PHÁT
TRIỂN TÂM TỪ
Tuệ
Sỹ
VĂN-THÙ
hỏi Duy-ma-cật: [1]
«Bồ
tát nên quán sát chúng sanh như thế nào?»
Duy-ma-cật
đáp:
«Như
nhà ảo thuật quán sát con người ảo hóa do mình tạo ra;
Bồ tát nên quán sát chúng sanh cũng như vậy. Cũng như bậc
trí giả nhìn trăng nơi đáy nước; nhìn bóng mình trong gương;
nhìn ánh lửa khi nhiệt bốc;[2] như tiếng vọng của lời
gọi; như mây nổi trong bầu trời;[3] như đám bọt nước;[4]
như bong bóng trên mặt nước;[5] như lõi chuối rỗng; như
ánh chớp lóe kéo dài;[6]
(…)
Bồ
tát nên quán sát chúng sanh cũng như vậy.»
Văn-thù-sư-lợi
hỏi:
«Bồ
tát quán như thế thì làm sao thực hành lòng từ?»[7]
1.
Từ thế giới quan đến nhân sinh quan
Trên
đây, mặc dù câu hỏi của Văn thù là sự quán sát chúng
sinh, Bồ tát nhận thức về chúng sinh như thế nào; trong giải
thuyết của Duy-ma-cật, chúng sinh được nhận thức như một
cá thể của thế giới, một pháp trong tất cả pháp, bị
chi phối bởi các quy luật tồn tại như tất cả mọi sự
hữu. Đó là cái nhìn khắc kỹ lạnh lùng. Nếu thế giới
và chúng sinh là giấc mộng, và những hoạt cảnh của giấc
mộng trong đó mọi vui buồn, đều chỉ là giả dối; vậy
thì, người đã nhận thức ra giấc mộng, đã tỉnh mộng,
không còn bận tâm gì đến nó. Cho nên, Văn thù mới đặt
câu hỏi: Nếu quán sát như thế, Bồ tát làm thế nào để
phát triển tâm từ?
Cũng
ý nghĩ tương tự, trong kinh Bát nhã, sau khi nghe Xá-lợi Tử
thuyết minh về sự tu tập ba-la-mật của Bồ tát bằng tịnh
giới mà chuyển hướng tâm đến cứu cánh thành tựu trí
Nhất thiết trí, Mãn Từ Tử liền hỏi, "Nếu hết thảy
pháp đều như huyễn, hoàn toàn không thực chất tồn tại,
Bồ tát làm thế nào để chuyển hướng đến cứu cánh trí
Nhất thiết trí?" Xá-lợi Tử đáp, "Nếu hết thảy các pháp
có một phần thực hữu mà không phải là huyễn sự, thế
thì Bồ tát tuyệt đối không thể chuyển hướng đến trí
Nhất thiết trí… Do bởi tác nghiệp của phương tiện thiện
xảo, sinh ra từ đại bi tâm của Bồ tát đối với hết thảy
chúng sinh; do phương tiện thiện xảo mà Bồ tát biết hết
thảy các pháp đều là Không; và cũng do phương tiện thiện
xảo đó mà Bồ tát không cố ý an trụ trong chân lý của
tuyệt đối tịch tĩnh."[8]
Quán
chiếu của Bồ tát cũng như quán chiếu của Thanh văn, đó
là thực huệ. Diệu dụng của thực huệ là phương tiện,
mà tự thể của phương tiện là tâm đại bi. Như một người
có trí, nhận thức được nguy cơ tàn phá của dòng thác lũ,
không thể không khuyến cáo những ai đang sống trên dòng chảy
của con thác. Bồ tát cũng vậy, ánh sáng từ con mắt trí
tuệ của Bồ tát khi quán chiếu thực tại như huyễn, thì
cũng đồng thời cảm nghiệm được nỗi khổ của chúng sinh
bị nhận chìm trong dòng thác như huyễn đó, cho nên tự nguyện
trở thành là người bạn của hết thảy. Kinh Phật mẫu Bát
nhã nói, "Bồ tát do tu tập Bát nhã ba-la-mật mà thành tựu
chính trí. Bằng trí tuệ ấy, Bồ tát nhận thức chúng sinh
đang bị gông cùm đày đọa trong lao ngục, bèn phát khởi
tâm nguyện cứu trợ. Bấy giờ, Bồ tát được hỗ trợ bởi
tâm đại bi, và bằng thiên nhãn thanh tịnh mà quán sát cùng
khắp vô lượng vô số vô biên chúng sinh, thấy có chúng sinh
tạo nghiệp vô gián sẽ phải thọ báo kịch khổ, hoăc thấy
rơi vào lưới tà kiến không sao thoát được; thấy như vậy
tức thì khởi tâm đại bi, nguyện rằng, ta sẽ làm chỗ nương
tựa cho chúng sinh, diệt trừ mọi thống khổ cho chúng sinh.
Bằng tư duy như vậy, mà không trụ trong tướng đó, cũng
không trụ trong tướng khác. Đó gọi là ánh sáng trí tuệ
của Đại Bồ tát."[9]
Bồ
tát như vậy được ví như một người tài ba, mưu trí và
dũng cảm, cùng với thân quyến và bằng hữu đang lữ hành
băng qua hoang mạc đầy nguy hiểm. Tất nhiên, tự mình, ông
có thể vượt qua hoang mạc ấy một cách an toàn; nhưng ông
cũng không thể bỏ mặc mọi người. Bằng tất cả tấm lòng
yêu thương chân thật, ông không sợ nguy hiểm cho bản thân
trong khi bằng mưu trí khéo léo ngăn ngừa mọi tai họa có
thể ập đến bất ngờ cho những người thân yêu của mình,
bao che và an ủi họ trong những cơn kinh sợ hãi hùng. "Các
Bồ tát cũng vậy, thương xót các sinh loại hữu tình chìm
ngập trong thống khổ sinh tử nên nhất tâm chuyên niệm từ
bi hỷ xả, được nâng đỡ bởi thiện căn thù thắng do tu
tập Bát-nhã ba-la-mật-đa, được hỗ trợ bởi phương tiện
thiện xảo của chư Phật, tích lũy các công đức hướng
đến Vô thượng Chính giác, tuy tu tập Không, Vô tướng, Vô
nguyện, nhưng tâm không tác chứng nơi thực tế."[10]
Quán
chiếu tự tính Không mà chẳng hề chứng nhập thực tế Không,
không an trụ trong biên tế như thực của tính Không như là
cảnh giới an toàn của chính mình, Bồ tát vẫn phải lăn
lóc trong sinh tử như hết thảy chúng sinh khác. Như Duy-ma-cật
nói với Văn thù: "Si và hữu ái là nguồn gốc của bệnh
tôi. Vì hết thảy chúng sanh bệnh mà tôi bệnh. Bao giờ hết
thảy chúng sanh đạt đến chỗ không bệnh, bệnh tôi sẽ
hết. Vì sao? Bồ tát, vì chúng sanh mà đi vào sinh tử. Có
sinh tử thì có bệnh. Nếu hết thảy chúng sanh được thoát
ly bệnh khổ thì Bồ tát không còn bệnh."[11]
2.
Bốn Phạm trụ và Vô lượng tâm
Bồ
tát phát triển tâm đại bi như thế nào? Tu tập từ, bi, hỷ,
xả; bốn vô lượng tâm mà Phật giảng dạy cho các Thanh văn.
Một thời, tôn giả A-nan dẫn các tỳ kheo trẻ đến đức
Phật, thỉnh cầu Phật giáo giới, làm thế nào để hướng
dẫn các tỳ kheo trẻ tu tập, Phật dạy, "A-nan, Ta đã từng
giảng thuyết cho ngươi về bốn vô lượng. Tỳ kheo thành
tựu và an trụ tâm tương ưng với từ, tràn đầy khắp một
phương, cho đến bốn phương, trên dưới… Cũng vậy, an trụ
tâm bi, tâm hỷ, tâm xả… A-nan, ngươi hãy dạy các tỳ kheo
trẻ tu tập bốn vô lượng này để cho các tỳ kheo được
an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu phạm hạnh…"[12]
Bốn
vô lượng này cũng được gọi lả bốn Phạm trụ. [13] Đó
là bốn tâm tư để cho một người mà đời sống được
coi là tương ứng với Phạm thiên, và với tâm ấy sau khi
chết được tái sinh lên thế giới của Phạm thiên. Tăng
nhất A-hàm nói, có vị Thiên chúa gọi là Đại Phạm, thống
lãnh một nghìn thế giới, tối thượng không gì vượt qua.
Nếu tỳ kheo tu tập bốn Phạm trụ này, tâm tư có thể bao
trùm cả một nghìn thế giới như vậy. Tỳ kheo muốn siêu
việt Dục giới để sống trên cõi Phạm thiên giới, hãy
tu tập bốn vô lượng này.[14]
Một
thời, khi Phật trụ tại vương quốc Câu-tát-la; bấy giờ
có hai thanh niên Bà-la-môn tranh luận nhau về con đường dẫn
đến cộng trú với Phạm thiên, nghĩa là được nhìn thấy
và sống gần bên Thiên chúa. Tất nhiên họ đều y trên tín
điều tôn giáo được truyền bởi các Thánh điển Vệ-đà
như nhau, nhưng mỗi người hiểu theo một cách khác theo trường
phái Sư truyền của mình. Hai người tìm đến Phật, đề
nghị phân giải. Đức Phật không bác bỏ sự tồn tại của
Phạm thiên, và giảng giải cho họ rằng chỉ có thể đi đến
Phạm thiên, sống với Phạm thiên, những ai mà tâm tư tương
ứng với phẩm chất Phạm thiên. Tâm tư ấy là bốn vô lượng:
từ, bi, hỷ, xả.[15] Nói cách khác, nếu hiểu theo tín điều
tôn giáo của họ, theo đó, Phạm thiên hay Thiên chúa là tình
yêu; vậy thì, một người với tâm thù hận không thể sống
chung với một người mà tâm tư luôn tràn ngập tình yêu.
Như vậy, đức Phật đồng thời bác bỏ quan điểm truyền
thống, tin tưởng tập tục lễ nghi tế tự và cầu nguyện
của Vệ-đà để có thể thấy được Phạm thiên.
Nếu
tu tập bốn vô lượng như là bốn Phạm trụ, thiền cao nhất
mà người thực hành có thể đạt đến là Sơ thiền. Bởi
vì, kết quả của Sơ thiền là cõi Phạm thiên, phân thành
ba cấp theo ba trình độ cao thấp khác nhau trong Sơ thiền.
Ba cấp ấy là, từ dưới thấp kể lên, Phạm chúng thiên,[16]
cõi của cư dân của Phạm thiên, tức các linh hồn con dân
của Thiên chúa trên Thiên đường nước Chúa. Cao hơn, là
Phạm phụ thiên,[17] các vị trợ tế, hay các đại thần của
Phạm thiên; tức các Thánh trên thiên đường. Cao nhất, chỉ
một ngôi vị duy nhất, là Đại Phạm thiên,[18] chúa tể của
một nghìn thế giới; được xem là đấng biến mãn, toàn
năng, nhưng chỉ giới hạn trong một nghìn thế giới mà thôi.
Vượt
lên trên Phạm trụ, các trình độ thiền đạt được bằng
các vô lượng tâm khác nhau. Theo lý giải của Hữu bộ, tu
hỷ vô lượng cần phải y trên Sơ thiền và Nhị thiền, vì
trong hai thiền này hỷ đều hiện diện. Ba vô lượng còn
lại y trên sáu địa mà tu tập, tức bốn thiền, vị chí
định và trung gian định; hoặc chỉ y trên năm địa, trừ
vị chí định.[19] Hữu bộ cũng nói, thành tựu cao nhất của
tu tập từ vô lượng là đạt đến Biến tịnh thiên, tầng
thứ ba cao nhất trong Đệ tam thiền. Tu bi vô lượng, cao nhất
đạt đến Không vô biên xứ thiên, tầng thứ nhất trong bốn
vô sắc định. Tu hỷ, cao nhất đạt đến Thức vô biên xứ
thiên, tầng thứ hai trong bốn vô sắc định. Tu xả, cao nhất
đạt đến Vô sở hữu xứ thiên, tầng thứ trong bốn vô
sắc định.[20]
Như
vậy, bốn vô lượng nếu được tu tập như là bốn Phạm
trụ, chỉ có mục đích thế gian, mong cầu kết quả phước
báo trên chư thiên. Bốn vô lượng được thực hành bởi
các Thanh văn cũng chỉ hướng đến mục đích tự lợi, như
là một trong các phương pháp tu tập thích hợp để đối
trị tham sân. Như tu từ để đối trị sân tâm, tu bi đối
trị hại tâm, tu hỷ đối trị bất hân ủy tâm (bất mãn,
không hài lòng), tu xả đối trị dục tham.[21]
Mặc
dù như trong kinh được trích dẫn bởi Thanh tịnh đạo luận,
theo đó khi một tỳ kheo đến thỉnh cầu Phật chỉ dạy một
pháp môn rồi ông sẽ thọ trì pháp môn để tu tập hầu đạt
đến cứu cánh, và thoạt đầu Phật không mấy tin tưởng
vào khả năng tu tập của tỳ kheo này nên đã chỉ dạy cho
bốn vô lượng tâm, tu tập tâm giải thoát với từ, bi, hỷ,
xả; tu tập thường xuyên coi như là cỗ xe, như là cơ sở,
nỗ lực thực hành, tích lũy, cho đến mức hoàn hảo.[22]
Thế nhưng, tiếp theo sau đó là tu tập bốn niệm trụ để
diệt tận phiền não, chứng đắc A-la-hán. Cho nên, các nhà
Hữu bộ nói, bốn vô lượng được tu tập chỉ có thể đối
trị bốn chướng chứ không thể diệt trừ các mê hoặc,
phiền não.[23] Lý do được giải thích, là vì các thiền là
cơ sở để tu bốn vô lượng này đều có tính hữu lậu
không có hiệu lực diệt trừ mê hoặc. Thêm nữa, chúng là
những tác ý thắng giải, nghĩa là chỉ y trên ước nguyện,
hay trên phán đoán tự do chứ không phải phán đoán bằng
hiện thực. Tuy nhiên, chúng cũng có thể được tu tập trong
giai đoạn gia hành, tức như là những tu tập chuẩn để trấn
áp các chướng ngại trước khi thực sự đoạn trừ các phiền
não.
Theo
một cách nói, tu bốn vô lượng như vậy chính là sự vận
dụng ước nguyện, lấy đó làm công cụ đối trị các chướng
ngại. Như đối với các chúng sinh đang sống an lạc, hành
giả lấy đó làm đối tượng mà khởi lên tâm từ, mong rằng
hết thảy chúng sinh đều được an lạc. Cũng vậy, khi tu
bi vô lượng, hành giả rải tâm đến hết thảy chúng sinh
đang đau khổ với ước nguyện mong cho hết thảy chúng sinh
thoát khỏi khổ não. Sự khởi tâm như vậy là thắng giải
tác ý, nghĩa là y trên phán đoán tự do, chứ không phải là
chân thật tác ý, là phán đoán căn cứ hiện thực. Tư duy
như vậy, như Thế Thân nói, chỉ là ước nguỵện, chứ không
thực sự khiến cho chúng sinh nhờ vậy mà hưởng lạc, thoát
khổ. Như vậy, há không phải là điên đảo? Nghĩa là, tu
tập với tâm hướng đến sự thể mà sự thể sẽ không
xảy ra như tâm tưởng. Tất nhiên là không điên đảo. Vì
cơ bản, a-thế-da,[24] tức thâm tâm hay ý hướng của hành
giả là chân thật. Nói cách khác, đó là những ước nguyện
chân thật, tuy không được thể hiện thành sự thực như
ước nguyện.
Đó
là tính chất của bốn vô lượng được tu tập bởi Thanh
văn.
3.
Bốn vô lượng và ba đối tượng
Các
nhà Đại thừa cũng nhận bốn vô lượng tâm, về cơ bản,
là bốn Phạm trụ. Ngoài ý nghĩa chính của vô lượng tâm
là đối trị chướng như trong sự tu tập của Thanh văn, trong
Đại thừa còn nêu lên ba đặc tính khác nữa của bốn Phạm
trụ hay Vô lượng. Trang nghiêm kinh luận nói, “Bốn Phạm
trụ tức bốn Vô lượng: từ, bi, hỷ xả. Trong đó, bốn
vô lượng của Bồ tát có bốn đặc tính: 1. Trị chướng,
tức đối trị các chướng ngại, nghĩa là trấn áp các phiền
não. 2. Hiệp trí, sự đối trị đặc biệt do chứng đắc
trí vô phân biệt. 3. Chuyển cảnh, hướng đến đối tượng
là chúng sinh duyên, pháp duyên và vô duyên. 4. Thành sinh, thực
hiện những nghiệp thù thắng để thành thục chúng sinh.”[25]
Tức là, Thanh văn tu bốn vô lượng chỉ nhắm đến đối
tượng duy nhất là chúng sinh, trong khi đó Bồ tát còn y trên
đối tượng là pháp để quán chiếu bản tính tồn tại của
chúng sinh, và sau cùng y trên đối tượng vô phân biệt mà
phát khởi bốn vô lượng.
Y trên
các đối tượng như vậy để phân biệt, khi lấy chúng sinh
làm đối tượng, bốn vô lượng hay bốn Phạm trụ là thực
hành trong phạm vi Dục giới, chung cho các phàm phu và ngoại
đạo. Bởi lẽ, tín đồ của các tôn giáo chỉ ước nguyện
sinh lên trời, sinh về nước Chúa để có thể diện kiến
Thiên chúa ở đó. Tình yêu của chúng sinh ở Dục giới không
thể trùm lên các cõi trên, Sắc giới và Vô sắc giới. Cho
nên, khi kinh nói, “tâm câu hữu với từ, trùm khắp một
phương”[26] là nói đến không gian của Dục giới đối với
chúng sinh chưa ly Dục, hay chưa đắc Sơ thiền trở lên. Thêm
nữa, y trên đối tượng là chúng sinh, chỉ quán chiếu đến
các điều kiện khổ hay lạc của chúng sinh mà không quán
chiếu bản chất tồn tại của chúng, đó là sự vận dụng
tâm ý một cách chủ quan.[27] Do tính chất chủ quan như vậy
nên không thể diệt trừ phiền não. Phiền não chỉ có thể
bị đoạn trừ với nhận thức chân chính về bản chất của
tồn tại. Ngoài ra, chúng chỉ bị trấn áp. Nói cách khác,
chỉ khi nào tư duy tập trung quán chiếu trên đối tượng
là pháp, quán chiếu bản chất tồn tại của pháp, chỉ như
vậy mới diệt trừ được phiền não.[28] Cho nên, luận Du-già
nói, bốn vô lượng được tu tập với đối tượng là hữu
tình là hành trì phổ thông cho cả phàm phu lẫn ngoại đạo.
Lấy pháp làm đối tượng, là pháp tu bất cộng, hay đặc
hữu của Thanh văn và Độc giác. Vô duyên, tức đối tượng
vô phân biệt là thực hành riêng biệt của Bồ tát.[29]
Trong
đó, vô duyên từ được giải thích là thực hành của Bồ
tát từ địa thứ tám trở lên. Ở đó, Bồ tát duyên đến
đối tượng Chân như để quán chiếu. Khi chứng đắc vô
sinh pháp nhẫn,[30] bấy giờ tất cả thiện căn đều viên
mãn, và hết thảy phiền não được diệt tận, do bởi thân
và ngữ nghiệp, mà Từ vô lượng y trên đó để thể hiện,
bấy giời hoàn toàn thanh tịnh.[31] Địa thứ tám của Bồ
tát tương ứng với quả vị A-la-hán của Thanh văn, ở đó
phiền não cũng đã bị diệt tận, và thân ngữ nghiệp đều
thanh tịnh.
4.
Quán chiếu tu Vô lượng
Hành
từ như được thuyết minh trong Du già sư địa luận và Đại
thừa trang nghiêm kinh là bắt đầu từ chỗ lấy chúng sinh
làm đối tượng. Đấy là sự nghiệp từ thiện xã hội mà
mục đích là xóa đi nỗi thống khổ của chúng sinh. Làm như
vậy chỉ có thể mong cầu phước báo ở thiên giới, mà cao
nhất là thiên giới của Phạm thiên. Các Thánh đệ tử không
quan sát nỗi khổ thế gian như là hậu quả của hàng loạt
phản ứng tâm sinh lý. Ngoài nhận thức sự khổ của thế
gian do ân ái biệt ly, hay tình thù tụ hội, các vị ấy quán
sát sự khổ trên tính chất vô thường của các hành, tức
trên tính vận động của mọi hiện tượng mà xu hướng tất
yếu là dẫn đến tình trạng tan rã và sụp đổ. Quán sát
rằng, “Sắc là vô thường. Cái gì là vô thường, cái đó
là khổ. Cái gì là khổ, cái đó không phải là tự ngã. Cái
đó không phải là của tôi. Tôi không phải là cái đó. Cái
đó không phải là tự ngã của tôi.” Trên cơ sở nhận thức
đó, cái gọi là chúng sinh hay hữu tình, chỉ là tổ hợp
giả danh; không tồn tại một thực hữu nào như là chúng
sinh cả. Cho nên, khi các Thánh đệ tử hành bốn vô lượng,
nói là rải tâm từ lên hết thảy chúng sinh trong một phương;
từ phương đông, cho đến cả sáu phương, thượng phương,
hạ phương. Nhưng vì chúng sinh là giả hữu, không thể lấy
cái giả hữu làm đối tượng tu tập; cho nên, đối tượng
mà Thánh đệ tử hướng đến để vận dụng tâm từ là
pháp.
Trong
hai đoạn kinh được dẫn từ A-hàm và Nikāya ở trên, Phật
chỉ dạy bốn vô lượng như là pháp yếu dự bị làm nền
tảng cho sự tu tập cao hơn đối với các tỳ kheo trẻ, hay
tỳ kheo mà nghị lực không nhiều lắm. Bởi vì đối tượng
ở đây không phải là các vật vô tri vô giác như đất, nước,
hơi thở, hay xác chết ngoài bãi tha ma, mà là những con người
cụ thể có một quan hệ xã hội hay thân thích trong chừng
mực nào đó. Tập trung ý tưởng trên những đối tượng
gần gũi, dễ gợi nhớ, với những tình cảm thân thiết nhất,
để loại bỏ dần các ý tưởng xấu, những ác bất thiện
pháp. Nói theo ý nghĩa tâm lý học, các tỳ kheo trẻ được
khuyến khích tu tập bốn vô lượng, coi đó như là sự đào
luyện tâm lý để có thể sống cuộc sống viễn ly, ẩn dật,
mà không cảm thấy cô độc trong núi rừng hoang vắng.
Bồ
tát hành đạo bắt đầu từ giữa lòng xã hội nên sự tiếp
cận với mọi thống khổ nhân sinh là lẽ tất nhiên. Tu bốn
vô lượng là y trên a-thế-da, trên tăng thượng ý lạc, nghĩa
là y trên thâm tâm, trên tâm nguyện nhiệt thành và luôn luôn
hướng thượng, ước mong xóa sạch mọi thống khổ của thế
gian. Như vậy, khởi điểm hành từ là hướng đến các chúng
sinh như là đối tượng. Như kinh Kam cang nói, Bồ tát hành
đạo đưa vô số chúng sinh đến an lạc của Niết bàn mà
không thấy ở đó có chúng sinh, vì Bồ tát không hành đạo
với ấn tượng về sự tồn tại của tự ngã. Ngay chỗ này,
Văn-thù đã chỉ ra mâu thuẫn như là xung đột nội tâm khi
Bồ tát hành từ như thế. Không thấy tồn tại chúng sinh
như là thực hữu, nhưng vẫn cảm nghiệm một cách sâu xa
các chúng sinh đang ngụp lặn trong biển khổ. Duy-ma-cật thuyết
minh hành từ của Bồ tát gồm cả ba phương diện, như được
phân tích trong luận Du-già và Trang nghiêm, cho nên không hề
có mâu thuẫn xung đột trong nhận thức của Bồ tát và kinh
nghiệm thực tế đời thường.
Trong
thuyết minh của Duy-ma-cật, ba đối tượng hành từ không
tách rời nhau, tuy vậy mỗi đối tượng vẫn có những đặc
tính cá biệt y theo đó mà vận dụng quán chiếu. Trước hết,
y trên quán chiếu tính Không theo đó mọi tồn tại đều bất
thực, hết thảy chúng sinh đều như huyễn, Bồ tát hành từ
không đối tượng, tức vô duyên từ mà Duy-ma-cật giới thiệu
như là tịch diệt từ. Tịch diệt, vì bản chất của tồn
tại vốn không sinh không diệt. Bồ tát nhận thức pháp tính
là Không, mọi hiện tượng đều là giả hữu; đau khổ hay
an lạc là những hiện tượng giả hữu. Bồ tát tự bản
thân không thấy có đau khổ hay an lạc, nhưng đồng thời
cũng biết rằng các chúng sinh đang chịu đày đọa bởi các
khổ. Bồ tát vốn không bịnh, nhưng vì chúng sinh bịnh nên
Bồ tát bịnh. Tâm từ như vậy vận hành một cách tự nhiên,
tuỳ thuận pháp tính. Bồ tát yêu thương chúng sinh, đó là
tình yêu không điều kiện, vì pháp tính là như vậy.
Một
chuổi các khái niệm tiếp theo trong đoạn thuyết minh này
của Duy-ma-cật là những mô tả các yếu tính của vô duyên
từ. Nói tóm lại, vô duyên từ được mô tả ở đây cũng
là các phẩm tính của trí tuệ quán chiếu.
Trong
vô duyên từ, như đã thấy, không thể thiếu chúng sinh duyên
và pháp duyên. Các khái niệm về hành từ của A-la-hán, cho
đến Phật, thuyết minh Bồ tát thể hiện từ tâm với đối
tượng là pháp, là y trên những gì đã được chứng ngộ
và được giảng dạy bởi Phật. Đó là pháp thanh tịnh ly
nhiễm.
Cuối
cùng là hành từ với chúng sinh duyên, Bồ tát hành từ cụ
thể với mười ba-la-mật. Vật bố thí là pháp, nhận bố
thí là chúng sinh; ba-la-mật được thành tựu là thực tại
siêu việt, từ đó lưu xuất vô duyên từ.
Trên
đây là đoạn thuyết minh về các phẩm chất của từ y trên
các đối tượng. Trong sự thực hành, đoạn thuyết minh này
cần được hiểu là sự hành từ diễn theo tuần tự thứ
lớp, tương ứng với ba đại thời gian hành Bồ tát đạo:
giai đoạn phàm phu trước khi chứng nhập Sơ địa; thừ hai,
từ Sơ địa cho đến địa thứ bảy; sau hết, từ Bất động
địa thứ tám cho đến thành Phật.
Bồ
tát trong giai đoạn phàm phu, khi hành từ, để tâm từ không
bị dao động và thoái thất trước vô lượng thống khổ
của chúng sinh mà tâm từ hữu hạn của phàm phu không thể
ôm trọn, do đó hành từ vì tình yêu đối với chúng sinh
nhưng đồng thời cũng quán chiếu bản chất tồn tại như
huyễn, bất thực của chúng sinh. Bồ tát hành từ như là
tịch diệt, như là vô tránh, v.v.
Khi
vào Sơ địa, do quá trình tích lũy tư lương phước đức
bằng hành từ, do quán chiếu tính Không của các pháp, Bồ
tát chứng thực chân lý, thấy được một phần của Chân
như, bấy giờ thị hiện giữa thế gian mà hành từ với tâm
vô cầu như A-la-hán, cho đến như Phật. Từ tâm phát khởi
từ các quả chứng Bồ đề hay giác ngộ. Trong đây, Bồ tát
hành từ không chỉ thuần bằng a-thế -da tức bằng tâm nguyện
mà thôi; nhưng là hành từ cụ thể bằng các ba-la-mật:
thí, giới, nhẫn, tinh tấn, định, huệ, phương tiện, nguyện,
lực, trí.
Sau
hết, từ địa thứ tám, Bồ tát không bị dao động giữa
sinh tử và Niết bàn, nên hành từ bằng các tự tại thọ
sinh, hiện các thần thông du hý để giáo hoá, dựng thành
một thế gian mà chúng sinh sống an lạc với trực tâm, thâm
tân, không dối trá, không tạp hành.
Trên
đây là thuyết minh tường tận các sắc thái và các phẩm
chất của hành từ y trên ba đối tượng. Đoạn tiếp theo,
Văn thù hỏi về ba vô lượng còn lại, nhưng chỉ được
thuyết minh văn tắt.
Về
ý nghĩa căn bản của bốn vô lượng, luận Câu-xá[32] nói,
“Trước hết, tư duy về lạc mà mình cảm thọ được, hoặc
lạc nơi Phật, Bồ tát, Thanh văn, Độc giác, hành giả ước
nguyện hết thảy chúng sinh cũng cảm được lạc thọ như
vậy. Đó là hành tâm từ vô lượng… Quán sát chúng sinh
chìm đắm trong biển khổ, hành giả ước nguyện chúng được
giải thoát khổ. Đó là hành bi vô lượng. Quán sát sự kiện
các chúng sinh thoát khổ, được an lạc, hành giả khởi tâm
tùy hỷ. Đó là hỷ vô lượng.[33] Tu xả vô lượng, hành
giả quán sát các chúng sinh với tâm bình đẳng, không thiên
lệch thân sơ.” Đây là tu tập bốn vô lượng theo phương
diện tiêu cực.
Định
nghĩa của luận Du già trước hết cũng theo ý nghĩa mang tính
tiêu cực như vậy. Luận nói, “Đối với chúng sinh mong cầu
an lạc, Bồ tát phát khởi tăng thượng ý lạc, duyên đến
khắp cả mười phương, an trụ trên nhận thức không điển
đảo về hữu tình (với ước nguyện cho chúng được an lạc).
Đó là tâm câu hữu với từ…Đối với chúng sinh thọ khổ,
Bồ tát khởi tăng thượng ý lạc ước nguyện trừ khổ,
duyên khắp mười phương với tâm câu hữu với bi. Đối với
chúng sinh đang hưởng thọ lạc, khởi tăng thượng ý lạc
tùy hỷ, duyên khắp mười phương với tâm câu hữu với hỷ.
Đối với chúng sinh không khổ, không lạc, cũng không đang
thọ khổ hay thọ lạc, theo thứ tự lần lượt khởi tăng
thượng ý lạc trừ các mê hoặc si, tham, sân, duyên khắp
mười phương với tâm câu hữu với xả.”
Ở
đây, trong định nghĩa của Duy-ma-cật, các vô lượng được
nhận thức từ phương diện tích cực của chúng. Duy Ma-cật
nói, Bồ tát hành bi là chia xẻ hết thảy công đức mà mình
chứa nhóm được cho hết thảy chúng sinh. Công đức ấy có
thể hiểu theo nghĩa vật chất và cả ý nghĩa tinh thần. Cho
nên, nói bi tâm là ước nguyện bạt khổ, thì đây không chỉ
là ước nguyện, mà chính là hành động dấn thân trong những
công tác cứu tế.
Về
tu hỷ, Duy-ma-cật nói, đối với những thành tựu lợi ích
của chúng sinh, Bồ tát khởi tâm hoan hỷ, tùy hỷ mà không
hề hối hận. Tức là luôn luôn tán trợ và khuyến khích
những sự nghiệp từ thiện, đem lại ích lợi cho nhiều người.
Nói là không hối hận, nghĩa là không hề do dự. Cuối cùng,
tu xả, là thi hành phước nghiệp sự một cách bình đẳng
với tâm vô cầu.
Đến
đây thì một vấn đề quan trọng được đặt ra: Bồ tát
hành bốn vô lượng, mang tình yêu đến với hết thảy chúng
sinh, ngay trong thế giới đầy biến động kinh sợ, đầy dẫy
những hận thù như vậy, làm thế nào để giữ vững được
tâm tư không dao động? Duy-ma-cật nói, bấy giờ Bồ tát nương
tựa trên Đại ngã của Phật. Những người tu Phật không
tin vào sự tồn tại của một Thần Ngã siêu việt. Tuy nhiên,
như đã nói ở trên, được hành trì trong giới hạn phàm
phu, bốn vô lượng chính là bốn Phạm trụ, tức là con đường
dẫn đến cộng trụ với Phạm thiên, thể nhập bản tính
của Phạm thiên. Đối tượng để hành bốn Vô lượng chỉ
trong giới hạn chúng sinh duyên. Bồ tát sơ phát tâm, tu bốn
vô lượng để làm kiên cố tâm bồ đề, cũng bắt đầu
với đối tượng là chúng sinh, nhưng chuyển đối tượng
hướng đến Phật như là sở y. Đối tượng và sở y đó
là Pháp thân Phật, với Niết bàn mà Phật chứng đắc, được
nhân cách hóa hay thần hóa thành Đại Ngã. Đó là nhân cách
biểu hiện cho sức mạnh của đại từ và đại bi, là nguồn
suối tâm linh vô tận luôn tắm mát cho Bồ tát, thêm sức
cho Bồ tát, nghĩa là gia trì uy lực cho Bồ tát trong mọi chướng
duyên khi hành đạo. Trong tận cùng sâu thẳm, ý nghĩa nơi
nương tựa của Bồ tát có nguồn gốc là vô trụ. Vô trụ,
là căn nguyên vô thuỷ của thiện và bất thiện. Vì căn bản
vô trụ nên tất cả tùy thuộc nhân duyên. Nói cách khác,
Bồ tát thâm hiểu lý duyên khởi, nhận thức rõ các pháp
khi sinh, khi diệt đều lệ thuộc và quan hệ lẫn nhau. Nghĩa
là, y trên quán chiếu tự tính của các pháp là Không mà vượt
qua mọi sợ hãi.
KẾT
Ở
dây, chúng ta tạm thời kết luận bằng trích dẫn đoạn kinh
dưới đây.
Văn-thù-sư-lợi
hỏi: «Đâu là nguồn gốc của vô-trụ?»
Duy-ma-cật
đáp:
«Vô-trụ
chẳng có gốc. Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi, từ gốc vô-trụ
này mà các pháp được kiến lập.»
Bấy
giờ trong thất của Duy-ma-cật có một thiên nữ, thấy các
trời, người đến nghe Pháp, liền hiện thân xuống rải hoa
trời lên các Bồ tát và Đại đệ tử. Hoa rắc trên thân
các Bồ tát tức thì rơi xuống đất, nhưng rắc trên thân
các Đệ tử thì bám vào. Tất cả các vị Đệ tử dùng thần
lực phủi hoa, nhưng hoa không đi. ©
T.S.
[1]
Duy-ma-cật sở thuyết (La-thập), Phẩm Quán chúng sinh (Vimalakīrtinirdeśa,
Devatāparivartaḥ ṣaṣṭhaḥ)
[2]
Nhiệt thời viêm 熱時炎. VCX: dương diệm thuỷ 陽焰水, bóng
nước trong quáng nắng. Vimala: marīcikāyām udakam.
[3]
Không trung vân 空中雲. VCX: hư không trung vân thành đài
các 虛空中雲城臺閣, thành quách, đài các trong mây trong
bầu trời; Skt. gandharava-nagara, thành phố gandharva, thành phố
càn-thát-bà, chỉ thành phố nhìn thấy trong biển do phản
chiếu của mây và hơi nước bốc từ biển.
[4]
DMC: thuỷ tụ mạt 水聚沫. (Skt. phenapiṇḍa). VCX: thuỷ tụ
mạt sở hữu tiền tế 水聚沫所有前 際, tiền tế của
đám bọt nước; VCS giải thích: «tiền tế vốn không hiện
hữ, vì nguyên lai là không.» Nghĩa là, không thể xác định
điểm xuất phát của bọt nước. Cf. Pali, Saṃyutta, iii. 142:
Pheṇapiṇḍūpamaṃ rūpaṃ, vedanā bubbuḷūpamā, marīcikūpamā
saññā, saṅkhārā kadalūpamā; māyūpamañca viññāṇaṃ, quán
sắc đống bọt nứoc, thọ như bong bóng nước, tưởng như
quáng nắng, hành như cây chuối, thức như huyễn thuât.
[5]
DMC: thủy thượng bào 水上泡; (Skt. udaka-budbuda) VCX: thủy
phù bào hoặc khởi hoặc diệt 水浮泡或起或滅. bong bóng
trên mặt nước chợt nổi chợt chìm. Cf. Trung A-hàm 12 (Đại
1, tr. 503b).
[6]
Điện cửu trú 電久住. VCX không có thí dụ này.
[7]
VCX: tu đại từ (Skt. mahāmaitrī-bhāvanā).
[8]
Đại Bát-nhã (Huyền Trang), quyển 587, T7n220, tr. 1036c29.
[9]
Phật mẫu xuất sinh Tam pháp tạng Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh,
quyển 20, Taisho T8n228, tr. 655b04 佛說佛母出生三法藏般若波羅蜜多經
[10]
Đại Bát-nhã (Huyền Trang), quyển 550, T7n220, tr. 834b12
[11]
Phẩm 5, "Văn thù thăm bịnh".
[12]
Trung A-hàm 21, kinh Thuyết xứ, T1n26, tr.563b13.
[13]
Cf. Đại tập pháp môn kinh, T1n12, tr. 228a21 ba trụ: Thiên trụ,
Phạm trụ, Thánh trụ. 天住梵住聖住. Trường A-hàm 8, kinh
Chúng tập,T1n1, tr. 50b14. gọi là ba đường: Hiền thánh đường,
Thiên đường, Phạm đường. 賢聖堂.天堂.梵堂。Cf. Tập
dị môn luận 6, T26n1536, tr. 389a16, ba trụ: "Thiện trụ, Phạm
trụ, Thánh trụ. .. Thế nào là Phạm trụ? Đó là bốn vô
lượng: từ, bi, hỷ, xả. Như Thế Tôn nói cho Bà-la-môn Phệ-na-bổ-lê,
Ta có khi hành một trong bốn vô lượng, với mục đích Phạm
trụ.." Cf. Pali, Saṅgīti-sutta, D. iii. 219: tayo vihārā– dibbo
vihāro, brahmāvihāro, ariyo vihāro. Giải thích ý nghĩa của Brahma-vihāra
(Phạm trụ), Visuddhimagga, ix. 106 (i. 321): Yathā ca
brahmāno niddosacittā viharanti, evaṃ etehi
sampayuttā yogino brahmasamā hutvā viharantīti seṭṭhaṭṭhena
niddosabhāvena ca brahmavihārāti vuccanti. Cũng như các Phạm thiên
sống với tâm không oán kết, cũng vậy ở đây hành giả
an trụ tương ưng bình đẳng với Phạm thiên được nói là
an trụ với Phạm thiên (Phạm trụ) với tâm tối thượng
không oán kết.
[14]
Tăng nhất A-hàm 21, T2n125, tr.658c18, gọi bốn vô lượng này
là "bốn đẳng tâm" 四等心 và bốn Phạm trụ là "phạm đường.
梵堂" Nguyên tiếng Phạn vihāra có nghĩa là trụ, hay đời
sống, và cũng chỉ cho tinh xá hay tăng viện.
[15]
Trường A-hàm 16, kinh Tam minh, T1n1, tr. 104c16. Cf. Pali, Tevijjā-sutta,
D. i. 236ff.
[16]
Skt. Brahmakāyika.
[17]
Skt. Brahmapurohita.
[18]
Skt. Mahābrahman.
[19]
Câu-xá 29. Tham chiếu, Pali, Visuddhimagga, ix. 111-112 (bản Anh,
Nānamoli): ba phạm trụ đầu, y trên ba thiền đầu trong hệ
bốn thiền, hay bốn thiền đầu trong hệ năm thiền. Xả vô
lượng, duy nhất y trên thiền cuối cùng. Hoăc y trên cả năm
thiền, dẫn kinh Saṃkhitta-suttaṃ, Anguttara iv. 300: cả bốn
vô lượng y trên định có tầm có tứ (savitakkampi vicāraṃ
pi: Sơ thiền), y trên định không tầm chỉ có tứ (avitakkam
savicāram: trung gian thiền), định không tầm không tứ
(avitakkam avicāram: Nhị thiền), định câu hữu với hỷ (sappītikam
pi: Nhị thiền), định không hỷ (nippītikampi: Tam thiền), định
câu hữu với niệm (sātasahagatampi: Tứ thiền), định câu
hữu với xả (upkkhāsahagatampi: Tứ thiền).
[20]
Thuận chính lý 79. Tham chiếu Pali, ibid., 119: từ tâm giải
thoát (mettaṃ cetovimuttiṃ), cao nhất là Tịnh thiên (Subhaparama);
bi tâm giải thoát (karuṇaṃ cetovimuttaṃ), cao nhất là Không
vô biên xứ (Ākāsāṇañcāyatanaparama); hỷ tâm giải thoát
(muditaṃ cetovimuttiṃ), cao nhất là Thức vô biên xứ (Viññāṇañcāyatanaparama);
xả tâm giải thoát (upekkhaṃ cetovimuttiṃ), cao nhất là Vô
sở hữu xứ (Ākiñcaññāyatanaparama).
[21]
Câu-xá 29, T29n1558, tr. 150b23. Giải thích của Thuận chính lý
79, T29n1562_p0769a03: sân (thù nghịch, vyāpāda) là một tâm sở.
Muốn sát hại hữu tình, gây đau đớn cho chúng là tâm sở
hại (vihiṃsa). Đắm trước cảnh giới, không muốn, không
hài lòng với các phẩm thiện, gọi là không hân uỷ (arati).
Trong các đối tượng dục lạc mà khởi tâm tham nhiễm, tình
không biết chán, gọi là dục tham (kāmarāga). Cf. Visuddhimagga,
ix. 93-96 (bản Anh,. Nānamoli): từ đối trị sân (vyāpādūpasamo),
bi đối trị hại (vihiṃsūpasamo), hỷ đối trị bất mãn
(arativūpasamo), xả đối trị hiềm hận và tùy tham (paṭighānunayavūpasamo).
[22]
Cf. Saṃkhitta-suttaṃ, Anguttara iv. 300: mettā me cetovimutti
bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā
anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
[23]
Câu-xá 29, T29n1558, tr. 150c21. Cf. Thành thật luận 12: "Tu
từ tâm tuy không đoạn được kết sử phiền não, nhưng trước
hết bằng từ tâm mà tích luỹ phước đức, trí tuệ, nhờ
đó đạt được huệ của Thánh đạo để đoạn trừ các
kết sử. Vì vậy, Kinh nói, tu tâm để chứng đắc A-na-hàm."
[24]
Skt. āśaya, ý hướng, hay xu hướng. Vì rất khó tìm thấy
từ nghĩa tương đương, nên Huyền Trang đành phiên âm. La-thập
thường dịch là thâm tâm.
[25]
Đại thừa trang nghiêm kinh luận 9, T31n1604, tr. 635c20. Cf. Sūtrālaṅkāra,
xvii, k.17, brāhmyā vipakṣahīnā jñānena gatāś ca nirvikalpena/
trividhālambanavṛttāḥ sattvānāṃ pācakā dhīre//
[26]
Pali định cú: mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ
pharitvā viharati.
[27]
Thắng giải tác ý, skt. adhimukti-manasikāra, phán đoán chủ
quan. Trái với chân thật tác ý, Skt. tattva-manasikāra, phán
đoán y trên sự thực.
[28]
Thuận chính lý 79.
[29]
Quyển 44, T30n1579, tr. 535c25.
[30]
anutpattidharmakśānti, chứng nghiệm tự tính không sinh
khởi của các pháp. Bồ tát từ địa thứ sáu, thành tựu
Bát-nhã ba-la-mật, thâm đạt tính Không, nhận thức các pháp
bản lai không sinh, không diệt. Nhận thức này được gọi
là thuận nhẫn. Từ địa thứ bảy đến thứ chín, thuận
nhẫn chuyển thành vô sinh pháp nhẫn.
[31]
Śūtrālaṅkāra, xvii. k. 19: tasyāś ca tathatārthatvāt kṣāntilābhād
viśuddhitaḥ/ karmadvayād anālambā maitrī kleśakṣayād api//
vô duyên từ, vì quán chiếu chân như, vì đắc (vô sinh pháp)
nhẫn, vì hai nghiệp đã tịnh và vì phiền nào đoạn tận.
[32]
Quyển 29, .
[33]
Cf. Visuddhimagga, ix. 108 (bản Anh): đó là bốn ước nguyện
đem lại lợi ích an lạc, giải thoát khổ, tùy hỷ theo sự
thành tựu của chúng sinh, và vô cầu. Yasmā ca hitūpasaṃhāra-ahitāpanayana-sampattimodana-anābhogavasena
catubbidhoyeva sattesu manasikāro.