TƯƠNG
GIAO VÀ NHẤT THỂ
Hồng Dương
(I)
Ba
tánh hay hai tánh?
Theo
Bồ tát Long Thọ, Chân không trong thuyết Chân không của Bát
nhã có nghĩa là hết thảy hiện tượng chỉ là hiện hữu
tương quan, do đó không có tự tính. Vì vô tự tính nên hiện
khởi do nhân duyên và vì duyên sinh vô tính nên duyên sinh là
Không. Duyên khởi đồng nghĩa với Không được xác nhận
trong bài tụng XXIV.18, Trung luận: “Các pháp do duyên khởi
(pratìtya samutpàda), nên ta nói là Không (sùnyatà)."
Theo
nghĩa tiếng Phạn, pratìtya samutpàda dịch là duyên khởi có
thể hiểu là "hiện khởi tương y tương đối (interdependence)"
hay "do các duyên phối hợp mà pháp sinh khởi". Về chữ sùnyatà,
theo T. Stcherbatsky, hay nhất nên dịch là "tánh tương đối
hay tánh ngẫu duyên" (relativity or contingency). Ông viết: "Toàn
bộ văn học Đại thừa chung qui cho thấy sùnya đồng nghĩa
với duyên khởi và có nghĩa không phải cái gì rỗng không,
mà là cái gì không có tự thể độc lập (svabhàva-sùnya)"
(The Conception of Buddhist Nirvàna)
Trung
luận cho rằng đức Phật thuyết về pháp Không như là phương
tiện đối trị và đã tuyên thuyết giáo lý của mình cho
chúng sinh bằng phương tiện Nhị đế. Chính theo tục đế
mà đức Phật giảng rằng tất cả pháp đều có là do nhân
duyên; nhưng theo Chân đế thời tất cả pháp đều Không,
nghĩa là bản tính của tất cả các pháp là không có tự
tính. Trung luận đã đứng trên lập trường Chân đế để
đả phá sự quan sát và phân tích sai lầm của tục đế.
Do đó, có thể hiểu một cách tiêu cực Duyên khởi hay tánh
Không là vô tự tính, không có thực tại cứu cánh, tất cả
đều không và bình đẳng, không giá trị, và không có gì
đáng để chấp trước.
Pháp
Tạng ngược lại muốn hiểu tánh Không hay Duyên khởi theo
nghĩa tích cực là "hiện khởi tương y tương đối". Vì tương
y tương đối cũng có nghĩa là vô tự tính, là Không, cho nên
trên quan điểm nhận thức của Pháp Tạng, đồng thời với
sự phủ định hay bài bác các tà kiến và những sai lầm
của tri thức thường nghiệm, phát sinh một đường lối nhận
thức mới mẻ, rất tích cực, là nhận chân tánh đồng nhất
và quan hệ hỗ tương y tồn của muôn vật đúng theo yếu
chỉ của kinh Hoa nghiêm.
Trong
Chương Hai: "Duyên khởi môn lục nhân nghĩa", Hoa nghiêm Nhất
thừa giáo nghĩa phân tề chương, gọi tắt là Ngũ giáo chương,
Tuệ Sỹ dịch, đứng trên phương diện thể và dụng Ngài
giải thích lại sáu nghĩa của pháp chủng tử và gọi đó
là sáu nghĩa của nhân [Xem Nhân duyên và tứ cú, Tánh khởi
và Duyên khởi. Hồng Dương. Sáu nghĩa của nhân là 1. Không,
có lực, không đợi duyên; 2. Không, có lực, đợi duyên; 3.
Không, vô lực, đợi duyên; 4. Hữu, có lực, không đợi duyên;
5. Hữu, có lực, đợi duyên; 6. Hữu, vô lực, đợi duyên].
So với bốn song thế phủ định (bát bất) mà Bồ tát Long
Thọ sử dụng để biểu dương đạo lý Duyên khởi của đức
Thế Tôn, Ngài viết:
"Hỏi:
Quan hệ (phân tề) giữa sáu nghĩa với bát bất như thế nào?
Đáp:
Bát bất căn cứ phủ định (già). Sáu nhân căn cứ khẳng
định (biểu). Lại nữa, bát bất ước theo sự phản tình
(tình chỉ sáu căn thức) để lý tự hiển. Sáu nghĩa căn
cứ theo sự hiển lý mà tình tự chúng mất. Hai môn này chỉ
là hai mặt của một đồng tiền."
Nghĩa
là, bát bất phủ định mọi lượng đoán về sinh và diệt,
thường và đoạn, đồng và khác, đến và đi để chứng
minh sự vật vô tự tính, để hiển minh tánh Không. Trái lại,
những lượng đoán ấy đương nhiên bị phủ định do nghĩa
sáu nhân hiển bày lý duyên khởi. Pháp Tạng một mặt, chỉ
cho thấy làm thế nào mỗi sự vật tác dụng như một nhân
năng động theo sáu nghĩa khác nhau, và mặt khác, vừa nhấn
mạnh đến lực tác động và sáng tạo của mỗi sự vật
trên tất cả sự vật khác, vừa chứng minh các hiện tượng
chỉ hiện hữu trong sự tương quan giao thiệp và không có
tự thể.
Tuy
đạt cùng một kết quả như Bồ tát Long Thọ là chứng minh
được sự vật không hiện hữu cái này độc lập đối với
cái kia, nhưng phương cách lập luận thời khác hẳn. Để
giải thích thế nào là sự vật hỗ tương y tồn trong tiến
trình chúng biến vị, Pháp Tạng cắt nghĩa thế nào là một
pháp (dharma) làm nhân sáu cách khác nhau và vì các hiện tượng
tương giao làm nhân cho nhau, nên mọi pháp hay sự vật đồng
thời cũng là quả của những nhân khác. Như thế, sự hiện
hữu của pháp là chỉ do nương vào những điều kiện hỗ
trợ và không có tự thể độc lập. Với lối nhìn tích cực
thấy mỗi pháp là duyên tố hỗ trợ cần thiết đối với
tất cả pháp khác, nên bất kỳ hiện tượng nào cũng được
công nhận có một giá trị tuyệt đối trong mạng lưới hiện
tượng tương ỷ hỗ lại, thay vì xem tất cả pháp lưu xuất
từ tánh Không đều bình đẳng, không trọng yếu.
Để
xây dựng một nền tảng hợp lý xác chứng quan điểm nhận
thức phát xuất từ Thiền quán cho rằng vạn vật đồng nhất
trên cơ bản và chỉ hiện hữu trong thế tương giao vô tận,
Pháp Tạng trong Ngũ giáo chương tìm cách giải thích tại sao
và như thế nào vạn hữu hiện khởi hỗ tương nhiếp nhập
vô ngại. Luận chứng đại cương có thể tạm chia làm ba
phần. Phần đầu đề cập tánh đồng nhất của vạn hữu,
kế tiếp là vấn đề hỗ tương y tồn, và cuối cùng chứng
minh một là tất cả, tất cả là một.
Trước
tiên, Pháp Tạng thuyết minh sự bao hàm và dung nạp lẫn nhau
giữa Hiện tượng và Bản thể, giữa Sự và Lý, đúng theo
ý nghĩa câu “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”
trong Tâm kinh. Đó là bước đầu cần thiết cho sự thiết
lập hệ thống tư tưởng gọi là thuyết sự sự vô ngại.
Ba khí cụ được sử dụng trong giai đoạn mở đầu này.
Một là lý duyên khởi, căn cứ sở y của hệ thống, thứ
đến là thuyết ba tánh dùng làm khung ý niệm để thảo luận
các vấn đề duyên khởi, và cuối cùng là phép tứ cú của
Trung quán, phương thức thích hợp nhất để quán sát và phân
tích ba tánh.
Có
nhiều nguyên nhân được nêu ra khác với lý do cần thiết
để cắt nghĩa tại sao Pháp Tạng dùng thuyết ba tánh của
phái Duy thức theo truyền thống Huyền Tráng làm khung ý niệm
để luận chứng về thuyết sự sự vô ngại hay pháp giới
trùng trùng duyên khởi. Bao gồm một học thuyết quan trọng
của phái Duy thức như thuyết ba tánh có thể là để hiển
bày đặc tính viên dung của hệ thống tư tưởng của Ngài.
Lại nữa, đưa thuyết ba tánh làm một phần của toàn bộ
tư tưởng của Ngài là một cách gián tiếp chỉ trích thuyết
này có tính cách phiến diện chỉ soi sáng một phần của
toàn thể mà thôi. Ngoài ra, theo một số học giả Nhật bản,
Pháp Tạng muốn chứng tỏ với triều đình nhà Đường rằng
triết lý viên dung của Hoa nghiêm theo cách Ngài giải thích
đầy đủ hơn thuyết Duy thức của Huyền Tráng và cung cấp
một cơ bản lý do thích ứng với các mối quan hệ giữa Triều
đình Thiên tử và các nước chư hầu lúc bấy giờ. Ngang
đây, tác giả bài này không thể không băn khoăn về tình
thế hiện tại trên hoàn cầu và không ngăn chận được ý
nghĩ nếu Hoa kỳ mê muội không biết học hỏi và tìm cách
ứng dụng lý thuyết tương dung của Hoa nghiêm trong chính sách
toàn cầu hóa thời quả là một điều bất hạnh cho nhân
loại!
Tưởng
cũng cần nhắc lại ba tánh là y tha khởi tánh, biến kế chấp
tánh, và viên thành thật tánh. Trong hệ thống Pháp Tạng,
y tha khởi tánh là tánh của một vật mà sự hiện hữu hoàn
toàn tùy thuộc ngoại duyên. Biến kế chấp tánh là tánh của
cũng vật ấy do phàm phu mê muội vọng tình phân biệt biểu
hiện như cảnh ở bên ngoài một chủ thể nhận thức và
chấp cho là thật pháp, đối tượng nhận thức của một
thật ngã. Viên thành thật tánh của vật ấy là tự thân
thực tại, là chân như của vật ấy, không thể dùng danh
tự để kêu gọi, không thể dùng lời nói luận bàn, không
thể dùng tâm suy nghĩ được, chỉ chứng nhập khi lìa các
vọng niệm phân biệt.
Ba
tánh là sắc thái của các pháp sở tri (sở tri là được
biết đến) bao gồm tất cả có không, tâm vật, nhiễm tịnh,
thiện ác, mê ngộ, thánh phàm. Mỗi pháp đều cùng lúc có
cả ba tánh. Nhiếp luận nói ba tánh là các pháp sở tri và
viên thành là nơi y tha mà không còn biến kế ngã pháp. Y tha
tánh là trục chính của thuyết ba tánh, bởi vì “nơi y tha,
biến kế với viên thành, tức sinh tử với niết bàn không
có sai khác. Tại sao? Vì chính nơi y tha, do mặt biến kế mà
thành sinh tử, do mặt viên thành mà thành niết bàn.”
Ba
tánh là ba cách có của cùng một vật. Tánh có ba bởi vì
mỗi tánh có mỗi cách: biến kế có một cách sai lầm.và
vô thường, gọi là vọng hữu, y tha có một cách tương đối
nhưng vô thường, gọi là giả hữu, và viên thành có một
cách đích thực và thường, gọi là thật hữu. Lại nữa,
có một sự tương phản triệt để giữa biến kế và viên
thành, và y tha là y tha, chẳng phải biến kế chẳng phải
viên thành. Biến kế và viên thành là hai đối cực biểu
hiện bản chất của vô minh và giác ngộ, của vọng và chơn.
Trên quan điểm của thuyết ba tánh, muốn được giác ngộ
giải thoát hoàn toàn thời phải tìm cách chuyển biến từ
biến kế sang viên thành nương nơi y tha.
Trái
với quan điểm Duy thức, Pháp Tạng cho rằng cái gọi là chơn
và vọng không phải là hai thứ trật tự của thực tại hoàn
toàn riêng biệt và đối nghịch nhau mà thật ra chúng bất
tương ly và vô sai biệt. Để chứng minh chỉ có một thực
tại trong đó chơn vọng hòa hiệp, không một không khác, Pháp
Tạng trước hết giải thích tánh nào trong ba tánh cũng có
hai nghĩa giống nhau là vọng và chơn hay Hữu và Không. Từ
đó Ngài đồng nhất hóa ba tánh, giảm trừ khoảng cách và
sự sai biệt giữa hai đối cực, biến kế và viên thành,
vọng và chơn, mê và ngộ, luân hồi và niết bàn, tục đế
và chân đế, ... đến độ chúng hóa đồng nhất. Hơn nữa,
bằng phương pháp rút ba về hai Pháp Tạng chỉ cho thấy cái
thế giới ngoài kia chẳng những là một thế giới sắc tướng
mà còn chính là Pháp thân của chư Phật. Sau đây là những
đoạn văn luận chứng của Pháp Tạng trong Hoa nghiêm Nhất
thừa giáo nghĩa phân tề chương, Tuệ Sỹ dịch. (T. 1866, 499a)
Bắt
đầu là ghép hai nghĩa cho mỗi tánh: “Trong ba tánh, mỗi tánh
đều có hai nghĩa. Trong Chân (Viên thành thật tánh), có hai
nghĩa: 1. Tùy duyên, 2. Bất biến. Trong Y tha, có hai nghĩa: 1.
Tợ hữu, 2. Vô tánh. Trong Biến kế sở chấp, có hai nghĩa:
1. Tình hữu, 2. Lý vô.”
Nghĩa
1
Nghĩa
2
Viên
thành thật tánh
Bất
biến
Tùy
duyên
Y
tha khởi tánh
Vô
tánh
Tợ
hữu
Biến
kế chấp tánh
Lý
vô
Tình
hữu
Ba
tánh với các nghĩa của chúng.
Với
Viên thành, bất biến có nghĩa là tự tánh thanh tịnh thường
còn không biến đổi mặc dầu được nhận biết như là những
hiện tượng. Tùy duyên tưởng chừng trái nghịch với bất
biến bởi vì Chân như điều động bởi sức nhân duyên mà
xuất hiện dưới hình thức các pháp thanh tịnh hay ô nhiễm.
Với y tha khởi, tợ hữu có nghĩa là hình tướng hiển hiện
tưởng chừng tồn tại và thật có. Trái lại, vô tánh có
nghĩa là không có tự thể, có là do duyên sinh nên có mà không.
Cuối cùng, với biến kế, tình hữu là có đối với giác
quan, nghĩa là tướng dạng các pháp biểu hiện trước mắt
cho là có thật. Tuy nhiên, nghĩa thứ hai kiểu chính lại là
lý vô tức phi hữu.
Nhìn
vào bảng trên và xét các trọng tính khác nhau của ba tánh,
ta thấy mặc dầu giữa chơn và vọng, tức giữa viên thành
và hai tánh kia, nghĩa rất khác nhau trên ba phương diện, tu
dưỡng, bản thể, và nhận thức, chung cánh ba tánh giống
nhau bởi vì cả ba đều do chơn vọng hòa hiệp mà thành. Thật
vậy, theo Pháp Tạng, ba nghĩa trong cột Nghĩa 1 thật ra có
cùng một nghĩa. Nghĩa là, vô tánh của y tha chính là bất
biến của viên thành và lý vô của biến kế. Hơn nữa, cả
ba đều là chơn và đồng hóa với Không. Cũng thế, ba nghĩa
trong cột Nghĩa 2 đồng một nghĩa, đều là vọng và đồng
hóa với Hữu. Hữu đây tương đương với Sắc, Sắc trong
văn học Bát nhã. Rốt cuộc tánh nào trong ba tánh cũng có
hai môn, chơn và vọng, Không và Hữu. Vì lý do ấy mà nói
ba tánh đồng nhất, tuy ba nhưng thật ra chỉ là một.
Pháp
Tạng giải thích: “Do bất biến trong Chân, vô tánh nơi Y
tha, lý vô nơi Sở chấp, cho nên ba tánh đồng một tế, không
dị biệt. Đó tức là không hoại ngọn mà gốc thường. Kinh
nói: Chúng sinh tức Niết bàn, không cần phải diệt thêm nữa.
Lại
ước theo tùy duyên của Chân như, tợ hữu của Y tha, tình
hữu của Sở chấp; do ba nghĩa này, chúng cũng không dị biệt.
Đó tức là, gốc không động mà ngọn thường. Kinh nói: Pháp
thân lưu chuyển trong năm đường, gọi là chúng sanh. Do ba
nghĩa này cùng với ba nghĩa trước là bất nhất. Cho nên,
Chân bao trùm đến ngọn vọng. Vọng thấu suốt tận nguồn
Chân. Tánh tướng dung thông, không chướng ngại.
HỎI:
Y tha tợ hữu, há cũng đồng với Sở chấp là tình hữu chăng?
ĐÁP:
Do hai nghĩa, nên chúng không khác. 1. Sở chấp chấp cái tương
tợ cho là thật, cho nên không có pháp nào khác. 2. Nhưng nếu
rời Sở chấp, cái tợ không xuất hiện. Tùy duyên ở trong
Chân, nên biết, cũng như vậy. Vì không có Sở chấp thì không
có tùy duyên.
HỎI:
Vì sao, trong ba tánh, mỗi tánh đều có hai nghĩa, mà không
mâu thuẫn nhau?
ĐÁP:
Do hai nghĩa này mà không tánh dị biệt. Vì sao không có dị
biệt? Như Viên thành, tuy tùy duyên mà trở thành nhiễm tịnh,
nhưng hằng không mất tự tánh thanh tịnh. Chính do không mất
tự tánh thanh tịnh, nó mới có thể trở thành nhiễm tịnh.
Cũng như gương sáng làm hiện rõ nhiễm tịnh. Tuy hiện nhiễm
tịnh, mà hằng không mất tính minh tịnh của gương. Chính
do gương không mất đi tính minh tịnh, nó mới có thể hiện
rõ các hình tướng nhiễm tịnh. Bằng sự hiện rõ nhiễm
tịnh mà nhận thức được sự minh tịnh của gương. Bằng
sự minh tịnh của gương mà nhận thức được sự hiện rõ
của nhiễm tịnh. Vì vậy cả hai nghĩa duy chỉ một tính.
Tuy hiện pháp tịnh mà gương không sáng thêm. Tuy hiện pháp
nhiễm mà gương không làm ố sự sáng của gương. Không những
không bị làm ố đi, trái lại nó còn hiển lộ cái minh tịnh
của gương. Nên biết, đạo lý Chân như cũng vậy. Cho nên,
toàn thể tướng của hai nghĩa thâu vào một tính, không hai.
Há có mâu thuẫn chăng?
Trong
Y tha, tuy hiển hiện nhân duyên tợ hữu, nhưng cái tợ hữu
này tất nhiên vô tự tánh. Vì các duyên sanh đều vô tự
tánh. Nếu không phải là vô tự tánh, tức không mượn duyên.
Vì không mượn duyên, nên không phải là tợ hữu. Tợ hữu
nếu thành, tất do các duyên. Do các duyên tức vô tự tánh.
Cho nên, do vô tự tánh mà có thể trở thành tợ hữu. Do thành
tợ hữu, cho nên là vô tánh. Trí luận nói: Quán tất cả
pháp từ nhân duyên sanh. Từ nhân duyên sanh tức vô tự tánh.
Vô tự tánh cho nên là Tất cánh Không. Tất cánh Không, đó
là Bát nhã ba la mật. Đây là do duyên sanh, cho nên hiển vô
tánh vậy. Trung luận nói: Vì có nghĩa Không, nên các pháp
được thành. Đây là do vô tánh mà thuyết minh duyên sanh vậy.
Kinh Niết bàn nói: Nhân duyên, cho nên hữu. Vô tánh, cho nên
không. Đây là nói vô tánh tức nhân duyên, nhân duyên tức
vô tánh. Đó chính là pháp môn bất nhị. Không những tánh
và tướng của hai nghĩa không mâu thuẫn nhau, mà toàn cả
thể và tướng được thâu vào tuyệt đối vô nhị.
Trong
Sở chấp, tuy ngay nơi tình mà chấp hiện hữu, nhưng nơi đạo
lý nó tất cánh là vô. Vì ở nơi chỗ cái vô mà suy luận
sai lầm thành hữu. Như thấy cây cụt ngọn mà nhầm tưởng
là quỷ không đầu. Quỷ đối với cây là tất cánh vô. Như
ở nơi cây mà quỷ không là vô, tức không thể nói là suy
luận nhầm có quỷ. Như vậy biêt rõ, về lý, nó là vô. Do
lý vô nên thành có suy luận nhầm. Vì thành suy luận nhầm
nên biết rằng lý vô. Cho nên, cả hai không có hai, mà duy
nhất là một tính. Nên biết, trong đạo lý Sở chấp cũng
vậy.”
Sau
đó, Pháp Tạng dùng tứ cú chỉ rõ ba tánh mô tả với các
nghĩa ghép như trên rốt ráo là Không:
“HỎI:
Chân như là hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì tùy duyên. Hỏi:
Chân như là vô chăng? Đáp: Không phải. Vì bất biến. Hỏi:
Vừa hữu vừa vô chăng? Đáp: Không phải. Vì không có hai
tính. Hỏi: Phi hữu phi vô chăng? Đáp: Không phải. Vì đủ
các phẩm tính.
Lại
hỏi: Hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì bất biến. Vì sao? Do
bất biến, tùy duyên hiển thị.
Hỏi:
Vô chăng? Đáp: Không phải. Vì tùy duyên. Vì sao? Do tùy duyên,
nên bất biến, thường trụ.
Hai
cú còn lại, theo đó mà suy.
Lại
hỏi: Hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì vượt ngoài đối tượng
ngôn thuyết. Ba cú còn lại, cũng vậy.
Lại
hỏi: Hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì là không Chân như. Hỏi:
Vô chăng? Đáp: Không phải. Vì bất không Chân như. Hỏi: Vừa
hữu vừa vô chăng? Đáp: Không phải. Vì vượt ngoài mọi
mâu thuẫn. Hỏi: Phi hữu phi vô chăng? Đáp: Không phải. Vì
xa lìa hý luận.
Lại
hỏi: Hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì xa lìa vọng niệm. Hỏi:
Vô chăng? Đáp: Không phải. Vì là hành xứ của Thánh trí.
Còn lại chuẩn theo đó.
Về
Y tha. Hỏi: Y tha là hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì duyên
khởi vô tánh. Hỏi: Y tha là vô chăng? Đáp: Không phải. Vì
vô tánh duyên khởi. Hỏi: Vừa hữu vừa vô chăng? Đáp: Không
phải. Không có hai tính. Hỏi: Phi hữu phi vô chăng? Đáp: Không
phải. Vì có nhiều nghĩa môn.
Lại
hỏi: Hữu chăng? Đáp: Không phải. Vì duyên khởi. Vì sao?
Những gì là duyên khởi đều vô tánh. Hỏi: Vô chăng? Đáp:
Không phải. Vì vô tánh. Vì vô tánh mà thành duyên khởi. Hai
cú còn lại, chuẩn theo đó."
Về
Sở chấp, cũng lý luận tương tợ. Kết luận: Chung cánh ba
tánh với hai nghĩa Pháp Tạng ghép cho mỗi tánh như trên đều
có tự thể Không, chẳng có gì đáng chấp trước. Tam thập
tụng của Thế Thân nhấn mạnh rằng tánh viên thành thật,
chân tướng của thực tại, cũng chính là y tha khởi: “Viên
thành thật có nghĩa là sự vắng mặt vĩnh viễn của biến
kế chấp nơi y tha khởi. Do đó nó (viên thành thật) với
y tha khởi không phải một mà cũng không phải khác.” Vì
vậy nếu thế giới các pháp hữu vi (hiện tượng) không gì
khác là Chân như (Viên thành thật) bất biến tùy duyên thời
sự biệt lập ba tánh bị phế bỏ và cái còn lại là một
thế giới hiện tượng (vọng) tàng ẩn trong Chân như thường
hằng bất biến (chơn). Như thế, Bản thể khi tĩnh là Chân
như, khi động là Hiện tượng. Bản thể tức thị Hiện tượng,
Hiện tượng tức thị Bản thể, đúng là một cách phô diễn
ý nghĩa của câu “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”
trong Tâm kinh.
Nói
cách khác, Bản thể là hóa hợp của Chơn và Vọng, Không
và Hữu (Sắc). Trên Chơn thời tùy duyên, trên Vọng thời
thể Không, nên chi Chơn chẳng khác Vọng. Trên Chơn nó chẳng
biến, trên Vọng nó thành sự, nên chi Chơn chẳng đồng nhau
với Vọng. Như vậy, Chơn và Vọng, Không và Hữu phi đồng
phi khác, bất tức bất ly. Mỗi mỗi sự vật là hóa hợp
vọng và chơn, nghĩa là, vừa hiện tượng vừa bản thể,
cả hữu lẫn Không.
Đồng
nhất trong dị biệt.
Sau
bước đầu chứng minh sự bao hàm và dung nạp lẫn nhau giữa
hiện tượng và bản thể, giữa Sự và Lý, nay đến giai đoạn
giải thích thế nào là vạn hữu đồng nhất thể. Vì “Do
tánh Không mà tất cả pháp được thành tựu và hợp lý”
(Trung luận) và “Cái Một luân lưu toàn vẹn trong thế giới
đa thù” (dẫn chứng kinh Hoa nghiêm trong Lăng già sư tư ký
của Huệ Khả), cho nên vạn vật dù tướng dạng sai khác
đến đâu, chúng cũng đồng nhau ở chỗ tất cả đều Không.
Đồng nhất ở đây là đồng nhất trong dị biệt, nghĩa là
sự vật giống nhau vì chúng khác nhau.
Chủ
trương đồng nhất trong dị biệt của Pháp Tạng được thấy
trong cách phân tích mọi hữu thành hai thể, đồng thể và
dị thể. Đây là kết quả của luận chứng phân tích ba tánh.
Riêng mỗi tánh và toàn ba tánh đều có hai nghĩa, tùy lúc
gọi tên khác nhau, khi thời chơn và vọng, khi thời Không và
Hữu. Vì ba tánh là các pháp sở tri cho nên pháp sở tri nào
cũng theo đó mà có hai nghĩa như vậy. Lần này, hai nghĩa là
đồng thể và dị thể và do hai nghĩa này mà các pháp thành
tương tức tương nhập. “Sở dĩ có hai môn này là vì trong
các duyên khởi môn đều có hai nghĩa: 1. Không hỗ tương quan
hệ (bất tương do nghĩa); bởi vì mỗi cái tự thân đầy
đủ các phẩm tính (cụ đức), như trong nhân không cần hội
đủ duyên (bất đãi duyên). 2. Hỗ tương quan hệ (tương do
nghĩa), như cần hội đủ các duyên vậy. Nghĩa đầu là đồng
thể; nghĩa sau là dị thể.” (T. 45, 1866, 503b. Tuệ Sỹ dịch)
Hiểu
một cách tiêu cực, đồng thể có nghĩa là hết thảy pháp
đều giống nhau ở chỗ có tự thể Không. Tuy nhiên, tất
cả pháp là dị thể tại vì trên phương diện Hữu mỗi pháp
có mỗi cách khác nhau. Như lửa và nước đồng nhất thể
vì bản thể chúng là Không, nhưng cách thức mỗi môn hiện
có thời rõ ràng là dị biệt.
Áp
dụng sáu nghĩa của nhân, Pháp Tạng giải thích hai môn đồng
thể và dị thể một cách tích cực hơn. Mỗi biến cố hay
sự vật là một cá thể riêng biệt, có tướng và dụng của
riêng nó, và trong cách thế một cá thể, nó hỗ tương giao
thiệp với môi trường chung quanh. Theo Hoa nghiêm tông, môi
trường ấy bao gồm toàn thể vũ trụ. Mặt khác, một biến
cố hiện khởi không thể vì duy nhất một nguyên nhân, mà
phải cần vô số điều kiện. Một pháp mà thôi không đủ
tính cách dẫn sanh ra một quả nào đó. Một cọng lúa chẳng
hạn không phải chỉ do một hạt giống sinh ra mà còn cần
đến vô số điều kiện khác nữa như đất, nước, ánh sáng
mặt trời, phân bón, v.v..., không kể xiết. Theo Hoa nghiêm
thời toàn thể vũ trụ tác dụng như một điều kiện để
sanh cọng lúa. Nói như thế, không có nghĩa thông thường là
hạt giống cần đến vô số điều kiện khác, mà ở đây
có nghĩa là hạt giống mượn hay chiếm đoạt tất cả tính
chất của các điều kiện khác. Pháp Tạng muốn nói rằng
hết thảy tính chất tất yếu của các điều kiện khác đều
hàm nhiếp trong hạt giống. Đó là ý nghĩa của chữ tương
nhập theo thuật ngữ Hoa nghiêm. Bất kỳ biến cố nào trong
cách thế một cá thể trở thành một điều kiện đối với
toàn thể, do đó mà nói nó thu nhiếp trong nó hết thảy mọi
điều kiện khác.
Tuy
nhiên, cọng lúa nói trên là thí dụ nhân tác dụng chỉ theo
một chiều trong thời gian. Trong Hoa nghiêm, trái lại, nhân
tác dụng khắp mọi chiều. Bởi thế cái thường thấy là
nhân cũng đồng thời là quả của các nhân khác. Biến cố
A, nhân của quả B cũng đồng thời là quả của B (và của
vô số điều kiện khác). Các phạm trù "nhân", "quả", và
"trợ duyên" chẳng những không còn phân cách sai biệt rõ rệt
nữa mà còn có thể hoán đổi cho nhau. Lý do: những điều
kiện chung hợp với một biến cố làm nhân sinh ra một quả
ngay chúng cũng là quả của nhân bởi vì mỗi biến cố được
xem như nhân của toàn thể. Các trợ duyên, cũng là quả của
nhân, đồng thời là nhân của cái biến cố đang được xem
như là nhân của toàn thể. Như vậy, không có biến cố nào
chỉ là nhân, chỉ là quả, hay chỉ là trợ duyên, mà đúng
ra là cả ba. Cọng lúa quả thật lớn lên từ hạt giống.
Tuy vậy, hạt giống là nhân chỉ trong quan hệ với sự mọc
mộng. Nếu không mọc mộng thời hạt giống không phải là
một nhân, do đó, nhân bị quả điều phối. Ngoài ra, các
điều kiện khác như mưa, đất, và hơi nóng là những yếu
tố hỗ trợ hạt giống, là nhân do của hạt giống và đồng
thời do nhân bởi hạt giống.
Tóm
lại, hết thảy mọi pháp theo nghĩa đồng thể thời làm nhân
sinh khởi, theo nghĩa dị thể thời sinh khởi do tương y tương
đối, nghĩa là pháp nào cũng vừa Không vừa hữu.
Trong
trường hợp lấy thân thể con người làm thí dụ, bảo rằng
cái mũi và gan của tôi đồng nhất không có nghĩa là muốn
tiêu trừ sự sai khác về hình dạng, vị trí, và chức năng
của hai bộ phận ấy. Thật vậy, nếu tôi nằng nặc bảo
gan của tôi chỉ đồng nhất với mũi của tôi, và nếu tôi
nằng nặc bảo chúng không dị biệt, thời con người của
tôi hóa ra là một lỗ mũi lớn và không thể là cái thân
thể này vì nó phải có mũi, gan, mắt, tay, não, v.v... Nhưng
khi tất cả các bộ phận là “như thế”, “trụ pháp vị”,
tác dụng theo cách thức của chúng, thời tôi chính là cái
thân thể đó. Nói đến toàn thể tức là đã ngụ ý bộ
phận vì không thể có toàn thể nào tách riêng khỏi các bộ
phận cấu thành. Khi mỗi bộ phận tác dụng trong cách thế
hiện hữu của chúng thời phát hiện một toàn thể, và tánh
đồng nhất của các bộ phận cá biệt là do trạng huống
trong đó mỗi mỗi bộ phận cá biệt tác dụng cùng một cách
giống nhau như một điều kiện tất yếu của toàn thể. Nếu
tất cả đều hoàn toàn không dị biệt, thời toàn thể không
thể hình thành. Đồng nhất thể và hỗ tương y tồn thật
ra là hai lối nhìn vào cùng một trạng huống, một tĩnh một
động. Cả hai lối nhìn đều chấp nhận rốt ráo hết thảy
đều Không. Sự vật là Không vì chúng hỗ tương y tồn, và
trong quan hệ hỗ tương y tồn chúng đồng nhất thể.
Thầy
Tuệ Sỹ cho biết trong Hoa nghiêm kinh Minh pháp Phẩm nội lập
Tam bảo chương, có Chương Pháp giới duyên khởi trình bày
tóm tắt qua bốn môn, môn đầu tiên là Duyên khởi tương
do môn, nói đến đồng thể và dị thể. Để hiểu ý nghĩa
của hai khái niệm đồng thể và dị thể, xin trích ra đây
đoạn văn Thầy dịch về Duyên khởi tương do môn.
“PHÁP
GIỚI DUYÊN KHỞI CHƯƠNG”
Pháp
giới duyên khởi, tóm tắt trình bày qua bốn môn: 1. Duyên
khởi tương do môn, 2. Pháp tánh dung thông môn, 3. Duyên tánh
song hiển môn, 4. Lý sự phân vô môn.
I.
DUYÊN KHỞI TƯƠNG DO
Trong
phần, chia thành ba tiểu mục: 1. Chư duyên hỗ dị, tức dị
thể; 2. Chư duyên hỗ ứng, tức đồng thể; 3. Ứng dị vô
ngại, tức song biện đồng dị. Trong ba tiểu mục này, mỗi
mục có ba nghĩa: (a) Hỗ tương y trì lực vô lực, do nghĩa
này mà thành tương nhập. (b) Hỗ tương hình đoạt thể vô
thể, do nghĩa này mà thành tương tức. (c) Thể dụng hữu
vô, do đây mà tương tức và tương nhập đồng thời tự
tại.
1.
Duyên khởi hỗ dị (hỗ tương dị biệt)
(a)
Trong đại duyên khởi, các duyên quan hệ lẫn nhau, thể và
dụng của chúng khác biệt nhau. Vì chúng không xen tạp nhau
nên nói là dị. Nói là y trì, tức Một duy trì Nhiều. Vì
Một hữu lực nên có thể bao hàm Nhiều. Nhiều y trên Một,
Nhiều vô lực. Cho nên nó tiềm nhập vào trong Một. Đây tức
là không có cái Một nào mà không bao dung Nhiều; vì không
có cái Một nào là không duy trì. Không có cái Nhiều nào mà
không nhập vào Một; vì không có cái Nhiều nào mà không y
trên Một. Cũng như Nhiều y Một; nghĩa của trì cũng vậy.
Một y Nhiều, trì cũng vậy. Cho nên, cũng không có cái Nhiều
nào mà không bao hàm Một. Do Một quy chiếu Nhiều mà có y,
có trì, toàn lực, vô lực, cho nên năng nhiếp (sự bao hàm),
năng nhập (sự hội nhập), không có gì chướng ngại. Do Nhiều
quy chiếu Một mà có y, có trì, vô lực, toàn lực, do đó
năng nhiếp, năng nhập cũng không có gì chướng ngại. Cả
hai cùng tồn tại, cùng triệt tiêu, hoàn toàn vô ngại; chuẩn
theo đó mà diễn dịch. Đã nói xong nghĩa tương nhập.
(b)
Các duyên tương đoạt (triệt tiêu lẫn nhau), thể và vô thể:
Nhiều duyên là vô tánh, do Một mà thành. Cho nên, Nhiều tức
Một. Do Một có tự thẻ nên bao hàm Nhiều. Do Nhiều vốn
vô tánh, một cách tiềm thế đồng với Một; do đó, không
cái Một nào không phải là của Nhiều. Cũng không có cái
Nhiều nào không phải là của Một. Một là vô tánh do Nhiều
mà thành. Nhiều có Một là Không, nên tức Nhiều cũng vậy.
Một quy chiếu Nhiều, có vô thể của hữu thể, cho nên nó
bao hàm cái khác đồng với tự thân. Phế bỏ tự thân để
đồng với cái khác, không có gì chướng ngại. Nhiều quy
chiếu Một, có hữu thể của vô thể, nên có thể phế bỏ
tự thân để đồng với cái khác mà bao hàm cái khác đồng
với tự thân, cũng không có gì chướng ngại. Vừa là ta đồng
với cái khác vừa là cái khác đồng với ta; không phải ta
đồng cái khác cũng không phải cái khác đồng ta. Cả hai
đều vô ngại, viên dung, tự tại. Tư duy thì có thể thấy.
Đã nói xong nghĩa tương tức.
(c)
Thể dụng song dung hữu vô môn, tiểu mục này có sáu vế:
(c1)
Không có thể nào mà không có dụng. Trọn cả thể là toàn
dụng, tức duy dụng mà không có thể. Nhưng hữu tương nhập
vô, vì tương tức.
(c2)
Không có dụng nào không có thể, cho nên toàn dụng quy thể.
Duy thể mà không có dụng. Nhưng hữu tương tức vô, vì là
tương nhập.
(c3)
Dụng quy thể nhưng không chướng ngại dụng. Thể của toàn
dụng mà không mất thể. Cho nên, thể và dụng cùng song song
tồn tại mà không chướng ngại lẫn nhau. Tức là, vừa (tương)
tức vừa (tương) nhập. Không có gì chướng ngại, tiêu dung,
dung giải, tự tại.
(c4)
Thể của toàn dụng là thể mất dấu. Dụng của toàn thể
là dụng mất hút. Như vậy, thể và dụng giao triệt nhau,
hình thành nhau và triệt tiêu nhau, cả hai đều phi. (Tương)
tức và (tương) nhập đồng nguồn, viên dung, một vị.
(c5)
Tổng hợp bốn vế trên, đồng nhất duyên khởi, không trở
ngại sự cọng tồn.
(c6)
Triệt tiêu cả 5 vế trước, tuyệt đối không quan hệ, ly
ngôn.
2.
Chư duyên hỗ ứng (hỗ tương đáp ứng)
(a)
Trong các duyên sai biệt, lấy một duyên mà đáp ứng nhiều
duyên. Từng duyên một cùng với Nhiều, hợp toàn thành Một.
Cho nên, cái Một này hàm đủ nhiều cái một. Song, cái Một
của Nhiều (=nhiều cái Một) này tuy vẫn do từ cái Một cơ
bản, vì đáp ứng nhiều duyên nên nó là Một của Nhiều.
Tuv vậy, nó cùng với cái Một cơ bản không có gì sai biệt.
Do đó, gọi đây là đồng thể môn.
Về
y trì dung nhập, cái Một cơ bản này vì là hữu lực nên
nó duy trì nhiều cái một kia. Do vậy, trong cái Một cơ bản,
nó bao dung cái Một của Nhiều kia. Một của Nhiều là vô
lực vì y trên Một cơ bản, cho nên Một của Nhiều hội nhập
vào trong Một cơ bản.
Đó
tức là, không cái Một cơ bản nào mà không bao dung Một của
nhiều. Cũng không có cái Một của nhiều nào mà không hội
nhập vào trong Một cơ bản. Cũng như Một cơ bản vì hữu
lực nên nó là cái duy trì. Một của nhiều vì là vô lực
nên nó là cái y tựa. (Bao) dung và (hội) nhập đã vậy, thế
thì, Một của nhiều hữu lực nên trì, Một cơ bản vô lực
nên y; dung và nhập cũng vậy.
Đó
tức là, không có cái Một của nhiều nào mà không bao dung
Một cơ bản. Không có Một cơ bản nào mà không hội nhập
Một của nhiều. Đó tức là do Một cơ bản quy chiếu lên
Một của nhiều, vì có trì có y, hữu lực vô lực, nên sự
bao dung và hội nhập không bị chướng ngại. Một của nhiều
quy chiếu lên Một cơ bản, có y có trì, vô lực hữu lực,
nên sự hội nhập và bao dung cũng không có gì chướng ngại.
Cùng tồn tại và cùng triệt tiêu, cả hai đều vô ngại.
Cũng chuẩn theo đó mà diễn dịch. Đã nói xong nghĩa dung nhập
trong đồng thể môn.
(b)
Hỗ tương hình đoạt (hình thành và triệt tiêu) thể vô thể:
Một
của nhiều là vô tánh, do Một cơ bản mà thành nhiều cái
Một. Toàn thể của nó là Một cơ bản. Như vậy, Một cơ
bản có tự thể mà bao hàm nhiều cái Một. Một của nhiều
là vô thể, vì tiêu dung đồng với Một cơ bản. Không cái
Một cơ bản nào không bao hàm Một của nhiều (= nhiều cái
một). Cũng không có Một của nhiều nào mà không tức là
(=tương tức) Một cơ bản. Cũng như Một cơ bản là hữu
thểû, Một của nhiều là vô thể, sự bao hàm (nhiếp) và
(tương) tức đã như vậy; thế thì, Một của nhiều là hữu
thể mà Một cơ bản là vô thể, sự bao tương tức và bao
hàm cũng vậy.
Cho
nên, cũng không có Một của nhiều nào mà không bao hàm (nhiếp)
Một cơ bản; cũng không Một cơ bản nào mà không tức là
(tương tức) Một của nhiều. Đó là, Một cơ bản quy chiếu
lên Một của nhiều, vì có hữu thể vô thể, nên nó bao hàm
cái khác đồng với tự thân, phế bỏ tự thân đồng với
cái khác; không có gì chướng ngại. Một của nhiều quy chiếu
lên Một cơ bản, cũng là thể vô thểû, nhiếp và tức, theo
đó mà biết. Vừa nhiếp vừa không nhiếp, vừa tức vừa
không tức; không phải vừa nhiếp vừa không nhiếp, vừa tức
vừa không tức, cả hai vế đều vô ngại. Hãy tư duy sẽ
thấy rõ. Đã nói xong nghĩa tương tức trong đồng thể môn.
(c)
Thể dụng cùng tiêu dung, tương tức tương nhập vô ngại:
Cũng
có sáu cú (vế) vô ngại như trên. Chuẩn theo đó mà tư duy
sẽ thấy rõ. Đã nói xong đồng thể môn.
3.
Ứng dụng vô ngại, song biện đồng thể dị thể
Vì
cả hai phương diện (môn) này cùng đồng một duyên khởi,
không tách rời nhau. Nếu không có dị thể, các duyên trở
thành tạp loạn, không còn là duyên khởi nữa. Nếu không
có đồng thể, các duyên không tương trợ, cũng không phải
là duyên khởi. Cần phải do sự không tạp loạn mà có sự
tương trợ. Cho nên, nếu phi đồng thể không có dị thể;
nếu phi dị thể không có đồng thể. Theo đó mà thông biệân.
Cũng có bốn vế.
(a)
Trọn cả thể toàn là dị thể, đủ cả tương nhập tương
tức.
(b)
Toàn thể là đồng thể, cũng đủ cả tương tức tương nhập.
Vì pháp dung thông, mỗi pháp được bao hàm trong toàn thể.
(c)
Cả hai, đồng thể và dị thể. Vì đồng và dị vô ngại,
cả hai cũng hiện tiền.
(d)
Song phi. Vì triệt tiêu lẫn nhau, cả hai đều tận diệt, nên
song phi.
Các
trường hợp tương nhập tương tức khác, chuẩn theo đó,
tư duy sẽ thấy rõ.
Trên
đây đã nói xong phần một, Duyên khởi tương do môn.”
Đồ
biểu sau đây trình bày sự liên hệ giữa sáu nghĩa của nhân
và khái niệm đồng thể dị thể.
(II)
Tương
tức tồn tại: tánh đồng nhất.
Theo
trên, tánh đồng nhất chỉ vào sự kiện các pháp giống nhau
ở chỗ tất cả đều có tác dụng làm nhân. Nghĩa là, một
pháp bất kỳ nào cũng tác dụng làm tổng nhân (total cause)
của toàn thể mà không cần pháp khác làm trợ duyên. Bởi
vì toàn thể (tức toàn thể các pháp đối với pháp bất
kỳ đó) không thể là một toàn thể nếu pháp bất kỳ đó
không góp phần tác dụng làm nhân và bởi vì pháp nào cũng
tác dụng giống vậy, nên nói mỗi mỗi pháp đều có một
nhân thể (causal essence) đồng nhất với hết thảy mọi nhân
thể khác. Khái niệm đồng thể được suy ra từ khả năng
của mỗi mỗi pháp tác dụng như một tổng nhân không cần
trợ duyên. Nói cách khác, bởi có khái niệm không đợi duyên
(bất đãi duyên) nên mới có phạm trù đồng thể. Nghĩa là,
một nhân đơn nhất thôi mà tác dụng bao quát như nhiều duyên,
thành thử có nhiều nhân cá biệt trong nhân đơn nhất. Những
nhân cá biệt và cái nhân đơn nhất nguyên thỉ không sai khác
nhau, cho nên gọi chúng là “đồng thể”.
Thí
dụ: nếu áp dụng nguyên lý đồng thể để giải thích mười
hai chi duyên khởi thời chi nào cũng có cùng nhân thể giống
như các chi kia và toàn thể các chi hỗ tương liên đới như
trong một chuỗi mắc xích, diễn tiến đồng thời, chi nào
cũng được công nhận tự nó có tác dụng làm tổng nhân
không cần sự giao thiệp với hay hỗ trợ của các chi khác.
Do đó mười hai chi đồng nhất về mặt nhân thể. Đối với
chuỗi mười hai nhân duyên, trên quan điểm của vô minh, tất
cả mười hai chi đều xem như vô minh. Nếu nhìn từ một chi
khác như thức chẳng hạn, thời có thể nói có mười hai
thức. Như thế, đồng thể chỉ vào tánh đồng nhất của
hết thảy pháp trên phương diện khả năng làm nhân không
đợi duyên của chúng.
Tưởng
nên biết ở đây nói đến tánh đồng nhất của các pháp,
tức là nói đến các pháp ở trong khung ý niệm mọi pháp
là hóa hợp đồng thời của Không và hữu. Hữu có nghĩa
vật thể là do duyên sinh; Không chỉ vào sự kiện mọi vật
thể do duyên sinh đều vô tự tính. Bây giờ nếu khảo sát
mối quan hệ giữa một vật thể đơn nhất được xem như
là nhân và nhiều vật thể khác được xem như quả của cái
nhân đơn nhất ấy, ta sẽ thấy mặc dầu chúng khác nhau về
tính chất và về số lượng bên một bên nhiều, trên phương
diện bản thể chúng không sai khác: là vật thể, chúng đồng
nhất trong căn bản vừa Không vừa hữu. Để chứng minh tánh
đồng nhất là kết quả của quan hệ hỗ tương y tồn, Pháp
Tạng dùng phép đếm mười tiền (Sổ thập tiền pháp. Mười
biểu tượng toàn thể theo thuật ngữ Hoa nghiêm).
Hãy
tưởng tượng mười đồng tiền sắp ra thành một hàng, coi
chúng như đồng thời câu khởi. Chúng biểu tượng toàn thể
sự vật hiện hữu trong cách thế tương y tương đối. Quan
hệ giữa bất kỳ đồng tiền nào với toàn thể các đồng
tiền còn lại ví như quan hệ giữa bất kỳ vật gì với
toàn thể vô lượng vật hiện hữu khác. Trước tiên, chọn
tùy ý một đồng làm đồng tiền số 1. Nếu bắt đầu với
đồng tiền số 1 và phân tích quan hệ giữa nó với mỗi
một và toàn thể chín đồng tiền kia, thời có thể nói đồng
tiền số 1 là nhân do của đồng tiền số 2, số 3, đi lên
cho đến đồng tiền số 10. Tại sao?
Vì
vạn hữu vô tự tính cho nên đồng tiền số 2 không phải
là một vật thể tự hữu trong trạng huống hỗ tương y tồn
của toàn thể mười tiền. Là quả của đồng tiền số 1,
nó là số 2. Trên quan điểm đồng tiền số 1, số 1 là nhân
và số 2 là quả, tức số 2 là duyên khởi. Nếu không thế,
thời dẫu không có số 1, số 2 vẫn là số 2, có nghĩa là
tự hữu, có tự tính. Đâu có thể như thế được! Nếu
nhìn từ đồng tiền số 1 là một hữu có tướng riêng và
có bản thể cá biệt, đồng tiền số 2 là Không vì hiện
hữu là do sự có mặt và tác dụng làm nhân của đồng tiền
số 1. Kết quả: đồng tiền số 1 là một hữu thể, một
hiện tượng, trong lúc đồng tiền số 2 là vô thể, là Không,
vì tùy thuộc duyên mà có. Lặp lại lý luận trên đối với
đồng tiền số 3, số 4, ... nhìn theo quan điểm đồng tiền
số 1. Quan hệ nhân quả và nghĩa hữu Không giữa đồng tiền
số 1 và các đồng tiền số khác cũng vậy, giống như trình
bày trên
Nhưng
đồng tiền số 1 là số 1 ở trong trạng huống hỗ tương
y tồn của toàn thể mười tiền. Do đó, nó là Không. Nó
tùy thuộc điều kiện đồng tiền số 10, đồng tiền số
9, hạ lần đến đồng tiền số 2. Như thế chín đồng tiền
còn lại bây giờ là hữu thể, tác dụng làm nhân trên đồng
tiền số 1 và số 1 là quả do duyên sinh nên Không.
Lập
luận như trên, thử hỏi tánh đồng nhất phát hiện từ đâu?
Nếu nhìn vào quan hệ giữa hai đồng tiền số 1 và số 2,
có thể nói rằng số 1 hiện hữu trong tánh Không của nó,
có nghĩa nó là nhân, trong khi số 2 là Không trong sự hữu
của nó, có nghĩa nó tùy thuộc điều kiện và là kết quả.
Nhưng vì nguyên lý hỗ tương y tồn có tính phổ quát, và
vì đồng tiền số 1 là duyên khởi tùy thuộc lực dẫn sanh
quả của đồng tiền số 2 cũng như của tất cả đồng tiền
khác, cho nên số 2 đồng thời hiện hữu trong tánh Không của
nó và số 1 là Không trong sự hữu của nó. Hai đồng tiền
1 và 2 đồng nhất ở chỗ chúng đồng thời hóa hợp cả
Không lẫn Hữu.
Tình
trạng này xảy ra cho bất kỳ đồng tiền nào đối với chín
đồng tiền kia. Tất nhiên phải thế vì quan hệ nhân quả
phát hiện khắp mọi chiều chứ không chỉ trong một chiều
duy nhất. Lẽ tất nhiên, trong trạng huống tương y tương
đối của toàn thể mười tiền, mỗi và mọi đồng tiền
của toàn thể tác dụng giống nhau như một tổng lực dẫn
sanh quả. Bởi vậy mỗi đồng tiền đồng thời là nhân do
và do nhân, là Không và hữu.
Hữu
là hữu trong trạng huống hỗ tương y tồn bởi vì sự tương
giao tác động làm nhân giữa tất cả pháp phát khởi một
cách phổ quát, đồng thời, và hỗ tương. Lý do không ngớt
nhắc nhở hữu là pháp làm nhân một phần là muốn nhấn
mạnh pháp đó thực hữu vì có tác dụng, và phần khác là
muốn lưu ý về tánh Không của quả do pháp làm nhân ấy sinh
khởi. Tuy nhiên, chớ đồng nhất pháp nhân với hữu và pháp
quả với Không, vì trong thực tế, pháp được xem là nhân
đồng thời cũng là Không. Lý do: Do những pháp thực hữu
khác làm nhân, nó là quả duyên sinh cùng một lúc nó làm nhân
tác dụng ngay trên những pháp thực hữu đó.
Tóm
lại, thấy biết vạn hữu đồng nhất thể là do thấy biết
vạn hữu tương giao tác dụng, hỗ tương y tồn, thấy biết
cuộc đời của mình và người rất mong manh và đầy ngẫu
duyên. Và đồng thởi thấy biết tánh Không, do đó mà khám
phá ra rằng sinh mệnh cá nhân tồn tại được là nhờ nương
tựa nơi và duy trì bởi vô lượng hữu khác, hữu tình và
vô tình, gần cũng như xa. Vì vậy sự thấy biết chân thực
các quan hệ tương y tương đối của vạn hữu là nguyên do
của sự phát khởi Bồ đề tâm và sự phát khởi này tạo
một sự đáp ứng trong cảnh giới của hết thảy chư Phật.
“Một Phật tử Chân tông khi diễn tả ý nghĩa này thời
nói rằng mỗi khi có một người mới phát tâm theo giáo lý
Tịnh độ tông thời có một đóa sen mới nở nụ trong ao
của cõi Phật Di Đà.” (Thiền luận. D. T. Suzuki. Tập Hạ.
Tuệ Sỹ dịch)
Tương
giao tác dụng: Hỗ tương y tồn.
Theo
Pháp Tạng, hữu có hai nghĩa: do nhân duyên mà có và làm nhân
trong mạng lưới các quan hệ hỗ tương y tồn của vạn hữu.
Bất kỳ hữu nào cũng là tổng cọng tất cả các nhân kiên
trợ và là một nhân liên kết trong một tiến trình lưu chú
không đình chỉ. Trên phương diện đồng thể, các nhân đồng
nhất ở chỗ tự chúng có đủ khả năng dẫn sanh quả mà
không cần pháp nào khác làm trợ duyên. Trên phương diện
dị thể, vì vạn hữu sinh khởi tương y tương đối, nên
cũng pháp làm nhân ấy nhưng lần này là nhân đãi duyên, nghĩa
là cần các pháp khác làm trợ duyên mới sinh quả.
Thí
dụ một hạt lúa giống, nhìn trên phương diện đồng thể
thời nó bao gồm hết thảy tính chất của tất cả các điều
kiện cần thiết để sanh ra cọng lúa, như đất, nước, ánh
sáng mặt trời, phân bón, ... cho nên tự nó có thể sinh ra
cọng lúa không cần điều kiện nào khác. Nhưng trên phương
diện dị thể, hạt giống có tánh riêng của nó, mặt trời
có tánh nóng, nước có tánh ướt, và đất có tánh nhiều
mầu mỡ. Tánh tuy khác nhưng tất cả cùng chung góp phần trợ
duyên làm sinh khởi cọng lúa. Hạt giống thiếu tất cả tính
chất của các pháp kia, nên một mình không đủ lực dẫn
sinh quả, mà phải nhờ đến tất cả các pháp đó làm duyên
hỗ trợ.
Chính
sự cần trợ duyên là nguyên nhân phát khởi quan hệ tương
nhập. Một pháp là nhân khi nó hàm nhiếp tất cả tính chất
tất yếu của hết thảy pháp trợ duyên hay nói cách khác,
các pháp trợ duyên nhiếp nhập trong pháp làm nhân. Và vì
bất kỳ hiện hữu nào cũng làm duyên hỗ trợ pháp nhân ấy
cho nên chung cùng tất cả hỗ nhập trùng trùng vô tận.
Trong
vũ trụ, nhân duyên tác dụng khắp mọi chiều chứ không hướng
theo chỉ một chiều như từ hạt giống nhân sinh ra cọng lúa
quả. Nghĩa là, cái gì là nhân theo quan điểm này hóa ra là
quả theo quan điểm kia. Hơn nữa, các điều kiện hỗ trợ
pháp nhân để sinh quả lại là quả của pháp nhân và những
điều kiện-kiêm-quả này cũng là nhân của pháp nhân. Sự
tương nhập là kết quả của một trạng huống trong đó pháp
nhân hàm nhiếp các điều kiện, đồng thời các tính chất
của pháp nhân bị các nhân khác thu nhiếp vì nó là quả của
các nhân khác ấy. Nói một cách trừu tượng, thành phần
hàm nhiếp toàn thể và toàn thể hàm nhiếp thành phần. Cuối
cùng, toàn thể thu nhiếp trong một thành phần cũng là một
toàn thể hàm nhiếp thành phần, do đó, pháp pháp tương nhập
trùng trùng vô tận.
Tưởng
nên nhắc lại trong thí dụ phép đếm mười tiền, tánh pháp
pháp đồng nhất thể được thiết lập căn cứ trên sự
hóa hợp của Không và hữu, hai nghĩa của mỗi pháp. Ở đây,
vấn đề không phải là tánh đồng nhất, mà là sự hỗ tương
giao thiệp năng động giữa các pháp. Tương duyên và tương
nhập là kết quả tùy theo pháp hữu lực và vô lực trong
tác dụng dẫn sanh quả. Pháp Tạng giải thích:
“Trong
dị thể, có hai môn: tương tức và tương nhập. Sở dĩ có
hai môn như vậy vì các duyên khởi pháp đều có hai nghĩa:
1. Nghĩa Không hữu, trong mối quan hệ tự thể; 2. Nghĩa lực
vô lực, trong quan hệ lực dụng. Do nghĩa thứ nhất mà được
tương tức; do nghĩa thứ hai mà được tương nhập. Trong nghĩa
đầu, do bởi khi tự tồn tại thì tha không, cho nên tha tức
tự. Do bởi tha vốn vô tính, vì được tác thành bởi tự.
Trong nghĩa thứ hai, khi tự là không thì tha tất là tự hữu,
vì tự tức tha. Do bởi tự vốn vô tính nên cần đến tác
dụng của tha.
Bởi
vì cả hai hữu và hai không đều không câu hữu; không có
cái kia thì không tương tức. Có không, không có, không có
cái hai, cho nên thường tương tức. Nếu không vậy, duyên
khởi bất thành; phạm sai lầm là có tự tính. Hãy suy nghiệm
thì có thể thấy.
Về
lực dụng, do tự có toàn lực nên có thể bao hàm tha. Tha
không toàn lực cho nên có thể nhập vào tự. Tha có lực và
tự không lực, trái với trên, hãy suy nghiệm thì biết.
Do
không y cứ tự thể nên không phải là tương tức. Lực dụng
giao triệt nên thành tương nhập. Lại nữa, do hai lực hữu
và hai lực vô nên mỗi cá biệt không câu hữu. Không có kia
thì không tương nhập. Lại nữa, do dụng bao hàm thể nên
không có thể riêng biệt; duy chỉ là tương nhập. Do thể
bao hàm dụng nên không có dụng riêng biệt, duy chỉ có tương
tức. Điều này y theo nghĩa sáu nhân, chuẩn theo đó mà suy
nghiệm.” (T. 45, 1866, 503b. Tuệ Sỹ dịch giải)
Pháp
làm nhân tác dụng bằng cách thu nhiếp lực của các trợ
duyên, do đó ta bảo pháp nhân là hữu lực và các điều kiện
bị thu nhiếp là vô lực. Tuy nhiên pháp nhân ấy vô lực khi
nhìn nó như là quả của một hay nhiều nhân khác và trên
quan điểm này, nhân mới trở thành hữu lực. Do đó, pháp
nào cũng hữu lực và vô lực tùy theo cách nhận thức nó
như nhân hay như quả của nhân khác.
Hãy
lấy mười hai chi duyên khởi làm thí dụ. Mười hai chi thường
được trình bày như đồng thời câu khởi và tương quan tương
duyên. Trên phương diện hữu lực và vô lực, nếu bắt đầu
từ chi vô minh và xem chi này là nhân của toàn thể (ở đây
toàn thể là tất cả mười hai chi) thời trước hết phải
nhận thức chi này hoàn toàn dị biệt so với mười một chi
kia. Bởi thế để làm nhân, chi vô minh phải chiếm đoạt
và thu nhiếp hết thảy điều kiện trợ duyên của các chi
kia. Nếu vô minh có thể sinh khởi toàn thể mà không cần
các chi kia làm duyên hỗ trợ thời toàn thể hóa ra không gì
khác là vô minh! Cũng như thân thể tôi nếu chỉ nhờ cái
mũi mà tác thành thời toàn thân tôi chỉ là cái mũi!
Khi
vô minh thu nhiếp hết thảy điêu kiện trợ duyên thời nó
có khả năng tác dụng như vô minh và dẫn sanh quả. Mặt khác,
vô minh là do các chi kia sinh khởi, các tính chất của nó bị
các chi kia thu nhiếp, và tương nhập có nghĩa là sự thu nhiếp
hết thảy mọi tính chất vào trong tất cả mười hai chi nhân
duyên. Như vậy, chi nào cũng có đủ tính chất của tất cả
các chi khác. Thêm nữa, vì vô minh là một phần của quả
và cũng là nhân đối với quả, sự nó chiếm đoạt lực
của mười một chi kia có nghĩa là, chính do sức hỗ trợ
và sáng tạo của các chi kia mà nó có năng lực để thành
vô minh (thể) và tác dụng như vô minh (dụng).
Toàn
thể mô tả như trên là một toàn thể “tự tác, tự thọ”
trong đó mỗi sự vật luôn luôn đồng thời hữu lực và
vô lực, đồng thời là lực tác dụng làm nhân và lực bị
chiếm đoạt bởi các sự vật khác. Thi thiết khái niệm hữu
lực và vô lực là nhằm hợp lý hóa tánh tương giao tác dụng
của các pháp. Nhìn từ quan điểm của một pháp đơn nhất
tác dụng làm nhân của toàn thể, các điều kiện trợ duyên,
cũng là quả, phải xem như vô lực để cho thấy pháp đơn
nhất ấy tự nó có khả năng tác dụng như nhân đơn độc
của toàn thể. Hữu lực như vậy là tuyệt đối cần thiết
cho sự tác thành toàn thể.
Thí
dụ: Muốn tạo dựng một toàn thể như một ngôi nhà, phải
cần đến một thành phần như cái rui chẳng hạn để cái
nhà có thể hình thành. Lẽ cố nhiên cũng cần nhiều thành
phần khác, cần đinh, cần ngói lợp, v.v..., tất cả phối
hợp lại thành toàn bộ một cái nhà. Nhưng vì muốn nhấn
mạnh sự hoàn toàn cần thiết phải có một cái rui ngôi nhà
mới được tác thành, cho nên mới nói cái rui là hữu lực
và các thành phần kia bị thu nhiếp trong cái rui nên hóa ra
vô lực. Đến khi chú tâm vào một thành phần khác như ngói
lợp chẳng hạn, thời khi ấy cái rui là vô lực.
Nên
nhớ rằng mỗi khi đề cập vấn đề tương tức và tương
nhập, thời tất cả phạm trù sáu nghĩa của nhân, Không và
hữu, hữu lực và vô lực, đợi duyên và không đợi duyên,
đều là phạm trù của bất kỳ vật thể nào và của hết
thảy vật thểå trên phương diện toàn thể. Một vật thể
đơn nhất như một đồng tiền, một cái rui, một chi trong
mười hai nhân duyên, cũng là hết thảy những vật thể đó
vào bất cứ lúc nào. Biểu đồ Đồng thể và Dị thể dưới
đây trưng dẫn sự tương giao quan hệ hỗ tức hỗ nhập giữa
các pháp trên phương diện đồng thể và dị thể
Trong
biểu đồ, mọi phạm trù đều quy chiếu về một pháp đơn
nhất, pháp X. Bởi thế mới thấy tương tức và tương nhập
liên hệ cả đồng thể lẫn dị thể.
Thật
vậy, mọi pháp đều có hai mặt, thể và dụng. Do đó, nếu
thi thiết quan hệ giữa pháp với pháp trên phương diện thể,
vì pháp vừa Không (vô thể) vừa hữu (hữu thể), cho nên
có khái niệm tương tức. Trên phương diện dụng, vì pháp
vừa hữu lực vừa vô lực, cho nên có khái niệm tương nhập.
Xét thể dụng riêng biệt, tương tức liên hệ đồng thể,
và tương nhập liên hệ dị thể. Nhưng xét thể dụng đồng
thời như trong biểu đồ trên, tương tức và tương nhập
liên hệ cà đồng thể lẫn dị thể.
Nên
nhớ rằng sáu nghĩa của nhân là những đức tính của mọi
pháp có khả năng sinh khởi các duyên quan hệ lẫn nhau và
tạo thành pháp giới trùng trùng duyên khởi. Do đó, bảo rằng
thể của một pháp vừa đồng nhất (đồng thể) vừa dị
biệt (dị thể) với thể của các pháp khác có nghĩa là,
trên phương diện nhân thể, pháp đơn nhất này có khả năng
phát khởi nhân.
Đồng
nhất thể và hỗ tương y tồn thật ra là hai mặt của cùng
một hiện tượng. Cả hai chung một căn bản hữu pháp là
tánh Không. Bởi vậy các pháp đồng nhất trong tánh Không
trên phương diện thể, và sự đồng nhất trong tánh Không
trên phương diện dụng không gì khác là các pháp nương nhau
đồng thời hiện khởi và cộng đồng hiện hữu. Nói cách
khác, các pháp tương tức nếu xét về bản tính tĩnh và tương
nhập nếu xét về bản tính động của chúng.
Một
tức Tất cả, Tất cả tức Một.
Hãy
mượn lời của D. T. Suzuki trong Thiền luận để mô tả sơ
qua cái thế giới Pháp Tạng phác họa trên đây, trong đó
vạn vật đồng nhất thể và chỉ hiện hữu trong thế hỗ
tương y tồn, tương tức tương nhập. “Đó là thế giới
của Hoa nghiêm, gọi là Pháp giới cho những Thực tại cá
biệt được bao hàm trong một Thực tại bao la, và Thực tại
bao la này lại thấy tham dự trong từng mỗi Thực tại cá
biệt. Không phải duy chỉ thế; mà mỗi hữu cá biệt bao hàm
trong chính nó tất cả những hữu khác và những hữu khác
cũng như vậy. Như thế có thể nói có một sự hỗ tương
giao thiệp toàn diện trong pháp giới. ... Đây là một thế
giới của kinh nghiệm tâm linh thực thụ. ... Cảnh vực tâm
linh này thuộc hàng Bồ tát cao vọi trên thế giới tương
giao vô tận của những cái cá biệt và đa thù.” (Thiền
luận. Tập Hạ. Tuệ Sỹ dịch giải)
Đó
là thế giới của lý tắc Một tức Tất cả, Tất cả tức
Một, kết hợp hai tánh đồng nhất và hỗ tương y tồn của
các pháp. Lý tắc này được Pháp Tạng thuyết minh trong Ngũ
giáo chương tựa trên thuyết sáu tướng. Sáu tướng được
đề cập thoáng qua lần đầu tiên trong kinh Hoa Nghiêm, Phẩm
Thập Địa, Bồ tát Hoan hỷ địa, như sáu mặt tương y tương
đối của mười trí địa. Trong Ngũ giáo chương gồm bốn
quyển, chia làm mười phần, giáo nghĩa sáu tướng thuộc đoạn
thứ tư trong phần 10 là phần cuối sách. Đoạn này được
Thầy Tuệ Sỹ dịch giải đầy đủ và lần lượt dẫn chứng
dưới đây hầu giúp theo dõi phương cách biện thuyết rất
cụ thể và khéo léo của Pháp Tạng. Gồm có ba phần. Trước
hết là Liệt danh, giải thích vắn tắt đặc tính của mỗi
tướng. Thứ đến là Giáo ý, đề cập nguồn gốc xuất sinh
thuyết sáu tướng. Sau cùng là phần Vấn đáp giải thích,
dùng hình thức hỏi và trả lời để cắt nghĩa sáu tướng.
(III)
“PHẦN
IV: Ý NGHĨA VIÊN DUNG CỦA SÁU TƯỚNG
(Trích
dịch: Hoa nghiêm nhất thừa giáo nghĩa chương, quyển 4, T45n1866,
tr. 507c03)
Nhất
thừa giáo nghĩa gồm 4 quyển, chia làm mười phần, gọi là
mười môn: 1. Kiến lập Nhất thừa; 2. Giáo nghĩa nhiếp ích;
3. Cổ kim lập giáo; 4. Phân giáo khai tông; 5. Thừa giáo khai
hiệp; 6. Khởi giáo tiền hậu; 7. Quyết trạch kỳ ý; 8. Thi
thiết dị tướng; 9. Sở thuyên sai biệt; 10. Nghĩa lý phân
tề.
Đoạn
trích dịch dưới đây là đoạn thứ tư trong phần 10. Giáo
nghĩa phân tề.
Phần
này chia làm 4 tiểu đoạn: 1. Tam tánh đồng dị; 2. Duyên khởi
nhân môn lục nghĩa pháp; 3. Thập huyền duyên khởi vô ngại
pháp; 4. Lục tướng viên dung nghĩa. Đoạn dịch: T45n1866_ p0507c03
- T45n1866_ p0509a04.”
“i.
LIỆT DANH
Sáu
tướng gồm có: tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng,
dị tướng, thành tướng, hoại tướng.
Tổng
tướng, như một ngôi nhà có nhiều phẩm đức.
Biệt
tướng, nó có nhiều phẩm đức, và các phẩm đức ấy không
phải là một. Biệt y nơi tổng, và làm đầy tổng.
Đồng
tướng, nhiều nghĩa nhưng không chống trái nhau, đồng tác
thành một tổng.
Dị
tướng, nhiều nghĩa đối đãi nhau, một cái mỗi cá biệt.
Thành
tướng, do đây mà các duyên khởi thành.
Hoại
tướng, từng cái cá biệt của các nghĩa tồn tại trong bản
pháp của mình, không di động.”
Pháp
Tạng lấy một ngôi nhà làm thí dụ toàn thể và tìm cách
chứng minh bất kỳ một phần tử riêng biệt nào như cái
rui chẳng hạn, ngay trong lòng của chính nó đều có sáu tướng
tức sáu bản chất đặc biệt, sở y của tánh đồng nhất
thể và hỗ tương y tồn. Tổng tướng là ngôi nhà toàn bộ.
Ngôi nhà này chứa đựng nhiều phần tử riêng biệt, biệt
tướng chính là những phần tử đó, nhiều không phải là
một, nhưng không ly cách với nhau. Đồng tướng có nghĩa là
tất cả những phần tử không xung đột nhau mà cùng liên
hệ tạo thành ngôi nhà toàn bộ; dị tướng có nghĩa là tất
cả những phần tử của ngôi nhà vẫn giữ y những biệt
tướng của riêng chúng. Thành tướng là sự kết hợp toàn
vẹn của tất cả những bộ phận, một quan hệ nhân quả
liên đới của một và nhiều; hoại tướng có nghĩa là tất
cả những phần tử, mỗi cái đứng trong vị trí riêng của
nó, giữ y những biệt tướng của chúng.
“ii.
GIÁO Ý
Giáo
nghĩa này có mục đích trình bày pháp giới duyên khởi của
Nhất thừa, vốn vô tận, viên dung, tự tại, tương tức,
vô ngại, dung dung (vừa tiêu dung vừa hàm dung), cho đến nhân-đà-la,
vô cùng sự lý, v.v. Trong ý nghĩa này, tất cả mê hoặc và
chướng ngại hiện tiền, khi mà một cái bị đoạn trừ thì
tất cả cùng vị đoạn trừ. Khi đạt được sự diệt trừ
mê hoặc trong chín thế mười thế, thì về hành đức tức
một thành tất cả cũng thành; về lý tánh, một hiển tất
cả cùng hiển. Cùng lúc, cái phổ quát và cái cá biệt đều
đầy đủ, thủy và chung thảy đều đồng loạt. Khi mới
phát tâm tức đã thành Chánh giác. Vì rằng, sáu tướng của
pháp giới duyên khởi như vậy tiêu dung lẫn nhau và hàm dung
lẫn nhau, nhân quả đồng thời, tương tức, tự tại, đầy
đủ thuận nghịch. Nhân tức giải và hành của Phổ Hiền,
và quả chứng nhập là mười cảnh giới Phật được hiển
hiện vô cùng tận. Chi tiết như được nói trong Kinh Hoa nghiêm.”
Đoạn
trên lược bày đặc tính viên dung của pháp giới duyên khởi
do thuyết sáu tướng mà được chứng tỏ. Pháp giới duyên
khởi của Nhất thừa nói ở đây là sự sự vô ngại pháp
giới hay Nhất chân pháp giới, bao gồm vô biên thế giới,
mười thứ huyền môn tổng nhiếp vô lượng pháp môn, tức
sự tức lý, tức tánh tức tướng, tức tục tức chân, tức
nhân tức quả, tức năng tức sở, tức thánh tức phàm, tức
đa tức nhất, tức chánh báo tức y báo, như lưới báu của
Đế thích, trùng trùng hiển hiện, chẳng phải thần thông
làm thành, vốn là pháp tánh như thế, kẻ mê gặp đâu đều
chướng ngại, kẻ ngộ ngay đó toàn hiển bày.
Theo
tinh thần Hoa nghiêm, khi một mê hoặc hay chướng ngại bị
đoạn trừ thời tất cả cũng bị đoạn trừ. Khi tu một
hạnh, hạnh ấy thu nhiếp dung nạp tất cả các hạnh khác.
Như khi tu bố thí, đồng thời có thể tu tất cả các ba la
mật khác trong một hành động bố thí ấy. Sự tướng và
chân lý hoàn toàn vô ngại. Khi quan sát một chân lý có thể
thấu triệt vô lượng hạnh môn. Khởi sự tức là hoàn tất,
phát tâm tức đã thành Phật. Tu một bước là tu mọi bước,
thông đạt pháp này tức thông đạt tất cả pháp khác.
Chín
thế là nói ba thời quá khứ, hiện tại, và vị lai, mỗi
thời lại có quá khứ, hiện tại, và vị lai của nó, thành
ra chín thời hay thế giới. Mười thế là cọng thêm toàn
thể chín thế hiện trong tâm thức vào bất cứ lúc nào kể
như một thế. Các pháp tự tại, dung thông, nghĩa là đồng
thời câu khởi, hỗ tức hỗ nhập, viên dung vô ngại. Công
năng vô song của Bồ đề tâm là tiếp tục vận hành vô tận
hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền, còn gọi là Bồ tát
của đại hạnh. Vì Ngài đại biểu cho tinh thần tinh tấn,
tu mọi pháp môn không nhàm mỏi, không gián đoạn, không giới
hạn. Chữ giải ở đoạn này có nghĩa là thấu triệt không
bằng tỷ lượng mà bằng thể nghiệm sự vắng lặng trong
sáng của nội tâm. Chữ giải sóng đôi với chữ hành vì
phải thực hành, phải quét sạch bụi phiền não che phủ thời
sự vắng lặng mới hiển lộ, bồ đề tâm mới được nuôi
lớn. Mười cảnh giới Phật hay thập thân (Bồ đề thân,
Oai thế thân, Phước đức thân, Tùy ý thọ sinh thân, Tướng
hảo trang nghiêm thân, Nguyện thân, Hóa thân, Pháp thân, Trí
thân, Lực trì thân) là cảnh giới tự tại vô ngại nhất
khi pháp giới tánh hiển hiện, khi bồ đề tâm viên mãn. Chữ
thân ở đây phải được hiểu như năng lực hay đặc tính,
không phải là một thân thể bằng xương bằng thịt. Thập
thân là biểu hiện của chân tâm, khi được vận dụng trong
sự nghiệp độ sinh. Theo Hoa nghiêm, chỉ có thập thân mới
hình dung rõ ràng tính chất tự tại, viên mãn, và vô ngại
của một vị Phật.
“iii.
VẤN ĐÁP GIẢI THÍCH
Nhưng,
pháp duyên khởi thông cho tất cả mọi trường hợp, nay chi
tóm tắt duyên thành tựu để hoàn tất ngôi nhà.
1.
TỔNG TƯỚNG
HỎI:
Tổng tướng là gì?
ĐÁP:
Đó là cái nhà (xá).
HỎI:
Đó chỉ là các duyên, như rui các thứ (chuyên), chứ có cái
gì là nhà đâu?
ĐÁP:
Rui tức là nhà. Vì sao? Vì toàn thể rui tự chúng độc lập
có thể tác thành nhà được. Nếu loại bỏ rui, nhà tức
không thành. Khi có được rui cũng là lúc có được nhà vậy.
HỎI:
Nếu toàn thể rui tự chúng độc lập có thể tác thành nhà,
vậy khi chưa có ngói các thứ cũng đã thành nhà?
ĐÁP:
Khi chưa có ngói thì nó không phải là rui, cho nên không tác
thành được; chứ không phải rui không tác thành nhà được.
Ở đây nói sự tác thành (năng tác), là luận về sự tác
thành của rui, chứ không phải là sự tác thành của cái không
phải là rui (phi chuyên). Vì sao? Rui là nhân duyên. Do bởi khi
chưa thành nhà thì không có nhân duyên, cho nên nó không phải
là duyên. Nếu cái đó là rui, thì nó hoàn toàn tác thành toàn
thể (toàn thành). Nếu nó không phải là cái tác thành toàn
thể, nó không phải là rui.”
Đoạn
này nói đến rui, mặc dầu “rui tức là nhà”, rui vẫn còn
là rui. Pháp Tạng không những đồng nhất rui với nhà mà
còn đồng nhất hóa nó với tất cả vật thể cá biệt khác
cấu thành cái nhà, bởi vì không có nhà độc lập riêng biệt
với các vật thể cấu thành. Vả lại không vật thể nào
tự hữu và mọi hiện hữu đều do duyên sinh, cho nên cái
vật thể gọi là “rui” không thể hiện hữu riêng biệt
cái nhà mà nó là một thành phần, cái nhà mà nhiều duyên
đồng nhất với nó tác thành. Nhà biểu tượng sự hiện
hữu của toàn thể, bởi vậy không có sự hiện hữu của
cá thể trước khi cá thể nhiếp nhập toàn thể. Trong trường
hợp này, một thanh gỗ dùng làm rui nếu còn nằm giữa đất
không thể gọi là rui được. Như vậy có nghĩa là, chính
cái nhà mà thanh gỗ ấy ăn khớp tạo nó thành cái rui, nhưng
đồng thời rõ ràng cái rui tác dụng làm duyên tác thành cái
nhà. Pháp Tạng nhấn mạnh cái rui không những tác dụng như
điều kiện tất yếu để thành cái nhà mà hơn nữa, cái
rui trở thành hay đồng nhất cái nhà. Đồng nhất ở đây
có hai nghĩa. Một, đồng nhất với toàn thể: vì toàn-thể-nhà
không hiện hữu độc lập tách riêng các biệt-thể-duyên
như rui, cho nên cái rui phải là cái nhà, nếu không thế thời
phải tìm kiếm một cái nhà riêng biệt với các vật thể
như rui, kèo, đinh, ... Hai, đồng nhất với mọi thành phần
khác: vì mỗi thành phần tham gia tác thành cái nhà tác dụng
giống hệt các thành phần khác trong cách thế hoàn toàn tương
y tương đối, và vì không một thành phần nào tự hữu độc
lập riêng biệt, cho nên trên phương diện khả năng làm duyên,
các thành phần xem như đồng nhất.
Nhưng
Pháp Tạng xác quyết rui không phải chỉ là một trong nhiều
duyên hay một trong nhiều nhân mà rui là cái nhân duy nhất.
Khi rui trở thành một cái rui qua sự nhiếp nạp nó vào trong
cái nhà, thời tổng hợp lực của hết thảy điều kiện
gom lại mà ta gọi là nhà nhiếp nhập trong rui, do đó rui trở
thành tổng nhân tác thành nhà. Bởi vậy, Pháp Tạng mới bảo
“luận về sự tác thành của rui chứ không phải là sự
tác thành của cái không phải là rui (phi chuyên)”, vì vô
thể “phi chuyên” không làm nhân tác thành nhà được. Khi
tất cả điều kiện khác hiện có mặt tạo rui thành một
cái rui, thời cái rui đó hội đủù toàn lực tác thành cái
nhà. Nếu không, thời chẳng có vật gì để gọi là nhà,
đúng hơn, một cái nhà toàn hảo. Lẽ cố nhiên, bất cứ
thành phần nào của nhà được xét đến cũng đồng thời
tác dụng giống vậy.
“HỎI:
Nếu các duyên như rui v.v., mỗi thứ chỉ cho ra một ít lực
cọng tác chứ không toàn tác, thế thì có sai lầm gì?
ĐÁP:
Có sai lầm về đoạn và thường. Nếu không toàn thành, mà
chỉ là một ít lực, các duyên mỗi thứ một ít lực, thì
đó chỉ là nhiều cái it lực, không tác thành được cái
nhà nhất toàn (nhất toàn xá), cho nên phạm lỗi đoạn kiến.
Các duyên cũng góp một ít lực thảy đều không có sự toàn
thành. Chấp có cái nhà toàn (toàn xá), đó là không có nhân,
cho nên phạm lỗi thường kiến. Nếu không toàn thành, khi
bỏ đi một cái rui, nhà vẫn tồn tại. Nhà đã không toàn
thành, do đó biết rằng không phải do những cái một ít lực
cũng góp lại mà thành.”
Ở
đây, Pháp Tạng muốn thuyết minh mỗi thành phần cá biệt
đều hữu lực nghĩa là tác dụng toàn lực bằng cách thu
nhiếp lực của mọi thành phần làm duyên khác thành một
tổng nhân của toàn thể nhà. Luận chứng rất đơn giản.
Nếu cái rui không hữu lực, thời khi rút cất cái rui, toàn
thể cái nhà vẫn còn đó, phạm lỗi thường kiến. Chẳng
khác nào bảo toàn thân tôi nguyên vẹn khi một cái chân bị
chặt đứt! Lẽ cố nhiên, không thể như vậy. Bởi thế Pháp
Tạng mới nói muốn cho toàn thể là một toàn thể, thành
phần phải tác dụng toàn lực để tác thành cái nhà. Mặt
khác, nói “mỗi thứ chỉ cho ra một ít lực cọng tác chứ
không toàn tác” tức là nói đến lực riêng của mỗi thành
phần, như rui có lực rui, tức cái ít lực rui cho ra cọng
tác. Vậy nếu rui chỉ tác dụng cái lực của riêng cái rui
thời không bao giờ nó thật sự nhiếp nhập trong toàn thể
và trở thành cái nhà. Như thế, nhà không thành, phạm lỗi
đoạn kiến. Tuy nhiên, một khi nhiếp nhập trong toàn thể
nhà, rui trở thành một tổng nhân tác thành toàn thể nhà.
“HỎI:
Khi thiếu mất một cái rui, há đó không phải nhà?
ĐÁP:
Đó chỉ là cái nhà hư, không phải là nhà đẹp. Do đó biết
rằng nhà đẹp hoàn toàn tùy thuộc một cây rui. Đã là tùy
thuộc một cây rui, cho nên biết rui tức là nhà vậy.
HỎI:
Nhà đã là rui, thế thì các thứ ván, ngói khác cũng chính
là rui chăng?
ĐÁP:
Tổng thể là rui. Vì sao? Bỏ rui đi thì không có nhà. Sở
dĩ như vậy là vì, nếu không rui, thì nhà bị hủy. Nhà bị
hủy thì những thứ kia chẳng được gọi là ván hay ngói.
Cho nên, ván ngói các thứ cũng là rui. Nếu chúng không phải
là rui, nhà tức không thành. Và do đó, rui hay ngói góp lại
cũng đều bất thành. Nay chúng góp lại mà thành, nên biết
đó là nghĩa tương tức vậy. Một cây rui như thế, nhiều
cây rui cũng như thế. Cho nên, hết thảy pháp duyên khởi,
nếu không thành thì thôi, mà đã thành là tương tức. Dung
dung vô ngại, tự tại tròn đầy cùng cực, khó tư duy đến,
vượt ngoài thẩm lương của tình thức. Pháp tánh duyên khởi,
hết thảy mọi nơi, chuẩn theo đây mà biết.”
Muốn
hiểu dễ dàng luận chứng về tương tức (tánh đồng nhất)
trong đoạn này, chỉ cần nhớ tánh đồng nhất của các thành
phần là do tánh Không và tánh Không hay Duyên khởi có nghĩa
là hiện khởi tương y tương đối. Ở đây, nếu rui không
nhiếp nhập trong toàn thể nhà, thời ta không thể nói đến
ván, ngói, đinh, ..., bởi vì sự hiện hữu của những vật
này tùy thuộc sự hiện hữu của rui. Sự kết tập các thành
phần tạo nên cái gọi là nhà và cái thành phần cá biệt
gọi là rui, chúng vì vậy mà tác dụng trong cách thế cái
này là điều kiện tất yếu của sự hiện hữu cái kia. Trong
quan hệ tương y tương đối, chúng không có tự thể độc
lập và do tánh phổ biến vô tự tính đó mà thành tương
tức (đồng nhất).
2.
BIỆT TƯỚNG
Các
duyên như rui là biệt đối với tổng. Nếu chúng không phải
là biệt, thì nghĩa của tổng bất thành. Bởi vì, khi không
có biệt thì cũng không có tổng.
Ý
nghĩa này như thế nào? Bản lai, do biệt mà thành tổng. Do
không có biệt nên tổng không thành; cho nên, biệt tức do
tổng mà thành biệt.
HỎI:
Nếu tổng tức là biệt, thế thì nó không thành là tổng
chăng?
ĐÁP:
Do tổng tức biệt nên tổng mới thành. Như rui chính là nhà,
cho nên nhà được nói là tổng tướng. Nhà chính là rui, cho
nên rui được nói là biệt tướng. Nếu đây không phải là
nhà thì những cái đó không phải là rui. Nếu những cái đó
không phải là rui thì đây không phải là cái nhà. Nghĩa tương
tức của tổng và biệt theo đó mà có thể tư duy.
HỎI:
Nếu là tương tức, làm thế nào để nói là biệt?
ĐÁP:
Chỉ do tương tức mới thành biệt. Nếu không tương tức,
tổng ở ngoài biệt, vậy nó không phải là tổng; và biệt
cũng ở ngoài tổng nên nó không phải là biệt.
HỎI:
Nếu không biệt, thì có sai lầm gì?
ĐÁP:
Có lỗi về đoạn và thường. Nếu không có biệt, tức không
có các thứ cá biệt như rui, ngói. Không có các thứ cá biệt
như rui ngói thì tổng thể nhà không được tác thành. Đó
là lỗi về đoạn. Nếu không các thứ cá biệt như rui, ngói,
nhưng tồn tại tổng thể nhà, thế thì cài nhà này không
do nhân. Đó là lỗi về thường.”
Trong
đoạn này, câu hỏi: ‘Khi đã bảo thành phần tức toàn thể
thời làm thế nào để còn nói đến thành phần?’ được
trả lời một cách rất đơn giản: ‘Toàn thể tất nhiên
bao gồm nhiều thành phần, và nói đến thành phần tức hàm
ý thành phần của toàn thể. Cái này không hiện hữu độc
lập riêng biệt với cái kia. Nếu hiện hữu tách riêng, hóa
ra toàn thể hiện hữu độc lập riêng biệt các thành phần,
như vậy có lỗi về thường và thành phần không là thành
phần của toàn thể nào cả, như vậy là vô nghĩa! Câu “biệt
tức do tổng mà thành biệt” biểu tượng quan hệ hỗ tức
giữa thành phần và toàn thể, có nghĩa là, khi thành phần
được hàm nhiếp trong toàn thể và do đó trở thành toàn
thể thời nó và toàn thể bất nhị.
Sáu
tướng biểu hiện thể, tướng, và dụng của vạn pháp được
tóm tắt trong bảng sau đây. Với hai tướng đầu (1) và (2)
vừa giải thích như trên, lý tắc Một tức Tất cả, Tất
cả tức Một xem như đã được chứng giải. Phần luận chứng
về bốn tướng còn lại chỉ để làm sáng tỏ thêm một
số chi tiết mà thôi..
Thể
(1)
Tổng tướng
(2)
Biệt tướng
Tướng
(3)
Đồng tướng
(4)
Dị tướng
Dụng
(5)
Thành tướng
(6)
Hoại tướng
Điều
đáng lưu ý là ba tướng (1), (3), và (5) biểu lộ tính cách
bình đẳng, Tất cả là Một; ngược lại, ba tánh (2), (4),
và (6) biểu lộ tính cách sai biệt, Một là Tất cả.
3.
ĐỒNG TƯỚNG
Các
duyên như rui v.v... hòa đồng tác thành ngôi nhà. Chúng không
chống trái nhau; thảy đều được gọi là duyên của nhà.
Những duyên này không tác thành vật gì khác. Đó là đồng
tướng.
HỎI:
Điều này có gì khác biệt với tổng tướng không?
ĐÁP:
Tổng tướng chỉ được nói trong quan hệ với ngôi nhà. Nói
đồng tướng là ước theo các duyên như rui các thứ. Thể
của chúng tuy cá biệt nhưng lực hợp thành thì đồng nhau
cho nên nói là đồng tướng.
HỎI:
Nếu không có đồng tướng thì có lỗi gì?
ĐÁP:
Lỗi về đoạn và thường. Nếu không đồng, thì các duyên
như rui, ngói trái nghịch lẫn nhau không đồng hợp tác thành
ngôi nhà. Như vậy, nhà không tồn tại. Đó là lỗi đoạn
kiến. Nếu chúng chống trái nhau không tác thành nhà mà vẫn
chấp có nhà; nhà như vậy không do nhân. Đó là lỗi thường
kiến.”
Tổng
tướng và đồng tướng khác nhau ở chỗ phía tổng tướng
thời quy chiếu vào quan hệ giữa thành phần vớiø toàn thể
và vào trạng huống trong đó thành phần được tổng tướng
hóa do bởi sự nhiếp nạp nó vào trong toàn thể. Phía kia,
đồng tướng chú trọng đến quan hệ giữa một thành phần
với bất kỳ thành phần nào khác. Đặc biệt là chú trọng
đến sự có thể hoán đổi hai thành phần bất kỳ lẫn nhau
vì thành phần nào cũng là duyên tác thành toàn thể. Như thế,
một Đại vương và một con bọ chét đồng nhất theo nghĩa
cả hai đều Không, cả hai tương giao lệ thuộc, cả hai là
điều kiện tác thành toàn thể của sự hữu. Nếu khác nhau
thời đó là do vọng tưởng phân biệt, do nhận thức theo
công ước của thế tục.
4.
DỊ TƯỚNG
Các
duyên như rui các thứ tùy theo hình loại riêng biệt của chúng
mà có sai biệt khi đối chiếu với nhau.
HỎI:
Nếu là dị, thì không thể đồng?
ĐÁP:
Chính do dị mới thành đồng. Nếu không dị, thì cây rui dài
một trượng hai, ngói cũng dài như vậy. Do hoại cái pháp
làm căn bản là duyên, nên mất ý nghĩa đồng thời hợp tác
thành nhà. Bây giờ nhà đã thành, tất cả chúng đồng tên
gọi là duyên; nên biết, đó là dị.
HỎI:
Điều này có gì khác với biệt tướng không?
ĐÁP:
Biệt tướng nói trên chỉ là các duyên như rui các thứ cá
biệt đối với một cái nhà; theo đó nói là biệt tướng.
Ở đây, dị tướng là các duyên như rui các thứ khi được
đối chiếu lẫn nhau, thì mỗi thứ là một dị tướng
HỎI:
Nếu không dị, có lỗi gì?
ĐÁP:
Lỗi đoạn thường. Nếu không là dị, ngói cũng dài trượng
hai đồng với rui. Pháp làm duyên căn bản bị hoại, chúng
không cọng tác thành nhà. Nhà không tồn tại, nên phạm lỗi
đoạn kiến. Duyên bị hoại, nhà không thành, mà vẫn chấp
có nhà; nhà đó không do nhân. Đó là lỗi thường kiến.”