bàn đến một cách đặc
trưng, ngoại trừ dạng mười chi mà Kỳ Na Giáo đã đề ra
cho chính họ.[29] Vào thời của Caraka, ông đã nhận ra nhu
cầu lý luận đúng luận lý trong y học cho mục đích chẩn
bệnh; vì vậy, cuốn y thư nổi tiếng của ông, Samhita, đã
dành một trong những phần của nó để bàn đến nhiều khía
cạnh khác nhau của lý luận luận lý trong y học.[30] Tiếp
nối Caraka, Gautama Aksapāda, lần đầu tiên trong lịch sử Ấn
đã bắt đầu hệ thống hóa phần lớn các kiến thức về
nhận thức luận và luận lý của thời đại ông thành một
hệ thống các cách ngôn, mà ông gọi là Nyāyasūtra hay Luận
lý Thư, mặc dù giống như bất cứ cuốn sách nào cùng tên
thuộc thời đó, nó không chỉ bàn đến luận lý như thế,
mà còn cả một số các vấn đề khác ngoài chủ đề chính.
Trong Nyāyasūtra, ông công nhiên qui định rằng bất kỳ dạng
lý luận nào cũng phải có năm chi sau đây:[31]
1.
Luận đề (tôn): Núi này đang có lửa
2.
Lý do (nhân): Vì nó đang có khói
3.
Thí dụ (dụ): Như trong nhà bếp
4.
Áp dụng (dụng): Và cái này như thế
5.
Kết luận (kết): Vì vậy cái kia cũng thế.
Các
dạng lý luận này đã tồn tại đến thời Thế Thân mà không
có bất cứ khảo cứu và cải tiến nào. Rõ ràng, khi nhìn
nó, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là một loại lý
luận loại suy nào đó, mặc dù đã không đạt được mức
độ chính thức đáng mong muốn. Và do khuyết điểm hiển
nhiên này, người ta có thể tự hỏi rốt cùng đó có phải
là một biểu đồ suy luận hay không. Trong bất cứ trường
hợp nào thì khi Thế Thân bắt đầu viết về luận lý, ông
vẫn chấp nhận biểu đồ năm chi đó. Tuy nhiên, một cải
tiến chưa từng có trước đó cuối cùng đã tách rời luận
lý Ấn độ ra khỏi di sản thực tiễn của các chẩn đoán
y học của Caraka và lý luận của Gautama, và đưa nó vào lộ
trình dẫn đến một khoa học chân chính về luận lý. Và
cải tiến này không gì khác hơn sự tìm hiểu những điều
kiện cho phép ta suy luận A(s,x) đối với mỗi một x nếu
có A(h,x), điều đã dẫn đến sự ra đời của thuyết ba
đặc tính của h.
Trong
Như Thực Luận cũng như trong một trần thuật của Huệ Chiểu,
Thế Thân vẫn nói về đồ biểu năm chi.[32] Nhưng trong cùng
tác phẩm này ông đã tìm thấy rằng nếu cho một suy luận
có dạng
("x)
[A(h,x) « A(s,x)]
để
suy ra A(s,x), ta phải có A(h,x), và trong đó h phải đáp ứng
ba điều kiện sau:[33]
(i)
h xảy ra trong s.
(ii)
h (chỉ) xảy ra trong các trường hợp tương tợ.
(iii)
h không xảy ra trong các trường hợp không tương tợ.
Chúng
ta đã chính thức hóa ba điều kiện này, những điều kiện
đã từng được gọi là “ba tánh”, trong các công thức
(15) – (17) ở trên. Một khi đã có ba điều kiện này, ta
có thể thấy ngay rằng chúng được áp đặt lên Thế Thân
để loại bỏ biểu đồ năm chi và thay nó bằng một cái
mới, bởi vì bây giờ suy luận không còn dựa vào tỷ giảo
nữa mà là một cơ sở mạnh mẽ hơn nhiều, đó là tính khả
loại suy của nhiều thành phần khác nhau có liên quan trong
đó. Như vậy, trong Vādavidhi, tác phẩm luận lý kế tiếp
của ông, Thế Thân đã thực sự bác bỏ biểu đồ năm chi,
một hành động có thể tạo ra một phê phán đáng kể từ
những người chống đối ông suốt trong lịch sử, và đã
thay nó bằng một biểu đồ ba chi, có dạng tổng quát như
sau:
1.
Luận đề: Núi có lửa
2.
Lý do: Vì nó có khói
3.
Tiền đề: Bất kỳ nơi nào có khói, nơi đó có lửa,
như trong nhà bếp.[34]
Chi
thứ ba được Thế Thân định nghĩa là một phát biểu của
sự lan truyền, xác định “nối kết bất khả phân” giữa
luận đề và lý do. Nói cách khác, nó thuộc dạng:
("x)
[A(h,x) ® A(s,x)]
vì
vậy, khi có lý do h như
("x)
A(h,x)
ta
luôn luôn có thể loại suy tiền đề s
($x)
A(s,x)
Ngày
nay, điều hoàn toàn mới lạ trong biểu đồ ba chi này và
giúp phân biệt với biểu đồ năm chi của Gautama như một
khám phá mới không phải là nó giản lược năm chi nặng nề
thành biểu đồ khả dụng ba chi, mặc dù đó đúng là cái
nó mang lại, mà là nó đã đưa vào tiền đề phát biểu chính
xác quan hệ lan truyền giữa chi thứ nhất và thứ hai và lập
thành chi thứ ba. Tại sao việc đưa vào này lại là một khám
phá mới? Bởi vì nó được rút ra từ thuyết ba tánh của
Thế Thân. Ta đã biết rằng với các điều kiện (i) – (iii)
như được biểu thị bởi các công thức (15) – (17), ta luôn
có thể loại suy (2) và công thức này, như đã thấy, cũng
là một biểu thức của chi thứ ba. Vì vậy, không phải vô
cớ hay chỉ vì tính chất rườm rà của biểu đồ năm chi
mà Thế Thân loại bỏ nó và thay bằng biểu đồ ba chi. Và
kết luận này còn được củng cố thêm bởi phương pháp
chứng cứ ngày nay là, nếu cho các công thức (15) – (17),
ta luôn có thể loại suy (2), như đã được chứng minh trước
đây. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử luận lý Ấn
độ, người ta được chỉ cho thấy tại sao một dạng suy
luận nào đó thì thuộc loại như nó là mà không phải cách
nào khác.[35] Đây quả thật là đỉnh cao những thành tựu
và thiên tài của Thế Thân.
Hơn
nữa, dù chi thứ ba của biểu đồ mới được viết dưới
dạng:
("x)
A(h,x) ® A(s,x)
nhưng
thật ra nó phải thuộc dạng
(22)
("x) {(A,x) & ($x) [A(h,x) ® A(s,x)]} ® A(s,x)
bởi
vì nó không những phát biểu rằng ‘bất kỳ nơi nào có
khói thì nơi đó có lửa’, mà còn ‘như ở trong nhà bếp’,
một điều minh định rõ ràng phạm vi được mô tả bởi
phát biểu trước không phải là một phạm vi trống rỗng.
Tuy nhiên, nếu đúng thật như thế, như một số tác giả
đã chủ trương, thì ta có thể dễ dàng thấy rằng ba điều
kiện được diễn đạt bởi các công thức (15) – (17) không
cần thiết gì cả. Thật vậy, điều này sẽ đưa biểu đồ
ba chi trở lại lối suy luận cũ, tức lý luận bằng tỷ giảo,
của Nyāyasūtra. Vì lẽ đó biện pháp luận lý sẽ là loại
hẳn công thức được đưa vào:
(23)
("x) (A(h,x) ® A(s,x))
và
chỉ giữ lại thành phần lan truyền cần thiết được biểu
thị bởi công thức (2). Mong rằng đây là những gì Thế Thân
đã làm trong Như Thực Luận II, có lẽ là tác phẩm luận
lý sau cùng của ông. Trong Pramāṇasamuccaya, Trần Na thuật
rằng có một luận thư tên là Như Thực Luận, chủ trương
thí dụ được cho trong chi thứ ba của biểu đồ mới thì
không cần thiết và vì thế có thể bỏ đi.[36] Mặc dù chỉ
trích mạnh mẽ thuyết này nhưng ông đã không cho chúng ta
biết tác giả là ai. Điều kỳ lạ hơn là ông cũng đã trích
dẫn cuốn đó trong một vài trường hợp khác, trong đó ông
tỏ ra tán thành các quan niệm của nó.[37] Tình huống này
càng phức tạp hơn khi một số nhà bình giải về ông đã
nhầm lẫn ghi lại tên tác phẩm này ở dạng số nhiều và
như thế đã khiến cho những người khác tin rằng có lẽ
có trên một luận thư mang tên Như Thực Luận.[38]
Thật
vậy, một tin tưởng như thế đã được Tucci nghĩ đến.
Cùng với sự kiện Như Thực Luận mà Trần Na dẫn có chủ
trương một biểu đồ hai chi trong khi dịch bản Hán văn của
tác phẩm cùng tên chỉ có biểu đồ cũ năm chi, ông có ý
kiến rằng cuốn sau, từ đây trở đi sẽ được gọi là
Như Thực Luận I, thì khác với cuốn trước, cuốn mà chúng
ta đã gọi tên Như Thực Luận II. Giờ đây, sự kiện Như
Thực Luận I là một trong các tác phẩm của Thế Thân, nếu
không muốn nói là tác phẩm đầu tiên của ông về luận
lý, là điều chắc chắn không nghi ngờ gì nữa, và vì thế
chúng ta không cần bàn thêm gì nữa.[39] Về Như Thực Luận
II, Frauwallner đã chỉ ra tính chất không đáng tin cậy của
hình thức số nhiều và vì thế đã loại bỏ quan niệm cho
rằng tên Như Thực Luận không phải là một danh từ riêng
mà là từ chỉ chung cho một loạt các bài viết bàn về cái
như thực (tarka).[40]
Nay
chúng ta thêm chứng cứ sau để chứng minh rằng biểu đồ
hai chi, mặc dù đã bị Trần Na và những người khác chỉ
trích, thật sự đã được Thế Thân sử dụng trong các tác
phẩm khác của ông. Chẳng hạn trong Câu Xá Luận, ta có suy
luận thuộc dạng ‘Nếu người ta đã cần đến một nhân
cho sự hủy diệt thì người ta sẽ cần đến một nhân cho
mọi sự hủy diệt.’[41] Tương tợ, trong Thành Nghiệp Luận,
Thế Thân đôi khi áp dụng suy luận đó cho những lập luận
của ông như ‘Nếu một vật an trụ thì nó không có chuyển
động’ hay ‘Nếu nó không chuyển động thì nó thường
xuyên an trụ’, hay ‘Nếu nó không an trụ thì nó cũng không
có chuyển động’, mà không hề đề cập đến chi thứ ba
của biểu đồ ba chi.[42] Vì thế, khẳng định rằng, như
Tucci đã làm, biểu đồ suy luận hai chi “chắc chắn không
được Thế Thân chấp nhận” là sai hoàn toàn. Thật vậy,
những suy luận thuộc dạng ‘Nếu nó không có chuyển động,
nó thường xuyên đình trụ’ có thể được biểu thị chính
xác qua công thức
(2)
("x) [A(h,x) ® A(s,x)]
mà
không cần thêm vào công thức (23) một khi các điều kiện
trong (15) – (17) được phát biểu, vì ta có thể loại suy
(2) từ (15) – (17).
Kết
luận đó thú vị trong nhiều cách. Thứ nhất, nó dẫn chúng
ta đến nhận thức rằng với biểu đồ suy luận mới hai
chi Thế Thân có thể giải quyết toàn bộ khó khăn Gangeśa
đã đặt ra về các trường hợp thực hữu-phổ biến, bởi
lẽ trong thuyết minh mới này, nếu cho:
(24)
("x) (h(x) ® g(x)
ta
có thể loại suy
(25)
("x) h(x) ® ("x)g(x)
Dạng
loại suy mới mạnh mẽ này về sau đã được Arcata Dharmakaradatta
nhận ra.[43] Ông hiểu rằng thí dụ được cho trong chi thứ
ba không dùng để chứng minh một luận đề là đúng hay sai,
mà chỉ là một hướng dẫn cho người không hiểu biết, mặc
dù nó thường bị phê phán và bỏ qua bởi hầu hết các nhà
luận lý khác, dĩ nhiên kể cả Trần Na, Gangeśa. Và nhờ nhận
ra điều này mà Arcata đã có thể chứng minh rằng người
ta có thể rút ra một kết luận tự nhiên thuộc loại “Tất
cả đều sát na diệt’ từ tiền đề ‘Bất kỳ cái gì
thực hữu đều thuộc sát na diệt’, một điểm Gangeśa đã
bỏ sót trong phê phán của ông về định nghĩa nối kết bất
khả phân của Thế Thân.
Tuy
nhiên, để thực hiện suy luận đó, người ta cần có sẵn
khái niệm chủng loại như được định nghĩa trong (20) –
(21). Điều này cũng thế trong trường hợp suy luận ‘Đây
là một cái cây vì nó là simsapa’ Pháp Xứng đã cho ở trên.
Bởi vì trong cả hai trường hợp đều ngầm chứa các lượng
từ về chủng loại mà khi được viết đầy đủ chúng sẽ
trở thành “vừa phổ biến vừa thực hữu.” Như vậy, dù
phát biểu ‘Đây là một cái cây vì nó là simsapa’ có thể
viết dưới dạng
(26)
("x) [f(x) ® g(x)]
nhưng
điều nó thật sự chuyển tải lại thuộc dạng
(27)
($w) ("z) ("x) (x Î x « x Î w)
trong
đó w biểu trưng chủng loại cây nói chung, và z biểu trưng
chủng loại cây simsapa nói riêng. Và cái được (27) biểu
thị thì không được biểu thị thỏa đáng bởi (26) do các
lượng từ hỗn hợp của công thức trước. Vì vậy, ta có
thể nói rằng Thế Thân đã đưa vào một luận lý chủng
loại cùng với việc giới thiệu biểu đồ suy luận hai chi
của ông. Hiện nay chúng ta không biết ông đã bàn đến và
đánh giá luận lý này như thế nào, bởi vì không còn mảng
nào liên quan đến nó còn giữ được. Thế nhưng, điều này
không có nghĩa ông không biết đến lợi ích của một luận
lý như thế trong một số trường hợp. Các thí dụ đã cho
ở trên minh chứng đầy đủ điều này.
Cho
đến nay, chúng ta đã mô tả luận lý của Thế Thân như chúng
ta hiểu từ một số lượng hạn chế của các mảng mà chúng
ta biết đến và còn giữ được từ những tác phẩm luận
lý của ông. Chúng ta đã không nói gì về đặc điểm của
luận lý này cũng như loại ký hiệu mà chúng ta đã sử dụng.
Điều này vì chúng ta tin rằng khi nghiên cứu một luận lý
như của Thế Thân, ta không nên có định kiến ngay cả đối
với loại công cụ mà ta sử dụng để thực hiện việc làm
này, bởi vì nó có thể dẫn chúng ta đến một kết luận
sai lạc.
Nay,
ở chặng cuối của việc làm này, một điều trở nên quá
hiển nhiên là ta có thể phân biệt ít ra ba loại luận lý
chính trong tác phẩm của ông. Thứ nhất là luận lý đồng
nhất; thứ hai là luận lý định lượng. Hai luận lý này
được kết hợp để cho ra các diễn đạt như các công thức
(7) – (11) chẳng hạn. Chúng thuộc các loại đơn giản nhất,
và điều này không nên ngạc nhiên. Như Quine đã nhận xét
trong lời giới thiệu của ông cho lần tái bản cuốn Incomplete
Symbols: Descriptions của Whitehead và Russell rằng “Một điều
quan trọng của việc sử dụng tất cả các số hạng đơn
ngoài số lượng các biến số là: luận lý định lượng
và đồng nhất không còn cần được quan niệm theo cách nào
khác ngoài dạng đơn giản nhất của nó, bao gồm các từ
thuộc về thuộc từ, các biến số, các từ định lượng,
các tác dụng thuộc nguyên lý, và ‘=’”, [44] vì thế tại
sao luận lý Thế Thân lại khác biệt với thuyết mô tả của
ông?
Trong
cùng các công thức đó, ta có thể dễ dàng nhận ra sự hiện
diện của một hàm tử F. Và hàm tử này thật sự chỉ ra
rằng sớm muộn gì nó cũng sẽ được tác động lên Thế
Thân để ông đạt đến một luận lý chủng loại và đây
là loại luận lý thứ ba chúng ta nói đến ở trên. Lý do?
Bởi vì trong một số phát biểu như chúng ta đã thấy, luận
lý đồng nhất và định lượng sẽ không thể chuyển tải
đầy đủ ý nghĩa của chúng. Như vậy, một luận lý chủng
loại phải được quan niệm, dù hiện nay chúng ta hoàn toàn
không nắm rõ nội dung chính xác của nó do thiếu tư liệu
trong các mảng luận lý của Thế Thân. Một khi, ba loại luận
lý này được thiết lập, đương nhiên điều tất yếu là
các ký hiệu chúng ta sử dụng nhìn chung đều thuộc về chúng
mà không có bất kỳ phân biệt nào. Vì thế ta không cần
phải minh định hệ thống ký hiệu gì ta đã dùng đến. Chúng
được dùng, và nếu chúng phù hợp, cho việc khám phá luận
lý học của Thế Thân và không cho mục đích nào khác.
Sau
khi đã định nghĩa luận lý của ông và nội dung của nó,
vậy ta có thể rút ra kết luận gì từ nó? Ta đã thấy rằng
lan truyền là khái niệm cơ bản của luận lý Thế Thân và
vì thế quyết định toàn bộ phát triển kế tiếp các khám
phá luận lý của ông. Có hai nguồn phát khởi khái niệm này.
Thứ nhất là việc nhận ra rằng để bất kỳ suy luận thuộc
bất kỳ dạng nào có thể có giá trị, cần có những điều
kiện nào đó mà nó phải đáp ứng. Như vậy, nếu cho một
suy luận có dạng tổng quát
("x)
(A(h,x) ® A(s,x))
Thế
Thân chỉ ra rằng nó phải đáp ứng ba điều kiện được
diễn đạt trong các công thức (15)–(17). Sự thừa nhận ba
điều kiện này dẫn đến việc thiết lập quan hệ cần thiết
giữa h và s, cái mà ông gọi là “nối kết bất khả phân”
hay lan truyền.
Nguồn
kia xuất phát chủ yếu từ chính thuyết mô tả. Lúc đầu
chúng ta đã nói rằng thuyết này không những chủ trương
nếu cho một n thì luôn luôn có một N như (ix)N(x), mà còn
nếu cho một n sẽ luôn luôn có một F như F(x). Và từ đó
ta có thể có một biểu đồ suy luận thuộc dạng
{("x)
[f(x) É g(x)] & ("x) f(x)} É ("x)g(x)
như
được biểu thị trong công thức (1). Vì thế, về phương
diện này không được quá nhấn mạnh rằng chính thuyết mô
tả đã thúc đẩy Thế Thân tìm hiểu các điều kiện của
một suy luận mà không phải là cái gì khác. Vì thế, thuyết
này đóng vai trò quyết định trong lãnh vực luận lý.
Một
khi khái niệm lan truyền được định nghĩa, nhiều thuyết
minh luận lý khác nhau thuộc loại mới này phải được cần
đến, và nổi bật nhất trong số đó hẳn là sự giản lược
biểu đồ lý luận tỷ giảo năm chi thành loại chính thức
hoàn chỉnh ba chi, và rồi là loại hai chi. Chúng ta đã chỉ
ra rằng việc giản lược biểu đồ cũ năm chi thành biểu
đồ mới ba chi không phải tình cờ, mà do những nỗ lực
và lý do tinh tế. Không cần phải nói, nó không phải là đóng
góp của Trần Na như được khẳng định từ trước đến
nay. Thế nhưng, điểm thú vị lại nằm ở lần giản lược
thứ hai của biểu đồ mới ba chi này thành một biểu đồ
còn mới hơn, đó là hai chi.
Sự
giản lược này thật hứng thú, bởi vì lần đầu tiên giá
trị của một suy luận được thiết lập không phải dựa
vào quan hệ về một thực thể ngoài luận lý mà dựa vào
sức mạnh của chính nó. Và như thế, khái niệm giản lược
chính thức đã đạt đến đỉnh cao của nó. Thật không may
là hướng tư tưởng này đã không được những người kế
thừa Thế Thân nắm bắt. Họ thường xuyên xem nó như đối
tượng của sự phê phán và vì thế đã chối bỏ nó. Thất
bại của họ trong việc đánh giá tầm quan trọng của nó
có lẽ là yếu tố quan trọng nhất góp phần vào tình trạng
chết cứng của tư tưởng và khoa học truyền thống Ấn độ
sau thời ông. Tuy nhiên, nếu giá trị của một suy luận được
quyết định ở chính nó, thì các phát biểu thuộc dạng “sự
thật của một phát biểu tùy thuộc vào sự tồn tại của
chúng như là cái gì đó trong vũ trụ” sẽ là gì? Câu hỏi
này, chúng ta sẽ xét đến ở chương sau.
dịch
Việt: Đạo Sinh
[1]
Annambhatta, Tarkasaṃgraha, ed. Foucher, p. 134.
[2]
Staal, “Contraposition in Indian Logic, Logic, Methodology and Philosophy
of Science”, Proceedings of the 1960 International Congress, Stanford:
Stanford University Press, 1962: 638-639.
[3]
Kumārila, The Mīmāṃsāślokavārtika of Kumārila Bhatta, ed. Rāma
Sāstrī Tailanga, Benares: Chowkhambā Sanskrit Series, 1898: 384-385:
Section Anumānaparicchedaḥ, verses 121-122.
[4]
Dharmakīrti, Nyāyabindu, ed. Serbatskoi, Petrograd, 1918: 18-19.
[5]
Như Thực Luận, Taisho 1633, p 30c20-21: 我 立 因。 種 相 是
根 本 法。同 類 所 攝 異 類 相 離。
[6]
Staal, “Contraposition in Indian Logic: 634; Kajiyama, Bukkyo tetsugaku
ni okeru meidai kaishaku”, in Kanakura hakushi koki kinen Indogaku Bukkyogaku
ronshu, ed. Tsukamoto Mekio Kyoto: Heirakuji shoden, 1966: 423-438.
[7]
Vādavidhi, Fragment 1.
[8]
Một lần nữa, cần lưu ý rằng khi nói như vậy chúng tôi
cho rằng Pháp Xứng hoàn toàn nương theo các thuật ngữ và
quan điểm của Trần Na. Như vậy, dù đã lập lại từ avyabhicāra
trong Nyāyabindu và Pramāṇavārttika, nhưng Hetubindu vẫn bàn
đến bài tụng lấy từ Pramāṇavārttika:
pakṣadharmas
tadamsena vyāpto hetus tridhaiva saḥ/
avinābhāvaniyamād
dhetvābhāsās tato’pare//
trong
đó từ avinābhāva tự chứng thực một cách hiển nhiên và
được sử dụng trong toàn bản luận này. Xem Steinkellner, Dharmakīrti’s
Hetubinduḥ, Teil I, Sitzungsberichte der Osterreichischen Akademie der
Wissenschaften, Philosophisch-Historische Klasse, 252. Band, 1. Abhandlung,
pp.30-39. Như vậy, ở p.39, chúng tôi đọc: “etallakṣaṇas
tridhaiva so hetus triprakāra eva, svabhāvaḥ kāryam anupalabdhiś
ceti yathānitye kasmiṃścit sādhye sattvam agnimati pradeśe dhūmo’bhāve
copalabdhilakṣaṇaprāptasyānupalabdhir ity atraiva trividhe ’vinābhāvaniyamāt,
pakṣadharmasya yathoktā vyāptir avinābhāvaḥ sa trividhād dhetor
anyatra nāstīty atraiva niyata ucyate…”
[9]
Berg, Review of Staal’s “Contraposition in Indian Logic”, in Journal
of Symbolic Logic, XXXV (1970: 570ff.
[10]
Berg, op. cit.: 575.
[11]
Goekoop, op. cit.: 63-64.
[12]
Gangeśa, Tattvacintāmani (Anumāna-khanda), ed. with the Dīdhiti commentary
of Raghunātha and the sub-commentary of Gadādhara, Benares: Chowkhambā
Sanskrit Series, 1926: 1326; Uddyotakara, Nyāyavārttika: 46.
[13]
Viśvanātha, Nyāyasiddhāntamuktāvalī, ed. Narayancharan Shastri et.
al., Varanasi, 1972: 464-466: anvayavyāptir uktaiva vyatirekād ihocyate/
traividhyam iti/ anumānm hi trividham kevalānvayikevala-vyatirekyanvayavyatirekibhedāt/
tatrāsadvipakṣaḥ kevalānvayī yathā ghaṭo ’bhidheyaḥ prameyatvād
ity ādau, tatra hi sarvasyaivābhidheyatvād vipakṣāsattvam/ asatsapakṣaḥ
kevalavyatirekī yathā pṛthivī itarebhyo bhidyate gandhavattvād ity
ādau tatra hi jalāditrayodasabhedasya pūrvam aniscitatayā niścitasādhyavataḥ
sapakṣasyābhāva iti/ satsapakṣavipakṣo ’nvayavyatirekī yathā
vahnimān dhūmād ity ādau tatra sapakṣasya mahānasāder vipakṣasya
jalahradādeś ca sattvam iti//
[14]
Annambhatta, Tarkasaṃgraha: 132-134: “liṅgam trividham anvayavyatireki
kevalānvayi kevalavyatireki ca/ anvayena vyatirekena ca vyātimad anvayavyatireki
yathā vahnau sādhye dhūmavattvam yatra dhūmas tatrāgniḥ yathā mahānasaity
anvayavyāptiḥ/ yatra vahnir nāsti tatra dhūmo ’pi nāsti yathā
mahāhradaiti vyatirekavyāptiḥ/ anvayamātravyāptikam kevalānvayi
yathā ghaṭo ’bhidheyaḥ prameyatvāt patavat atra prameyatvābhidheyatvayor
vyatirekamātravyāptikam kevalavyatireki yathā pṛthivī itarebhyo bhidyate
gandhavattvāt yad itarebhyo na bhidyate na tad gandhavat yathā jalam
na ceyam tathā pṛthivīmātrasya pakṣatvāt//.” Về từ pakṣatva,
xem Manikantha, Nyāyaratna, ed. Subrahmanya Sastri and V. Krishnamacharya,
Madras: Madras Government Oriental Series, 1953: 109-115.
[15]
Matilal, “Gangeśa on the Concept of Universal Property (kevalānvayin)”,
Logic Methodology and Philosophy of Science III, Proceedings of the Third
International Congress for Logic, Methodology and Philosophy of Science,
Amsterdam 1967, Amsterdam: North-Holland Pub. Co., 1968: 531-542.
[16]
Staal, Contraposition in Indian Logic: 636.
[17]
Berg, op. cit. 574-575.
[18]
Keśavamiśra, Tarkabhāsā, ed. Srī Shobhita Miśra, Banaras: The Chowkhambā
Sanskrit Series Office, 1953: 66-68.
[19]
Gangeśa, Tattvacintāmani: 100-160.
[20]
Annambhatta, Tarkasaṃgraha: 124.
[21]
Viśvanātha, Nyāyāsiddhāntamuktāvalī, ed. Narayancharan Shastri &
Swetvaikuntha Shastri, Varaṇasi: The Chowkhambā Sanskrit Series Office,
1972: 232-246.
[22]
Berg, Journal of Symbolic Logic XXXV (1970): 573;
[23]
Calari Sesācārya, Pramāṇacandrikā, ed. & transl. Susil Kumar
Maitra, Calcutta: Calcutta University, 1936: 143-144.
[24]
Stcherbatsky, Buddhist Logic II: 53.
[25]
Dharmottara, Nyāyabinduṭikā, ed. Serbatskoi, Petrograd, 1918: 20: nanu
ca sapakṣa eva sattvan ity ukte vipakṣae ’sattvam eveti gamyate eva/
tat kim artham punar ubhayor upādānam kṛtam/ tad ucyate/ anvayo vyatireko
vā niyamavān eva prayoktavyo nānyatheti darayitum dvayor apy upādānam
kṛtam/ aniyame hi dvayor api prayoge ’yam arthaḥ syāt/ sapakṣe
yo ’sti vipakṣe ca nāsti sa hetur iti/ tathā ca sati sa syāmas tatputratvād
dṛśyamānaputravad iti tatputratvam hetuḥ syāt/ tasmān niyamavator
evānvayavyatirekayoḥ prayogaḥ kartavyo/ yena pratibandho gamyeta sādhanasya
sādhyena/ niyamavatoś ca prayoge ’vasyakartavye dvayor eka eva prayoktavyo
na dvāv iti niyamavān evānvayo vyatireko vā prayoktavya iti sikṣaṇārtham
dvayor upādānam iti//.
[26]
Mookerjee, Buddhist Philosophy of Universal Flux, Calcutta: Calcutta University,
1935; cf. Murti, Central Philosophy of Buddhism, London: Allen & Unwin,
1953; also Staal, Negation and the Law of Contradiction in Indian Thought:
a Comparative Study, BSOAS XXV (1962): 52-71.
[27]
Dharmakīti, The Pramāṇavārttikam of Dharmakīrti: 2.
[28]
Hailperin, “Remarks on Identity and Description in First-Order Axiom
Systems”, Journal of Symbolic Logic XIX (1954): 14-20. Xem theem Beth,
The Foundations of Mathematics: 224-231.
[29]
Vādidevaśri, Syāvādaratnākāra, Poona: Arhat Mata Prabhakara: 556;
Bhadrabāhu, Daśavaikālikaniryukti, Agamodaya, gāthā 49-50.
[30]
Caraka, Carakasaṃhitā I, ed. Vinayacandra Vāsiṣṭha & Jayadeva
Sarmā, Ajamer: Ārya sāhitya mandala, 1954: 740 & 814.
[31]
Nyāyasūtra 1.1.32-39.
[32]
Như Thực Luận, Taisho 1633: 30c2-4: 論曰。 聲無 常因功力生。
無 中 間 生 故。譬 如 瓦 器 因 功 力 生。 生 已
破 滅。聲 亦 如 是。故 聲 無 常。
Huệ
Chiểu, Nhân Minh Nghĩa Đoán, Taisho 1841: 144b29-c1: 如世親説五能立。亦不非於舊陳。
Huệ
Chiểu, ibid.: 155b13-24: 解小乘外道。立有五分。慈尊無箸陳那等。
但立。分。合結為成於喻。是喻。之差别。善立於喻。足顯合結。無繁喻外。别立二支。又云。瑜伽同類即當對法合支。對法既立喻訖。何故復説合支。結既許同世親合支。如何即别。又瑜伽引喻之言。為同為異。若其是總同類即是喻。何關對法合支。若引喻即説為同類。與世親合支何别。作斯會教全不相當。應知。對法合結。與世親不殊。
p157c11-14:
又據世親五支之中。明缺減過者。有二十五或二十一。謂闕一有五。闕二有。。闕。有十。全闕有一。取捨如前。准此。只有二十。句。二十五句一總不相當。或是寫錯。更勘餘本。
[33]
Như Thực Luận, Taisho 1633, p 30c20-21: 我 立 因。 種 相 是
根 本 法。同 類 所 攝 異 類 相 離。
[34]
Khuy Cơ, Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận Sớ, Taisho 1840: p. 94a1-2;
Vacaspatimiśra, Nyāyavārttikatātparyaṭīkā 298: atra vasubandhunā
pratijñādayas trayo ’vayavā durvihitā akṣapādalakṣaṇena ity
uktam/.
[35]
Baliṅgay, “The Significance of Drishanta in Indian Logic”, in Essays
in Philosophy Presented to Dr. T. M. P. Mahadevan on His Fiftieth Birthday,
ed. Chari, Madras: Ganesh & Co. 1962: 163-175.
[36]
Dignāga, Pramāṇasanuccaya IV: 66b4-5; Frauwallner, Vasubandhu’s Vādavidhiḥ,
WZKSOA (1957): 145-146; Tucci, Buddhist Logic before Diṅnāga, JRAS (1929):
486-487.
[37]
Dignāga, Pramāṇasanuccaya III: 44a7-b1; Frauwallner, Vasubandhu’s
Vādavidhiḥ: 144-145; Tucci, op. cit.: 486.
[38]
Dignāga, Pramāṇasanuccaya III: 44a7-b1; IV: 66b4-5.
[39]
Wen Kuei, Jen ming ju cheng li lun shu, Dainippon Zokuzokyo 86, p. 355a9-13.
[40]
Frauwallner, Vasubandhu’s Vādavidhiḥ, p. 144.
[41]
Abhidharmakośa IV 3a-b, LVP pp.4-9.
[42]
Karmasiddhiprakaraṇa, ed. Yamagucchi, Kyoto: Hozokan, 1951: 7.
[43]
Arcata, Hetubinduṭīkā: 62-63.
[44]
Van Heijenoort, From Frege to Godel, Cambridge, Mass: Havard University
Press, 1967: 217.