A
TỲ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN (Q.6)
阿
毘 達 磨 俱 舍 論
Abhidharmakośabhāṣayām
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
PHẨM
THỨ HAI: PHÂN BIỆT CĂN (4).
Đã
nói xong các pháp bất tương ưng hành.
Phần
trước nói, sinh tướng khi sinh khởi pháp sở tướng (hữu
vi) không thể thiếu sự hòa hợp của một số các nhân duyên
khác. Trong đó, pháp gì gọi là nhân duyên[1]?
I.
SÁU NHÂN (saṭ-kāraṇa).
Nhân
có sáu loại. Những gì là sáu?
Văn
Tụng.
Hán:
能
作 及 俱 有
同 類 與 相 應
遍
行 并 異 熟
許 因 唯 六 種
Việt
dịch:
Năng
tác và câu hữu
Đồng loại cùng tương ưng
Biến
hành và dị thục
Nhân chỉ có sáu loại /94/.
Luận
giải thích:
1.Thể
tính.
a.Tổng
quát tên gọi của nhân.
Nhân
có sáu loại: 1.Nhân năng tác. 2.Nhân câu hữu. 3.Nhân đồng
loại. 4.Nhân tương ưng. 5.Nhân biến hành. 6.Nhân dị thục
Các luận sư Hữu bộ (đối pháp Sư) cho rằng nhân chỉ có
sáu loại như vậy.
b.Thể
tính của nhân.
i.Nhân
năng tác[2](Kāraṇa-hetu):
Văn
Tụng.
Hán:
除
自 餘 能 作
Việt
dịch:
Trừ
tự thể, còn lại đều là năng tác /95a/[3].
Luận
giải thích.
Thích
tụng
Nêu
thể.
Tất
cả các pháp hữu vi, chỉ trừ tự thể, lấy tất cả các
pháp làm nhân năng tác. Bởi lẽ, khi nó (hữu vi) sinh khởi,
các pháp còn lại không gây chướng ngại[4].
Thích
danh.
Tuy
tính chất của các nhân khác (năm nhân) cũng là năng tác,
song nhân năng tác không có một danh xưng nào khác; như sắc
xứ, v.v..., nên mặc dù đó là tên chung nhưng cũng chính là
tên riêng vậy[5].
Vấn
đáp phân biệt.
Hỏi:
Há
không phải khi chưa thấu rõ (lý tứ đế), các phiền não[6]
sinh khởi; do đã thấu rõ nên các phiền não không còn sinh;
(như vậy) trí huệ đã làm chướng ngại (āvaraṇa) sự sinh
khởi của các phiền não; hoặc ánh mặt trời ngăn trở khiến
(mắt) không nhìn thấy các vì sao; thế thì đâu có thể nói,
pháp hữu vi, trừ tự thể, lấy tất cả các pháp làm nhân
năng tác được[7]?
Đáp:
Nên
biết, khi phiền não (lậu), nhãn thức sinh, trí huệ và ánh
mặt trời không hề ngăn trở; do đó, trí huệ và ánh mặt
trời đối với phiền não và nhãn thức là nhân năng tác[8].
Hỏi:
Như
đối với sự sinh khởi của pháp nầy, pháp kia có khả năng
ngăn trở nhưng không ngăn trở, (thì nó) có thể được lập
làm nhân; ví dụ như những người dân trong nước, do Quốc
chủ không làm hại, nên đều nói rằng, chúng ta nhờ Quốc
chủ mà có được an lạc. Còn như đối với sự sinh khởi
của pháp nầy, pháp kia không có lực chướng ngại, nên không
chướng ngại, làm sao gọi là nhân được; chẳng hạn như
niết bàn (nirvāṇa-dharma) và pháp bất sinh (anutpatti-dharma)
đối với sự sinh khởi của các pháp hữu vi; hữu tình tương
tục[9] trong địa ngục (na lạc ca)[10], … đối với sự sinh
khởi của các uẩn[11] cõi vô sắc, có cũng như không có,
đều không có công năng chướng ngại.
Đáp:
Tuy
không có tác dụng ngăn ngại nhưng cũng vẫn là nhân; giống
như, Quốc vương vô lực cũng như trước đã nói[12]. Đây
là nói chung tất cả các nhân năng tác (với nghĩa không chướng
ngại). Nếu căn cứ trên mặt mạnh (thắng) mà nói, chẳng
phải không có lực sinh khởi. Ví dụ các pháp như con mắt,
màu sắc, v.v... có lực năng tác (sāmarthya) đối với sự
sinh khởi nhãn thức, v.v...; sự ăn uống có lực năng tác
đối với thân thể; hạt giống, v.v... có lực năng tác đối
với mầm, v.v... [13]
Hỏi:
Nếu
như tất cả các pháp, do không chướng ngại, đều là nhân
năng tác, thế thì vì duyên cớ gì, các pháp lại không đốn
khởi (yaugapadya); khi một người làm việc sát hại, vì duyên
cớ gì mà tất cả những người khác không như người làm
việc giết hại kia, đều thành tựu nghiệp sát (prāṇâtipāta)[14]?
Đáp:
Vấn
nạn đó không đúng. Chỉ do không chướng ngại, chấp nhận
tất cả các pháp là nhân năng tác; chẳng phải do đối với
việc sinh quả, có lực tác động trực tiếp, mạnh mẽ[15].
Hỏi:
Có
các Sư khác nói, nhân năng tác đều có năng lực đối với
sự sinh khởi của quả[16]. Thế thì, niết bàn, v.v... đối
với sự sinh khởi của nhãn thức, như thế nào gọi là lực
năng tác?
Đáp:
Ý
thức (manas) lấy niết bàn làm cảnh sở duyên (ālambana) để
sinh khởi hoặc thiện hoặc ác; từ ý thức nầy, sau đó nhãn
thức, thứ tự sinh khởi, tiếp nối làm nhân; cho nên niết
bàn, v.v... đối với sự sinh khởi của nhãn thức có lực
năng tác. Cũng như vậy, các pháp còn lại từ gốc độ nầy
xoay vần, nên biết, có lực năng sinh.
Như
vậy đã nói xong hành tướng của nhân năng tác.
ii.Nhân
câu hữu (Sahabhū-hetu).
Văn
Tụng.
Hán:
俱
有 互 為 果
如
大 相 所 相
心
於 心 隨 轉
Việt
dịch:
Câu
hữu là hỗ tương làm quả
Như
bốn đại, tướng và sở tướng
Tâm
với tâm tùy chuyển /95bcd/.
Luận
giải thích:
Chánh
biện:
Ý
nghĩa.
Câu
hữu là hỗ tương làm quả: nếu pháp nầy là quả sỹ dụng
của pháp kia thì pháp kia là nhân câu hữu của pháp nầy[17].
Thể
tướng.
Thể
tướng của chúng thế nào?
Như
bốn đại, tướng và sở tướng
Tâm
với tâm tùy chuyển[18] /95bcd/.
Như
bốn đại (catvāri maha-bhūtāni) hỗ tương làm nhân câu hữu
cho nhau.Cũng như vậy, các tướng (catvāri lakṣaṇāni) cùng
với pháp sở tướng, tâm cùng với pháp tùy chuyển của tâm
hỗ tương làm nhân câu hữu.
Nhân
câu hữu do hỗ tương làm quả vì vậy biến nhiếp tất cả
các pháp hữu vi; như theo sở ứng của chúng (bốn đại với
bốn đại, tướng với sở tướng, hoặc tướng với tướng,
tâm với tâm tùy chuyển, tâm tùy chuyển với nhau; đó gọi
là tùy theo chỗ ứng hợp).
(Luận
chủ nêu lỗi của Hữu Bộ) Pháp và tùy tướng (anulakṣaṇa)
chẳng hỗ tương làm quả; nhưng pháp là nhân câu hữu của
tùy tướng; tùy tướng chẳng phải là nhân câu hữu của
pháp[19]. Trong đó nên bàn luận[20].
Tâm
tùy chuyển:
Những
gì gọi là pháp tùy chuyển của tâm (cittânuvartino dharmāḥ)?
Văn
Tụng.
Hán:
心
所 二 律 儀
彼
及 心 諸 相
是
心 隨 轉 法
Việt
dịch:
Tâm
sở, hai thứ luật nghi[21]
các
tướng của chúng và tâm[22]
là
pháp tùy chuyển của tâm /96abc/[23].
Luận
giải thích:
Thể.
Tất
cả các tâm sở, hai thứ tịnh lự vô lậu luật nghi; các
tướng sinh, v.v... trên chúng và tâm; như vậy, đều gọi là
pháp tùy chuyển của tâm[24].
Nghĩa.
Vì
sao các pháp nầy gọi là pháp tùy chuyển của tâm?
Văn
Tụng.
Hán:
由
時 果 善 等
Việt
dịch:
Do
thời, quả, v.v... thiện, v.v... /96d/.
Luận
giải thích:
Tổng
quát.
Một
cách tóm tắt thì, do thời, do quả, v.v..., do thiện, v.v...
cho nên các pháp nầy được gọi là pháp tùy chuyển của
tâm.
Thời
gian (kāla, samaya).
Do
thời: nghĩa là các pháp nầy và tâm cùng sinh, cùng trú, cùng
diệt và cùng trong một đời (nhất thế).
Quả
(phala).
Do
quả, v.v...: nghĩa là các pháp nầy và tâm cùng một quả,
một quả dị thục và một quả đẳng lưu (eka-phala-vipāka-niṣyandatā)[25].
Nên biết trong đó, một trước, một sau, hiển bày tính đồng
thời, tính cùng chung, ý nghĩa không đồng nhau[26].
Ba
tánh (tri-svabhāva).
Do
thiện,v.v...: nghĩa là các pháp nầy và tâm cùng có tánh thiện,
bất thiện, và vô ký.
Kết
luận.
Do
mười nguyên nhân nầy[27] nên gọi là pháp tùy chuyển của
tâm.
Trong
đó[28], tâm vương tối thiểu làm nhân câu hữu cho 58 pháp,
đó là 10 đại địa, 40 bổn tướng của chúng (đại địa),
và tám tướng bổn tùy của tâm. Trong 58 pháp, trừ bốn tùy
tướng của tâm, 54 loại còn lại là nhân câu hữu của tâm.
Có
Thuyết nói,
nhân
câu hữu của tâm chỉ có 14 pháp; đó là mười đại địa
và bốn bổn tướng của tâm.
(Luận
Chủ)
Thuyết
nầy không hợp lý. Vì sao? Vì trái với những điều được
nói trong phẩm Thiên vấn, Phẩm loại túc luận[29], hoặc có
khổ đế (duḥkhârya-satya, duḥkha-satya) lấy thân kiến làm
nhân (satkāya-dṛṣti-hetuka, thân kiến vi nhân), chẳng làm
nhân cho thân kiến (satkāya-dṛṣter-hetuḥ, thân kiến nhân);
trừ các pháp sinh, lão, trú, phi thường trên thân kiến trong
vị lai và trên các pháp tương ưng của chúng[30], cùng các
khổ đế nhiễm ô (kliṣṭaṃ duḥkha-satyam)khác[31]. Hoặc
có khổ đế lấy thân kiến làm nhân, đồng thời làm nhân
cho thân kiến[32], tức các pháp được trừ[33] ở trước.
Có các Sư khác không đề cập đến cụm từ “ và trên các
pháp tương ưng của chúng”[34].
Luận
Sư Tỳ Bà sa nói,
Văn
Phẩm loại túc luận[35] phải nên nói đến cụm từ như vậy;
hoặc nên căn cứ vào nghĩa mà biết rằng, có nói đến cụm
từ kia[36]. Các Luận (諸) đều nói, các pháp do nhân câu hữu
nên thành nhân, pháp kia nhất định là câu hữu; hoặc có
pháp câu hữu chẳng do nhân câu hữu mà thành nhân; đó là:
1.Các tùy tướng đối với bổn pháp. 2.Các tùy tướng đối
với nhau. 3.Các pháp tùy chuyển của tâm, các pháp tùy tướng
đối với tâm. 4.Các tùy tướng nầy xoay vần đối nhau. 5.Tất
cả các pháp câu sinh hữu đối tạo sắc xoay vần đối nhau.
6.Thiểu phần câu sinh vô đối tạo sắc xoay vần đối nhau.
7.Tất cả các pháp câu sinh tạo sắc đại chủng xoay vần
đối nhau. 8.Tất cả các câu sinh đắc cùng với sở đắc
xoay vần đối nhau. Các pháp như vậy tuy gọi là câu hữu
nhưng chẳng do nhân câu hữu tạo thành. Chẳng phải cùng một
quả, một dị thục, và một đẳng lưu cho nên đắc và sở
đắc chẳng có thể nhất định câu hành mà hoặc trước
hoặc sau hoặc câu sinh.
(Kinh
bộ) Tất cả như vậy, theo lý hẳn đã rõ ràng. Song các thứ
giống, v.v... mầm, v.v..., ở thế gian, trong vấn đề nhân
quả tương sinh đã hoàn thành, chưa thấy nhân quả đồng
thời như ở đây[37]. Nay nên nói, trong các pháp tụ câu khởi,
nghĩa nhân quả đồng thời như thế nào?
(Hữu
Bộ) Há không hiện thấy rằng, các thứ đồng thời như ngọn
lửa đèn (đăng diệm) sinh ánh sáng ngọn đèn (đăng minh),
mầm cây sinh bóng cũng là nhân quả ư?
(Kinh
Bộ) Điều nầy nên bàn luận rõ ràng, như vậy chính ngọn
lửa của đèn làm nhân cho ánh sáng (minh) hay là do nhân duyên
hoà hợp từ trước, nay ngọn lửa và ánh sáng cùng khởi.
Các vật (khác) ngăn cản ánh mặt trời, ánh đèn mà có bóng
(ảnh) xuất hiện, tại sao lại nói bóng nầy lấy mầm làm
nhân ?
(Hữu
Bộ) Lý không nên như vậy. Tùy theo có hay không vậy. Thiện
nhân minh luận nói về hành tướng của nhân quả rằng, nhân
nầy có hay không, quả kia tùy theo đó mà có hoặc không; pháp
nầy quyết định là nhân, pháp kia quyết định là quả; (tôi
nói cũng vậy) trong các pháp câu hữu, một pháp có, tất cả
đều có; một không, tất cả đều không; lý thành nhân quả.
(Kinh
Bộ) Nhân quả cùng lúc khởi lên, lý có thể như vậy; nhưng
sao có thể nói hỗ tương nhân quả?
(Hữu
Bộ) Chính do như trước đã nói (một có, tất cả có) nên
điều nầy cũng không trái ngược.
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, như trước nói, các sở tạo sắc hỗ tương,
không thể tách rời, lẽ ra nên hỗ tương làm nhân cho nhau;
cũng như vậy tạo sắc cùng với các đại chủng; các pháp
tùy tướng của tâm, v.v... cùng với tâm, v.v... đều không
thể lìa nhau, nên hỗ tương làm nhân?
(Hữu
bộ) Như nói ba cây gậy hỗ tương để đứng[38]; vậy là
nghĩa nhân quả của các pháp câu hữu thành tựu.
(Kinh
bộ) Điều nầy nên suy nghĩ, ba cây gậy do lực câu khởi
nương nhau mà đứng hay do nhân duyên hoà hợp lực đã sinh
ra từ trước khiến chúng cùng đứng được? Lại nữa, trong
đó, đâu chỉ có ba cây gậy nương nhau đứng, còn có các
vật khác như dây, móc, đất, v.v.. liên kết giữ nhau.
(Hữu
Bộ) Ở đây cũng có các nhân khác như nhân đồng loại, v.v...;
cho nên nghĩa nhân câu hữu được thành tựu.
Nói
xong hành tướng của nhân câu hữu.
iii.Nhân
đồng loại (Sabhāga-hetu).
Hành
tướng như thế nào?
Văn
Tụng.
Hán:
同
類 因 相 似
Việt
dịch:
Nhân
đồng loại là pháp cùng loại
Luận
giải thích:
Ý
nghĩa:
Nhân
đồng loại có nghĩa là pháp cùng loại (sādṛśya-dharmāḥ,
tương tợ pháp) làm nhân cho pháp cùng loại (các pháp cùng
loại làm nhân cho các pháp cùng loại đó gọi là nhân đồng
loại).
Thể
tính:
Thiện
ngũ uẩn (kuśala-panca-skandha) làm nhân đồng loại cho thiện
ngũ uẩn trong khi xoay vần hướng vọng lẫn nhau. Nhiễm ô[39]
ngũ uẩn đối với nhiễm ô ngũ uẩn (kliṣta-panca-skandha);
vô ký ngũ uẩn (avyākṛta-panca-skandha) đối với vô ký ngũ
uẩn trong khi hướng vọng lẩn nhau nên biết, cũng như thế.
(Thuyết 1: triển chuyển vi nhân)
Các
thuyết khác về vô ký ngũ uẩn.
Có
các Luận sư khác nói: với tịnh vô ký ngũ uẩn (vô phú vô
ký ngũ uẩn), năm uẩn là quả của sắc; bốn (uẩn kia) chẳng
phải là nhân của sắc (thuyết 2 ).
Có
các Luận sư khác nói: năm uẩn là quả của bốn uẩn; sắc
chẳng phải là nhân của bốn uẩn (thuyết 3) .
Có
các Luận sư khác nói: sắc đối với bốn uẩn trong khi xoay
vần vọng hướng lẩn nhau, chẳng làm nhân cho uẩn nào cả
(thuyết 4).
Đồng
loại nhân trong một thân:
Lại
nữa, ở trong một thân, yết lặc lam vị có khả năng làm
nhân đồng loại cho cả mười vị[40]; chín vị gồm át bộ
đàm, v.v..., mỗi mỗi, đều trừ tiền vị (yết lặc lam),
cùng làm nhân đồng loại cho các vị còn lại (9 vị). Nếu
đối với các thân khác (thân quá khứ và vị lai) cùng loại,
mười vị, mỗi mỗi đều làm nhân đồng loại cho mười
vị. Cũng như ở phương nầy (Ca thấp di la), những ngoại
vật như lúa mạch, lúa nước, v.v..., từng loại từng loại,
nên suy nghĩ phân biệt đầy đủ. Như (các luận sư Thí dụ
bộ) không chấp nhận sắc pháp làm nhân đồng loại cho sắc
pháp ắt trái với những điều được nói trong Bổn luận
(Phát trí)[41] rằng, đại chủng quá khứ làm nhân (đồng
loại), tăng thượng (duyên) cho đại chủng vị lai, v.v... .
Phân
biệt ngũ bộ (panca-prakāra, panca-nikāyāḥ), cửu địa (nava-bhūmi).
Như
vậy, các pháp cùng loại đối với các pháp cùng loại đều
làm nhân đồng loại?[42]
Không
thể như thế.
Vì
sao ?
Văn
Tụng.
Hán:
自
部 地 前 生
Việt
dịch:
Tự
bộ, tự địa, tiền sinh
Luận
giải thích.
Tự
bộ, tự địa (sva-nikāya-bhū):
Các
pháp trong một nhóm (sva-nikāya), trong một địa vực (sva-bhūmi)
chỉ làm nhân cho các pháp trong cùng nhóm cùng địa vực đó
(tự bộ tự địa); cho nên nói tự bộ tự địa - bộ là
ngũ bộ tức là năm nhóm pháp từ nhóm các pháp được đoạn
trừ khi thấy khổ (kiến khổ sở đoạn, duḥkha-dharśana-prahātavya)
cho đến nhóm các pháp được đoạn trừ ở giai đoạn tu
tập (bhāvanā-prahātavya, tu sở đoạn); địa là chín địa,
tức chín địa vực bao gồm cõi dục là một, tịnh lự và
vô sắc có tám. Trong đó, các pháp được đoạn trừ ở giai
đoạn thấy khổ lại làm nhân đồng loại cho các pháp được
đoạn trừ ở giai đoạn thấy khổ; chẳng làm nhân đồng
loại cho các pháp khác. Cũng như vậy, cho đến các pháp được
đoạn trừ ở giai đoạn tu đạo chỉ làm nhân đồng loại
cho các pháp được đoạn trừ ở giai đoạn tu đạo, chẳng
phải cho các pháp khác. Trong đó, mỗi mỗi pháp nếu ở dục
giới địa lại cùng với dục giới làm nhân đồng loại;
sơ tịnh lự địa cùng với sơ tịnh lự làm nhân đồng loại;
cho đến hữu đảnh cùng với hữu đảnh địa làm nhân đồng
loại. Ở các địa khác nhau không thể có nghĩa nhân đồng
loại.
Lại
nữa, đây cũng chẳng phải là tất cả (nghĩa là với tự
bộ tự địa cũng không phải tất cả đối với tất cả
đều là nhân).
Vì
sao ?
Tiền
sinh (pūrva-jāti):
Đó
là tiền sinh (sinh khởi trước), duy chỉ các pháp sinh khởi
trước làm nhân đồng loại cho các pháp cùng loại sinh khởi
sau, và các pháp chưa sinh (ajāta-dharma)[43].
Làm
sao biết như vậy[44]?
Do
luận Phát trí[45] nói, thế nào là nhân đồng loại? Đó là
các pháp thiện căn sinh trước làm nhân đồng loại cho các
pháp thiện căn sinh sau và các pháp tương ưng của nó trong
cùng một địa vực; cũng như vậy, quá khứ cùng với hai
đời khác (hiện tại vị lai); quá khứ, hiện tại cùng với
vị lai, v.v... đều nên nói rộng rãi.
Sáu
vấn nạn (nếu vị lai không có nhân đồng loại).
(1).Không
lúc nào là không nhân.
(Kinh
bộ) Song, chính luận Phát trí lại đặt câu hỏi rằng, như
pháp nầy cùng với pháp kia làm nhân; liệu có lúc pháp nầy
đối với pháp kia chẳng phải là nhân? Luận đáp, không lúc
nào là không[46].
(Luận
Chủ) Nên biết, ở đây dựa vào ba nhân câu hữu, tương ưng,
dị thục mà trả lời một cách kín đáo nên không có lỗi[47].
(Bà
sa) Có luận sư nói, pháp ở chánh sinh vị (utpadyamānâvastha)
trong vị lai nhất định làm nhân đồng loại cho pháp trước
sinh tướng của nó; cho nên văn Phát trí dựa vào tối hậu
vị (caramâvasthā), trả lời một cách kín đáo, không lúc
nào chẳng phải là nhân[48].
(Luận
chủ) Cách giải thích vấn nạn không xác đáng; bởi lẽ,
các pháp vị lai trước chánh sinh vị chẳng phải là nhân
đồng loại, đến sinh tướng vị mới thành nhân.
Lại
nữa nếu vậy, Luận kia lại hỏi rằng, như pháp nầy làm
đẳng vô gián duyên cho pháp kia; liệu có lúc nào pháp nầy
đối với pháp kia không phải là đẳng vô gián duyên chăng
? Đáp, khi pháp nầy chưa đến dĩ sinh (aprāpta-jāta)[49];
Nếu
như theo cách giải thích đó, lẽ ra nên đáp, không lúc nào
là không duyên; tại sao lại đáp khi pháp nầy chưa đến dĩ
sinh?
Song
Sư kia lại giải thích, tóm lượt qua hai cách: 1) Như nói ở
nơi kia, ở đây cũng như vậy. 2) Như nói ở đây, nơi kia
cũng như vậy[50].
(Luận
chủ bình, thủ ý thứ ba).Nêu lên đoạn văn như vậy với
mục đích gì? Chỉ với mục đích cho thấy rằng, Luận chủ
phát trí chẳng khéo léo trong đoạn văn nầy[51]. Do đó nên
biết, giải thích trước là hợp lý (giải thích ba nhân trước;
do lý đó nên, nhân đáp vô thời phi nhân; duyên đáp vị chí
dĩ sinh).
(2).
Nạn khổ đế nhiễm ô.
(ngoại
nhân) Nếu vậy, vì cớ gì, Phẩm loại túc luận nói, hoặc
có khổ đế lấy thân kiến làm nhân; chẳng làm nhân cho thân
kiến; trừ thân kiến trong vị lai và các pháp khổ đế tương
ưng với nó cùng các khổ đế nhiễm ô khác; Hoặc có khổ
đế lấy thân kiến làm nhân; đồng thời cũng làm nhân cho
thân kiến; tức các pháp được trừ ở trên[52].
(Luận
Chủ) Văn kia đúng ra nên nói trừ các pháp khổ đế tương
ưng với thân kiến vị lai; giả thiết như văn kia có nói
(và của chúng), nhưng căn cứ vào nghĩa, ắt biết là chẳng
phải[53].
3.
(Nhân quả quyết định nạn) Lại nữa, làm sao thông hợp
với Phẩm loại túc luận, nói rằng, bốn vấn đề quyết
định của các pháp. Đó là nhân, quả, sở y, sở duyên[54]?
(Thông
nạn) Nên biết, Văn kia nói nhân là các nhân năng tác, câu
hữu, tương ưng, dị thục[55]; quả là các quả tăng thượng,
sỹ dụng, dị thục; sở y là sáu căn mắt, v.v...; sở duyên
là sáu cảnh sắc, v.v....
4.
(Bổn vô nhi hữu nạn) Nếu vậy, nhân đồng loại trước
không nay có[56].
Chấp
nhận (trước không nay có) không có lỗi gì; bởi lẽ căn
cứ vào vị, chứ chẳng phải căn cứ vào thể; tức từ quả
của sự hoà hợp tác dụng ở giai đoạn (vị) quá khứ, hiện
tại; chẳng phải là quả của thể[57].
5.
(Phi tâm nhân pháp nạn) Nếu nhân đồng loại có ở vị lai,
cũng giống như dị thục nhân, có lỗi gì nào[58]?
Nếu
có ở vị lai thì luận Phát trí nên nói.
Luận
Phát trí chỉ nói các nhân đồng loại năng thủ quả và tạo
quả (trong quá khứ và hiện tại; không nói vị lai không thủ
quả và tạo quả) cho nên không có lỗi.
(Luận
Chủ) Không có nghĩa như vậy. Bởi lẽ, nhân đồng loại đưa
đến quả đẳng lưu, nếu nhân đồng loại có trong vị lai,
lý nhất định không thể, vì vị lai không có trước sau[59].
Không nên nói các pháp đã sinh khởi trong quá khứ, hiện tại
làm quả đẳng lưu của pháp trong vị lai. Cũng như pháp quá
khứ chẳng phải là quả của các pháp hiện tại. Chớ nên
phạm lỗi quả trước nhân sau. Do đó, vị lai không có nhân
đồng loại.
6.
(hỗ vi nhân quả nạn) Nếu vậy, nhân dị thục, ở vị lai,
không nên có; bởi lẽ, không thể quả dị thục có trước
hoặc đồng thời với nhân được[60] vì các pháp vị lai
không có trước sau.
(Luận
Chủ) Không có lỗi như vậy; vì (quả dị thục) không phải
là pháp cùng loại. (Trong khi đó) nhân đồng loại với quả
là pháp cùng loại, nếu không có trước sau ắt hỗ tương
làm nhân; đã hỗ tương làm nhân thì cũng hỗ tương làm quả;
hỗ tương làm nhân quả là trái ngược với lý. Nhân dị
thục đối với quả, không phải là pháp cùng loại, nên tuy
không có trước sau nhưng không có lỗi trên. Do vậy, nhân
đồng loại căn cứ vào tác dụng vị trong hiện tại để
kiến lập, vị lai không thể có. Nhân dị thục căn cứ vào
thể tướng để kiến lập, vị lai chẳng phải không.
Đạo
đế trong chín địa:
Tụng
Hán
道
展 轉 九 地
Việt
dịch.
Đạo
đế xoay vần trong chín địa.
Luận
giải thích.
Hữu
lậu
Nói
rằng, nhân đồng loại chỉ có ở tự địa là căn cứ vào
đâu? Căn cứ vào pháp hữu lậu.
Vô
lậu.
Nếu
Vô lậu đạo trong tương quan chuyển biến, mỗi mỗi đều
là nhân của chín địa; nghĩa là đạo đế trong chín địa
gồm vị chí định, trung gian tịnh lự, bốn căn bổn định
(tứ thiền) ba bổn vô sắc đều hỗ tương làm nhân. Lý do
vì sao ? Vì vô lậu đạo nầy đối với các địa đều như
khách trú, không bị nhiếp vào giới địa, cũng chẳng bị
các địa ái chấp làm sở hữu riêng. Cho nên vô lậu đạo
trong chín địa, tuy địa không giống nhau nhưng xoay vần làm
nhân cho nhau, do đồng loại vậy.
Sự
khác nhau.
Tụng.
Hán
唯
等 勝 為 果/97/
Việt
dịch.
chỉ
có pháp bằng hoặc hơn làm quả.
Luận
giải thích.
Bằng
hoặc hơn (sama-viśiṣṭa):
Song
(các pháp vô lậu) chỉ làm nhân cho các pháp vô lậu ngang
bằng hoặc cao hơn; chẳng thể làm nhân cho các pháp thấp
hơn (hīna), vì chúng do da hạnh sinh (prayoga-ja)vậy.
Trong
ba đạo.
Vả
lại như khổ pháp trí nhẫn (duḥkha-dharma-jnāna-kṣānti)đã
sinh lại làm nhân đồng loại cho khổ pháp trí nhẫn vị lai;
đó gọi là ngang bằng. Lại nữa, chính nhẫn nầy làm nhân
đồng loại cho từ khổ pháp trí (duḥkha-dharma-jnāna) đến
vô sinh trí (anutpāda-jnāna) ở sau; đó gọi là cao hơn. Như
vậy, nói rộng ra, cho đến các vô sinh trí đã sinh chỉ làm
nhân đồng loại cho pháp ngang bằng, không có pháp cao hơn.
Các
pháp kiến đạo, tu đạo và vô học đạo đã sinh, tùy theo
thứ tự, làm nhân đồng loại cho ba, hai, một.
Với
độn và lợi căn (mṛdu-tīkṣṇêdriya).
Trong
đó, các đạo của hàng độn căn (mṛdv-indriya) làm nhân đồng
loại cho các đạo của độn và lợi căn; nếu đạo của
hàng lợi căn (tīkṣṇêdriya), chỉ làm nhân đồng loại cho
đạo của lợi căn.
Như
các đạo tùy tín hành (śraddhânayusārin-mārga) và tín thắng
giải (śraddhâdhimukta-mārga), thời giải thoát (sama-vimukta-mārga),
theo thứ tự của chúng, làm nhân đồng loại cho sáu, bốn,
hai.
Nếu
các đạo tùy pháp hành (dharmânusārin), kiến chí (dṛṣṭi-prāpta-mārga),
phi thời giải thoát (asamaya-vimukta-mārga), theo thứ tự của
chúng, làm nhân đồng loại cho ba, hai, một.
Các
đạo thượng địa làm nhân đồng loại cho hạ địa, như
thế sao lại nói hoặc bằng hoặc cao hơn?
Do
nhân tăng trưởng và do căn vậy (tức do nhân dần dần tăng
trưởng và do căn độn, lợi, chẳng phải do địa có trên
dưới khiến đạo có cao thấp); nghĩa là chín phẩm từ hạ
hạ… của ba đạo kiến, v.v..., ở trong các vị sau, nhân
dần dần tăng trưởng.
(Ở
kiến đạo vị) tuy trong cùng một tương tục, nhưng không
thể có hai đạo tùy tín hành và tùy pháp hành cùng khởi;
mà pháp (tùy tín hành) đã sinh làm nhân cho pháp vị lai (tùy
pháp hành) .
Chỉ
có thánh đạo mới làm nhân đồng loại cho các pháp bằng
và cao hơn chăng ?
Không
như vậy
Tại
sao ?
Pháp
da hạnh:
Tụng
Hán.
加
行 生 亦 然 /98ab/.
Việt
dịch.
Pháp
do da hạnh sinh cũng vậy
Luận
giải thích.
Các
pháp thế gian do da hạnh sinh cũng làm nhân đồng loại cho
pháp bằng, cao hơn; không thể cho pháp thấp.
Pháp
do da hạnh sinh, thể của nó thế nào ?
Tụng.
Hán.
聞
思 所 成 等
Việt
dịch.
Được
thành tựu do nghe, suy nghĩ, v.v…
Luận
giải thích.
Thể
của da hạnh.
Đó
là các pháp được thành tựu do nghe, do suy nghĩ (tư), v.v...
Chữ V.V... (đẳng) chỉ cho các pháp được thành tựu do tu,
v.v... Các công đức sinh ra từ sự nghe ngóng, suy nghĩ, tu tập
gọi là sở thành của nghe, nghĩ và tu vậy.
Bằng
hoặc cao hơn.
Ở
cõi dục.
Vì
do da hạnh sinh nên chỉ làm nhân cho các pháp ngang và cao hơn.
Chẳng hạn ở cõi Dục, các pháp do nghe thành tựu làm nhân
đồng loại cho các pháp được thành tựu bởi nghe, nghĩ cùng
cõi; chẳng làm nhân cho các pháp do tu tập thành tựu vì không
có ở cõi Dục. Pháp do suy nghĩ thành tựu làm nhân đồng
loại cho các pháp do suy nghĩ thành tựu; chẳng làm nhân cho
pháp do nghe thành tựu vì (pháp nầy) thấp hơn (liệt).
Ở
cõi sắc.
Ở
cõi Sắc, các pháp do nghe thành tựu làm nhân đồng loại cho
các pháp được thành tựu bởi nghe và tu cùng cõi; chẳng
làm nhân cho pháp được thành tựu bởi suy nghĩ vì không có
ở cõi Sắc. Pháp do tu tập thành tựu chỉ làm nhân đồng
loại cho pháp được thành tựu bởi tu cùng một cõi; chẳng
làm nhân cho pháp được thành tựu bởi nghe vì (pháp nầy)
thấp hơn.
Ở
cõi vô sắc.
Ở
cõi Vô sắc, pháp thành tựu do tu chỉ làm nhân đồng loại
cho pháp được thành tựu bởi tu cùng cõi; chẳng làm nhân
cho các pháp được thành tựu bởi nghe và nghĩ, vì ở đây
không có, vì (các pháp kia) thấp hơn vậy.
Chín
phẩm.
Như
vậy, các pháp lại có chín phẩm – pháp hạ hạ phẩm làm
nhân cho các pháp ở chín phẩm; pháp hạ trung làm nhân cho
tám; cho đến thượng thượng chỉ làm nhân cho thượng thượng;
trừ các pháp trước vì thấp hơn.
Các
pháp sinh đắc thiện trong chín phẩm tương quan với nhau, xoay
vần làm nhân cho nhau. Các pháp nhiễm ô cũng vậy.
Pháp
vô phú vô ký có cả thảy bốn loại; đó là dị thục sinh
(vipāka-ja), oai nghi lộ (īryā-patha),công xảo xứ (śailpasthānika),
biến hoá câu phẩm (nairmāṇika)[61], tùy theo thứ tự của
chúng, làm nhân cho ba, hai, một.
Lại nữa, ở cõi Dục, biến hoá tâm có bốn quả tịnh lự[62];
quả tịnh lự trên không thể làm nhân cho quả tịnh lự dưới;
vì nhân là các pháp do da hạnh nên không thể thành tựu quả
thấp hơn. Chẳng hạn như ra sức trồng trọt các giống lúa
mạch, lúa nước, v.v... vậy. Chớ cho rằng, siêng năng khổ
nhọc mà không có thu hoạch. Ý nghĩa của nhân là như vậy.
Vấn
đáp phân biệt.
Có
người hỏi: Có phải có các pháp vô lậu đã sinh chẳng làm
nhân cho các pháp vô lậu ở vị sinh vị chăng ?
Đáp:
Có.
Đó là khổ pháp trí phẩm đã sinh (trong quá khứ, hiện tại)
đối với khổ pháp nhẫn phẩm ở (vị lai) vị sinh vị; lại
nữa, (đó là) tất cả các pháp (đã sinh) cao hơn đối với
các pháp (chưa sinh) thấp hơn.
Hỏi:
Trong
một thân, có các pháp vô lậu quyết định thành tựu trước
chẳng làm nhân cho các pháp sinh sau chăng ?
Đáp:
Có.
Đó là khổ pháp nhẫn phẩm ở vị lai (trước) đối với
khổ pháp trí phẩm đã sinh trong quá khứ, hiện tại (sau)
vì rằng, quả không thể có trước nhân; hoặc nhân đồng
loại trong vị lai không có vậy.
Hỏi:
Có
các pháp vô lậu đã sinh khởi trước chẳng làm nhân cho các
pháp vô lậu sinh khởi lúc sau chăng ?
Đáp:
Có.
Đó là các pháp vô lậu cao hơn đã sinh khởi trước đối
với các pháp vô lậu thấp hơn sinh vào lúc sau. Như từ thượng
quả (vô học) thối lui, hạ quả (bất hoàn) hiện tiền. Lại
nữa, đắc trên khổ pháp trí đã sinh khởi trước đối với
đắc trên khổ pháp nhẫn sinh khởi sau, chẳng phải là nhân
đồng loại vì thấp hơn vậy.
Như
vậy đã nói xong về hành tướng của nhân đồng loại.
iv.
Nhân tương ưng (Saṃprayuktaka-hetu).
Văn
Tụng.
Hán:
相
應 因 決 定
心
心 所 同 依 /98cd/.
Việt
dịch:
Nhân
tương ưng, quyết định
Là
các tâm, tâm sở cùng sở y[63]
Luận
giải thích:
Nêu
thỂ.
Chỉ
có tâm và tâm sở là nhân tương ưng[64].
Nếu
vậy, (các tâm tâm sở có) sở duyên và hành tướng khác nhau
cũng nên làm nhân tương ưng cho nhau[65].
Không
thể như vậy; phải là sở duyên, hành tướng giống nhau (ekâkārâlambana,sở
duyên hành tướng đồng) mới được gọi là tương ưng[66].
Nếu
vậy, sở duyên (ālambana), hành tướng (ākāra) giống nhau,
(nhưng) khác thời gian nên nói là nhân tương ưng?
Không
thể như vậy; cần phải có sở duyên, hành tướng và thời
gian giống nhau mới gọi là tương ưng.
Nếu
vậy, sở duyên, hành tướng và thời gian giống nhau (nhưng)
khác thân[67], nên gọi là tương ưng; như mọi người cùng
xem các hiện tượng như “trăng đầu tháng”, v.v...
Với
mục đích dùng một danh từ để ngăn chận những vấn nạn
như vậy cho nên nói “đồng y”; nghĩa là cần phải đồng
y (samâśraya), các pháp tâm tâm sở mới có thể làm nhân tương
ưng cho nhau. Trong đó, nói “đồng” cho thấy rằng sở y
là một. Chẳng hạn, nhãn thức dùng nhãn căn trong sát na nầy
làm sở y thì các pháp tương ưng như thọ, v.v... cũng dùng
nhãn căn nầy làm sở y. Cho đến, ý thức và pháp tương ưng
cùng nương vào ý căn, nên biết cũng như vậy.
Phân
biệt.
Hỏi:
Thể
của nhân tương ưng chính là nhân câu hữu; như vậy, nghĩa
của hai nhân đó khác nhau thế nào[68]?
Đáp:
Do
ý nghĩa hỗ tương làm quả, lập nên nhân câu hữu; cũng giống
như người buôn và lữ khách cùng nương nhau đi qua con đường
nguy hiểm[69]. Do năm nghĩa cùng tương ưng bình đẳng, lập
nên nhân tương ưng; tức giống như người buôn cùng lữ khách
cùng chung các việc như thọ nhận, ăn, v.v...[70]; trong đó,
thiếu một, không thể tương ưng. Cho nên đã thành tựu nghĩa
hỗ tương làm nhân.
Như
vậy, đã nói xong hành tướng của nhân tương ưng..
v.
Nhân biến hành (Sarvatraga-hetu).
Văn
Tụng.
Hán:
遍
行 謂 前 遍
為
同 地 染 因
Việt
dịch:
Biến
hành là tiền biến
làm
nhân cho pháp nhiễm ô, cùng cõi /99ab/.
Luận
giải thích:
Thể.
Nhân
biến hành là các pháp biến hành đã sinh khởi trước làm
nhân biến hành cho các pháp nhiễm ô cùng cõi (tự địa) sinh
khởi sau.
Các
pháp biến hành sẽ được nói đầy đủ trong Phẩm tùy miên,
phần ý nghĩa biến hành.
Các
khác biệt.
Nhân
biến hành là thông nhân của các pháp nhiễm ô; cũng là nhân
của các nhóm pháp nhiễm ô khác; do đó, ngoài nhân đồng
loại, lập riêng ra nó vậy; và do thế lực của nhân biến
hành nầy, các nhóm phiền não khác[71] và quyến thuộc của
chúng cũng sinh trưởng[72].
Các
pháp nhiễm ô trong thân bậc Thánh, cũng lấy pháp biến hành
làm nhân biến hành chăng ?
Các
Luận sư tỳ bà sa nói, tất cả các pháp nhiễm ô đều lấy
các pháp nhiễm ô thuộc kiến sở đoạn làm nhân[73] (nhân
pháp: là pháp làm nhân); cho nên, Phẩm loại túc luận[74] nói,
pháp nào lấy pháp được đoạn trừ bởi kiến đạo làm
nhân? Đó là các pháp nhiễm ô và các quả dị thục được
chiêu cảm từ pháp được đoạn trừ ở kiến đạo[75].
Pháp
nào lấy pháp vô ký làm nhân ? Đó là các pháp hữu vi vô
ký, các pháp bất thiện.
Hoặc
có khổ đế lấy thân kiến làm nhân; chẳng làm nhân cho thân
kiến, cho đến nói rộng ra, trừ các pháp sinh, lão, trú, phi
thường trên thân kiến trong vị lai và trên các pháp tương
ưng của thân kiến, cùng các khổ đế nhiễm ô khác.
Nếu
vậy làm sao thông hợp với Thi thiết túc luận[76] nói rằng,
vả lại có pháp bất thiện chỉ làm nhân cho pháp bất thiện
chăng? Có. Đó là thánh nhân ly dục thối thất, tối sơ khởi
tư duy nhiễm ô[77].
Dựa
vào nhân chưa đoạn, mật ý nói như vậy. Pháp được đoạn
trừ bởi kiến đạo tuy là nhân của pháp nhiễm ô nhưng do
đã đoạn cho nên không nói đến[78].
Như
vậy đã nói xong hành tướng của nhân biến hành.
vi.
Nhân dị thục (Vipāka-hetu).
Văn
Tụng.
Hán:
異
熟 因 不 善
及
善 唯 有 漏
Việt
dịch:
Nhân
dị thục là bất thiện
và
thiện, thuộc hữu lậu /99cd/.
Luận
giải thích:
Thích
tụng.
Thể.
Chỉ
các pháp bất thiện và thiện hữu lậu là nhân dị thục,
pháp dị thục vậy[79].
Quyết
trạch.
Vì
duyên do gì, pháp vô ký không chiêu cảm quả dị thục ? vì
lực yếu kém; như hạt giống bị hư.
Vì
duyên do gì, pháp vô lậu không chiêu cảm quả dị thục ?
vì không thấm nhuần ái; như hạt giống tốt (trinh thật)
nhưng không được tưới tẩm. Lại nữa, pháp ở cõi phi hệ
(vô lậu) làm sao lại chiêu cảm quả dị thục hệ địa (hữu
lậu). Các pháp khác (thiện, bất thiện hữu lậu) có đủ
hai điều kiện cho nên chiêu cảm (quả dị thục); như hạt
giống tốt và được tưới tẩm.
Ý
nghĩa.
Nghĩa
của nhân dị thục, phải hiểu thế nào; là nhân của dị
thục nên gọi nhân dị thục hay dị thục là nhân nên gọi
nhân dị thục ?
Nghĩa
bao gồm cả hai giải thích, có vấn đề gì.
Nếu
nhân của dị thục nên gọi nhân dị thục thì thánh giáo
lẽ ra không nên nói dị thục sinh nhãn; nếu dị thục là
nhân nên gọi nhân dị thục thì lẽ ra thánh giáo không nên
nói dị thục của nghiệp.
Cả
hai giải thích đều hợp lý. Như phần trước đã bàn[80].
Nói
dị thục, ý nghĩa thế nào ?
Luận
Sư Tỳ Bà Sa giải thích: khác loại mà chín (thục) là nghĩa
dị thục[81]; nghĩa là nhân dị thục chỉ đưa đến quả
khác loại (dị loại thục). Các nhân như câu hữu, v.v... đưa
đến quả cùng loại (đồng loại thục). Duy chỉ nhân năng
tác đưa đến quả vừa giống vừa khác (đồng dị thục).
Cho nên chỉ có nhân nầy gọi là nhân dị thục.
(Luận
Chủ nói tông nghĩa Kinh Bộ) Thục quả (nầy) không thể do
năm nhân kia tạo nên; bởi quả phải đủ hai nghĩa mới được
gọi là thục - một, do chuyển biến liên tục, khác nhau khiến
thể của nó sinh khởi; hai, do tùy thuộc vào thế lực mạnh
yếu của nhân khiến thời gian có hạn lượng khác nhau[82]
(10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn). Chẳng phải như hai nhân câu
hữu và tương ưng tạo nên thể của quả, không cần phải
chuyển biến liên tục, khác nhau, mới khiến sinh khởi, do
vì khi cảm quả cũng chính là tạo quả . Lại chẳng phải
như quả của ba nhân năng tác, đồng loại và biến hành,
không do tùy thuộc vào thế lực mạnh yếu của nhân khiến
thời gian có hạn lượng; do vì thiện, ác, v.v... tận cùng
biên giới sinh tử, khiến quả luôn luôn sinh khởi nên thời
gian không có hạn lượng. Do đó, chỉ nên giải thích như
thế nầy: biến khác mà chín là nghĩa dị thục; không nên
chỉ lấy tính dị, mà giản biệt với các nhân khác.
Tam
giới ngũ uẩn.
Cõi
Dục.
Ở
cõi Dục, có lúc, một uẩn làm nhân dị thục chiêu cảm một
quả; đó là đắc của pháp hữu ký (hành uẩn) và (bốn tướng)
sinh, v.v... của đắc; có lúc, hai uẩn làm nhân dị thục cùng
chiêu cảm một quả; đó là các nghiệp thân ngữ thiện, bất
thiện và (bốn tướng) sinh, v.v... của chúng. (thân ngữ thuộc
sắc uẩn, bốn tướng thuộc hành uẩn); có lúc bốn uẩn
làm nhân dị thục cùng chiêu cảm một quả; đó là các pháp
thiện, bất thiện, tâm, tâm sở và (bốn tướng) sinh, v.v..
của chúng.
Cõi
Sắc.
Ở
cõi Sắc, có lúc, một uẩn làm nhân dị thục chiêu cảm một
quả; đó là đắc của pháp hữu ký trong định vô tưởng
(đẳng chí) và (bốn tướng) sinh, v.v... của nó (đắc và
bốn tướng đều thuộc hành uẩn); có lúc, hai uẩn làm nhân
dị thục cùng chiêu cảm một quả; đó là thiện hữu biểu
nghiệp ở sơ tịnh lự và tướng sinh, v.v... của nó; có lúc,
bốn uẩn làm nhân dị thục cùng chiêu cảm một quả; đó
là phi đẳng dẫn thiện, tâm, tâm sở và sinh tướng, v.v...
của chúng. Có lúc năm uẩn làm nhân dị thục cùng chiêu cảm
một quả; đó là các pháp đẳng dẫn, tâm, tâm sở cùng với
tùy chuyển và tướng sinh, v.v... của chúng.
Cõi
Vô sắc.
Ở
cõi Vô sắc, có lúc, một uẩn làm nhân dị thục chiêu cảm
một quả; đó là đắc của pháp hữu ký ở diệt tận định
và tướng sinh, v.v... của nó. Có lúc, bốn uẩn làm nhân dị
thục cùng chiêu cảm một quả; đó là tất cả thiện, tâm,
tâm sở và tướng sinh, v.v... của chúng.
Cảm
xứ.
Có
nghiệp chỉ chiêu cảm nhất xứ dị thục; đó là chiêu cảm
pháp xứ tức mạng căn, v.v...; như chiêu cảm ý xứ, quyết
định chiêu cảm hai xứ; đó là ý xứ và pháp xứ. Nếu chiêu
cảm xúc xứ, nên biết cũng vậy. Nếu chiêu cảm thân xứ,
quyết định chiêu cảm ba xứ; đó là thân xứ, xúc xứ và
pháp xứ.. Chiêu cảm sắc, hương, vị, nên biết cũng như
vậy. Nếu chiêu cảm nhãn xứ, quyết định chiêu cảm bốn
xứ; đó là chiêu cảm nhãn xứ và thân xứ, xúc xứ, pháp
xứ. Chiêu cảm nhĩ tỷ thiệt, nên biết cũng như vậy. Có
nghiệp chiêu cảm hoặc năm, hoặc sáu hoặc bảy hoặc tám
hoặc chín hoặc mười hoặc mười một xứ (tùy sở ứng,
tùy lực); bởi lẽ, nghiệp hoặc có nhiều quả hoặc có ít
quả; giống như quả của những loại cây ngoại giới, hoặc
nhiều hoặc ít; loại ít quả như lúa, lúa mạch, v.v...; loại
nhiều quả như sen, thạch lựu, nặc cù đà, v.v... .
Có
loại nghiệp một đời chiêu cảm quả ba đời; không có nghiệp
ba đời chiêu cảm quả một đời; chớ cho rằng gắng gỗ
công sức mà quả ít hơn nhân; có nhất niệm nghiệp chiêu
cảm nhiều niệm dị thục; không có nhiều niệm nghiệp lại
chiêu cảm một niệm dị thục. Trong đó, nên biết lý do như
trên.
Song
quả dị thục không thể có cùng lúc với nghiệp; tức là
chẳng phải ngay khi tạo nghiệp liền nhận quả; cũng chẳng
phải do vô gián sinh mà do lực của đẳng vô gián duyên trong
sát na tiếp theo dẫn sinh; cũng chẳng phải do nhân dị thục
chiêu cảm quả khác loại vì cần phải đợi sự tương tục
mới hoàn thành.
Sáu
nhân như vậy, quyết định ở đời nào, quyết định ở
cõi nào, ý nghĩa đã được nói, nhưng chưa tóm tắt trong
tụng cho nên nay nói thêm,
Tụng
nói:
Hán:
遍
行 與 同 類
二
世 三 世 三
Việt
dịch:
Biến
hành cùng đồng loại
hai
đời, ba đời ba /100ab/.
Luận
giải thích:
Hai
nhân biến hành và đồng loại chỉ có ở quá khứ, hiện
tại, không có ở vị lai. Lý lẽ như trước đã nói. Ba nhân
tương ưng, câu hữu, dị thục đều cùng có mặt trong cả
ba đời. Văn Tụng không nói nhân năng tác ở đâu, theo nghĩa
nên biết, thông cả tam thế và phi thế.
Nói
xong về hành tướng và chỗ ở quyết định (trong ba đời)
của sáu nhân.
dịch
Việt: Thích Phước Viên
[1]
Nguyên văn, 前 言 生 相 生 所 生 時 非 離 所 餘 因 緣 和
合 . 此 中 何 法 説 為 因 緣 ? Cđ. Thích luận q.4, tr.188a
22 於 前 已 説 偈 謂 生 能 生 應 生 不 離 因 及 緣 . 此
中 何 法 名 因 ? 何 法 名 緣 ? Nhân 因 Skt. Hetu. Duyên
緣 Skt. Pratyaya.
[2]
Năng tác 能 作 . Cđ. Tuỳ tạo 隨 造. Skt. kāraṇa.
[3]
Cđ. Thích luận q.04,tr.188a27, 除 自 餘
隨 造 。
[4]
Nguyên văn, 由 彼 生 時 無 障 住 故 。 Cđ. Thích luận q.04,tr.188a29,
對 彼 生 住 不 為 障 礙 故 Bảo sớ q 6, tr.556b 11 Nêu thể
của nhân năng tác có hai - một, nêu tổng quát tức lấy tất
cả các pháp hữu vi làm thể; hai, đối quả nêu thể tức
trừ tự thể, lấy tất cả các pháp còn lại làm nhân; bởi
lẽ khi nó (pháp hữu vi) sinh khởi không bị chúng làm chướng
ngại.
[5]Quang
ký q.6,tr.113a 01, trong sáu nhân, tuy năm nhân kia, căn cứ vào
tính chất không gây trở ngại cho sự tồn tại của tất
cả các pháp thì cũng được gọi là nhân năng tác; song, chúng
đều có tên gọi riêng nên theo đó để gọi. Nhân năng tác
không có tên riêng cũng giống như sắc xứ… nên
lấy tên chung mà gọi thành tên riêng vậy.
[6]
Hán 煩 惱 . Cđ. 惑. Skt. kleśa .
[7]
Nguyên văn 如 何 有 為 唯 除 自已 體 大 一 切 法 為 能
作 因 . Cđ. Thích luận q.4,tr.188b 03 云 何 一 切 法 離
自 體 於 有 為 法 立 為 隨 造 因
[8]
Quang ký q.6,tr.113a 10 trí huệ khởi lên, ánh mặt trời chiếu
sáng, đối với phiền não và sự thấy của mắt thật sự
gây chướng ngại. Nhưng phải biết rằng, khi phiền não sinh
khởi và khi mắt nhìn các vì sao, trí huệ và ánh mặt trời
không hề gây chướng ngại. Do đó, trí huệ và ánh mặt trời,
đối với phiền não và mắt, chính là nhân năng tác vậy.
[9]Ht.
情 相 續 . Cđ. 陰 . sattva-saṃtāna.
[10]
Ht. 那 落 迦 . Cđ. 地 獄 . Skt. Nāraka.
[11]
Nguyên văn 蘊 . Cđ. 蔭 . Skt. skandha.
[12]
Quang ký q.06,tr.113a 16 Chẳng hạn như các pháp niết bàn,v.v…
tuy đối với sự sinh khởi của các pháp hữu vi không có
năng lực gây chướng ngại nên không thể khởi dụng nhưng
cũng vẫn là nhân; bởi lẽ, khi các pháp hữu vi (quả) sinh
khởi, chúng không gây chướng ngại. Cũng giống như vị quốc
vương vô lực tuy không có khả năng gây tổn hại nhưng cũng
vẫn được nói như trước rằng, chúng ta nhờ quốc vương
mà đặng yên ổn. Bảo sớ q.06,tr.557a 01 Tuy các pháp có chướng
lực và không có chướng lực khác nhau nhưng đối với sự
sinh khởi của các pháp hữu vi, đều không gây chướng ngại
là điểm giống nhau; do đó cả hai trường hợp đều là nhân.
[13]
Quang ký q.06, tr.113a 19, Đây là nói chung về tất cả
các nhân năng tác với nghĩa không gây chướng ngại. Nêu trong
nhân năng tác, căn cứ vào nghĩa rộng mà nói thì không phải
không có lực sinh khởi.
[14]
Bảo sớ q.06, tr.557a14, nhân đã thường xuyên có mặt ắt
quả phải đốn khởi; đã cùng là nhân sát hại ắt đều
bị tội sát.
[15]
Quang ký q.06, tr.113a 24 Chỉ căn cứ vào sự không gây chướng
ngại mà chấp nhận là nhân năng tác; chứ chẳng phải dựa
vào lực tác động trực tiếp từ năm nhân kia đối với
sự sinh khởi của các pháp hữu vi (quả).
[16]
Quang ký q.06, tr.113a 28, Như trước đã nói, nhân năng
tác có trực tiếp, có gián tiếp; trực tiếp thì có lực
sinh khởi, gián tiếp chỉ có công năng không gây chướng ngại.
Nay, ý của các vị Sư nầy là, nhân năng tác đối với sự
sinh khởi quả đều có lực năng tác.
[17]
Quang ký q.06, tr.113b 23, Đoạn nầy giải thích rằng, các pháp
được gọi là nhân câu hữu khi chúng hỗ tương làm quả
cho nhau.
[18]
Nguyên văn, 如 大 相 所 相,心 於 心 隨 轉 . Cđ. 如 大 心
心 法, 隨 心 相 所 相 .
[19]
Quang ký q.06, tr.113c08, nếu lấy nghĩa hỗ tương làm quả gọi
là nhân câu hữu thì, pháp và tuỳ tướng không phải hỗ
tương làm quả cho nhau. Tuy tuỳ tướng là quả của pháp,
nhưng pháp chẳng phải là quả của tuỳ tướng cho nên nói
là chẳng phải hỗ tương làm quả.
[20]
Quang ký q.06, tr.113c12 Trong đó nên bàn luận Nếu theo các nhà
bình luận trong Bà sa quyển 16, tr. 81b 11 thì, có cùng chung
một quả là nhân câu hữu. Chánh lý q.15, tr. 417c 25, các pháp
hữu vi cùng có một quả có thể làm nhân câu hữu cho nhau.
[21]
Ht. Nhị luật nghi 二 律 儀 . Skt. Dvi-saṃvara; dvi-śīla: tịnh
lự luật nghi 靜 慮 律 儀, dhyāna-saṃvara, dhyāna-śīlaṃ
và vô lậu luật nghi 無 漏 律 儀 anāsrava-saṃvara, anāsrava-śīlam
. Cđ. Thích luận, Q.04, tr.188c 04, Nhị hộ 二 護 : định
giới 定 戒 và vô lậu giới 無 漏 戒 .
[22]
Nguyên văn, 彼 及 心 諸 相 . Tụng sớ, Viên Huy, q.06, tr.853c26,
Chúng (bỉ): chỉ cho các tâm sở và hai luật nghi, và tâm (cập
tâm): chỉ cho tâm vương, các tướng (chư tướng): chỉ cho
bốn tướng sinh, trú.v.v… trên tâm sớ, trên hai loại luật
nghi và trên tâm vương.
[23]
Thích luận, Cđ. Q.04, tr.188c 03, 心 法 及 二 護 ; 彼 法 心
諸 相 是 名 隨 心 法 .
[24]
Nguyên văn, 一 切 所 有 心 相
應 法 靜 慮 無 漏 二 種
律 儀 彼 法 及 心 之 生
相 等 如 是 皆 謂 心 隨
轉 法 。Cđ. Thích luận q.04, tr.188c05 一 切
與 心 相 應 法 定 戒 及 無
漏 戒 如 是 等 法 生 等
相 此 法 心 家 法 故 説 隨
心 法. Quang ký q.06,tr.114a 28, tất cả các tâm sở (tâm
sở hữu pháp), đạo luật nghi, định luật nghi. Chữ các
pháp kia chỉ cho các pháp tâm sở, hai pháp luật nghi; và các
bổn tương sinh, trú, v.v…trên tâm. Các pháp như vậy đều
gọi là pháp tùy chuyển của tâm vì pháp và tâm cùng hỗ
tương làm quả.
[25]Quang
ký q.06, tr.114c 02 “do quả đẳng…. Và quả đẳng lưu”,
trong quả có ba loại: một, một quả; hai, quả dị thục;
ba, quả đẳng lưu. Ở đây muốn nói cho thấy rằng, có cùng
một quả, cùng quả dị thục, cùng quả đẳng lưu, mới gọi
là pháp tuỳ chuyển của tâm. Há không phải hai quả dị thục
và đẳng lưu đều nhiếp thuộc vào trong một quả rồi hay
sao mà ngoài một quả lại nói hai quả đó nữa? … Đúng
vậy. Nhưng ở đây, một quả chỉ nhiếp thâu quả sỹ dụng
và ly hệ mà thôi.
[26]
Quang ký q.06, tr.115b 01, “nên biết trong đó… nghĩa kia không
giống nhau”, một trước chỉ cho thời gian, nói lên ý nghĩa
đồng thời; một sau chỉ cho quả, nói lên ý nghĩa cùng chung
quả. Cho nên nói là không giống nhau.
[27]
Mười nguyên nhân, đó là, về thời gian có bốn: cùng sinh,
cùng trú, cùng diệt và cùng trong một đời; về kết quả
có ba: một quả, quả dị thục và quả đẳng lưu; về tính
chất có ba: tính thiện, tính ác và tính vô ký.
[28]
Quang ký q.06, tr.115b 08, chỉ cho đoạn văn được nói ở trước,
phần tâm vương đối với tâm sở làm nhân chung và riêng
vậy.
[29]
Ht. phẩm loại túc luận 品 類 足 論 . Cđ. Thích luận q.04,
tr.188c16, Phân biệt đạo lý luận 分 別 道 理 論 . Skt.
[30]
Phẩm loại túc luận, phẩm Thiên vấn, q.13, tr.745a 27 謂 苦
聖 諦 或 有 身 見 為 因, 非 有 身 見 因 …( b 04) 除
未 來 有 身 見 及 彼 相 應 法 生 老 住 無 常 諸 餘 染
污 苦 諦. (或) 有 身 見 為 因 亦 有 身 見 因
者 謂 前 所 除 苦 諦 ; trong đó, theo Quang ký q.06, tr.116b11,
tương ưng 相 應 : chỉ cho các pháp tương ưng với tâm vương
tức là tâm sở vậy; câu hữu 俱 有 : chỉ cho bốn tướng,
sinh, lão, trú và phi thường. Cđ.Thích luận q.04, tr.188c 18,
除 身 見 及 身 見 相 應 法 生 老 住 滅 .
[31]
Ht. 諸 餘 染 污 苦 諦 ; Cđ. 若 有 所 餘 染 污 苦 諦 . Quang
ký q.06, tr.116c 11 Các khổ đế nhiễm ô khác: chỉ cho các
pháp nhiễm ô được đoạn trừ ở kiến diệt, kiến đạo,
tu đạo; các pháp được đoạn trừ ở kiến tập trong quá
khứ và hiện tại; bất biến tùy miên, tương ưng, câu hữu,
đẳng; đắc trên biến hành tuỳ miên câu hữu; thân kiến
được đoạn trừ ở kiến khổ trong vị lai; bốn tiểu tướng
và đắc trên thân kiến; bốn tiểu tướng và đắc trên thân
kiên tương ưng pháp (tâm sở tương ưng thân kiến); chín tuỳ
miên tương ưng, câu hữu đẳng được đoạn trừ ở kiến
khổ; các pháp được đoạn trừ ở kiến tập trong vị lai.
Tất cả chúng đều lấy thân kiến làm nhân, không làm nhân
cho thân kiến; đó gọi là các khổ đế nhiễm ô khác.
[32]
Phẩm loại túc luận, phẩm Thiên vấn, q.10, tr. 733c08, 幾 有
身 見 為 因, 亦 有 身 見 因
[33]
Các pháp được trừ: sinh, lão, trú, phi thường trên thân
kiến trong vị lai và trên các pháp tương ưng của thân kiến,