|
TẬP
SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
PHẬT
GIÁO THỪA THIÊN - HUẾ
Số
11 - Pl. 2548 Phổ
biến nội bộ
 |
 |
A
TỲ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN (Q.5)
阿
毘 達 磨 俱 舍
Abhidharmakośabhāṣayām
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
PHẨM
II: PHÂN BIỆT CĂN 3.
(tiếp)
5.
Mạng căn.
Mạng
căn là gì ?
Văn
Tụng.
Hán:
命
根 體 即 壽
能 持 煖 及 識
Việt
dịch:
Mạng
căn có thể là thọ
Có
khả năng duy trì noãn và thức /90ab/
Luận
giải thích:
i.Minh
thể.
a.Thích
tụng:
Mạng
căn có thể là thọ/90a/: thể của mạng căn chính là thọ;
nên trong Đối pháp[1] nói, thế nào là mạng căn? đó là thọ
mạng trong ba cõi.
ii.Vấn
đáp.
có
khả năng duy trì noãn và thức /90b/:điểm nầy chưa rõ, pháp
gì gọi là thọ[2]?
Có
một pháp có khả năng duy trì noãn và thức gọi đó là thọ.
Đức Thế tôn dạy,
Thọ,
noãn cùng với thức
khi ba pháp nầy lìa thân
Thân
ngã lăn xuống đất
như cây, không tri giác[3].
Cho
nên có một pháp có khả năng duy trì noãn và thức, là nguyên
nhân khiến cho thân tương tục tồn tại, gọi đó là
thọ[4].
(Kinh
Bộ) Như vậy, pháp nào duy trì thọ nầy ?
(Hữu
Bộ) Chính noãn và thức trở lại duy trì thọ.
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, ba pháp đó duy trì lẫn nhau, tương tục chuyển
biến, pháp nào diệt trước?
Do
một pháp diệt, hai pháp kia theo đó mà diệt.
Thế
thì ba pháp lẽ ra phải thường còn, không mất[5].
(Hữu
Bộ) Đã vậy, thọ nầy nên do nghiệp duy trì, tuỳ theo sự
dắt dẫn của nghiệp mà tương tục chuyển biến[6].
(Kinh
bộ) Nếu vậy, vì duyên cớ gì không chấp nhận do nghiệp
duy trì noãn thức, lại cần đến thọ?
(Hữu
Bộ) Theo lý không nên như vậy; chớ bảo tất cả các thức
từ trước đến sau luôn luôn là dị thục[7].
(Kinh
Bộ) Đã vậy, nên nói nghiệp duy trì noãn; noãn duy trì thức,
cần gì thọ nầy?
(Hữu
Bộ) Như vậy, thức ở trong cõi Vô sắc, không có pháp nào
duy trì, vì ở đó không có noãn[8].
(Kinh
Bộ) Thức ở cõi kia, do nghiệp duy trì.
(Hữu
Bộ) Sao lại tuỳ tiện thay đổi quan điểm như vậy;
khi nói thức do noãn duy trì; khi nói do nghiệp duy trì; hơn
nữa như trước đã nói[9].
(Kinh
Bộ) Trước đã nói gì[10] ?
(Hữu
Bộ) Trước nói rằng, chớ bảo tất cả các thức từ trước
đến sau luôn luôn là dị thục; cho nên quyết định
chấp nhận có một pháp riêng biệt có công năng duy trì noãn
và thức, gọi là thọ vậy.
(Kinh
Bộ tự thuật Tôn mình) Nay cũng không nói hoàn toàn không
có thọ thể, chỉ nói thể của thọ không phải là một pháp
riêng biệt, có thật[11].
(Hữu
Bộ) Nếu vậy, pháp nào được gọi là thể của thọ[12]
?
(Kinh
bộ) Năng lực[13] của chúng đồng phần trong thời gian tồn
tại được dẫn dắt bởi nghiệp ba cõi gọi là thể của
thọ. Do được dẫn dắt bởi nghiệp ba cõi, năng lực của
chúng đồng phần trong thời gian tồn tại chuyển biến tương
tục, nhất định tương ứng tuỳ thuộc với một thời gian
tồn tại (tức) tồn tại trong một thời gian như đã tồn
tại; năng lực nầy gọi là thể của thọ[14]. Cũng giống
như năng lực của hạt lúa giống v.v... được dẫn dắt cho
đến lúc chín; lại giống như năng lực của mũi tên khi được
bắn ra, kéo dài trong suốt thời gian tồn tại[15].
Hữu
là hữu hành[16], là pháp thuộc đức cú nghĩa[17], dựa vào
các thứ như mũi tên, v.v... sanh ra. (Ngược lại) do lực của
hành mà mũi tên, v.v... chuyển dịch mãi không gián đoạn cho
đến lúc chưa rơi xuống[18].
(Luận
Chủ phá) Vì thể của hành là một, vì không chướng ngại,
(cho nên khi bắn mũi tên) đến một nơi khác hoặc nhanh, hoặc
chậm, thời gian đến, các phần vị đó không giống nhau,
lẽ ra không thể có[19]. Lại nữa, vào lúc cuối cùng lẽ
ra không nên rơi xuống. Nếu bảo rằng do gió cản ngại thì
ngay lúc đầu phải rơi xuống hoặc không khi nào rơi xuống,
vì gió gây chướng ngại đó vốn không khác nhau[20].
(Luận
Chủ chấp nhận quan điểm Hữu Bộ) Có một thật pháp riêng
biệt duy trì noãn và thức gọi là thể của thọ, thuyết
nầy là hợp lý. Như vậy, khi thọ hết, sự sống chấm dứt
hay còn có nguyên nhân nào khác?
Luận
Thi Thiết nói, do thọ hết cho nên chết chứ không do phước
hết mà chết[21]. Lập bốn câu để dễ hiểu hơn.
Câu
thứ nhất: nghiệp lực chiêu cảm thọ dị thục hết.
Câu
thứ hai: nghiệp lực chiêu cảm phú lạc quả.
Câu
thứ ba: nghiệp năng chiêu cảm cả hai loại đều hết.
Câu
thứ tư: không thể tránh khỏi các duyên uổng tử, hoạnh
tử.
(Luận
Chủ) Lại nữa, cũng nên nói rằng, (Chư Phật) xả thọ hành
vậy (câu thứ tư).
Trong
lúc thọ tận, đối với sự chết, phước tận không có công
năng; tuy vậy khi cả hai nghiệp đều hết, mạng sống chấm
dứt cho nên nói cả hai đều hết nên chết[22].
Luận
Phát Trí nói, thọ nầy nên nói là tuỳ theo tương tục mà
chuyển hay nên nói, một khi khởi lên liền theo đó mà tồn
tại? Chúng sanh cõi Dục không nhập định vô tưởng, không
nhập định diệt tận và tất cả các chúng sanh ở cõi sắc,
vô sắc nên nói thọ nầy một khi khởi lên liền theo đó
mà tồn tại.
(Luận
Chủ giải thích ý của luận Phát Trí hoặc Phát Trí tự giải
thích) Lời đó có nghĩa thế nào? Nếu thân sở y bị tổn
hại cho nên thọ theo đó tổn hại; đó gọi là thứ nhất
tuỳ tương tục chuyển; nếu thân sở y không bị tổn hại,
cứ như khi khởi lên mà tồn tại; đó gọi là thứ hai, một
khi khởi lên liền theo đó mà tồn tại[23].
Luận
Sư Tỳ Bà Sa ở Ca thấp di la nói, thuyết đầu cho thấy có
sự chướng ngại; thuyết sau cho thấy không bị chướng ngại;
từ đó chắc chắn có cái chết phi thời[24].
Cho
nên Khế kinh nói, thành tựu tự thể có bốn loại; đó là
loại tự thể có được chỉ bị chính nó làm hại, chẳng
bị tha thể làm hại[25].
Lập
bốn câu:
1.
Chỉ bị chính nó làm hại, chẳng bị tha thể làm hại ấy:
(tự thể của chúng sanh) sanh ở cõi Dục, cõi trời hý vong
niệm, cõi trời ý phẩn nhuế; ở những cõi đó, do (chúng
sanh) phát khởi hỷ nộ quá mức cho nên đối với tự thân
bị tổn hại, mất đi, chẳng phải do ai khác[26].
Lại
nữa, nên nói Chư Phật tự bát niết bàn vậy[27].
2.
Chỉ do tha thể làm hại, chẳng phải tự hại ấy: đó là
hữu tình ở trong các loài sanh từ thai, trứng[28].
3.
Bị hại bởi cả hai trường hợp ấy: đó là phần lớn hữu
tình khác ở cõi Dục[29].
4.Cả
tự và tha đều không thể hại ấy: đó là tất cả các hữu
tình ở trung hữu, cõi Sắc, Vô sắc[30] và một phần hữu
tình tại cõi Dục như ở Na lạc ca, Bắc cu lô châu, Chánh
trú kiến đạo, Từ định, Diệt định và Vô tưởng định,
Vương tiên (chuyển luân vương), Phật sứ (sứ giả như lai),
Phật sở ký biệt (năm người) Đạt nhỉ la, Ốt đát la,
Căng kì la, trưởng giả tử Da xá, Cưu ma la thời bà, Tối
hậu thân bồ tát, Mẹ các vị bồ tát nầy khi mang thai, tất
cả Chuyển luân vương và Mẹ các vị Luân vương nầy khi
mang thai.
(Luận
Chủ dẫn Kinh nạn) Nếu như vậy vì sao trong Khế kinh nói,
Đại đức! những loài hữu tình nào có được tự thể,
chẳng thể bị tự hại, chẳng thể bị tha hại? Xá
lợi tử nói, đó là các hữu tình thọ sanh tại phi tưởng
phi phi tưởng xứ[31].
Truyền
thuyết (Tỳ Bà sa) nói, tự thể ở ba vô sắc còn lại,
ở bốn tịnh lự có thể bị tự địa thánh đạo làm hại;
cũng có thể bị cận phần tha địa cõi trên làm hại; ở
hữu đảnh, tự địa và thượng địa thánh đạo, cả hai
loại làm tổn hại đều không có; cho nên nói là đều
chẳng có thể làm tổn hại[32].
(Luận
Chủ nạn sát) Há không phải ở Hữu đảnh cũng bị
tha địa thánh đạo làm tổn hại nên nói là tha hại!
(Luận
Chủ thích Kinh) Như vậy nên nói, nêu sau hiển trước[33].
Như hoặc có chỗ nêu trước hiển sau; hoặc lại có chỗ
nêu sau hiển trước. Có chỗ nêu trước hiển trước là như
thế nào? Như Khế kinh nói, như Phạm chúng thiên đó gọi
là đệ nhất lạc sanh thiên[34]. Có chỗ nêu sau hiển trước
là như thế nào? Như Khế Kinh nói, Cực quang tịnh thiên đó
là đệ nhị lạc sanh thiên[35].
(Ngoại
nạn) Chữ như trong Kinh kia là hiển bày nghĩa thí dụ. Có
thể nói nêu lên một để hiển bày những cái khác; nêu lên
một pháp để ví dụ nhằm hiển bày các pháp đồng loại
vậy. Nếu không có chữ như nầy thì không thể ví với Phạm
chúng kia... được.
(Luận
chủ phá nạn) Nếu hiển bày nghĩa thí dụ mới có chữ như,
thế thì ở trong các Kinh khác, chữ như không nên có. (Nhưng)
như các Kinh kia nói, (các loại) hữu sắc hữu tình thân dị
tưởng dị như nhơn, nhất phần thiên đó là đệ nhất thức
trú. Như vậy biết rằng, chẳng phải dùng để làm ví dụ
cũng vẫn có chữ như[36].
Đã
chấm dứt phần bàn luận, và cũng đã nói xong về mạng căn.
6.
Tứ Tướng.
Các
tướng là những gì?
i.Minh
thể:
a.
Bổn tướng.
Văn
Tụng.
Hán:
相 謂 諸 有 為
生 住 異 滅 性
Việt
dịch:
Tướng[37]
là tánh sanh trú dị diệt của các pháp hữu vi[38] /90cd/
Luận
giải thích:
ai.Thích
tụng.
Tướng
là tánh sanh trú dị diệt, của các pháp hữu vi: vì bốn tướng
là tiêu tướng của các pháp hữu vi cho nên pháp nào nếu
có bốn tướng nầy đó là pháp hữu vi; ngược với pháp
nầy là pháp vô vi. Trong đó, đối với các pháp, (cái) có
tác dụng sinh khởi gọi là sanh; có tác dụng an trú gọi là
trú; có tác dụng làm cho suy yếu gọi là dị; có tác dụng
hoại diệt gọi là diệt[39]. Tánh có nghĩa là thể (tức chỉ
cho thể tánh).
aii.Vấn
đáp:
Hỏi:
Há không phải Kinh nói có ba tướng hữu vi của pháp hữu
vi sao?
Đáp:
Ở trong Kinh nầy, theo lý, nên nói có bốn.
Hỏi:
Thế thì pháp không nói đó là gì?
Đáp:
Đó là trú tướng. (Phải biết) Kinh nói trú dị, đó là tên
khác của dị vậy. Như sanh gọi là khởi; diệt gọi là tận;
cũng như vậy, nên biết rằng, dị gọi là trú dị.
(Lý
do Kinh không nói trú tướng)
Pháp
mà nó khiến cho các hành (pháp hữu vi) thiên lưu trong ba đời,
Kinh nầy nói đó là tướng của hữu vi; (chính các tướng
nầy) khiến cho các hữu tình phát sanh chán nản và sợ hãi.
Rằng, các hành kia, do lực của sanh làm cho dời đổi, khiến
từ vị lại đi vào hiện tại; do lực của dị và diệt dồn
đẩy khiến từ hiện tại đi vào quá khứ, trở thành suy
yếu khác đi và đến chỗ hoại diệt. Truyền thuyết nói,
như người ở trong rừng rậm, có ba kẻ oán địch muốn đến
làm hại; một từ rừng rậm kéo lôi ra khỏi; một làm suy
yếu lực của người kia; một huỷ hoại mạng căn. Ba tướng
trên đối với các hành, nên biết cũng như vậy. (Trong khi
đó) Trú có tác dụng nhiếp thọ an lập các hành, cùng với
thường và lạc không thể rời nhau cho nên không lập ở trong
các tướng hữu vi.
Lại
nữa, pháp vô vi có tự tướng trú, (sợ) trú tướng
lẩn lộn với tự tướng trú của vô vi nên kinh không nói.
Có
thuyết nói, Kinh nầy gồm chung trú và dị thành một gọi
là trú dị tướng.
Hỏi:
Cần gì phải nói chung như vậy?
Đáp:Trú
là chỗ ưa thích chấp đắm của loài hữu tình; vì muốn
khiến (hữu tình) nhàm chán, buông bỏ nên gộp chung với dị
mà nói. Như cùng một lúc chỉ Hắc nhỉ (kālakarnī) và Cát
tường (Śrī) vậy[40]. Cho nên quyết định có bốn tướng
hữu vi.
b.Tuỳ
tướng:
Các
(bổn) tướng sanh, v.v... nầy đã là hữu vi, lại còn có bốn
(tùy) tướng sanh sanh, v.v... khác. Nếu lại có các tướng,
sẽ dẫn đến vô cùng vì chúng lại có các tướng sanh, v.v...
khác nữa.
Nên
nói là có; nhưng chẳng phải là vô cùng.
Vì
sao như vậy ?
Văn
Tụng.
Hán:
此
有 生 生 等
於 八 一 有 能
Việt
dịch:
Tướng
nầy lại có các tướng sanh sanh, v.v...
Đối
với tám, với một, có công năng (91ab)
Luận
giải thích:
bi.
Thích tụng:
Tướng
nầy lại có các tướng sanh sanh, v.v...: Chữ “Thử” (tướng
nầy) chỉ cho bốn loại bổn tướng đã nói ở trước. Sanh
sanh, v.v...: đó là bốn tuỳ tướng; sanh sanh, trú trú, dị
dị, diệt diệt. Các hành trở thành hữu vi do bốn bổn tướng;
bổn tướng trở thành hữu vi do bốn tuỳ tướng.
bii.Vấn
đáp phân biệt:
Há
không phải bổn tướng (bốn bổn tướng, sanh, trú, v.v...)
cũng như sở tướng (các pháp hữu vi), mỗi mỗi đều có
bốn tuỳ tướng; bốn tuỳ tướng nầy lại đều có bốn,
xoay vần vô cùng?
Không
có lỗi như vậy. Bởi lẽ,
Đối
với tám, với một, có công năng: bốn bổn tướng, bốn tuỳ
tướng có công năng khác nhau, đối với tám pháp và đối
với một pháp .
Sao
gọi là công năng?
Đó
là tác dụng của pháp; hoặc là sỹ dụng. Bốn bổn tướng
mỗi mỗi đều có tác dụng với tám pháp; bốn tuỳ tướng,
mỗi mỗi chỉ có tác dụng đối với một pháp.
Nghĩa
đó là thế nào?
Nghĩa
là, khi một pháp sinh khởi (bổn pháp tâm, tâm sở), cùng với
(kể cả) tự thể của nó, có chín pháp cùng khởi lên; tự
thể là một, tướng và tuỳ tướng có tám. Sanh tướng trong
bổn tướng, trừ tự thể của nó, có công năng sanh khởi
tám pháp còn lại; tuỳ tướng sanh sanh, ở trong chín pháp
chỉ có công năng sanh khởi bốn sanh; cũng giống như con gà
mái có khả năng sinh nhiều cái trứng, trong khi đó, cái trứng
chỉ sinh ra một con gà. Sanh tướng và sanh sanh tướng sanh
tám hoặc sanh một, lực của chúng cũng như vậy. Trú tướng
trong bổn tướng cũng trừ tự tánh trú, có khả năng an trú
tám pháp còn lại; tuỳ tướng trú trú, ở trong chín pháp,
chỉ có khả năng an trú bổn trú. Dị và Diệt tướng tuỳ
theo sở ứng, cũng như vậy. Cho nên, sanh v.v..., sau bổn tướng
lại có các tướng (16 tướng); (nhưng sau) tuỳ tướng chỉ
có bốn; không mắc lỗi vô cùng.
Luận
sư Kinh bộ nói, vì duyên cớ gì (mà các ông lại) mất công
phân tích hư không như vậy. Các tướng sanh, v.v... chẳng phải
là pháp có thật thể như đã được phân tích.
Vì
sao như vậy?
Vì
không có định lượng. Nghĩa là các tướng nầy chẳng phải
như sắc, v.v..., để được chứng minh có thật thể bởi
hiện lượng, tỷ lượng cho đến thánh giáo lượng[41].
(Hữu
Bộ) Nếu vậy, vì cớ gì trong Khế kinh nói , các pháp hữu
vi sinh khởi cũng có thể biết được. Tận và trú dị cũng
có thể biết được[42].
(Kinh
Bộ) Vớ vẩn! Các ông chấp văn mê nghĩa. Bạc Già Phạm nói
rằng, nghĩa là sở y, sao lại bảo những câu kinh nầy là
thật nghĩa[43].
(Kinh
Bộ giải thích Kinh, chứng minh không có thật thể) Đó là
các hàng ngu phu bị vô minh che lấp, đối với sự tương tục
của các hành, chấp có ngã, ngã sở; mãi mãi ở trong đó,
sanh khởi các đắm trước. Thế tôn vì muốn đoạn trừ những
chấp trước cho chúng sanh, hiển bày các hành chuyển biến
tương tục, thể (của chúng) là hữu vi và tánh là duyên sanh,
cho nên nói rằng (giả lập), có ba loại tướng hữu vi của
các pháp hữu vi; chẳng phải hiển bày các hành, trong một
sát na có đủ (thật thể) cả ba tướng; bởi lẽ chỉ trong
một sát na cả ba tướng cùng khởi lên, (dùng huệ quán sát)
không thể biết được (tức không thể có như vậy); nhưng
chẳng phải không thể biết mà lại lập làm tướng,
do đó, Kinh kia lại nói, sự sinh khởi của pháp hữu
vi cũng có thể biết; tận và trú dị cũng có thể biết.
(Kinh
bộ giải thích Kinh) Song Kinh lập lại chữ hữu vi, khiến
phải biết rằng, tướng nầy là (cái) biểu thị của hữu
vi; chớ bảo rằng tướng nầy cho thấy hữu vi là thật có[44];
như chỗ ở của cò trắng cho thấy (ở đó) có nước. Cũng
chớ bảo rằng (tướng nầy) cho thấy hữu vi có các tính
thiện, tính ác; như tướng của đồng nữ cho thấy là thiện,
phi thiện.
(Luận
chủ giải thích tôn chỉ của Kinh bộ) Các hành chuyển biến
tương tục, ban đầu mới khởi gọi là sanh, ở vị trí cuối
cùng nói là diệt, trung gian tương tục tuỳ chuyển gọi là
trú; chúng trước sau khác nhau gọi là trú dị[45]. Đức Thế
tôn căn cứ vào đó mà nói với Nan đà rằng, Thiện nam tử,
khéo biết sự sanh khởi của thọ, khéo biết sự trú dị
của thọ và khéo biết sự suy thoái, biến khác và hoại diệt
của thọ. Cho nên nói bài tụng rằng[46],
Giai
đoạn đầu của tương tục gọi là sanh
Diệt
nghĩa là ở vị trí sau cùng
Trung
gian, tuỳ (duyên) chuyển biến gọi là trú
Trước
sau khác nhau gọi là trú dị[47]
Lại
có bài tụng nói,
Vốn
không, nay có gọi là sanh
Tương
tục tuỳ chuyển gọi là trú
Trước
sau khác nhau gọi là trú dị
Tương
tục chấm dứt gọi là diệt.
Lại
có bài tụng,
Do
các pháp sát na
không trú mà có diệt
Chúng
tự nhiên hoại diệt chấp
hữu trú là phi lý[48].
Cho
nên căn cứ vào (đồng phần) tương tục[49] mà gọi là trú.
(Luận
chủ) Do đó, những điều Đối pháp nói, lý được thành
tựu. Luận kia nói, thế nào gọi là trú? đó là các hành
đã sanh mà chưa diệt; chẳng phải sanh rồi không hoại diệt
tức sát na pháp tánh[50].
(Luận
chủ) Tuy Luận Phát Trí nói như vậy, ở trong một tâm, pháp
khởi lên gọi là sanh; pháp chấm dứt gọi là diệt; pháp
trú dị gọi là lão nhưng, văn Luận kia dựa vào tâm của
chúng đồng phần tương tục mà nói, chẳng phải (dựa vào)
nhất sát na.
(Kinh
bộ) Lại nữa, mỗi mỗi sát na, nếu không cho rằng các pháp
hữu vi thật sự là một pháp có thật, thì bốn tướng cũng
thành tựu.
Nói
thế nào là thành?
Đó
là, mỗi mỗi niệm vốn không có, nay có gọi là sanh; có rồi
hoàn không gọi là diệt; các sát na sau tiếp nối các sát
na trước khởi lên gọi đó là trú; chính các sát na trước
sau đó có sự sai biệt gọi là trú dị[51]. Trong khi niệm
trước niệm sau sanh khởi gần giống nhau (tương tợ), đối
chiếu trước sau, không phải là không có sai biệt[52].
(Hữu
bộ) Hành tướng khác nhau (sai biệt) kia, làm thế nào mà biết?
(Kinh
bộ) Đó là, các vật như kim cang ( v.v...) đã ném hoặc chưa
ném, hoặc ném với lực mạnh, lực yếu thì thời gian rơi
xuống nhanh hay chậm có sự khác nhau[53]. Cho nên bốn đại
chủng chuyển biến, ý nghĩa của sự sai biệt (dị) thành
tựu[54]. Khi các hành tương tợ tương tục sanh khởi, trước
sau vọng hướng đến nhau, không có nhiều sai biệt nên tuy
có khác nhưng lại thấy là tương tợ.
(Hữu
bộ) Nếu vậy, sát na sau cùng của âm thanh, của ánh sáng
và khi bát niết bàn, lục xứ sau cùng không có hậu niệm
thì lẽ ra không có trú, dị; thế thì tướng dị được lập
đó không có mặt cùng khắp các pháp hữu vi[55].
(Kinh
Bộ) Kinh nầy không nói, trú là tướng của pháp hữu vi. Nghĩa
đó thế nào? Đó là dị[56]; nghĩa là nếu có trú tất
cũng có dị; do đó lập tướng (trú dị), không có lỗi bất
biến[57].
(Kinh
bộ thuật ý Kinh) Song trong Kinh nầy, đức Thế tôn nói về
bốn tướng của các pháp hữu vi là hiển bày một cách vắn
tắt vậy; rằng, các pháp hữu vi vốn không nay có; có rồi
lại không; và tồn tại tương tục (tương tục trú); chính
trú tướng nầy trước sau tương vọng, có sự khác biệt
gọi là dị. Trong đó cần gì lập nên các pháp riêng biệt
như sanh, v.v... ?[58] .
(Hữu
Bộ) Tại sao chính sở tướng pháp lại lập thành năng tướng[59]?
(Kinh
bộ nêu dụ) Thế thì tại sao mà tướng đại sỹ chẳng khác
với đại sỹ[60]; các tướng như sừng (phong), yếm, móng
chân của con trâu chẳng khác với trâu; lại nữa, như tướng
của các giới kiên, v.v...; địa, v.v... chẳng khác với địa,
v.v...; (lại nữa) từ xa trong thấy khói bay lên biết đó là
tướng của khói; tướng nầy chẳng khác với thể của khói[61].
Tướng của các hữu vi nầy, lý cũng như vậy. Tuy biết rằng,
tự tánh của các pháp hữu vi như sắc, v.v... cho đến chưa
biết trước không, sau không, tương tục sai biệt; nhưng chưa
biết thể của chúng (sắc, v.v...) là hữu vi cho nên chẳng
phải tự tánh của chúng tức là hữu vi tướng; song, chẳng
có thể lìa tánh của chúng, lại có các thật vật như sanh,
v.v...(các tướng)[62] .
(Hữu
Bộ phản nạn) Nếu lìa tự tánh của các pháp hữu vi như
sắc, v.v... , mà có các tướng sanh, v.v... , lại có gì phi
lý[63]?
(Kinh
Bộ nêu lỗi) Một pháp trong một lúc, có cả bốn tướng
sanh, trú, suy dị và hoại diệt, tức chấp nhận là câu hữu[64].
(Hữu
Bộ) Nạn nầy không đúng, bởi lẽ, thời gian của tácdụng
khác nhau vậy; nghĩa là sanh có tác dụng từ vị lai, hiện
tại đã sanh thì không thể lại sanh nữa; các pháp đã sanh
rồi, trong hiện tại, ba tướng trú, v.v... mới khởi. Chẳng
phải trong lúc đang có tác dụng của sanh tướng lại cùng
có ba tác dụng khác[65]; cho nên tuy câu hữu nhưng không trái
ngược nhau.
(Kinh
Bộ quảng phá) Vả lại, nên suy nghĩ rằng, thể của các
pháp vị lai là có hay là không, rồi mới thành sanh, ở nơi
sanh vị đó, (mới luận) có dụng hay không có dụng[66].
(Kinh
bộ túng phá) Giả như cứ chấp nhận trong vị lai, sanh tướng
có tác dụng; (đã có tác dụng tức trở thành hiện tại)
làm sao thành vị lai mà gọi là tướng vị lai; khi pháp ở
hiện tại, tác dụng của sanh tướng đã biến mất (tạ),
làm sao thành hiện tại, mà nói là tướng hiện tại.
(Kinh
bộ vấn nạn) Lại nữa, ba tác dụng trú, v.v... đều là hiện
tại thì với một pháp thể trong một sát na tất phải có
an trú, suy dị và hoại diệt, như vậy thì khi trú tướng
đang khiến cho pháp nầy an trú, thì dị, diệt cũng lại đang
khiến cho pháp đó suy yếu và hoại diệt; lúc đó, pháp nầy
gọi là an trú hay gọi là suy dị hoặc gọi là hoại diệt.
(Kinh
bộ nạn) Các luận Sư Hữu bộ[67] nói rằng, (ba tướng) trú,
v.v... có tác dụng không cùng lúc; họ nói như vậy là trái
với nghĩa sát na diệt[68] (bởi không cùng lúc tức có sự
dừng nghỉ, mà sát na vốn không có sự dừng nghỉ).
(Kinh
Bộ nạn) Nếu (trước đã) nói, ở nơi một pháp tác dụng
của các tướng đều đã rốt ráo gọi là nhất sát na; nay
các ông nên nói vì duyên cớ gì, trú tướng cùng với hai
tướng kia câu sanh mà trước tiên, trú lại có khả năng
an trú các pháp sở trú, chẳng phải là dị, chẳng phải diệt[69].
Nếu cho rằng lực của trú mạnh nên khởi tác dụng trước,
thế thì về sau sao lại thành yếu rồi cùng với bổn pháp
chịu sự chi phối của dị, diệt để phải suy tàn và mất
hẳn. Nếu cho rằng trú tướng khi đã khởi tác dụng, không
thể khởi lại giống như sanh tướng (cũng không đúng); sanh
là như vậy vì tác dụng của sanh một khi dẫn pháp nhập
vào hiện tại, không thể khiến nhập lại. Trú thì không
như vậy; tác dụng của trú là khiến pháp an trú, không bị
suy yếu hoại diệt; một khi đã an trú, vẫn có thể khiến
an trú vĩnh viễn. Do đó, tác dụng của trú tướng nên thường
khởi, không thể ví dụ với sanh khiến không có tác dụng
trở lại được.
Lại
nữa, cái gì chướng ngại tác dụng của trú khiến tạm có
rồi hoàn không; nếu nói dị và diệt làm chướng ngại tức
dị và diệt lực phải mạnh, (đã mạnh) sao lại không khởi
tác dụng trước .
Lại
nữa, nếu trú dụng chấm dứt thì, bổn pháp, dị và diệt
tự nhiên không thể an trú; vậy hai tướng dị, diệt, ở
chỗ nào khởi lên tác dụng như vậy. Lại nữa, vì lý do
gì phải cần đến hai công năng kia? Do trú nhiếp trì nên
các pháp sau khi sanh tạm thời không diệt; khi tác dụng
của trú không còn, các pháp quyết định không thể an
trú tức tự nhiên diệt. Cho nên (biết rằng) công năng của
dị và diệt không có tác dụng[70].
Lại
nữa, một pháp sanh rồi, chưa hoại gọi là trú; khi trú đã
hoại gọi là diệt; theo lý như vậy là có thể chấp nhận.
Trong khi đó, Dị đối với một pháp, tra hỏi tìm hiểu kỹ,
theo lý là không nên có.
(Hữu
Bộ) Lý do vì sao ?
(Kinh
Bộ) Dị có nghĩa là sự chuyển biến của tánh và tướng
trong các thời gian trước và sau; chẳng phải chính pháp nầy
mà nói là không phải pháp nầy[71].Cho nên nói bài tụng rằng
:
Pháp
trước sau là một thì không thể có dị tướng
Trước
sau khác nhau thì chẳng phải là một pháp;
Do
vậy, nơi một pháp,
không
thể lập nên tướng dị[72].
(Kinh
Bộ phá Diệt tướng của Chánh Lượng Bộ) Tuy Chánh lượng
bộ nói, gặp nhơn duyên huỷ diệt, diệt tướng mới có thể
làm mất đi (diệt) pháp sở diệt; họ nói như vậy cũng giống
như có người nói rằng “khi uống thuốc trị tả lị, lại
nói là nhờ trời khiến khoẻ mạnh”. Và nếu nói vậy thì
chính do nhơn duyên huỷ diệt từ bên ngoài huỷ diệt bổn
pháp (sở diệt pháp), cần gì lại nói có một diệt tướng
khác (bên trong)? Lại nữa, với tâm, tâm sở chấp nhận sát
na diệt, không phải chờ các ngoại nhơn duyên diệt thì lẽ
ra, tác dụng của diệt và trú không có trước sau; thế thì,
trong một lúc, một pháp vừa là trú vừa là diệt, không hợp
chánh lý[73].
(Kinh
Bộ) Cho nên căn cứ vào tương tục mà nói về các tướng
hữu vi, không trái chánh lý lại thuận hợp với Khế kinh.
ii.
Thông ngoại nạn.
Nếu
trong vị lai, sanh tướng có công năng sanh khởi bổn pháp thì,
các pháp trong vị lai đều có sanh tướng, tại sao không đốn
khởi ?
VănTụng.
Hán:
生
能 生 所 生
非 離 因 緣 合
Vịêt
dịch:
Sanh
tướng làm sanh khởi các bổn pháp,
chẳng
lìa nhân duyên hoà hợp /91cd/.
Luận
giải thích:
Không
thể không có các nhân duyên hoà hợp khác mà riêng lực của
sanh tướng có khả năng sanh khởi các pháp, cho nên các pháp
trong vị lai chẳng có thể đốn khởi.
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, chúng tôi chỉ thấy nhân duyên có công năng
sanh khởi, chẳng có sanh tướng nào. Nhân duyên hoà hợp, các
pháp liền sanh, không hoà hợp tức không thể sanh, phiền gì
đến sanh tướng. Cho nên biết rằng chỉ có lực của nhân
duyên khiến sanh khởi.
(Hữu
Bộ) Các pháp như các ông đã biết, tánh của chúng rất
sâu kín nhỏ nhiệm, rất khó biết được, tuy hiện hữu thể
nhưng không thể biết. Nếu không có sanh tướng thì không
thể có sự hiểu biết về sanh (sanh giác)[74]. Lại nữa, đệ
lục chuyển ngôn không thể thành lập; đó là sanh tướng
của sắc, sanh tướng của thọ, v.v...[75]. Không nên nói
rằng, sắc của sắc; cho rằng không có sanh tướng
cho đến diệt tướng theo sự thích ứng đều là như vậy.
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, để có sự hiểu biết về không, vô ngã tức
là ở ngoài pháp nên chấp nhận có tánh không, tánh vô ngã[76];
để có các sự hiểu biết về một hai, lớn nhỏ, các biệt,
lìa hợp, kia đây thì nên như ngoại đạo (Thắng Luận) ngoài
pháp (thể) chấp nhận có (thể) tánh của số, lượng, các
biệt, hợp lìa, kia đây, hữu (tánh), đẳng (đẳng chỉ cho
các tánh đồng dị, v.v...)[77]. Lại nữa, để thành lập đệ
lục chuyển ngôn, nên chấp nhận có một tụ tánh của sắc.
Lại nữa, như nói tự tánh của sắc, làm sao đệ lục chuyển
ngôn thành tựu[78]. Cho nên sanh tướng, v.v... chỉ là giả
lập, không phải là thật thể riêng biệt. Để biết, các
hành vốn không, nay có, giả lập nên sanh tướng. Sanh tướng
vốn không nay có như vậy là nương vào các pháp sắc, thọ,
v.v..., có nhiều chủng loại; vì để phân biệt với các loại
(uẩn) khác vậy[79]. Nói đệ lục chuyển ngôn, sanh tướng
của sắc, sanh tướng của thọ, v.v... vì muốn cho người
khác biết sanh nầy của sắc chẳng phải của thọ, v.v...
Các uẩn còn lại cũng theo vậy. Như thế gian nói, hương của
chiên đàn, thể của thạch tử[80]. Sanh tướng cũng nên như
vậy[81]. Cũng như vậy, trú, v.v... tuỳ theo sự ứng hợp mà
biết.
(Hữu
Bộ) Nếu không cần sanh tướng, các hành vẫn sanh, tại sao
các pháp như hư không vô vi, v.v... lại không sanh?
(Kinh
Bộ) các hành được gọi là sanh, do xưa vốn không, nay có;
(trái lại) vô vi thể thường có, làm sao mà nói sanh được.
Lại như (tông các ông) nói pháp nhĩ mà không nói tất cả
đều hữu sanh; như vậy nên chấp nhận chẳng phải tất cả
các pháp đều hữu sanh[82]. Lại như (tông các ông cho rằng)
các pháp hữu vi đều có sanh tướng; cũng lại chấp nhận
nhân duyên đối với các pháp hữu vi, hoặc có công năng,
hoặc không có công năng; như vậy nên chấp nhận rằng tất
cả các pháp hữu vi và pháp vô vi đều không có sanh tướng
mà chỉ do nhân duyên đối với hai pháp đó, một có tác dụng
của sanh, một không có tác dụng sanh[83].
Luận
Sư Tỳ Bà sa nói, các tướng sanh, v.v..., là các pháp có thật,
lý đó hẳn đã thành tựu. Vì sao? Bởi lẽ, đâu có thể
vì có nhiều vấn nạn mà bỏ đi quan điểm của tông tôi;
chẳng phải vì sợ nai phá mà không trồng lúa, vì sợ ruồi
đậu mà không ăn mâm cơm ngon lành. Vậy, đối với các vấn
nạn nên ân cần giải thích, với nghĩa của tông tôi
nên thuận hợp tu hành.
Như
vậy, đã nói xong về các tướng của pháp hữu vi.
7.Danh
thân, v.v..
Các
loại như danh thân, v.v..., ý nghĩa thế nào?
Văn
Tụng.
Hán
:
名
身 等 所 謂
想 章 字 總 說
Việt
dịch :
Danh
thân, v.v... là
tập
hợp của tưởng, chương, tự /92ab[84]/.
Luận
giải thích :
i.
Thích tụng.
Danh
thân, v.v... là tập hợp của tưởng, chương, tự: chữ v.v...
chỉ cho cú thân và văn thân. Nên biết, trong đó, danh[85] nghĩa
là tác tưởng[86]; như nói các tưởng sắc, thanh, hương, vị,
v.v... Cú[87] là chương[88], (có công năng) diễn đạt ý nghĩa
đầy đủ; như các chương, các hành vô thường, v.v...; hoặc
có thể biện biệt rõ ràng về nghiệp dụng, đức, thời,
tương ưng và sai biệt[89]. Chương còn gọi là cú. Văn[90]
là tự[91]; như các mẫu tự như trung, a , nhất, y , (a, ā,i,ī)
v.v...[92]
Há
không phải các mẫu tự (Akṣara) nầy cũng chính là thơ phần
danh (Lipy-avayava. )[93] sao?
Chẳng
phải để hiển bày thơ phần[94] mà tạo ra các mẫu tự;
chỉ vì để hiển bày các mẫu tự mà tạo thơ phần. Vì
muốn làm sao để có thể khiến (những người ở xa) tuy không
nghe nói nhưng cũng hiểu được, cho nên tạo thơ phần; do
vậy, các mẫu tự chẳng phải thơ phần danh.
Thế
nào danh thân, v.v... là tổng thuyết[95] của tưởng, v.v...
Chữ tổng thuyết có nghĩa là hiệp tập (samavāye, samuccaya);
ở trong nghĩa hiệp tập (trong thanh minh), nói ốt già (uca)
giới vậy[96]. Trong đó danh thân đó là sắc, thanh, hương,
v.v...; cú thân đó là các hành vô thường, tất cả các pháp
vô ngã, niết bàn tịch tịnh, v.v... Văn thân đó là ca, khư,
dà , v.v...
ii.
Vấn đáp.
(kinh
Bộ) Há không phải ba loại danh, cú, văn, lấy ngôn ngữ làm
tánh, nên dụng thanh làm thể, nhiếp thuộc vào sắc (sắc
uẩn); sao lại nói là tâm bất tương ưng hành?
(Hữu
Bộ) Ba loại nầy chẳng phải lấy ngôn ngữ làm tự tánh;
ngôn ngữ là âm thanh; chẳng phải chỉ có âm thanh mới khiến
liễu nghĩa.
(Kinh
Bộ) Thế nào gọi là khiến hiểu được?
(Hữu
Bộ) Đó là ngữ phát sanh danh, danh có công năng hiển nghĩa,
lại có thể khiến cho hiểu[97]
(Kinh
bộ tự giải thích) Chẳng phải tất cả âm thanh đều gọi
là ngữ; chủ yếu là, do âm thanh đó mà nghĩa có thể hiểu
được; và như vậy, âm thanh mới gọi là ngữ.
(Hữu
Bộ) Những âm thanh nào khiến nghĩa có thể hiểu được?
(Kinh
Bộ) Các vị năng thuyết, ở trong các nghĩa, đã lập (âm
thanh làm) năng thuyên định lượng. Chẳng hạn như người
xưa, trong chín nghĩa, cùng lập âm cù làm năng thuyên định
lượng. Cho nên có bài tụng nói rằng:
Phương,
thú, địa, quang, ngôn
Kim
cang, nhãn, thiên, thuỷ
Ở
nơi chín loại nghĩa nầy
Bậc
trí lập cù thanh[98].
Các
luận sư Bà sa cho rằng danh có công năng hiển nghĩa, nhất
định cũng nên chấp nhận tên gọi (danh) của các nghĩa[99];
nghĩa là lập làm năng thuyên định lượng. Nếu cú nghĩa
(chín nghĩa trong bài tụng) nầy do danh năng hiển thì, chỉ
do tác dụng của âm thanh hiển bày đủ để biện giải, cần
gì phải cho rằng (ngoài âm thanh) lại có tên gọi (danh) riêng
biệt.
(Kinh
Bộ) Chưa hiểu danh (thanh) nầy, như thế nào là do ngữ phát
sinh; là do ngữ hiển hay là do ngữ sanh ? Nếu do ngữ sanh,
ngữ là tánh của thanh, thì tất cả các thanh đều có
khả năng sanh danh; nếu nói sanh danh, thanh có sai biệt
thì nó đủ để hiển nghĩa cần gì phải đợi biệt danh.
Nếu do ngữ hiển, ngữ là tánh của thanh, cho nên tất cả
các thanh đều nên hiển danh; nếu nói hiển danh, thanh có sai
biệt thì nó đủ để hiển nghĩa cần gì phải đợi có (một
loại) danh riêng biệt?
(Kinh
Bộ phá sanh danh) Lại nữa, Chư niệm thanh không thể
tụ tập; cũng không thể một pháp mà từng phần từng phần
dần dần phát sanh; như vậy làm sao nói danh sanh khởi là do
ngữ phát?
(Hữu
Bộ phản nạn) Thế thì nói thế nào khi đợi các sát na biểu
sắc quá khứ, sát na biểu sắc tối hậu mới sanh vô biểu[100]?
(Kinh
Bộ nạn) Như vậy thanh ở tối hậu vị sanh danh thì, chỉ
nghe tối hậu thanh, có thể liễu nghĩa? Nếu chấp nhận rằng,
ngữ sanh văn, văn lại sanh danh, danh mới hiển nghĩa thì, trong
đó các nạn giống như trước đã nói, vì các niệm văn không
thể tích tập. Ngữ hiển danh, lỗi cũng giống như sanh.
Lại
nữa, khác biệt giữa ngữ và văn, các bậc minh huệ chú tâm
suy nghĩ cũng chẳng có thể bàn luận về tướng của chúng
được. Lại nữa, nếu văn do ngữ sanh, hoặc hiển hoặc sanh,
căn cứ theo ngữ đối với danh, tất cả đều không hợp
lý. Lại nữa, nếu cho rằng, danh cũng như sanh tướng, v.v...
cùng với nghĩa đồng thời sanh khởi thì không thể có, vì
danh ở trong đời hiện tại nghĩa lại ở quá khứ, vị lai[101].
Lại nữa, phụ mẫu, v.v... tuỳ theo ý muốn mà đặt tên các
con, v.v...; thế thì làm sao có thể nói danh cũng như sanh tướng,
v.v... cùng với nghĩa đồng thời câu khởi. Lại nữa, pháp
vô vi lẽ ra không nên có danh, bởi vì nó có nghĩa vô sanh,
sao lại không chấp nhận (cứ đặt tên).
(Kinh
Bộ) Song đức Thế tôn nói tụng[102] là căn cứ vào danh và
văn. (Chư vị cổ đức) ở nơi các nghĩa nầy, cùng lập phần
lượng, thanh tức là danh; danh nầy an bố sai biệt là tụng;
do nghĩa như vậy nên nói rằng tụng nương vào danh. Tụng
nầy là danh an bố sai biệt; chấp có thật vật là không hợp
lý. Như các hàng cây, v.v…; và thứ tự của tâm (lìa cái
nầy không có cái kia). Hoặc chỉ nên chấp nhận có văn thể
tức tổng tập; đó chính là danh thân, v.v...; do vậy lại
chấp nhận có (danh, cú) trở thành vô dụng.
Luận
Sư Tỳ Bà sa nói, có các thật pháp là danh thân, v.v... nhiếp
thuộc tâm bất tương ưng hành uẩn; thật hữu chẳng phải
giả. Lý do vì sao? Vì chẳng phải tất cả các pháp đều
có thể suy nghĩ biết hết được.
iii.Phân
biệt môn
a.
Danh, cú, văn.
Danh
thân, v.v... nầy, hệ thuộc giới nào? Là hữu tình số hay
là phi hữu tình số? Là dị thục sanh, là sở trưởng dưỡng
hay là đẳng lưu tánh? Là thiện bất thiện hay là vô ký?
Văn
Tụng.
Hán:
欲
色 有 情 攝
等 流 無 記 性
Việt
dịch:
Thuộc
Dục, Sắc, Hữu tình
Tánh
đẳng lưu, vô ký /92cd/
Luận
giải thích:
Danh
thân, v.v... nầy chỉ hệ thuộc trong hai cõi Dục và Sắc.
Có thuyết cho rằng, cũng hệ thuộc cả cõi vô sắc, song không
thể nói (tức vô dụng). Lại nữa, Danh thân, v.v... nhiếp
thuộc hữu tình số, vì do người năng thuyết khiến nó thành
tựu; chẳng phải là nghĩa sở hiển (như sơn hà, v.v...) Lại
nữa, danh thân, v.v... chỉ thuộc tánh đẳng lưu. Lại nhiếp
thuộc vô phú vô ký tánh.
Như
đã nói ở trên, ý nghĩa của các bất tương ưng hành còn
lại nay sẽ nói qua một cách vắn tắt.
b.
Đồng phần…
Văn
Tụng.
Hán:
同
分 亦 如 是
并 無 色 異 熟
得
相 通 三 類
非 得 定 等 硫
Việt
dịch :
Đồng
phần cũng như vậy
và
vô sắc, dị thục
Đắc,
tướng thông ba loại
Phi
đắc, định đẳng lưu /93/.
Luận
giải thích:
bi.
Đồng phần cũng như vậy: nói “cũng như vậy” là nhằm
hiển bày đồng phần cũng như danh thân, v.v..., thông với
cõi Dục, cõi Sắc, thuộc hữu tình số, đẳng lưu tánh, vô
phú vô ký tánh.
và
vô sắc, dị thục: nói “và vô sắc” nhằm hiển bày cho
thấy chẳng phải chỉ ở hai cõi Dục và Sắc; nói “và...
dị thục” cho thấy chẳng phải chỉ thuộc đẳng lưu. Đó
là nghĩa, cõi thì thông cả ba và loại thì thông với hai.
bii.
Đắc tướng thông ba loại: đắc và bốn tướng đối với
ngũ loại, thông với ba, đó là hữu sát na, đẳng lưu và
dị thục.
biii.
Phi đắc, định đẳng lưu: phi đắc, nhị định chỉ thuộc
đẳng lưu; chữ “chỉ” nhằm nói rõ rằng chẳng phải là
dị thục, v.v...
Như
vậy đã nói xong các nghĩa chưa nói. Vô tưởng, mạng căn,
như trước đã luận.
Vì
duyên cớ gì mà không nói đắc, phi đắc, nhị định chỉ
nhiếp thuộc hữu tình số?
Đã
nói hữu tình thì các loại kia cũng đã thành tựu..
Vì
duyên cớ gì lại không nói bốn tướng thông với hữu tình
số và phi tình số?
Vì
đã nói tất cả các pháp hữu vi đều có.
Còn
gì chưa nói tuỳ chỗ ứng hợp, theo đây mà biết.
Thuyết
nhất thiết hữu bộ câu xá luận quyển 5.
Dịch
và chú: Thích Phước Viên
[1]
Cđ. Thích luận q.4,tr.184c06, 阿 毘 達 磨 藏
[2]
Nguyên văn Hán: 此 復 未 了 何 法 名 壽. Cđ.Thích luận nt...c07,
此 非 可 知 此 壽 是 何 法.
[3]Ht.
nguyên văn Hán, 壽 煖 及 與 識, 三 法 捨 身
時,所 捨 身 僵 仆,如 木 無 思 覺 。Cđ. Thích luận
.4 (nt)... c07, 壽 煖 及 意 識, 此 三 捨 身 時, 所 捨
身 即 眠, 如 枯 木 無 思 。 Quang ký q.5,tr.101a 27, chết ngửa
gọi là cương; chết sấp gọi là phó; chết nằm nghiêng cũng
gọi là cương phó.
[4]
Ht. q.5,tr.26b01, 故 有 別 法 能 持
煖 識 相 續 住 因 說 名
爲 壽 Cđ. Thích luận q.4,tr.184c10, 是 故 此 法 能
持 煖 及 識 為 相 續 住 因 說 名 為 壽 .
[5]
Cđ. Thích luận q.4,tr.184c13, 若 執如 此 應 立 三 法
恒 起 無 謝。Quang ký q.5,tr.101b 05, nếu không có một pháp
nào diệt trước thì cả ba pháp nầy thường còn, không mất.
Bảo sớ q.5,tr.546a 05, đã nói rằng, ba pháp hỗ tương duy
trì thì, không (thể nói) có pháp nào diệt trước, như vậy,
lẽ ra phải thường còn, không mất.
[6]
Quang ký q.5,tr.101b 08, đã vậy thì, thọ nầy nên do nghiệp
duy trì, theo sự dẫn dắt của nghiệp mà tương tục (thân)
chuyển biến hoặc lâu dài hoặc ngắn ngủi. Cđ. Thích
Luận q.4,tr.184c14, nghĩa nầy không phải vậy; thọ nầy lấy
nghiệp làm pháp duy trì, theo như sự dẫn dắt của nghiệp,
tương tục (thân) tuỳ theo đó mà sanh, trú.
[7]Bảo
sớ q.5,tr.546a 12, nếu tất cả các thức (luôn luôn) chỉ là
dị thục thì có thể nói do nghiệp duy trì; trong khi đó, loài
hữu tình hoặc khởi lên thiện tâm, hoặc khởi nhiễm tâm
và ở các địa khác nhau, hoặc ở vô lậu, các loại thức
xen nhau khởi lên, như vậy làm sao nói rằng do nghiệp duy trì.
Quang ký q.5,tr.101b 14, chớ nên nói rằng tất cả các thức
từ đầu đến cuối luôn luôn là dị thục, vì thức trong
cả ba tính đan xen nhau khởi lên. (nghiệp thời có thiện có
bất thiện nhưng quả dị thục luôn luôn là vô ký; trong khi
đó thức thuộc quả dị thục mà không phải luôn luôn là
vô ký thì nghiệp không thể duy trì thức được).
[8]Quang
ký q.5,tr.101b 18, ở hai cõi Dục và Sắc có noãn thì mới có
thể nói rằng, noãn duy trì thức; ở cõi Vô sắc không có
noãn thì thức lẽ ra không có pháp nào duy trì nó.
[9]
Cđ. Thích luận q.4,tr.184c 19, 君 不 可 隨 意 作,或
說 煖 為 識 持 或 說 業 為 識 持;汝 前 已 許。
[10]Cđ.
Thích luận q.4,tr.184c 20, chấp nhận gì, 何 所 許?
[11]
Cđ. Thích luận q.4,tr.184c22, tôi cũng nói, thọ không phải
là không, chỉ nói chẳng phải là một thật thể riêng biệt,
我 亦 說 此 不 無旦 非 別 實 物。
[12]Cđ.
Thích luận q.4,tr184c22, 若 爾 汝 立 壽 是 何 法 是。
[13]Ht.
Năng lực, 勢 分。Skt. āvedhaḥ, thế lực, 勢力。 Engl.:
Power, determination. 眾 同 分 勢 力。 Skt: Nikāyasabhāgasyāvedhaḥ.
[14]
Cđ. Thích luận q.4,tr.184c 24, 此 聚同 分 速 疾 隨 宿 業 所
作, 謂 應 住 如 時 量 是 聚 同 分;得 如 此 時 住 說
名 為 壽。 Quang ký q.5,tr.101b 29, từ “do được dẫn dắt
bởi nghiệp của ba cõi..” trở xuống nhằm hiển bày năng
lực của chúng đồng phần tồn tại trong thời gian dài hay
ngắn. Được dẫn dắt bởi nghiệp lực của ba cõi , năng
lực trong thời gian tồn tại của chúng đồng phần chuyển
biến tương tục, quyết định tương ứng tuỳ thuộc với
một thời gian tồn tại, (tức là) tồn tại trong một thời
gian như vậy, hoặc qua mười năm hoặc trăm năm, v.v... ; chính
năng lực nầy tạm thời (giả) được nói là thọ... tr.101c08,
(nêu câu hỏi đối với Kinh bộ) Nếu ở nơi đồng phần,
giả lập mạng căn, tại sao Chánh lý q.13 nói về nghĩa của
Kinh bộ rằng, được dẫn dắt bởi nghiệp, năng lực trong
thời gian tồn tại của sáu xứ và y tương tục không gián
đoạn, chắc chắn tương ứng tuỳ thuộc với một thời gian
tồn tại, tồn tại trong thời gian như vậy; năng lực nầy
được nói là thể của thọ. Căn cứ vào văn của Luận kia
thì, ở nơi sáu xứ và y giả lập mạng căn há không trái
ngược nhau sao. Y là phù trần căn. Giải thích, dđồng phần
vốn không có thật thể (Kinh bộ) nê đã trở lại dựa
vào sáu xứ và y để lập. Luận nầy (kinh bộ) căn cứ vào
giả ,nương giả; Chánh lý căn cứ vào giả mà nương nơi
thật. Do đó không trái nhau. Lại nữa, Chánh lý nạn vấn
Kinh bộ rằng, nếu có chỗ (vô sắc giới) không có nội ngũ
sắc xứ dị thục được dẫn dắt bởi nghiệp thì ở đó,
hoặc có lúc không có đệ lục ý xứ được dẫn dắt bởi
nghiệp nghĩa là trong một thời gian dài khởi lên thức nhiễm
ô hoặc thiện hữu lậu thức và vô lậu thức; thế thì ở
trong giai đoạn tương tục (tương tục vị trung) không có
năng lực dị thục được dẫn khởi bởi nghiệp, nói cái
gì là thọ.
[15]Quang
ký q.5,tr.101c 04, như năng lực của hạt lúa giống, v.v... được
dẫn dắt cho đến lúc chín, chính năng lực không gián đoạn
nầy tạm gọi là công năng. Lại giống như năng lực
của mũi tên khi được bắn ra, kéo dài trong suốt thời gian
tồn tại, chính năng lực nầy tạm gọi là hành.
[16]Ht.
行,Hành. Skt. Saṃskāra.
[17]Ht.
德 句 義,đức cú nghiã. Quang ký q.5,tr.101c 24, phái Thắng
Luận cho rằng đức cú nghĩa gồm có 24 loại; hành là pháp
thứ 21 trong 24 loại đó, cho nên nói là sự khác nhau của
đức (đức sai biệt). Theo quan điểm đó thì các pháp
từ chỗ nầy đến chỗ kia, chuyển động nhanh, chậm, v.v...đều
do lực của hành mà có....; hành nầy nương vào mũi tên,v.v...
mà sanh ra. (Nhưng) chính do lực của hành mà mũi tên, v.v...
chuyển biên tương tục, không gián đoạn cho đến lúc chưa
rơi xuống giống như chim ngậm trái cây vậy. Skt. Guṇa.
[18]Cđ.
q.4,tr.184c 28, 若 有 人 執 有 別 德 名 速 疾, 生 在 箭上;
由 隨 此 德 故; 箭 行 乃 至 墮。
[19]Quang
ký q.5, tr.102a Luận chủ Câu Xá bác bỏ lập luận của phái
Thắng luận, rằng, khi mũi tên được bắn ra để bay đến
một nơi khác, (vì do thể của hành là một) nên sự khác
nhau của ba giai đoạn, ban đầu nhanh, khoảng giữa vừa và
sau cùng là đến, lẽ ra không thể có.
[20]Quang
ký q.5, tr. 102a 08, khi đến giai đoạn sau lẽ ra không thể
rơi xuống vì không bị một chướng ngại nào, giống như
lúc đầu vậy....; nếu nói rằng đến giai đoạn sau phải
rơi xuống vì bị sức gió cản thì, ngay giai đoạn đầu cũng
có gió cản, lẽ ra phải rơi xuống từ đó; lực cản của
gió trước sau vẫn không khác nhau vậy... hoặc vào giai đoạn
sau, mũi tên không thể rơi xuống vì sức cản của gió cũng
không khác nhau , vẫn giống lúc đầu.
[21]
Cđ. Thích luận q.4, tr.185a 06, 於假 名 論 中 說,有 死 由
壽 盡,死 由 福 盡。
[22]Cđ.
Thích luận q.4, tr.18509, 若 壽 命已 盡, 福 業 盡 於 死
何 能。 於 福 業 盡 死 中, 壽 命 盡 亦 爾; 是 故 於
二 盡 死 是 名 俱 盡 死。Bảo sớ q.5, tr.546c 24, 。。。
khi nghiệp lực chiêu cảm hai loại đều hết nên phải chết,
(thực sự) là do nghiệp lực chiêu cảm thọ mạng hết mà
chết há lại do phước tận khiến mạng sống chấm dứt ư
? giải thích, phước tận đối với sự chết tuy không có
công năng nhưng do khi chết cả hai loại đồng thời đều
hết; do đó, chỉ nói câu tận cố tử. Chữ câu tận nầy
không có ý nói do lực của phước tận vậy.
[23]Đoạn
văn nầy của Luận Chánh lý, 若 所 依 身可 損 害 故
壽 隨 損 害,是 名 第 一 隨 相 續 轉;若 所 依 身不
可 損 害 如 起 而 住 是 名第 二 一 起 便 住。Tì bà sa
nói, có Luận sư cho rằng, sắc thân gọi là tương tục; đó
là (chúng sanh) sanh ở cõi Dục không ở trong hai định vô
tưởng và diệt tận , thọ mạng tuỳ theo sắc thân chuyển
biến tương tục. Lý do vì sao? Bởi lẽ, nếu sắc thân bình
hoà, thọ sẽ không ngắn ngủi (vô yểu); nếu sắc thân bị
tổn hoại, thọ mạng sẽ ngắn ngủi (trung yểu)
[24]Quang
ký q.5, tr. 102c 06, Luận sư thứ hai của Tì bà sa giải
thích, thuyết đầu nói tuỳ theo sắc thân (tương tục) mà
chuyển cho thấy thọ mạng có sự chướng ngại; thuyết sau
nói một khi khởi lên liền theo đó mà tồn tại, cho thấy
thọ mạng không bị chướng ngại. Từ đó, chắc chắc có
cái chết phi thời. Bảo sớ q.5,tr.547a 07, tuỳ tương tục
chuyển là có sự chướng ngại, là có cái chết phi thời
vâỵ; không tuỳ theo tương tục chuyển, một khi khởi lên
liền tồn tại là không bị chướng ngại, chẳng phải có
cái chết phi thời.
[25]
Bảo sớ q.5,tr.547a 09, Luận: cho nên Khế kinh nói cho đến
khi mang thai Luân vương. Từ đây trở xuống , nêu lên bốn
loại tự thể để chứng minh ý nghĩa trước.
[26]Bảo
sớ q.5, tr.547a 11, (chúng sanh) ở cõi trời hý vong niệm do
vui quá độ (hỷ tăng) khiến mất niệm mà chết; cõi trời
ý phẩn nhuế do phẫn nộ quá mức mà chết. cho nên Bà sa
q.199, (190) trong đoạn hỏi về hai cõi trời nầy, nói, hỏi:
chư thiên sống tại chỗ nào. Có thuyết nói, tại diệu cao
tằng cấp; có thuyết nói, đó là cõi trời thứ 33. Rõ ràng,
với các cõi nầy có hai thuyết khác nhau nhưng đều có thể
cùng tương hại đối với a tu la. Căn cứ ở đây thì thấy
có cả hai trường hợp bị tổn hại; như vậy do đâu mà
nói chỉ có tự hại.
[27]
Quang ký q.5, tr.102c 17, Trong câu thứ nhất, nên nêu lên trường
hợp chư Phật tự rút ngắn thọ mạng để nhập niết
bàn (tức cũng là một trường hợp thuộc về tự hại).
[28]
Bà sa Lại có một loại hoặc rồng, hoặc diệu xí hoặc quỷ
và người hoặc lại có các loại khác nữa có thể bị tha
hại, chẳng phải tự hại.
[29]
Ba sa đó là cầm thú, hoặc rồng hoặc diệu xí hoặc
quỷ và người hoặc lại có các loài khác có thể vừa bị
tự hại vừa bị tha hại.
[30]
Quang ký q.5, tr. 102c 29, ở thân trung hữu cần chờ đợi các
duyên để thọ sanh vì thế không thể bị tự hoặc tha hại;
cõi Sắc, Vô sắc không có nghiệp sát vậy. Lại có giải
thích, ở trung hữu, ở cõi Sắc thân thể đặc biệt vi diệu
cho nên không thể bị (tự hoặc tha) làm hại; ở cõi Vô sắc,
không có sắc thân nên cũng không thể bị tự hoặc tha làm
hại. Ở địa ngục bị ràng buộc bởi nghiệp lực cho nên
chẳng phải do tự hoặc tha làm hại khiến phải chết được.
Bắc cu lô châu định nghiệp sống đến ngàn năm, lại không
có nghiệp sát. Ở trong 15 sát na kiến đạo chắc chắn không
có chết yểu nữa chừng. Xuất từ định vì ý muốn lợi
lạc rất mạnh, Diệt định, vô tưởng định do định lực
thắng diệu cho nên đều chẳng thể bị tư tha làm hại. Vương
tiên là chuyển luân vương bỏ nhà cửa, tu đạo, có đủ
năm loại thần thông nên gọi là vương tiên. Lại có giải
thích, Luân vương thái tử sau khi làm lễ quán đảnh, trước
hết nen6 tu tập các phạm hạnh trong phổ tịch của tiên vương;
tiên vương chọn để làm người nối dõi ngôi vị chuyển
luân vương cũng chẳng bị tự tha làm hại. Phật sứ là sứ
giả của Phật; do nhiệm vụ sứ giả của Phật chưa xong
cũng chẳng bị tự tha làm hại. Bà sa q.152, năm người, Đạt
nhĩ la,v.v... đều được đức Phật đặc biệt thọ ký. Đạt
nhĩ: Trung hoa dịch là hữu pháp; la dịch là thủ. Ở nơi hữu
pháp thần mà khất thủ; từ vị thần đã xin mà đặt tên
nên gọi là hữu pháp thủ; đó là con của vị trưởng giả.
Ốt đát la: dịch là thượng thắng, cũng là con của trưởng
giả. Căng kì: là tên của thần sông; la: gọi là nhiếp thọ.
Cha mẹ thương con nên từ vị thần mà đặt tên con; con ta
được nhiếp thọ bởi thần Căng kì, khiến quỷ và các ác
thần không thể làm hại. Cựu dịch: là hằng hà, không đúng.
Trưởng giả tử da xá: da xá dịch là danh xưng, theo Phật
xuất gia, ban đêm vượt qua dòng sông rất sâu, tự nhiên
không bị tổn hại. Cưu ma la thời bà: cưu ma la hoa ngữ dịch
là đồng tử; thời bà dịch là hoạt mạng; gọi là đồng
tử hoạt mạng. Tối hậu thân bồ tát: thân mạng sanh ở
cung vua; nhất định thành Phật, các việc cần làm chưa làm
xong. Và Mẹ của vị bồ tát nầy khi đang mang thai bồ tát.
Do phước lực của bồ tát khiến người mẹ không bị tổn
hại. Tất cả các vị Luân vương; do phước nghiệp tối thắng
duy trì vậy. Và Mẹ của những vị Luân vương nầy khi mang
thai Luân vương.
[31]
Quang ký q.5, tr.103b 11, Luận chủ dẫn Kinh vấn nạn rằng,
các Luận sư tì bà sa như đã nói trong câu thứ tư, đều
không thể hại; tất cả các hữu tình ở cõi Sắc và Vô
sắc đều không thể bị hại; vậy vì sao trong Kinh lại chỉ
nói (chúng sanh) ở cõi trời Hữu đảnh (mới đều không thể
bị hại) ?
[32]
Quang ký q.5, tr.103b 14 , Luận sư Tì bà sa truyền thuyết rằng,
tự thể ở ba cõi vô sắc còn lại, ở bốn cõi tịnh lự
có thể bị thánh đạo hai cõi Tự (địa) và Thượng
(địa) làm hại; ở cõi Hữu đảnh, thánh đạo tự địa
và thượng địa cả hai loại bị hại (tự và tha) đều không
có. Căn cứ vào đó (Hữu đảnh) mà nói là đều chẳng có
thể làm haị (câu phi hại).
[33]
Bảo sớ q.5, tr.547b 22, Luận chủ dẫn giải thích chính,
thật sự, tất cả hữu tình ở cõi Sắc và Vô sắc đều
chẳng bị tự và tha làm hại; nhưng Kinh chỉ nói hữu tình
ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng tức là nêu cái sau là hiển
bày cái trước (nói rõ hơn là nêu Hữu đảnh tức bao gồm
cả ba cõi Vô sắc và bốn cõi tịnh lự ở trước vậy).
[34]
Bảo sớ q.5, tr. 547b 25, Đệ nhất lạc sanh thiên (tức sơ
thiền) có ba cõi: Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại
phạn thiên. Phạm chúng là cõi đầu. Nêu cõi đầu tức có
ý bao gồm hai cõi sau.
[35]
Bảo sớ q.5, tr 547b 27, Đệ nhị lạc sanh thiên (tức nhị
thiền) có ba cõi: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên,
Cực quang thiên. Trong đó, Cực quang thiên là cõi sau cùng.
Nêu cõi sau, Cực quang thiên tức có ý bao gồm hai cõi đầu.
[36]
Quang ký q.5, tr. 103b25, Trong kinh Thất trú, đệ nhất thức
trú tuy chẳng phải hiển bày thí dụ cũng vẫn có chữ
như; do đó biết rằng, chữ như không nhất định là phải
hiển bày nghĩa thí dụ.
[37]
Quang ký q.5, tr.103c04, các pháp hữu vi là chỗ mà tướng gá
vào. Tướng là tiêu tướng tức là cái có khả năng biểu
thị thể của các pháp hữu vi, rằng, pháp hữu vi đều có
thật thể riêng biệt gọi là tánh. Tướng không thể khởi
lên một mình cho nên phải dựa vào pháp... tr.103c 09,
vì bốn loại nầy là tiêu tướng của các pháp hữu vi cho
nên pháp nào nếu có tướng nầy đều nhiếp thuộc pháp hữu
vi. Ngược lại pháp nầy là pháp vô vi. Hữu bộ cho rằng
thể của các pháp là vốn có (bổn hữu); bốn tướng đối
với các pháp chỉ căn cứ vào công năng (dụng) mà nói, chẳng
phải căn cứ vào thể để bàn.
[38]Quang
ký q.5,tr.103c02, nhơn duyên tạo tác gọi là vi; các pháp sắc
tâm,v.v... từ nhơn duyên sanh ra đều có cái vi (tạo tác) đó
nên gọi là hữu vi.
[39]Quang
ký q.5, tr.103c 12, Trong đó, cái đối với các pháp có khả
năng khởi tác dụng khiến cho các pháp đi vào hiện tại,
gọi đó là sanh. Nếu không có sanh tướng thì các pháp hữu
vi cũng giống như hư không v.v..., vốn không sanh khởi. Pháp
đã có trong hiện tại rồi, cái có tác dụng khiến cho các
pháp tạm thời an trú, mỗi mỗi đều dẫn đến tự quả
cho nên gọi là trú. Nếu không có trú tướng thì, khi các
pháp tạm thời an trú, lẽ ra không thể dẫn đến tự quả.
Nếu (cho rằng) lực nhậm vận của trú khiến dẫn đến tự
quả, thì khi dị tướng khởi tác dụng khiến pháp suy dị,
công năng dẫn quả kia không thể lại tự dẫn đến kết
quả lần nữa nên (để) gọi là dị. Nếu không có dị tướng
thì công năng làm suy kiệt kia vì duyên cớ gì lại không thể
thường dẫn đến tự quả. Hoặc dị tướng ấy: đó là
các pháp tương tục, lúc sau (quả) khác lúc trước (nhân).
Như do lực nhậm vận của trú khiến cho các pháp hữu vi,
dấn dần lúc sau hơn lúc trước. Do suy dị nên khiến cho lúc
sau kém lúc trước. Tuy lại có pháp lúc sau hơn lúc trước
do nhân duyên đặc biệt làm mất đi công năng của dị
tướng để dẫn đến việc lúc sau hơn lúc trước. Dị tương
trong công năng hiện tại đã làm suy tổn rồi, diệt tướng
lại làm mất đi công năng của pháp trong hiện tại khiến
chúng chìm vào quá khứ nên gọi là diệt.Nếu không có diệt
tướng thì công năng của các pháp trong hiện tại lẽ ra không
mất. Nếu dụng không mất thì các pháp là thường còn. Nên
biết, theo Hữu bộ, sanh tướng khởi dụng ở vị lai. Ba tướng
trú, dị và diệt đồng thời khởi dụng trong đời hiện
tại. Tuy đều nương vào một pháp để lập nên nhưng sở
vọng bất đồng nên tác dụng cũng khác.
[40]Quang
ký q.5,tr.104a27, vì muốn khiến cho người xem nhàm chán Cát
Tường nên trước phải chỉ Hắc nhỉ. Cát tường và Hắc
nhỉ là hai chị em thường đi với nhau. Cát tường là chị,
đến đâu đều được ưa thích; Hắc nhỉ là em, tai đen xấu
xí, không được yêu thích. Người ngu say mê Cát tường; người
trí muốn cho người ngu biết buông xả nên trước tiên chỉ
Hắc nhỉ. Khi thấy Hắc nhỉ rồi, theo đó cũng chán luôn
Cát tường.
[41]
Quang ký q.5, tr.104c 08, sắc đẳng: chữ đẳng ở đây, chỉ
cho bốn trần cảnh còn lại và năm căn, v.v... . Nghĩa
là, các tướng nầy không giống như năm cảnh để có thể
chứng thật bằng hiện lượng; cũng không giống như năm căn,
v.v... để có thể chứng thật bằng tỷ lượng; và cũng không
thể được chứng thật bằng thánh giáo lượng.
[42]
Quang ký q.5,tr. 104c 12, Thuyết nhất thiết hữu bộ trách Kinh
bộ rằng, tuy không được chứng tri bởi hiện lượng và
tỷ lượng nhưng lại có thánh giáo lượng. Trong Kinh
đã nói sự sinh khởi, v.v... của các pháp hữu vi (đệ
lục chuyển thanh) lại còn nói liểu tri, rõ ràng biết rằng,
có thật thể.
[43]
Cđ. Thích luận q.4, tr.185c 29, 天 愛!汝 今 能 誦 伽 蘭 他,不
解 伽 蘭 他 義。 佛 世 尊 說,義 是 量 非 文 句。何
者為 義 ?。。。(Vớ vẩn. Các vị hay đọc tụng Già lan
tha mà không hiểu nghĩa của Già lan tha. Đức Phật thế tôn
dạy, nghĩa là ý nghĩa (量) , chẳng phải là câu chữ (文
句). Nghĩa ấy là gì ? ....
[44]
Cđ. Thích luận q.4,tr.186a08, 経 説 重 有 為 名 為 linh 他
知 此 相 顯 有 為 性 勿 如 此 為 顯 有 為 法 類 是 有
故 立 四 相 .
[45]Quang
ký q.5, tr. 105a 19, Căn cứ vào sự tương tục của các
pháp hữu vi tạm thời lập lên bốn tướng; chẳng phải căn
cứ vào sát na. Nói tương tục ấy là chỉ cho tương tục
trong một thời gian hoặc nhất vận tương tục.
[46]
Quang ký q.5,tr105b10 Ba bài tụng nầy đều do các luận Sư Kinh
bộ nói. Hai bài đầu căn cứ vào tương tục mà lập nên
bốn tướng sanh, trú, dị,diệt; văn tuy có khác nhưng nghĩa
thì giống nhau. Bài tụng sau tức bài thứ ba, bác bỏ quan
điểm “sát na thật trú”của Nhất thiết hữu bộ. Do vì
các pháp trong mỗi sát na không có trú tướng thật sự nên
có giả diệt. Các pháp sau khi sanh khởi, không đợi ngoại
duyên, trong từng sát na tự nhiên hoại diệt. Cho nên trong
một sát na, cho rằng thật sự có tướng trú là điều phi
lý. Do vậy, chỉ ở trong (đồng phần) tương tục nói có
trú tướng; chứ không phải ở trong sát na (tương tục) nói
có trú tướng.
[47]
Cđ. Thích luận q.4,tr.186a15 生 謂 相 續 初; 斷 名 滅 ,
續 住 ; 住 異 此 相 續 是 前 後 差 別.
[48]
Cđ. Thích luận q.4,tr186a21 若 法 殺 那 滅 , 離 住 即 便
滅 ; 此 常 滅 是 故, 分 別 住 非 理
[49]
Tương tục 相 續 : có ba loại. một, đồng phần
同 分 tương tục; hai, nhất vận 一 運 tương tục;
ba, sát na 殺 那 tương tục.
[50]
Quang ký q.5,tr.105b19 Thế nào gọi là trú ? Nghĩa là, các pháp
hữu vi đã sinh khởi mà chưa bị huỷ diệt, (căn cứ trên
đồng phần) tương tục của chúng mà nói trú tướng; chứ
chẳng phải sau khi sinh khởi, trải qua một thời gian tồn
tại được gọi là sát na pháp tánh (tức chẳng phải căn
cứ tên sát na tương tục); bởi lẽ, một sát na là thời
gian rất ngắn, nếu trải qua thời gian tồn tại (kinh đình)
thì không còn là rất ngắn ngủi nữa (tức không phải là
sát na).
[51]
Cđ. Thích luận q.4,tr.186b02 隨 一 殺 那 未 有 有 名 生 ;
有 已 不 有 名 滅 ; 前 前 後 後 殺 那 相 應 名 住 ; 此
彼 不 相 似 名 住 異 .
[52]Cđ.
Thích luận q.4,tr.186b04 若 爾 有 法 生 不 異 ,
此 義 云 何 ?. 雖 復 如 此 不 無
別 異 .
[53]Cđ.
Thích luận q.4,tr.186b05 擲 不 擲 , 強 力 擲 , 弱 力 擲 , 金
剛 等 物 久 速 落 時 有 差 別 故 . Quang ký q5,tr.105c11 謂
金 剛 等 有 擲 未 擲 , 時 差 別 故 , 故 亦 有 異 . 就 擲
之 中 復 有 差 別 ; 若 強 力 擲 即 速 墮 , 若 弱 力
擲 即 遅 墮 . 又 解 若 強 力 擲 遠 故 遅 墮 , 若 弱 力
擲 近 故 速 墮 , 時 差 別 故 而 有 異 相 . 由 斯 道 理
大 種 轉 變 差 別 義 成 .
[54]
Bảo sớ q.5,tr.549c10 雖 有 不 同 , 金 剛 本 相 前 後 相
似 ; 大 種 雖 復 前 後 相 似 , 轉 變 差 別 , 其 義 亦 成
[55]
Quang ký q.5,tr.105c20 nếu nói niệm trước niệm sau có sự
khác nhau nên gọi là trú dị; thế thì, tối hậu niệm thanh,
tối hậu niệm quang và khi sắp nhập vào vô dư niết bàn,
tối hậu lục xứ, tất cả các pháp nầy đều không có hậu
niệm để có sự sai khác, lẽ ra, không thể có trú dị. Và
nếu các tối hậu niệm nầy không có dị tướng thì, tướng
trú dị được lập không có mặt cùng khắp các pháp hữu
vi.
[56]
Quang ký q.5,tr.105c27 kinh văn nói, dị gọi là trú dị với
ý rằng, dị là tướng của pháp hữu vi, không nói trú là
tướng của pháp hữu vi. Cho nên Kinh nói, có ba tướng hữu
vi của các pháp hữu vi.
[57]
Cđ. Thích luận q.4,tr.186b10 若 不 説 住 為 有 為 相 , 何
者 謂 住 異 ? 若 法 有 住 , 此 法 必 有 住 異 . 是 故 立
無 不 變 .
[58]
Cđ. Thích luận q.4,tr.186b13 於 此 経 中 若 略 説 , 此 経
中 世 尊 所 顯 有 為 法 相 必 如 此 . 経 云 , 有 為 何
相 ? 若 先 未 有 今 有 ; 有 已 更 不 有 ; 此 法 相
續名 住 ; 此 相 續 前 後 不 同 名 住 異 . 於 中 何
用 立 生 等 物 ? Quang ký q.5,tr.106a 21 然 此 四 相 経 中
, 世 尊 所 説 有 為 之相 , 略 顯 示 者 . 謂 有 為 法 本
無 今 有 名 生; 有 已 還 無 名 滅 ; 相 續 隨
轉 名 住 ; 即 此 住 相 前 後 差 別 名 異
; 此 中 何 用 生 等 別 物 ?
Bảo sớ q.5,tr.549c29 即 有 為 法 本
無 今 有 名 今 有生 ; 有 已 還 無
名 滅 ; 相 續 名 住 ; 即 此 前
念 後 念 不 同 名 異 已 顯
有 相 續 為 之 相 續無 常 相 ,
何 用 離 其 所 相 別 有
生 等 ?
[59]
Bảo sớ q.5,tr.550a 04 Nếu nói các pháp sắc, thanh, v.v… trước
không, nay có ( sanh), v.v…là tướng của các pháp hữu vi tức
là chính sở tướng lập làm năng tướng. Tại sao chính
sở tướng lại lập thành năng tướng? Quang ký q.5,tr. 106a
26 Há không có một năng tướng riêng biệt hay sao mà chính
sở tướng lại lập làm năng tướng?
[60]
Quang ký q.5,tr.106a28 Thế tại sao 32 hai tướng của Đại sỹ
(Thế tôn) lại chẳng là cái gì khác ngoài Đại sỹ?
[61]
Cđ. Thích luận q.04,tr.186b 19 又 如 上 升
為 煙 相 由 此 相 故 遠
處 知 煙 此 相 與 煙 不
異 .
[62]
Quang ký q.05,tr.106b 05 Năng tướng và sở tướng được giải
thích khác nhau cho nên không thể nói tức; ngoài sắc,v.v…
không có một thể tánh nào cả cho nên không thể nói ly .
Đây chính là nghĩa bất tức bất ly vậy.
[63]
Bảo sớ q.5,tr.550a 15 Chúng tôi lập sanh, trú,v.v… có thể
tánh riêng biệt khác với sở tướng pháp (pháp hữu vi), có
gì phi lý?
[64]
Cđ. Thích luận q.4,tr.186b 26 Đó là, một pháp trong cùng một
lúc đang sanh, đang trú, đang lão, đang diệt. Thế nào là đang?
tức là các tướng cùng khởi lên vậy. Bảo sớ q.5,tr.550a
17 trên mỗi mỗi pháp đồng thời cùng có bốn tướng tức
là khi pháp đang sanh cũng chính là đang diệt…, đồng có
thể tánh.
[65]
Bảo sớ q.5,tr.550a 19 Tuy thể câu hữu nhưng tác dụng có trước
có sau; đó là,tác dụng của sanh tướng là khiến cho các
pháp chưa sanh sanh vào trong hiện tại; khi đã sanh vào hiện
tại rồi đâu cần sanh tướng nữa. Do đó, khi đang sanh không
thể là đang trú, đang suy dị, và đang hoại diệt được.
[66]
Quang ký q.5,tr.106b 15 Trước phải biết rằng, thể của các
pháp vị lai là có hay không; sau đó mới luận về hữu dụng
vô dụng. Thể còn chưa quyết định, làm sao mà nói đến
dụng.
[67]
Quang ký q.05,tr.106c 11 諸 chư: thuyết nhất thiết hữu
bộ sư.
[68]
Cđ.Thích luận q.04,tr.186c 09 有 餘 人 説 , 住
等 諸 相 , 功 能 次 第 不
俱 ; 於 此 人 則 失 殺 那
義 滅 . Quang ký q.05,tr.106c 11 Các luận Sư hữu bộ nói
rằng, ba tướng trú, v.v… tuy cùng có mặt trong hiện tại
nhưng tác dụng không cùng lúc tức khởi lên trước sau khác
nhau; họ nói như vậy là trái với ý nghĩa sát na diệt. Thời
gian rất ngắn gọi là nhất sát na. Mà đã nói ba tướng,
trong hiện tại, khởi lên tác dụng riêng biệt trước sau
tức là có sự kéo dài (kinh đình); như vậy là trái với
ý nghĩa sát na diệt. Bảo sớ q.05,tr.550b 27 (Kinh bộ nạn)
Nếu tác dụng khởi lên trước sau thì các pháp khi đã sanh
khởi phải trải qua thời gian tồn tại (trú), thời gian biến
dị, thời gian huỷ diệt. Đã trải qua ba thời gian khác nhau
thì phải có ba sát na. Thời gian rất ngắn gọi là nhất sát
na; như vậy là trái với giáo thuyết sát na nghĩa diệt.
[69]
Ht.q.05,tr.28b 05 若 言 我 説 一 法
諸 相 用 皆 究 竟 名 一
殺 那 ; 汝 今 應 説 何 用
皆 緣 住 相 與 二 俱 生 而
住 先 能 住 所 住 法 非
異 非 滅 . Cđ.Thích luận q.04tr.186c 10 若 汝
説 我 立 殺 那 如 此 四
相 功 能 成 名 一 殺 那
. 若 爾 , 住 與 餘 二 俱 起
, 先 暫 安 立 , 法 老 不 變
異 , 無 常 不 滅 ; 此 義 云
何 ? Quang ký q.05,tr.106c 16 汝 説 一 切
有 部 , 若 言 我 説 一 法
四 相 作 用 究 竟 名 一
殺 那 者 ; 汝 今 應 今説 。 。 . (trong
câu nầy, chữ ngã và chữ kim đều chỉ cho Nhất thiết hữu
bộ).
[70]
Ht.q.05,tr.28b 20 故 異 滅 用 竟
無 所 為 . Cđ. Thích luận q.04,tr.186 c22 是
故 此 二 無 事 可 作 .
[71]
Ht.q.05,tr.28b 22 異 謂 前 後 性 相
轉 變 , 非 即 此 法 可 言
異 此 . Cđ. Thích luận q.04 tr.186c 25 老 謂
前 後 不 同 及 變 異 . 從 此
法 此 法 異 類 不 應 成
. Quang ký q.05,tr.107a 06 Dị có nghĩa là tánh trước và sau
riêng biệt,khác nhau; chẳng phải chính pháp nầy mà nói là
khác pháp nầy. … Như khi ở dị tướng khác với khi trú
tướng ở trước; như vậy pháp đó chẳng phải là một pháp.
Nếu như ở trú và dị là hai pháp khác nhau thì phạm lỗi
trái với tông chỉ. Do đó, theo Thuyết nhất thiết hữu bộ,
đối với các pháp, lập dị tướng là không hợp lý.
[72]
Ht. Câu xá luận.q.05,tr.28b 25 即 前 異 不
成 ; 異 前 非 一 法 . 是 故
於 一 法 , 立 異 終 不 成 . Cđ.
Thích luận q.04,tr.186c 27 若 如 前 無 老
; 若 異 非 前 法 . 是 故 於
一 法 , 老 相 不 得 成 .
[73]
Bảo sớ q.05,tr.551a 07 Kinh lượng bộ cho rằng, sắc pháp bị
diệt do hai nhơn duyên: một, diệt tướng bên trong; hai, diệt
duyên bên ngoài. Tâm pháp chỉ có nội diệt tướng, không
cần đến ngoại duyên; thuộc sát na sanh diệt. Trước
bác bỏ về sắc, sau bác bỏ về tâm … Bác bỏ sắc pháp
cần có hai duyên mới huỷ diệt –như ta hiện thấy, củi
do lửa làm nhơn duyên huỷ diệt, như vậy cần gì phải nói
có nội diệt tướng bên trong. Uống thuốc trị bệnh tả,
đâu phải nhờ trời. Bác bỏ về tâm pháp – đã nói
sát na diệt thì không cần ngoại duyên; và trái với (nghĩa)
một pháp, cùng lúc có cả hai tướng dị và diệt tức là
một lúc vừa trú vừa diệt.
[74]
Quang ký q.05,tr.107b 10 Nếu không có sanh tướng thì không thể
có sự hiểu biết về sanh; đã có sự hiểu biết về
sanh nên biết rằng có sanh.
[75]
Cđ. Thích luận q.04,tr.187a 13 復 次 相
應 言 亦 不 應 成 ; 謂 色
家 生. Quang ký q.05,tr.107b 11 đệ lục chuyển thanh tức sở
hữu cách, chỉ cho sự quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của hai
pháp có thể riêng biệt. Chẳng hạn như bề tôi của vua.
(Như vậy) Nếu có sanh thể thì mới thành lập được sở
hữu cách; nếu không có sanh tướng thì không thể lập thành
sở hữu cách; rằng sanh tướng của sắc (sắc chi sanh đẳng)
,v.v…; hoặc nói sanh tức là sắc (sanh tức thị sắc); cũng
như không nên nói sắc của sắc (sắc chi sắc). Đã nói sanh
tướng của sắc nên biết rằng ngoài sắc còn có sanh tướng.
Bảo sớ q.05,tr.551b 04 nếu sanh tướng khác với sắc thì có
thể nói rằng sanh tướng của sắc, v.v…; đệ lục chuyển
thanh tức đã gọi là thuộc chủ cách thì chẳng phải là
một pháp. Nếu ở một pháp mà nói theo chủ thuộc cách thì
phải nói là, sắc của sắc,v.v…
[76]
Quang ký q.05,tr107b 18 tuy ngoài pháp không có một tánh không,
một tánh vô ngã nào mà vẫn khởi lên sự hiểu biết về
không, vô ngã thì đâu có trở ngại gì việc ngoài sắc,v.vvv
không có sanh tướng,v.v… mà vẫn khởi lên sự hiểu biết
về sanh,v.v…
[77]
Quang ký q.05,tr.107c 08 tuy khởi lên sự hiểu biết về số,v.v…
nhưng ngoài pháp chẳng có thật thể của số,v.v… đâu có
ngại gì đối với vấn đề tuy khởi lên sự hiểu biết
về sanh tướng nhưng ngoài sắc, không có một thật pháp nào
gọi là sanh,v.v… cả.
[78]
Quang ký q.05,tr.107c 11 Vì để thành lập đệ lục chuyên ngôn,
phải chấp nhận có một tụ tánh của sắc; nhưng thật sự
ngoài sắc, không có tụ tánh; Lại như nói rằng, tự tánh
của sắc nhưng ngoài sắc không có một tự tánh nào; thế
thì đệ lục chuyển ngôn làm sao thành lập được.
[79]
Quang ký q.05tr.107c 17 Sanh tướng xưa không nay có như vây là
nương vào pháp ngũ uẩn, có nhiều chủng loại; và để phân
biệt với các uẩn hầu khỏi lẩn lộn.
[80]
Quang ký q.05,tr.107c 21 Như thế gian nói hương của chiên đàn
là để phân biệt với các hương khác như trầm hương,v.v…;
thể của thạch tử là để phân biệt với thể của ngói
gạch, v.v… .
[81]
Quang ký q.05,tr.107c 24 sanh tướng của sắc nầy, v.v… nên
biết cũng như vậy.
[82]
Bảo sớ q.05,tr.551c 06 theo Hữu bộ các ông, chỉ có hữu vi
mới có sanh tương, vô vi không có sanh tướng. Kinh bộ chúng
tôi cũng như vậy, hữu vi có có thể sanh, vô vi không thể
sanh.
[83]
Bảo sớ q.05,tr.551c09 theo như Hữu bộ các ông thì tất cả
các pháp hữu vi đều có sanh tướng; song lại chấp nhận
nhân duyên đối với các pháp hữu vi nầy thì có dụng, với
pháp kia thì không có dụng. Chẳng hạn như nhãn căn có công
dụng đối với việc khởi sanh nhãn thức, không có công dụng
đối với việc khởi sanh nhĩ thức. Kinh bộ chúng tôi cho
rằng cả hữu vi lẫn vô vi đều không có sanh tướng; song,
chính do nhân duyên kia đối với pháp hữu vi có công dụng,
đối với pháp vô vi không có công dụng vậy.
[84]
Cđ. Thích luận q.04,tr.187b 07, danh cú cập tự tụ, hiệu ngôn
văn tổng tập.
[85]
Quang ký q.05,tr108a 23 danh, (hán) có nghĩa là tuỳ, quy, phó,
triệu tức là theo âm thanh, quy phó nơi cảnh mà nói lên các
pháp sắc, v.v…; danh thuộc năng thuyên. Skt. Nāma
[86]
Quang ký q.05,tr.108b 01 Tưởng có nghĩa chuyên chấp, năng thủ
tượng. Tác tưởng: tác có nghĩa tạo tác; do tưởng tâm sở
sau khi thủ tượng, kiến lập, tạo tác nāma (danh). Danh được
lập nên bởi tưởng nên gọi là tác tưởng. … Lại có giải
thích, tác còn nói là phát; đó là, do các tên gọi thiên,
nhơn,v.v… khiến phát sinh các tưởng thiên, nhơn, v.v… nên
gọi là tác tưởng.
[87]
Cú (hán) .Skt. Pada.
[88]
Chương, (hán) . Skt. Vākya.
[89]
Cđ. Thích luận q.04,tr.187b 10 nhược do thử ngôn, sự, đắc,
thời, tương ưng, sai biệt hiển hiện. Quang ký q.05,tr.108b
20, căn cứ vào Thanh minh để giải thích nghĩa chữ Cú.
Bảo sớ q.05,tr.552a 10 Đao năng cát vật; đó là nghiệp dụng
(công năng). Tịch diệt vi lạc; đó là phẩm tính (đức).
Tam vô số kiếp; đó là thời gian. Tương ưng tức là chuyển
tải sự thuận hợp của các pháp tướng. Sai biệt tức là
chuyển tải sự bất đồng về ý nghĩa của các pháp.
[90]
Văn, (han) . Skt.vyanjana.
[91]
Tự (hán) . Skṭ. Akṣara
[92]
Cđ.Thích luận q.04,tr.187b 12 Tự vị vô nghĩa văn: mẫu tự
là những chữ cái, tự nó chưa có ý nghĩa; như
aa, yy , v.v…
[93]
Thơ phần, thơ loại phần Skt. Lipy-avayava. Engl. Names of
letters.
[94]
Ht. Câu xá luận q.05,tr.29a 16 phi vị hiển thơ phần chế tạo
chư tự; đản vị hiển chư tự chế tạo thơ phần.. Bảo
sớ q.05,tr.552a 28 phi vị hiển thơ phần sắc tự, chế tạo
chư bất tương ưng tự; đản vị hiển bất tương ưng tự,
chế tạo sắc thơ tự. Y thử sắc tự ký trì bất tương
ưng tự, cập tương sắc tự truyền lưu dị phương cập ư
hậu thế.
[95]
Bảo sớ q.05,tr.552b 06 chữ tổng thuyết được dùng để giải
thích nghĩa chữ thân vậy.
[96]
Quang ký q.05,tṛ552b 09 do hiệp tập nghĩa trung, trí ốt già
tự giới. Hậu tự duyên trợ thành tổng thuyết nghĩa.
[97]
Quang ký q.05,tr.109b11 Thuyết nhất thiết hữu bộ giải thích,
do tên gọi (danh) khiến cho (người khác) hiểu, chẳng phải
do ngôn ngữ kia vậy.
[98]
An English translation of the Abhidharmakosa of Vasubandhu by Dr SUBHADRA
JHA publishhed 1983 , tr.457 “Scholars have stablished the sound “go”
in the nine things, ….” Hán Trí giả lập cù thanh, …
[99]
Quang ký q.05,tr.109b 24 Lại có giải thích, chín nghĩa cù
danh như vậy; …lại có giải thích, nên nói chín nghĩa cù
thanh như vậy; song nói danh ấy tức là thanh vậy.
[100]
Quangký q.05,tr.109c 08 Như khi thọ giới, biểu sắc ở sát na
sau cùng phải đợi lực của biểu sắc trước, mới có thể
khởi sanh vô biểu. Âm thanh ở sát na sau cùng sanh danh cũng
như vậy.
[101]
Nguyên văn hựu nhược hữu chấp danh như sanh đẳng dữ nghĩa
câu sanh,hiện tại thế danh mục khứ lai nghĩa, bất ưng đắc
hữu. Cđ. Thích luận q.04,tr.187c19 phục thứ nhược nhữ hứa,
danh dữ nghĩa tất câu tương ưng do như sanh đẳng; thử trung,
quá khứ vị lai nghĩa hiện thế danh bất ưng hữu.
[102]Nguyên
văn hán Tụng. Cđ. Thích luận q.04,tr.187c 24 già tha
|