MỤC
LỤC
Thông
Điệp Vu-lan PL. 2548 Của Đức Tăng Thống
01-
Triết học Thế Thân: Về Những Gì Hiện Hữu, Lê Mạnh Thát
02-
Cửa Vào Tuyệt Đối, Tuệ Sỹ
03
-Đồng Thời Tương Ưng. Hồng Dương
04-
Kinh Địa Tạng, Bà Mẹ Của Mặt Đất Điêu Linh, Thích Phước
An
05
-Luân Hồi, Nghiệp Báo, Thích Đức Thắng
06-
Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Phổ Đồng, Tuệ Nguyên, Từ
Niệm
07-
Giới Thiệu Và Giải Thích Đề Kinh Kim Cang Bát Nhã (tiếp),
Thích Thái Hòa
08-
Những Giai Vị Cuối Cùng Của Giải Thoát, E. Conze
Hình
bìa: Thư pháp của cố HT Thích Đức Nhuận, ‘Thúy trúc
hoàng hoa phi ngoại cảnh, Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chơn.’
THÔNG
ĐIỆP VU-LAN PL. 2548
CỦA
ĐỨC ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT
Kính
lễ Thập phương Thường trụ Tam bảo
Kính
lễ Mười phương Hiền Thánh, Hiện tiền Chân tịnh Tăng
Thưa
Chư Đại đức Tăng,
Nay
cũng gần ngày tự tứ, tôi kính lời thỉnh an chư Đại đức
Tăng, các chúng tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni.
Ba
tháng an cư mùa Hạ của Chúng Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni sắp mãn,
thời của y cũng gần kề; những gì đã thành tựu và chưa
thành tựu đang được tích tụ để làm tư lương, tiếp tục
theo dấu chân Thánh Hiền, hướng đến mục đích cứu cánh
cho đời mình, và cũng góp phần làm tăng ích phước điền,
tạo dựng hòn đảo an toàn cho ba cõi thế gian đầy biến
động bất an, như ngôi nhà đang rực cháy này.
Thời
của y mà Đức Thích Tôn quy định tuy ngắn, nhưng cũng đủ
để các chúng xuất gia tìm cầu phương tiện cần yếu cho
sinh hoạt thường nhật; không quá dài khiến sự tích lũy
không trở thành hoạt mạng xa hoa, hệ lụy vật chất và do
đó xa rời Thánh đạo. Cũng không quá ngắn để khiến cho
nhu yếu trở nên thiếu thốn. Đó tuy là hình ảnh sinh động
của Tăng già thời Thích Tôn tại thế, nhưng ý nghĩa sâu
xa vẫn còn giá trị cho đến ngày hôm nay.
Trên
25 thế kỷ của truyền thừa mạng mạch Tăng già, những di
huấn của Thế Tôn không vì biến thiên của xã hội, chủng
tộc, nhân sinh mà thay đổi. Dù rằng, cạnh tranh sinh tồn
vẫn còn như là lẽ sống của muôn loài, tích lũy và thụ
hưởng vẫn còn là động lực của tiến hoá xã hội; nhưng,
chúng đệ tử của Thế Tôn sống y chỉ trên bốn Thánh chủng,
không vì sinh kế tà mạng để tự buộc ràng mình vào guồng
máy cạnh tranh, cho đến khi tự mình trở thành kẻ nô dịch
cho thế gian sai sử mà không hay. Như thế, không những đã
làm hủy hoại huệ mạng của chính mình, mà còn làm tổn
thương đến Tăng thể.
Đã
gần một phần tư thế kỷ, Tăng già Việt nam bị lâm vào
cảnh đảo điên, bị hoen ố với nguy cơ đánh mất bản thân;
dù Tăng thể chưa hề vì thế mà bị vỡ, xét theo bản chất
tồn tại của Tăng trên nền tảng Tỳ-ni tạng. Yết-ma Tăng
bị rạn vỡ, nhưng hòa hiệp Tăng vẫn nguyên vẹn. Như khối
vàng bị xẻ làm hai, phần nửa nào vẫn còn giữ nguyên giá
trị của vàng.
Nếu
có các chúng tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni, trong trú xứ nào đó,
mà vì thiếu hiểu biết các giá trị và các pháp thức của
tỳ ni, từ căn bản học xứ cho đến các pháp thường hành
của Tăng, khiến phát sinh những hành vi tà ngụy, dẫn tới
phá giới, phá kiến, phá oai nghi mà chẳng hay biết; thọ giới
không như pháp, bố tát không như pháp, an cư và tự tứ không
như pháp; các chúng ấy là tỳ kheo, tỳ kheo ni mà sinh hoạt
không như pháp như vậy thì không thể tác thành bản thể
Tăng già, mà chỉ là những tập thể ô hợp, Đức Thế Tôn
gọi là á dương Tăng, là đàn dê câm nín, tụ tập vì quyền
lợi thế gian, ngoan ngoãn hành xử theo sự chi phối của thế
gian.
Các
chúng ô hợp đảo điên ấy tuy có khiến cho người ngoài
giáo pháp nhận lầm đó là Tăng già chính thống mà sinh tâm
rẻ rúng, mặc tình sử dịch như nô bộc, nhưng không đủ
năng lực làm dao động bản thân Chánh pháp; mà chỉ như thân
cây mục rỗng chỉ đủ tầm vóc che một đốm nhỏ của ánh
sáng mặt trời. Chúng tồn tại như là chứng tật hoại thư
của xã hội; tạo nên ảo ảnh về sự tăng trưởng bên ngoài
nhưng nội thân mục rã. Chúng đệ tử Phật không vì vậy
mà thoái thất hạnh nguyện của mình.
Theo
lẽ đó, mùa an cư năm nay tôi cảm thấy rất hoan hỷ trong
niềm hoan hỷ chung của các chúng đệ tử Phật, với các
trú xứ Tăng dù lớn hay nhỏ, dù nhiều hay ít, đã hành trì
như pháp, như tỳ-ni; hiểu rõ các nguyên tắc chỉ trì tác
phạm, thúc liễm sơ tâm. Đó là tự mình xây dựng hòn đảo
an toàn cho huệ mạng của mình, và cũng là chăm bón ruộng
phước cho nhân gian, cho những người có thiện tâm, có mắt
sáng để nhìn thấy chánh đạo, có tai tỏ để nghe được
chánh pháp.
Với
tâm hoan hỷ ấy tôi gởi lời chúc tuế đến các chúng xuất
gia đã trải qua mùa an cư trong các trú xứ của Tăng già sinh
hoạt như pháp, như tỳ-ni; hạ lạp theo thời gian thế pháp
mà tăng, đồng thời huệ mạng cũng do bởi tăng thượng duyên
này mà thêm lớn.
Nhân
mùa hoan hỷ của Chư Đại đức tăng, tôi cũng kính gởi lời
thăm hỏi đến các Phật tử tại gia, tán thán tín tâm hộ
đạo mà suốt trong mùa an cư, với hằng sản hằng tâm đã
khiến cho tứ duyên của các chúng an cư không khuyết. Công
đức đó đã góp phần tài bồi ruộng phước của nhân thiên,
tăng trưởng thiện căn, thăng tiến quả vị Thánh Hiền. Cũng
nhân công đức đó, đồng thời nương trên oai lực giới
định trang nghiêm của Tăng, Phật tử tại gia bằng tín tâm
bất hoại nơi Chánh pháp mà thực hành nghĩa vụ thiêng liêng
của mình, tri ân và báo hiếu đối với các bậc tôn trưởng
và cha mẹ, hiện tiền cũng như nhiều đời nhiều kiếp. Đó
là nền tảng của cương thường, đạo lý nhân thừa. Ý nghĩa
hộ đạo của Phật tử tại gia như thế không phải chỉ
là tâm nguyện tiêu cực. Phật tử hộ trì Chánh pháp trên
tất cả là thực hành những lời giáo huấn của đức Thế
Tôn để nâng cao phẩm chất của bản thân, sống cuộc đời
có ý nghĩa cho mình và cho nhân quần xã hội, đồng thời
nương trên phẩm chất của Thánh đạo được tu tập đó
mà chống lại sự xấu ác của thế gian, những tham vọng,
hận thù, nghi kỵ, không chỉ làm chướng ngại Thánh đạo,
mà còn gây hiểm nạn cho chúng xuất gia dẫn đến các trường
hợp phá kiến, phá oai nghi và phá chánh mạng. Phá kiến, là
làm biến chất giáo nghĩa của Phật để trở thành công cụ
đấu tranh quyền lực thế gian, biện minh cho sự lan tràn
của bạo hành và áp chế. Đồng thời biến chỗ tu hành thanh
tịnh trang nghiêm thành đấu trường mua danh bán chức. Do vậy
mà khiến một số chúng xuất gia quên mất sơ tâm, buông trôi
theo tà mạng, thường nhật bận bịu với những phấn đấu
thế gian để mưu cầu lợi dưỡng, địa vị xã hội; dễ
dàng tuân hành mệnh lệnh của người đời, những hạng không
hề biết Tín tâm và Quy Giới là gì, tôn vinh kẻ quyền thế
ngang hàng các Thánh giả, thậm chí còn sánh ngang với Phật.
Từ đó diễn ra tình trạng quần manh dẫn quần manh; đoàn
người mù dẫn nhau lang thang trong hoang mạc sinh tử mà vẫn
tưởng là đang đi theo dấu Thánh đạo. Như vậy không chỉ
tự làm hỏng đời mình mà còn gây ảnh hưởng nguy hại đến
tha nhân.
Những
điều như thế không phải chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên
mang tính thời đại. Đó là ác pháp hữu lậu từ ngàn xưa,
là hiện thân của Thiên ma Ba-tuần, không khứng nhìn thấy
chúng sinh thoát ra tầm tay chi phối quyền lực cúa nó; không
bao giờ muốn thấy một chúng sinh tự tại giải thoát bên
ngoài Vương quốc của nó. Cho nên, kể từ Phật Câu-lưu-tôn,
Ma đã nỗ lực phá hoại Chánh pháp, trước tiên là bằng
cách uy hiếp, hăm dọa chúng Thanh văn. Khi uy hiếp và bạo
hành không hiệu quả, Ma tìm phương tiện dụ dỗ, tạo thuận
duyên cho các tỳ kheo sống hưởng thụ vật dục thừa thãi,
có nhiều uy quyền xã hội, để từ đó trở thành những
kẻ nô dịch. Nhưng đức Phật Câu-lâu-tôn giáo giới các
đệ tử, “Tỳ kheo đến với đời như ong đến với bông
hoa, không làm tổn hại sắc và hương, mà chỉ lấy vị của
hoa để làm nên mật ngọt cho đời.” Tu tập theo giáo giới
của đức Thế Tôn, chúng tỳ kheo đã vượt qua mọi nỗ lực
khống chế của Thiên ma Ba-tuần.
Khi
giáo pháp của đức Thích Tôn truyền vào Trung hoa, qua các
triều đại hưng suy, cũng có những vị vua nhận định rằng
tập thể xuất gia là những kẻ kháng mệnh triều đình, vì
không nhận bỗng lộc của vua chúa. Có nhận ơn vua lộc nước,
thì mới bày tỏ tấm lòng thần tử trung trinh. Miếng mồi
danh lợi được bao che bằng lý thuyết mơ hồ, lập lững
giữa cái tốt Đạo đẹp Đời, chẳng khác nào giọt mật
trên chót lưỡi của kẻ vong mạng, đang chơi vơi trên vực
thẳm, cố bám chặt sợi giây leo mảnh khảnh; nhưng vì chút
mật ngọt ấy mà quên đi nguy hiểm nghìn trùng bên dưới.
Một
chút bỗng lộc, một chút quyền lực hống hách, một chút
hư danh phù phiếm, mà bỗng chốc quên bẵng sơ tâm, để càng
lúc càng rời xa Thánh đạo. Dàm danh khóa lợi, bỗng chốc
là sợi xích cháy đỏ đang quấn chặt thân mình. Bản thân
đang bị treo ngược trên hố diệt vong mà không cảm thấy
vô thường nguy hiểm gần kề. Cho
nên,
thật rất có ý nghĩa cho các chúng đệ tử của Phật, tại
gia cũng như xuất gia, mỗi năm, sau thời gian kết hạ an cư
là mùa lễ hội Vu-lan, mà ý nghĩa là Thắng hội Giải đảo
huyền, cởi trói cho những ai đang bị treo ngược, cho những
người đã chết cũng như những kẻ đang sống mà như đã
chết.
Theo
tập tục ngàn xưa, đó là ngày Phật tử tại gia nương theo
oai thần của Tam bảo để đền ơn trả hiếu; cứu giúp thân
nhân đang chịu khổ nạn trong các đường dữ, đang bị những
sợi giây nghiệp quả nhiều đời treo ngược trên than hồng,
trên rừng giáo nhọn. Phật tử tại gia tu tập Nhân thiên
thừa, thực hành nghĩa vụ thiêng liêng của con người trong
cộng đồng xã hội, dân tộc. Đồng thời cũng nhận thức
rõ bản thân đang bị quấn chặt bởi sợi giây nghiệp quả,
do bởi chính các hành động của mình. Do tự trói mình bằng
chính nghiệp mê hoặc của mình nên dễ dàng trở thành mồi
ngon, bị Ác ma khuyến dụ. Vậy, các chúng đệ tử Phật cử
hành Thắng hội Vu-lan, một phần chu toàn bổn phận hiếu
nghĩa đối với Tổ tông, tri ân đối với nhân quần xã hội;
phần khác, góp công đức hộ trì chúng xuất gia để không
vì sinh kế và lợi dưỡng khiến bị người đời khuynh loát;
từ đó mà tạo thành sức mạnh để tự giải thoát mình
khỏi sự khống chế của Ác ma, ác pháp, và cũng là nguồn
năng lực phát huy và hoằng truyền Chánh pháp, vì ích lợi
cho bản thân, cho những người thân thuộc, và rộng ra nữa
cho đến mọi loài chúng sinh; an lạc trong đời này và đời
sau. Có như vậy mới thể hiện đúng ý nghĩa đạo hiếu chân
chính của người Phật tử.
Trong
ý nghĩa đó, từ nơi tịnh thất biệt lập, cách ly các chúng
đệ tử xuất gia và tại gia, tôi kính gởi đến Chư Đại
đức Tăng, cùng tất cả Phật tử tại gia, lời chúc mừng
khánh hỷ nhân mùa đại lễ Thắng hội Vu-lan Phật lịch 2548
này, đồng thời góp chút tâm niệm tưởng nhớ ân đức Tiền
nhân, các bậc tôn trưởng, trải qua nhiều thế hệ, đã dày
công tài bồi đạo nghĩa, để cho thế hệ ngày nay và cả
đến mai sau thừa hưởng những giá trị tâm linh cao quý.
Nguyện
cùng với bốn chúng đệ tử hồi hướng công đức tu trì
thanh tịnh trong suốt mùa hạ an cư năm nay đến hòa bình và
an lạc cho dân tộc và nhân loại, cùng hết thảy pháp giới
chúng sinh.
Nam
mô Thường Tinh Tấn Bồ tát
Tu
viện Nguyên Thiều mùa An cư năm Giáp Thân
Đệ
Tứ Tăng Thống GHPGVNTN,
Tỳ
kheo THÍCH HUYỀN QUANG
01-08-2004
Mục
Lục Các Tập San