Đường
về
QUÊ
HƯƠNG TỊNH ĐỘ
Thích
Vân Pháp
(tiếp
theo Tập san số 11)
Tịnh
độ: Con đường Bồ Tát Đạo
Trong
các con đường của Lục Phàm và Tứ Thánh25 thì con đường
Bồ Tát là con đường tiếp cận gần nhất với Phật Đạo.
Bởi vì, Bồ Tát nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, Phạn
văn gọi là Bodhisattva.
Bodhi
(S), hán phiên âm là Bồ đề, dịch là giác ngộ, tỉnh thức;
Sattva (S), hán phiên âm là Tát đỏa dịch là chúng sanh, hữu
tình. Do đó, Bodhisattva có nghĩa là chúng sanh có thuộc tính
giác ngộ; chúng sanh có nội dung giác ngộ. Bồ tát tuy được
giác ngộ nhưng về trí tuệ và đạo hạnh vẫn kém hơn các
đức Phật, bởi vì Bồ tát còn chưa gột sạch các vi tế
vô minh. Vì thế, Bồ Tát cần phải lập nguyện và lập hạnh
để tu tập. Con đường của Bồ Tát là con đường lập thệ
nguyện rộng lớn, trên là cầu trí tuệ giác ngộ - Vô thượng
Bồ đề, dưới là thực hành hạnh đại bi cứu độ chúng
sanh đưa về bến giác. Do đó, trong nội dung của một vị
Bồ Tát luôn thể hiện hai chất liệu Trí tuệ và Từ bi.
Tư
tưởng của Bồ Tát là tư tưởng xả kỷ và hy sinh, nghĩa
là Bồ tát làm giúp chúng sanh vui, giúp chúng sanh hết khổ,
và khai mở tuệ giác cho họ mà không cần sự đền đáp và
trả ơn. Vì thế, hình ảnh của Bồ tát đi vào đời là hình
ảnh rất đẹp, một hình ảnh vĩ đại. Trong mọi hành động,
bố trí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và
trí tuệ, Bồ Tát làm mà không trụ vào tướng, hoàn toàn
vô cầu, vô kỷ, vô danh và vô niệm. Chẳng hạn, khi Bồ tát
bố thí có nghĩa là Bồ Tát chẳng những hiến tặng cho chúng
sanh về tiền tài, phẩm vật (tài thí) hay giúp đỡ chúng
sanh trên mặt tu học (pháp thí) mà Bồ tát còn đem đến sự
không sợ hãi (vô úy thí) cho chúng sanh. Nên Bồ Tát đến
đâu là bình an đến đó, Bồ Tát đến đâu là ở đó khổ
đau vắng mặt. Bồ Tát đối với vấn đề trì giới cũng
vậy, chẳng những có đời sống luật nghi, luôn chặt đứt
mọi gốc rễ của điều ác (Nhiếp luật nghi giới) mà Bồ
Tát còn nỗ lực phát huy các thiện pháp (Nhiếp thiện pháp
giới) đồng thời Bồ Tát còn thực tập các giới làm lợi
ích hết thảy hữu tình (Nhiêu ích hữu tình giới...)26 v.v....
Bồ
Tát làm với tinh thần vô ngã, vô chấp, với chánh kiến,
trí tuệ nên không bị mắc kẹt vào danh và sắc. Vì thế,
bước đi của Bồ Tát là bước chân vững chãi và thảnh
thơi. Bồ tát vào đời để hành đạo như cánh nhạn bay qua
đầm lạnh không để lại dấu tích bóng hình, như trong bài
thơ của Thiền Sư Hương Hải:“Nhạn quá trường không, ảnh
trầm hàn thủy, nhạn vô di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi
tâm”27.
Do
đó, tinh thần Bồ Tát là tinh thần xuất thế mà lại nhập
thế. “Xuất thế” ở đây không có nghĩa là chạy trốn
và bỏ mặc cuộc đời để tìm khoái lạc cảnh thần tiên.
Mà xuất thế ở đây, theo Bồ Tát đạo, là con đường tu
tập mong cầu tuệ giác vô thượng Bồ Đề. Và “nhập thế”
cũng không có nghĩa là vào sống giữa cuộc đời và bị cuộc
đời đồng hóa. Mà nhập thế theo tinh thần Bồ Tát là thực
hiện hạnh đại bi, vào đời để hóa độ, hóa giải mọi
nỗi khổ và niềm đau của chúng sanh và khai mở tâm trong
sáng (Phật tâm) vốn sẵn có ở trong mỗi chúng sinh. Giáo
sư Minh Chi đề cập về vấn đề xuất thế và nhập thế
này như sau: “Người theo đạo Phật không có quyền giấu
mình trong hẻo lánh, mà phải mạnh dạn đi ra giữa xã hội,
sống một đời chói sáng màu sắc vị tha. Mỗi việc làm,
mỗi lời nói cho đến mỗi ý nghĩ của người ấy phải là
một bước trở về vô biên... cho đến khi hết thảy cặn
bả vị kỷ đều rủ sạch và con người ấy rõ ràng thiết
thực thấy mình với vũ trụ tan vào một khối duy nhất bao
la"28
Bồ
tát là biểu tượng của tình thương và sự hiểu biết, con
đường Bồ Tát là con đường được trải bằng những đức
tính nhẫn nhục vượt khó. Vì thế, ở đâu "hữu cầu" thì
ở đó "tất ứng", thể hiện tinh thần cứu khổ, cứu nạn
của Bồ Tát Quán Âm29. Sự xuất hiện của Ngài là để "
lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ, Ngài là trái tim biết
nghe và biết hiểu, ... ngài lắng nghe với tâm không thành
kiến, tâm không phán xét, tâm không phản ứng, bằng tất
cả sự chú tâm và thành khẩn để ôm lấy và chuyển hóa
nỗi khổ đau của mọi người. Ngài luôn thực tập hạnh
nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người, để thấy
những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tánh
vô thường và vô ngã của vạn vật...”. Để rồi Bồ tát
xin làm hạnh của Đất chấp nhận và chịu đựng mọi thứ
nhơ nhớp cũng như trong sạch, thể hiện tinh thần của Ngài
Địa Tạng “chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề, địa
ngục vị không thệ bất thành Phật”30, và “tìm cách có
mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối khổ đau tuyệt vọng
và áp bức còn đang trấn ngự để có thể mang đến những
nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát..., nỗ
lực diệt trừ những địa ngục còn đang có mặt, và luôn
thiết lập liên lạc với những ai không còn lối thoát, với
những ai không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình
nhân phẩm và quyền được làm người...; nỗ lực tu học
để đạt được đức vững chãi và kiên trì của đất,
để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như đất”.
Tinh
thần Bồ Tát là tinh thần “biết đem con mắt và trái tim
đi vào cuộc sống... Buổi sáng đem niềm vui cho con người,
buổi chiều giúp người bớt khổ”. Bồ Tát biết rằng:
“Hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình và
nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự”31.
Vì lý do đó, Bồ tát không ngần ngại thiết lập vương quốc
Tịnh độ để làm phương sở đi về và chỗ hướng vọng
cho tất cả chúng sanh.
Vì
vậy, Đức Phật A Di Đà, trong thời kỳ còn là Bồ Tát Pháp
Tạng, đã vì lợi ích của hết thảy hữu tình mà phát nguyện
thiết lập vương quốc Tịnh độ Cực Lạc với 48 lời nguyện
oai hùng. Trong 48 lời đại nguyện đó có lời nguyện Ngài
nói rằng: “Thề quyết không thủ ngôi chánh giác nếu khi
tôi thành Phật mà trong quốc độ còn có ba ác đạo: địa
ngục, ngạ qủy, súc sanh” hoặc là: “Thề quyết không thủ
ngôi chánh giác, nếu khi Tôi thành Phật mà cung điện lầu
gác, cây hoa, cũng như tất cả vạn vật trong quốc độ không
ngào ngạt trăm ngàn hương thơm, do vô lượng tạp bảo chung
cộng hợp thành, xông ngát từ mặt đất lên đến hư không.
Hương thơm ấy phải kỳ diệu hơn tất cả hương trời, tỏa
khắp mười phương thế giới và sẽ khiến Bồ Tát ngửi
thấy đều dõng mãnh theo hạnh Phật”32.
Tóm
lại, Bồ Tát đạo là con đường của Bồ Tát phát nguyện
giáo hóa chúng sanh trên tinh thần xuất thế và nhập thế,
tinh thần “hòa quang đồng trần" hay lý tưởng "thượng cầu
Phật đạo, hạ hoá chúng sanh". Trên tinh thần và lý tưởng
đó, Bồ tát đã thiết lập quê hương Tịnh độ làm phương
sở cho chúng sanh quay về nương tựa. Do đó, sự xuất hiện
của các vị Bố tát Quan Âm, Địa Tạng, Phổ Hiền, Đại
trí Văn thù hay Bồ tát Thường Bất Khinh, v.v... đều là sự
hiện hữu bất diệt để thực hiện tinh thần Bồ tát đạo.
Giới
thiệu một vài khuôn mặt của tông Tịnh độ
Chúng
ta biết rằng, tông Tịnh độ xuất hiện từ rất sớm ở
Ấn độ, Trung hoa cũng như Việt nam. Nhưng vào những thời
kỳ sơ khai thì Tịnh độ tông không lan rộng và phát triển
như Thiền tông. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì thời kỳ
này đức Phật nhập Niết bàn không lâu lắm, các bậc Thánh
vẫn còn tại thế nên họ tu tập theo sự hướng dẫn của
thầy mình và họ thấy có hạnh phúc; lại nữa phần lớn
các thánh giả đều là những vị thiền sư lỗi lạc nên
họ chỉ truyền dạy những phương pháp thiền tập mà thôi.
Do đó, dù có rất nhiều người biết đến Tịnh độ tông
từ rất sớm, nhưng vì thiền tông vào những thời điểm
trước đó rất thịnh hành, nên đa phần hành giả đều tu
theo thiền tông. Tuy nhiên, vẫn có không ít các thiền sư xiển
dương giáo nghĩa tông này và cũng có không ít người theo.
Ở
Ấn độ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn tại thế, đã
đề cập đến thế giới Tịnh độ của chư Phật. Tuy nhiên,
đến thế kỷ thứ VI trước kỷ nguyên, sau Phật nhập diệt,
tức vào khoảng thế kỷ thứ II tây lịch, có hai nhân vật
quan trọng đã xuất hiện và xiển dương giáo lý đại thừa
và mang theo tinh thần khai triển tông Tịnh độ. Đó là Ngài
Mã Minh và Ngài Long Thọ.
Tương
truyền rằng, Ngài Mã Minh (Asvaghosha), lúc mới sinh ra, các
con ngựa gần vùng đó đều hí lên, biểu lộ sự vui mừng,
nên song thân ngài đặt tên là Mã Minh. Khi ngài thuyết pháp
các con ngựa ở gần đó đều im lặng lắng nghe, buổi thuyết
pháp vừa dứt, các con ngựa đồng thanh hí lên như để ca
ngợi Ngài. Khi chưa đi tu Ngài đã là một biện sĩ lỗi lạc,
một nhà đại văn hào và thi hào nổi tiếng lúc bấy giờ.
Sau khi đi tu rồi, Ngài càng trác tuyệt hơn về kiến thức
Phật học cũng như đời sống tâm linh. Vì thế, ngài rất
được vua Kanishka (Ca Nị sắc Ca) tôn kính.
Ngài
là vị tổ thứ mười hai của thiền tông Ấn độ, lại cũng
là người xiển dương giáo nghĩa đại thừa một cách mạnh
mẽ. Ngài đã trước tác rất nhiều bộ luận như: Đại thừa
khởi tín luận, Đại tông địa huyền văn bổn luận, Sự
sư pháp ngữ thập tụng, Phật sở hành tán và nhiều các
luận giải có giá trị khác. Trong đó, Phật sở hành tán
(Buddhacaritakàvya sùtra) được ngài Pháp Hộ (Dharmaraksa) dịch
sang Hán văn vào năm 414 đến 421, và được Beal, S.B.E chuyển
sang Anh ngữ; Đại thừa khởi tín luận (Mahàyàna Sraddhotpàda
Sàstra) do Ngài Chân Đế (Paramartha) dịch sang Hán ngữ vào
năm 554 và ngài Dược Xoa Nan Đà dịch vào năm 695 đến năm
700, và được học giả Teitaro Suzuki chuyển sang Anh ngữ năm
1900.
Tư
tưởng chủ đạo của ngài Mã Minh là xiển dương giáo lý
đại thừa theo tinh thần "khởi tín". Ngài đề cập đến
Tịnh độ như sau: "nếu ai chuyên tâm niệm đức Phật A di
đà ở thế giới cực lạc phương tây, đem các căn lành do
mình tu được mà hồi hướng nguyện cầu sinh về thế giới
ấy thì liền được vãng sanh. Bởi lẽ, người ấy thường
được thấy Phật, nên không bao giờ còn bị thối lui. Nếu
ai quán pháp thân chân như của đức Phật ấy và thường
siêng năng tu tập thì cuối cùng sẽ được sanh về, vì đã
an trú trong chánh định rồi" 33. Do đó, với ngài Mã Minh,
các nhà sử học đã đi đến nhận định rằng:"Ngài là người
xiển dương và làm hưng thịnh Phật giáo đại thừa tại
Ấn độ vào thế kỷ thứ II tây lịch".
Nhân
vật thứ hai là ngài Long Thọ (Nàgàrjuna), xuất hiện vào
thế kỷ thứ III, tây lịch. Ngài là người Tỳ đạt bà (Vidharbha)
thuộc Nam Ấn độ, ngài rất giỏi về thiên văn, địa lý,
toán số, sấm ký và các học thuật của ngoại đạo. Khi
xuất gia, ngài theo tiểu thừa, sau chuyển sang đại thừa và
hết sức cổ xuý cho phong trào chấn hưng, phát triển đại
thừa. Các tác phẩm mà ngài trước tác để xiển dương giáo
lý đại thừa như: Trung quán luận, thập trung luận, thập
nhị môn luận, đại thừa phá hữu luận, đại thừa nhị
thập tụng luận, thập bát không luận, bồ đề tâm ly tướng,
v.v...; trong đó, bộ Trung Quán luận có giá trị nhất và được
rất nhiều học giả biết đến.
Tư
tưởng xiển dương đại thừa được ngài đề cập đến
bao gồm cả tư tưởng vãng sanh Tịnh độ, chủ yếu theo ba
khuynh hướng:
1.
Tư tưởng vãng sanh về Tịnh độ Đâu suất của đức Phật
Di lặc (Maitreya Buddha)
2.
Tư tưởng vãng sanh về thế giới Diệu hỷ của đức Phật
A sơ (Aksobhya Buddha)
3.
Và tư tưởng vãng sanh về thế giới Cực lạc ở phương
Tây của đức Phật A Di Đà (Amitàbha Buddha)
Vào
thời ngài Long Thọ, tư tưởng vãng sanh chỉ y cứ vào 24 lời
nguyện theo kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác mà không
phải là 48 lời nguyện của Tỳ kheo Pháp tạng.
Nói
chung, tư tưởng của ngài Long Thọ về Tịnh độ tông khá
hoàn chỉnh, tạo nền móng cho sự phát triển về sau.
Tại
Trung hoa, Tịnh độ tông cũng đã có từ rất sớm, nhưng mãi
đến thời Đông Tấn (317-418), tông này đã được hình thành
có tổ chức và quy tắc rõ ràng do ngài Tuệ Viễn ở Lư Sơn
sáng lập.
Ngài
Tuệ Viễn (334-416) quê ở Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
Từ nhỏ vốn thông minh hoạt bát, ngài xuất gia và rất chú
trọng đến thiền học, lấy giới, định tuệ làm căn bản
tu tập. Ngài sống đời đạm bạc, không cầu danh lợi, chức
tước. Có lần, Tể tướng Hoàn Huyền tâu với vua An Đế,
Đông Tấn, rằng: "thiên, địa, vương là ba ngôi chí tôn,
trời đất để che chở, vua để trị vì trong thiên hạ. Vậy,
sa môn phải kính lễ đức lớn của nhà Vua". Sau đó, ngài
dâng thư phản kháng, ngài viết cuốn "sa môn bất bái vương
giả luận" 34 để tỏ rõ cái lễ nghi thế gian khác xa với
lễ nghi xuất thế.
Tại
Lư Sơn, Ngài lập hội niệm Phật, gọi là "Bạch liên xã"
gồm 123 người, chủ đích lấy việc chí nguyện lễ bái và
niệm hồng danh Đức Phật A Di đà, không phân biệt xuất
gia hay tại gia. Đến thời Nam -Bắc triều, Ngài Bồ đề Lưu
Chi dịch bộ "Vãng sanh Tịnh độ luận", do ngài Thế Thân
trước tác và nó đã trở thành bộ luận căn bản cho Tịnh
độ tông. Về sau, Ngài Đàm Loan (476-542) kế thừa pháp môn
này rồi truyền tới ngài Đạo Xước và Thiện Đạo. Ngài
Đạo Xước (562-645) và ngài Thiện Đạo (613-681) là hai vị
hoàn thành giáo nghĩa Tịnh độ ở Trung hoa bấy giờ. Các
tác phẩm của ngài Thiện Đạo như: "Quán kinh sớ" (4 quyển),
"Vãng sanh lễ tán" (2 quyển), "Quán niệm Phật môn" (1 quyển),
"Ban chu tán" (1 quyển), "Pháp sự tán",.... bao hàm giáo lý tinh
yếu về Tịnh độ. Ngoài ra, ngài còn giải thích kinh "Quán
vô lượng thọ".
Về
sau, ngài Từ Mẫn (Tuệ Nhật, 680-748) tiếp nối tông này,
nhưng chịu ảnh hưởng tinh thần thiền tông. Do đó, tinh thần
Tịnh độ rất được phát triển dưới triều đại nhà Đường
(618-907), và từ sau ngài Từ Mẫn, giáo nghĩa Tịnh độ có
khuynh hướng "thiền tịnh song tu".
Đến
thế kỷ thứ X, dưới triều đại nhà Tống (960-1279), có
thiền sư Diên Thọ (904-975) đã sử dụng phương pháp niệm
Phật dựa trên nguyên tắc "duy tâm Tịnh độ tâm ngoại vô
pháp"(cõi Tịnh độ ở ngay trong tâm, ngoài tâm không có pháp
môn ấy". Và Tịnh độ tông cũng đã âm thầm phát triển
theo khuynh hướng ấy, và nó đã hưng khởi mạnh mẽ vào thời
nhà Minh (1368-1661), do các ngài Vân Thê- Châu Hoằng (1535-1615),
Ngẫu Ích - Trí Húc (1599-1655) và đại sư Ấn Quang vào thời
nhà Thanh (1662-1911), cho đến thời Trung Hoa Dân Quốc (1912).
Theo
sự nghiên cứu của ngài Junjirò Takakusu, tại Trung quốc, những
thẩm quyền về tín ngưỡng này rất nhiều, nhưng chỉ có
bốn dòng truyền thừa35 sau đây được nhìn nhận:
- Dòng
I: Phật đồ trừng (người Ấn, ở Trung Hoa, khoảng 310-348)
Đạo An (584-708) Huệ Viễn (334-416).
- Dòng
II: Bồ đề Lưu chi (Bodhiruci, người Ấn ở Trung Hoa, khoảng
503-535) Huệ Sủng Đạo Tràng Đàm Loan (Doran,476-542)
Đại Hải Pháp Thượng (Hôjô,495-508)
- Dòng
III: Bồ đề Lưu chi Đàm Loan Đạo Xước (Dôshaku, khoảng
645) Thiện Đạo (Zendô, mất 681) Hoài Cảm (Ekan) Thiếu
Khang (Shôkô).
- Dòng
IV: Từ Mẫn (jimin, sang Ấn vào đời Đường (618 -907) và tiếp
nhận tín ngưỡng Di Đà tại Gandhàra.
Ở
Nhật, lịch sử về tín ngưỡng này rất dài, mặc dù Nguyên
Tín (Genshin, 942-1017) và Pháp Nhiên (Hônen, 1133 - 1212) là những
nhà tiền phong truyền xướng thuyết này. Có một truyền thuyết
cho rằng, Thánh Đức thái tử vào triều đại của nữ hoàng
Suy Cổ (suiko, 593-628) cũng đã tin Phật A Di Đà. Và người
ta đã tìm thấy một trong các bản Nghĩa thích của Thái tử
có nhắc đến Tây phương cực lạc. Ngài Huệ An, một Tăng
sĩ người Đại Hàn, từng giảng thuyết kinh Vô lượng thọ
cho hoàng triều. Vào thời Nara (710-793), có người cho là Hành
Cơ đã từng vân du để quảng bá tín ngưỡng này cho quần
chúng. Tiếp đó, ngài Giám Chân, một Luật sư người Trung
Hoa, đã từng đến Nara vào năm 754, truyền thọ tín ngưỡng
Di Đà cho đệ tử người Nhật là Vinh Duệ.
Nhưng
trong thời đại Nara, tín ngưỡng này không được giảng dạy
có hệ thống, và vì thế ngài Viên Nhân đã lập ra hai cách
thức niệm Phật, đứng và ngồi, và giới thiệu một nhạc
điệu mô tả cảnh giới Cực lạc.
Sau
đó, ngài Nguyên Tín (genshin), trước tác một số luận giải
quan trọng về tín ngưỡng này và sáng kiến một nghệ thuật
hội hoạ hình ảnh đặc biệt về thế giới cực lạc. Đệ
tử của ông là Lương Nhẫn (Ryônin) lập nên một phái chiết
trung giữa Thiên thai và Tịnh độ, gọi là Dung thông niệm
Phật, mà thực tế là hoà hợp giữa học thuyết Pháp hoa
và tín ngưỡng Di đà. Truyền thuyết cho rằng, ông chính là
Phật A di đà hiện thân thuyết pháp về chân lý "một trong
tất cả, tất cả trong một; một hành động cho tất cả,
tất cả hành động cho một"36. Sau ngài Lương Nhẫn là ngài
Pháp Minh (Hômyô) làm sống dậy tông này năm 1321.
Trước
đó, năm 938, Không Dã (Kùy, 903 -972) đến Kyoto và đi khắp
các ngõ đường, đến đâu Sư cũng tụng vang các bài tán
Phật A Di Đà, do chính ngài sáng tác. Dân chúng gọi Sư là
"Thánh chợ" (thị thánh)...
Vào
thời Bình An (Heian) Hưng giáo đại sư (kôkyô, 1095-1145), hiệu
Giác Tông, một đại sư nổi tiếng ở núi Cao Dã rất sùng
bái tín ngưỡng Di Đà và thường khát vọng được thác sinh
về thế giới Cực lạc.
Lương
Biến (khoảng 1200), một nhà bác học ở chùa Kongôsammaiin
(kim cang tam muội viện) tự xưng là tín đồ Di Đà, vân du
sang Tanabe, vùng Kỷ y (kii) và cải hoá được ông trưởng
làng đánh cá.
Nói
chung, Tịnh độ tông tại Nhật khá hưng thịnh và được
giới xuất gia lẫn tại gia tiếp nhận một cách sùng tín
và gây tiếng vang rất lớn trong quần chúng.
Về
Tịnh độ tông tại Việt nam, thật khó xác định niên đại
và nguồn gốc khai sáng, và sự ảnh hưởng của tông phái
này vào thời nào.
Theo
Cao Tăng truyện ghi lại rằng: “Ngài Đàm Hoằng, một danh
tăng Trung quốc vào thế kỷ thứ V, là hội viên của hội
“Bạch liên xã” tại Lư sơn, đến Giao chỉ để truyền
bá giáo lý Tịnh độ. Ngài ở Quảng Lăng, thuộc Tỉnh Giang
Tô ngày nay. Từ nhỏ ngài đã xuất gia và là người rất
giỏi về Luật học. Khi ngài thâm nhập pháp môn Tịnh độ
ở hội “bạch liên xã” thì ngài đến Giao Chỉ, trú tại
chùa Tiên Sơn. Tại đây, ngài thường trì tụng “vô lượng
thọ kinh” và “quán kinh”-tức là kinh Quán vô lượng thọ.
Để củng cố niềm tin cho tín đồ và để chứng nghiệm
pháp môn Tịnh độ, nên đến năm Hiến Kiến thứ tư (455,
tl), ngài đã lén chất củi tự thiêu ở trên núi, nhưng việc
ấy bất thành, các đệ tử phát hiện kịp thời. Tuy vậy,
trong lòng Ngài vẫn mang hoài bão ấy, nên nhân cơ hội tất
cả mọi người đi dự hội lớn của Làng, ngài lại sắp
củi tự thiêu, đến khi mọi người phát hiện thì ngài đã
tắt thở. Nhưng đêm đó, dân làng thấy ngài Đàm Hoằng có
sắc thân vàng, đi nhanh về phía Tây, gặp ai ngài cũng hoan
hỷ chào hỏi. Thấy chuyện lạ, nên dân làng thâu lượm xá
lợi của Ngài và dựng tháp tôn thờ...”. Đó là một điển
tích, một sự kiện khá thú vị tại Việt nam liên hệ đến
Tịnh độ tông tại Việt nam vào thế kỷ thứ V.
Đến
thế kỷ XI và XII, Tịnh độ tông được mọi người biết
đến nhiều hơn. Và đầu thế kỷ XIII, vào triều Trần, Tịnh
độ tông rất thịnh và có sự kết hợp nhuần nhuyễn với
Thiền tông. Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của nhà Trần,
đã từng khăn gói lên Yên tử sơn để xin xuất gia, nhưng
chưa đủ duyên nên phải về kinh đô lo việc triều chính.
Ông là vị vua rất mộ đạo37, nhân đức. Ngoài việc chăm
sóc thần dân, lúc rãnh rỗi, ông còn nỗ lực nghiên cứu
đạo thiền, tham vấn các bậc cao Tăng kỳ đức để nâng
cao nhận thức và thăng tiến nội tâm. Và vì thế, ông trở
thành vị Vua anh minh tài giỏi, độ lượng và luôn được
mọi người tôn kính.
Về
pháp môn Tịnh độ, ông có quan điểm rất sắc sảo đối
với pháp môn niệm Phật này, và nó được ghi lại trong Khóa
Hư lục, như sau: "Niệm Phật là do tâm phát khởi. Tâm phát
khởi về nẻo thiện thì đó là thiện niệm, thiện niệm
đã phát khởi thì thiện nghiệp sẽ đền bồi. Tâm phát khởi
về nẻo ác thì đó là ác niệm, ác niệm đã phát sinh thì
ác nghiệp sẽ ứng nghiệm. Như kính hiện ảnh, như bóng theo
hình. Cho nên, Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ nói:"ai mà vô niệm,
ai mà vô sinh?"."38
Theo
Trần Thái Tông thì vấn đề thiện ác đều do tâm, niệm
Phật cũng do tâm. Tâm là ông chủ của mọi kết quả hạnh
phúc và khổ đau. Nên, niệm Phật cũng chính là niệm tâm.
Và Trần Thái Tông đã đưa ra cách niệm Phật cho ba hạng
người, thượng, trung, hạ trí khác nhau.
"Bậc
thượng trí thì tâm tức là Phật, không cần tu thêm, niệm
tức là bụi trần, không vướng một mảy may, trần và niệm
vốn tịnh nên nói là như như bất động. Đó là Phật thân.
Phật thân tức là thân ta ấy vậy, không có hai tướng. Tướng
và tướng không hai, lặng lẽ tồn tại thường hằng. Tồn
tại mà không biết, đó gọi là Phật sống". Niệm Phật đối
với bậc thượng trí là như thế, nhưng không mấy ai đạt
được, nên Trần Thái Tông đã đưa ra phương pháp niệm Phật
đối với bậc trung trí như sau: “bậc trung trí ắt nhờ
vào niệm Phật. Chú ý tinh cần, niệm niệm không quên thì
tâm mình thuần thiện. Niệm thiện đã hiện thì niệm ác
liền tiêu, niệm ác đã tiêu thì chỉ còn niệm thiện. Dùng
niệm mà ý thức về niệm thì niệm niệm đều diệt. Khi
niệm đã diệt ắt về chính đạo, lúc mệnh hết qua đời
sẽ được niềm vui cõi Niết bàn. Thường Lạc Ngã Tịnh
là đạo của Phật.” Đây là phương pháp niệm Phật đối
với hàng trung trí, nhưng không phải dễ dàng, nó đòi hỏi
cần sự nỗ lực tinh chuyên để đẩy lùi niệm xấu. Nhưng,
để dễ dàng hơn cho người mới sơ cơ niệm Phật, Trần
Thái Tông đã phải đưa ra một cách thức niệm Phật dành
cho hàng hạ trí: “Kẻ hạ trí miệng siêng niệm lời Phật,
lòng muốn thấy hình tướng Phật, thân nguyện sinh ở nước
Phật, ngày đêm siêng tu, không thoái chí thay đổi, như vậy
đến khi mệnh hết qua đời sẽ theo niệm thiện mà được
sinh ở nước Phật, sau đó lãnh hội được chính pháp của
chư Phật nêu ra mà chứng được bồ -đề cũng vào quả Phật”39.
Chúng ta phải thấy một điều rằng,
Ngoài
Trần thái Tông, chúng ta cũng bắt gặp một nhân vật siêu
tuyệt khác của nhà Trần, đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1290),
con trưởng của An sinh Vương Trần Liễu, anh của Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm.
Thượng sĩ là người ý chí siêu phàm, tư tưởng thâm siêu,
khí lượng thâm trầm, dung thần nhàn nhã. Ông là một người
rất "phá chấp", một thi sĩ nổi tiếng và là một thiền
sư cư sĩ lỗi lạc thời bấy giờ. Qua tác phẩm Thị tu tây
phương bối40 của Tuệ Trung, ta thấy được chất Tịnh độ
rất rõ trong ông:
Tâm
nội Di Đà tử mạ khu
Đông
tây nam bắc pháp thân chu,
Trường
không chỉ kiến cô luân nguyệt,
Sát
hải trừng trừng dạ mạn thu.
Dịch
là:
Di
đà vốn thật pháp thân ta
Nam
Bắc Đông Tây khắp chói lòa
Trăng
thu ngự giữa trời cao rộng
Đêm
lặng trùng dương rạng chiếu xa.
Quả
đúng là bậc "thượng sĩ", ông đã có cách nhìn rất độc
đáo và thâm uyên về giáo nghĩa Tịnh độ. Và Di đà theo
cái nhìn của Tuệ Trung đó chính là pháp thân thường trú,
hễ tâm vắng bặt mọi cuộc săn đuổi, mọi cuộc vong thân
thì tâm ấy chính là Phật và luôn toả chiếu khắp các phía
Đông Tây Nam Bắc như trăng thu phản chiếu xuống mặt nước
trong veo.
Với
quan điểm đó về Tịnh độ tông, Trúc Lâm đầu đà, vị
vua đời thứ ba của nhà Trần, xuất gia tu tập và trở thành
sơ tổ thiền phái Trúc Lâm Yên tử, đã đề cập đến tông
này theo cái sở tri và sở chứng của mình:
"Tịnh
độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến tây phương
Di
đà là tính sáng soi, mựa41 phải nhọc tìm về Cực lạc."
(Cư
trần lạc đạo phú - hồi thứ hai)
Niệm
Phật theo vua Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục chỉ đưa ra
cách chung chung, mà không có một danh hiệu Phật hay tên của
cõi Tịnh độ cụ thể. Nhưng ở đây, vua Trần Nhân Tông
đã nói rõ về điều đó, nghĩa là Vua đang đề cập đến
Tịnh độ Cực Lạc ở phương Tây của Đức Phật A Di Đà.
Muốn về đó, không phải là chuyện khó, hễ lòng mà trong
thì Tịnh độ liền có mặt. Tịnh độ và tâm mình không
phải hai. Vì thế, người tu theo Tịnh độ không cần đi đâu
xa, Tịnh độ có ngay trong lòng như nước có chảy ra trăm
nhánh thì rốt cuộc cũng về biển cả, và trăng có bị che
khuất bởi mây đen u ám thì trăng vẫn không lìa bầu trời42.
Và
cũng như thế, đệ tam tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Huyền
Quang, một nhà thơ và là một học giả lớn, đồng thời
là một nhà tâm linh sâu sắc vào thời Trần, đã bày tỏ
quan điểm của mình như sau:
Biết
được tính ta nên Bụt thật
Ngại
chi non nước cảnh đường xa.
(vịnh
Vân yên tự phú)
"tính
ta" chính là tính Phật; nếu ta thấy được Phật tính thì
giữa Phật và ta không hai không khác, nên dầu đường về
Tịnh độ có xa cách mấy, ngay cả hơn 10 vạn ức cõi Phật,
cũng không làm cho ta lo ngại.
Tịnh
độ tông vào thời đại nhà Trần phát triển song song với
Thiền tông, tất nhiên ảnh hưởng của Thiền tông thời bấy
giờ vẫn lớn hơn. Và từ đó, thiền tông cũng như Tịnh
độ tông phát triển song hành, cả Đàng trong lẫn Đàng ngoài,
và được mọi người tiếp nhận để thực tập, hành trì
cho đến bây giờ.
Do
vậy, sự có mặt của tông Tịnh độ có ảnh hưởng rất
lớn đối với các tăng tín đồ không chỉ Ấn độ, Trung
Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, mà còn tác động rất lớn đến
các nước Phật giáo khác trên thế giới. Lại nữa, sự có
mặt của Tịnh độ tông đã đang và sẽ mang lại niềm tin
bền chắc nhất cho hành giả, và họ xem nó như là con đường
hữu hiệu nhất, dễ dàng nhất trong nhiều trong pháp môn thực
tập của Phật giáo để trở về với quê hương bình an.
25
Lục Phàm: 六 凡 1. 天 界: Thiên giới - chúng sanh cõi trời:
Họ là những siêu nhân, nhưng họ không thể giác ngộ hoàn
toàn nếu không có giáo thuyết của Phật; 2. 阿 修 羅: A-tu-la,
những quỷ thần hiếu chiếu, dù một phần thuộc thiên giới,
nhưng chúng được đặt một nửa phần thấp hơn thiên giới;
3. 人 界. Nhân giới, có bản chất dung hòa; 4. 餓 鬼. Ngạ
quỷ, những chúng sanh đã chết, gọi cách khác, là những
quỷ đói; 5. 畜 生: Súc sanh, có bản chất ngu muội, gồm
tất cả vương quốc loài vật; 6. 地 獄, con người bị đọa:
'chúng sanh địa ngục' họ là loài ở trong cõi thấp nhất
(xem J. TaKakusu - The Essentials of Buddhist Philosophy, sđd, p.138-139)
Tứ
Thánh 四 聖: 1. 佛 界: Cảnh giới Phật, một đức Phật không
ở trong mười cõi thế gian, nhưng vì Ngài xuất hiện giữa
loài người để thuyết giáo lý của ngài, nên ngài cũng được
kể vào đây; 2. 菩 薩: Bồ tát giới, một vị Phật tương
lai; 3. 緣 覺: Duyên Giác Phật, một vị Phật tự giác ngộ,
không giảng dạy cho kẻ khác; 4. 聲 聞: Thanh Văn, một
đệ tử trực tiếp của Phật.
26
Mã Minh, Luận đại thừa khởi tín, hạ, T32n1667,tr.589b26&
tr.590b12:又 此 菩薩 一 發 心 後 自 利 利 他 修 諸 苦 行
心 無 怯 弱 尚 不 畏 堕 二 乗 之 地,况 於 悪 道。若
闻 無 量 阿 僧 祇 劫 勤 修 種 種 難 行 苦 行 方 始
得 佛, 不 驚 不 怖。何 況 有 起 二 乗 之 心 及 墮 悪
道 趣,以決 定 信 一 切 諸 法 從 本 已來 性 涅 槃 故...Hựu
thử bồ tát nhất phát tâm hậu/tự lợi lợi tha tu chư khổ
hạnh/tâm vô khiếp nhược thượng bất uý đoạ nhị thừa
chi địa/huống ư ác đạo/nhược văn vô lượng a tăng kỳ
kiếp cần tu chủng chủng nan hành khổ hạnh phương thỉ đắc
Phật/bất kinh bất bố/hà huống hữu khởi nhị thừa chi
tâm cập đọa ác đạo thú/ dĩ quyết định tín nhất thiết
chư pháp tùng bổn dĩ lai tánh niết bàn cố (Lại nữa, các
Bồ tát ấy sau khi phát tâm tự lợi lợi tha, tu tập các khổ
hạnh, tâm không còn khiếp nhược, hoàn toàn không còn sợ
đọa vào cõi nhị thừa, huống là ác đạo. Như nghe rằng,
cần trải qua vô lượng a tăng kỳ kiếp để tu nhiều hạnh
khổ, mới có thể thành Phật, không còn kinh sợ, không
còn lo lắng,; làm sao mà còn khởi lên tâm nhị thừa và đọa
ác thú được. Vì họ tin chắc chắn tất cả các pháp, từ
xưa đến nay, vốn có chất liệu Niết bàn rồi)
云
何 精 進 門,所 謂 修 諸 善 行, 心 不 解 退。當 念
過 去 無 數 劫 來, 為 求 世 間 貪 欲 境 界, 虛 受 一
切 身 心 大 苦。
畢
竟 無 有 少 分 滋 味。 為 令 未 來 遠 離 此 苦。 應 勤
精 進, 不 生 解 怠。
大
悲 利 益 一 切 衆 生, 其 初 學 菩 薩 雖 修 行 信 心,
以 先 世 來 多 有 種 罪 悪 業 障 故。或 為 魔 邪 所 惱,
或 為 世 務 所 纒, 惑 為 種 種 病 緣 之 所 逼 迫。 如
是 等 事 為 難 非 一。
令
其 行 人 發 修 善 品, 是 故 宜 應 勇 猛 精 進, 晝 夜
六 時, 禮 拜 諸 佛,供 養讚 歎 懺 悔 勤 請 隨 喜
回 向 無 上 菩 提。發 大 誓 願 無 有 休 息, 令 悪 障
銷 滅,善 根 僧 長。
vân
hà tinh tấn môn/sở vị tu chư thiện hạnh/tâm bất giải
thối/đương niệm quá khứ vô số kiếp lai/vị cầu thế
gian tham dục cảnh giới/hư thọ nhất thiết thân tâm đại
khổ/ tất cánh vô hữu thiểu phần tư vị/vi linh vị lai viễn
ly thử khổ/ưng cần tinh tấn/bất sanh giải đãi/đại bi
lợi ích nhất thiết chúng sanh/kỳ sơ học bồ tát tuy tu hành
tín tâm/dĩ tiên thế lai đa hữu chủng tội ác nghiệp chướng
cố/hoặc vị ma tà sở não/ hoặc vị thế vụ sở triền/
hoặc vị chủng chủng bệnh duyên chi sở bức bách/ như thị
đẳng sự vi nan phi nhất/linh kỳ hành nhân phát tu thiện phẩm/thị
cố nghi ưng dõng mãnh tinh tấn/trú dạ lục thời/lễ bái
chư Phật/cúng dường tán thán sám hối cần thỉnh/tuỳ hỷ
hồi hướng vô thượng bồ đề/ phát đại thệ nguyện vô
hữu hưu tức/linh ác chướng tiêu diệt/thiện căn tăng trưởng.(thế
nào là tu tập pháp môn tinh tấn? đó là đối với các việc
lành, lòng không giải đãi, thối thất. Phải nhớ rằng, từ
vô số kiếp lâu xa đến giờ, vì tham đắm cảnh giới tham
dục, nhận lấy rất nhiều khổ nạn về thân và tâm, hoàn
toàn chẳng có một chút an lành nào. Vì khiến đời sau xa
lìa khổ não này, mà nên cần tinh tấn, đừng có nhác nhớm,
đem lòng đại bi, làm lợi ích tất cả chúng sanh; hàng bồ
tát sơ học ấy tuy tu tập tín tâm nhưng vì đời trước từng
gây ra nhiều tội ác nghiệp chướng, (cho nên đời này) hoặc
bị tà ma ác quỷ não hại, hoặc bị công kia việc nọ trói
buộc, hoặc bị ốm đau bệnh tật bức bách, các chướng
ngại như thế không phải là ít. (Nay) khiến hành giả phát
tâm tu tập các điều lành, cho nên cần phải dõng mãnh tinh
tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật, cúng dường,
tán thán, chuyên cần thỉnh cầu sám hối, rồi tùy hỷ hồi
hướng về quả vị Bồ đế, phát thệ nguyện lớn không
bao giờ ngừng nghỉ, khiến ác nghiệp, tội chướng tiêu diệt,
căn lành tăng trưởng)
27
Hán văn: 鴈 過 長 空, 影 沉 寒 水, 鴈 無 遺 迹
之 意 水 無 留 影 之 心。Nhạn bay ngang trời, bóng chìm
đầm lạnh, nhạn không có ý để lại dấu tích, nước không
có ý lưu giữ bóng hình - Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo
Sử Luận,1, nxb. Văn học, 1992, tr.181
28
Viện nghiên cứu Phật học Việt nam, Các Vấn Đề Phật Học,
ấn hành 1995, tr.181
29
觀 音 菩薩 妙 難 殊, 清 凈 莊 嚴 累 劫 修,千 處 有
求 千 處 應, 苦 海 常 作 渡 人 周。Quán âm bồ tát diệu
nan thù, thanh tịnh trang nghiêm luỵ kiếp tu, thiên xứ hữu
cầu thiên xứ ứng, khổ hải thường tác độ nhơn châu (Bồ
tát Quan Âm thật là mầu nhiệm khó đong lường, trải bao
kiếp tu hành khó nhọc mới được trang nghiêm thanh tịnh,
ngàn nơi mong cầu thì ngàn nơi Ngài ứng hiện, chốn bể khổ
Ngài thường làm thuyền đi cứu người).
30
衆 生 渡 盡,方 證 菩 提,地 獄 未 空 誓 不 成 佛,chúng
sanh độ hết, mới chứng bồ đề, địa ngục chưa không,
nguyện chưa thành Phật.
31
Đạo Tràng Mai thôn biên tập, Thiền Môn Nhật Tụng 2000, tlđd,
tr.294
32
Lời nguyện thứ nhất và thứ ba mươi hai trong 48 lời nguyện
của Ngài A di đà khi con thực tập hạnh Bồ tát.
33
Mã Minh, đại thừa khởi Tín luận, hạ, T32n1667, tr.591b24.若
善 男 子 善 女 人, 専念西 方 極 樂 世 界阿 彌 陀 佛以
諸 善 根 回 向 願 生 決 定 往 生。常 見 彼 佛 信 心 僧
長 永 不 退 轉。於 彼 聞 法 觀 佛 法 身 漸 次 修 行 得
入 正 位. Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhơn/chuyên niệm
Tây phương cực lạc giới A di đà Phật/dĩ chư thiện căn/hồi
hướng nguyện sanh quyết định vãng sanh/thường kiến bỉ
Phật/tín tâm tăng trưởng/vĩnh bất thối chuyển/ư bỉ văn
pháp/quán Phật pháp thân/tiệm thứ tu hành đắc nhập chánh
vị
34
cuốn luận viết về các Sa môn không lễ bái, cầu cạnh các
vị vua chúa và các vị có thế quyền.
35
J. Takakusu, The Essentials of Buddhist Philosophy, chương Tịnh độ
tông, bản dịch Tuệ Sỹ, 1973, tr. 319
36
“one in all, all in one; one acts for all, all act for one” -
Takakusu, The Essentials of Buddhist Philosophy, sđd, p.169
37
Trong thiền tông chỉ nam tự, Vua Trần Thái Tông đã ghi rằng:
"... 於 孩 童 有 拭 之 年,捎 闻 禅 师 之 训:则 澄 思
息 虑, 概 然 清 净 有 心 乎 内 教 参 救 於 禅 宗
虚 己 求 师 精 神 慕 道...凡 遇 機 暇 聚 會 耆 德 參 禪
問 道,及 諸 大 教 等 經 無 不 參 究 " (thả trẩm ư hài
đồng hữu thức chi niên, sảo văn thiền sư chi huấn: tắc
trừng tâm tức lự, khái nhiên thanh tịnh, hữu tâm hồ nội
giáo, tham cứu ư thiền tông, hư kỷ cầu sư, tinh thần mộ
đạo,....Phàm ngụ cơ hạ, tụ hội kỳ đức, tham thiền vấn
đạo, cập chư đại giáo đẳng kinh, vô bất tham cứu - Trẫm
lúc tuổi còn nhỏ, chưa biết gì nhiều, đã nghe loáng
thoáng thiền sư dạy bảo, thì tâm lắng trong, an tịnh, bèn
chú tâm vào nội giáo, tham cứu đạo thiền, hạ mình tìm
thầy, chí thành mộ đạo.....mỗi khi rảnh rỗi, Trẫm lại
hội họp các bậc cao đức để tham thiền hỏi đạo. Đến
các kinh điển của giáo lý đại thừa không kinh nào mà không
nghiên cứu)
38
Trần Thái Tông, Khoá hư lục, phần Niệm Phật Luận, ghi rằng:
夫 念 佛 者。由 心 所 起。心 起 於 善 則 爲 善 念。
善 念 之 起, 則 善 業 報 之。 心 起 於 悪 則
爲 悪 念。 悪 念 之 生 則 悪 業 應 之。 如 鏡 現
象。似 影随 形。 故 永 嘉 禅 師 有 云: 誰 無 念 誰
無 生。Phù niệm giả, do tâm sở khởi. Tâm khởi ư thiện
tắc vi thiện niệm. Thiện niệm chi khởi, tắc thiện ứng
báo chi. Tâm khởi ư ác, tắc vi ác niệm. Ác niệm chi sanh
tắc ác nghiệp chi. Như cảnh hiện tượng, tợ ảnh tuỳ hình.
Cố Vĩnh gia thiền sư hữu vân :"thùy vô niệm, thùy vô sanh".
39
Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Thái Tông, phần Bàn Về Niệm
Phật, nxb Tổng Hợp, tp. Hồ Chí Minh, 2004, tr.366-367
40
心 内 彌 陀 紫 磨 躯 東 西 南 北 法 性身 周長 空 只 見
孤 輪 月,刹 海 澄 澄 夜 漫 秋 Tâm nội Di Đà tử mạ khu,
Đông tây nam bắc pháp thân chu, Trường không chỉ kiến cô
luân nguyệt, Sát hải trừng trừng dạ mạn thu.
41
"mựa" là cách nói theo chữ Nôm, có thể hiểu là "chẳng phải,
uổng công"
42
Mạc đãi Tây phương viễn, Tây phương tại nhãn tiền, Thủy
lưu quy đại hải, Nguyệt lạc bất ly thiên. Theo Lê Mạnh
Thát, Toàn tập Trần Thái Tông, sđd, tr.307, ghi rằng: "Truyện
của thiền sư Tịnh Chiếu Đạo Trăn trong Tục truyền đăng
lục 9, ĐTK 2077.51.519c18-19, có ghi: Thuỷ lưu nguyên đại hải,
Nguyệt lạc bất ly thiên"