Thầy,
vầng mây bậc, thong dong, núi cao biển rộng
Con, cánh
nhạn chiều, chân trời sải cánh, dõi theo Thầy, hóa hiện
đường mây.
Quan
hệ Thầy và Trò, đó là mối quan hệ thiêng liêng và cao cả;
là hình ảnh sáng ngời, tuyệt vời giữa càn khôn sinh diệt.
Không thể có một tác nhân nào, một điều kiện gì có thể
chia cắt, hay tách biệt mối quan hệ ấy. Xưa cũng như nay,
tình cảm cao quý này luôn luôn được tôn kính, được trân
trọng, giữ gìn. Cho nên, Cổ đức có dạy: “Tôn Sư trọng
Đạo” là vì vậy.
Quan hệ
này, nói ra rất rộng, nó có mặt khắp mọi lĩnh vực của
cuộc sống, từ đời sống vật chất cho đến đời sống
tinh thần.
Trong sự
nghiệp xây dựng gia đình huyết thống, thì đó là mối quan
hệ Cha-Con. Với quan hệ này, người ta cho rằng, người con
là khúc ruột được cắt ra từ Cha và Mẹ, nên người con
là sự tiếp nối sự sống của người Cha cũng như người
Mẹ. Vì thế khi nhìn vào người con,chúng ta có thể thấy
được nét nghiêm nghị của Cha cũng như nụ cười hiền dịu
của Mẹ. Với quan hệ này, được gọi là quan hệ máu mủ,
ruột thịt. Còn trong sự nghiệp xây dựng gia đình tâm
linh, thì đó là quan hệ Thầy-Trò. Với quan hệ này, Pháp
chính là gạch nối giữa hai hình ảnh ấy. Nhờ chất liệu
Pháp mới có quan hệ Thầy trò. Người học trò được công
nhận là học trò và người Thầy được công nhận, được
tôn xưng là Thầy, đều nhờ vào chất liệu này. Người học
trò hiện hữu, tồn tại giữa cuộc đời là nhờ có hình
ảnh người Thầy, và ngược lại. Do đó, mối quan hệ Thầy
-Trò là mối quan hệ tương tức (Interbeing), tương nhập (Interpenetration),
có trong nhau, cùng nhau hiện hữu để chuyển tải, hóa hiện
Đạo vào cuộc đời. Quan hệ này không tách biệt được,
nếu tách biệt thì không tồn tại. Nếu không có trò thì
Thầy cũng không có mặt giữa đất trời, giữa cuộc sống
này.
Theo tinh thần
kinh Cầu Pháp của Hán tạng hay kinh Dhammadāyādasutta (Thừa
tự Pháp) của Trung bộ Nikāya, thì mối quan hệ này được
trình bày rất mạch lạc, rõ ràng.
Do mối quan
hệ giữa Thầy và Trò được xác lập nhờ Pháp, cho nên,
người học trò là sự nối dài hình ảnh người Thầy, là
sự tiếp nối sự nghiệp của Thầy, “Nhất đăng diệt,
nhất đăng tục”. Do vậy, yếu tố chắc chắn là người
học trò phải kế thừa Pháp từ nơi Thầy của mình. Điều
này không bao giờ sai khác, chắc chắn là như vậy. Và chỉ
có vậy, mối quan hệ này mới thiêng liêng, mãi mãi tồn tại
qua mọi thời gian và không gian. Cũng nhờ thế mà chất liệu
Pháp luôn luôn được thắp sáng, được tiếp nối, khiến
kho tàng Chánh pháp không bị mai một, không bị gián đoạn
mà luôn luôn được truyền thừa “Truyền đăng tục diệm”.
Cho nên, trong bài Tựa Luật Tứ Phần, có nhắc đến sự truyền
thừa “Sư tư tương thừa”, nói lên sự kế thừa của đức
Phật Mâu Ni từ các đức Phật trong quá khứ:
Tỳ Bà Thi
Thức Khí
Tỳ Xá,
Câu Lưu Tôn
Câu na hàm
mâu ni
Ca Diếp,
Thích Ca văn.
Các Đại
đức, Thế Tôn
Vì tôi dạy
việc này,
Tôi nay muốn
nhắc lại
Quý vị,
hãy cùng nghe!
Còn ngược
lại, người học trò không kế thừa Pháp, mà lại kế thừa
tài sản thì đó là hình ảnh giới thiệu chúng ta mối quan
hệ oan nghiệt, đầy oán thù. Và cũng tự giới thiệu hình
ảnh người học trò không nhận ra được nhân duyên gì mà
mình được làm học trò của Thầy mình.
Ngày trước,
Ngài Huệ Khả là hình ảnh gương mẫu cho tinh thần cầu Pháp
này (Huệ Khả là người có khả năng kế thừa tuệ giác).
Ngài đứng hiên ngang như cây tùng giữa tuyết giá để cầu
Pháp an tâm, khiến đời sau mãi mãi còn lưu lại hình ảnh
cao thượng ấy, để sách tấn hàng hậu học:
少
室 廷 前 千 丈 松 雲 寒
立 雪 (Hán tự)
Nghĩa là:
Trước
động Thiếu Thất trải bao ngày tháng đứng trong tuyết lạnh.
Ngài không
thối chí, dầu tuyết lạnh phủ đầy mình và cũng sẵn sàng
hy sinh thân thể để được Pháp chân thừa.
Người Thầy
dạy học trò phải kế thừa Pháp là vì muốn Pháp chân thật
luôn được hiển hiện và cũng vì lòng thương, muốn học
trò được an lạc, hạnh phúc giữa cuộc đời đầy thù hận,
oán cừu này. Từ tình thương của Thầy mà người học trò
cung kính vâng lời, ghi nhớ. Cho nên, quan hệ Thầy- Trò cũng
được gắn liền bởi chất liệu Thương và Kính.
Kinh nói:
“Khi người học trò thực hiện sự nghiệp kế thừa Pháp,
kế thừa sự nghiệp tu tập của Thầy, mà không kế thừa
sự ăn uống, thì không những người người học trò có niềm
vui, hạnh phúc lớn mà còn khiến cho Thầy mình có được
danh dự” . Và khi người học trò không chịu kế thừa Pháp
mà lại thực hành việc kế thừa tài sản, thì ngược lại
điều trên. Tuy nhiên, nếu chúng ta tiếp nhận pháp mà không
thực hành, không thể nghiệm trong đời sống, mà lại khư
khư ôm một khối hư danh và không chịu thực hành để truyền
thừa cho hậu thế, thì đó cũng là sự kế thừa ăn uống,
không có cao thượng. Nên cũng trong kinh này, Đức Thế Tôn
dạy: “Sự thấp kém nhất trong thức ăn là thức ăn dư thừa”
(Thực trung chi hạ cực).
Nhưng người
học trò tiếp nối Pháp nơi Thầy là tiếp nối như thế nào?
Kinh nói,
Thầy thích sống đời sống viễn ly, thì trò học hạnh xả
ly. Thầy dạy những phương pháp cần đoạn trừ thì trò đoạn
trừ. Đối với những pháp cần thọ học và chứng nghiệm
thì người học trò không xả bỏ phương tiện thực hành.
Đó là 3 điều đáng khen, khi học trò thực hành theo lời
Thầy dạy. Ngược lại là 3 điều đáng chê trách.
Người học
trò phải có niềm tin sâu sắc đối với Thầy của mình.
Trò phải tin rằng, Pháp mà Thầy trao truyền là những phương
pháp, những điều mà Thầy đã thực tập, đã sống. Những
lời dạy ấy, được nói ra từ tâm huyết từ đáy lòng sâu
thẳm của Thầy, chứ không phải là những lời dạy nằm
trong khuôn khổ hạn hẹp của kiến thức sách vở hay nằm
trên bình diện tri thức con người hay của tế bào não. Chỉ
khi có niềm tin như vậy, chúng ta mới thực tập, học hỏi
hết lòng. Và người Thầy cũng tin là những lời dạy từ
xương tủy của mình, người học trò kia có thể lãnh hội
và thực hành, khiến cho người học trò cũng đạt được
niềm vui đối với Chánh pháp như mình. Như vậy, mối quan
hệ ấy cũng phải đặt trên căn bản của niềm tin thì mới
thành công, “Lòng tin là cửa ngõ để thực hành và thành
tựu hết thảy các thiện pháp”.
Hình ảnh
người Thầy thực hành pháp trong đời sống, chính là điều
kiện duy trì, gắn chặt mối quan hệ ấy. Người học trò
đón nhập Pháp qua ngôn ngữ của Thầy, cái đó cũng quan trọng
nhưng không có giá trị thật sự, mà chỉ thật sự có giá
trị là sự tiếp nhận Pháp qua thân giáo của Thầy. Bài pháp
được thuyết giảng bằng thân giáo, không cần dùng đến
ngôn ngữ quy ước, mà chính bằng ngôn ngữ chân thật, “ngôn
ngữ không ngôn ngữ”. Đây là bài pháp sinh động, rất mầu
nhiệm, dễ dàng lưu nhập vào tâm trí của người học trò.
Như vậy, chúng ta thấy, việc xây dựng nên mối quan hệ ấy
thật là khó, việc duy trì lại càng khó hơn, nhưng rất quan
trọng và cần thiết để thực hiện lý tưởng trong cõi đời
nầy.
Khi mối quan
hệ ấy được xác lập, thì Phật Pháp tự nó hiển lộ trong
đời sống. Và chỉ có Tăng là người kế thừa Pháp mà thôi.
Vì Tăng do Pháp tác thành và do Pháp lãnh đạo. Do thực hành
pháp mà các căn được thanh tịnh, các lậu hoặc nhiễm ô
đều được đoạn trừ, tâm ý hoàn toàn an tịnh, thành tựu
hết thảy các đức tính vô lậu. Do vậy, Tăng trở thành
nơi nương tựa, chỗ quy thú cho mọi người, là chỗ dựa
an toàn vững chắc để xây dựng gia đình tâm linh. Nên vấn
đề xây dựng Tăng thân (Sangha building) rất quan trọng, rất
đáng được thực hiện để làm nơi quy thú cho hết thảy
mọi người muốn được an bình trong xã hội đầy các chứng
bệnh hiểm nghèo, sự bạo loạn và các chứng stress vv... như
ngày nay.
Khi người
Thầy đi hóa đạo, tín đồ nghe lời Thầy giảng và đồng
thời nhìn vào hình ảnh những người học trò, họ thấy
lời dạy và hành động của Thầy cũng như người học trò
ăn khớp nhau, khiến niềm tịnh tín phát sanh; họ mới thật
sự có niềm tin đối với Tam Bảo, nên mới thể hiện vai
trò ngoại hộ của mình (Trong 48 giới khinh của Kinh Phạm
Võng, giới thứ 6, nói điều này rất rõ). Ngày xưa, vua Ba
Tư Nặc, thưa với đức Phật rằng, chỉ nhìn vào Tăng Đoàn
là Vua có niềm tin sâu sắc đối với Đức Thế Tôn, đối
với Tăng Đoàn.
Khi quan hệ
này đứng vững thì tất cả thành viên của xã hội đều
nương tựa và thực hành. Con người là thành viên, là nhân
tố xây dựng xã hội. Khi các thành viên mà thực tập thăng
hoa gia đình tâm linh, phát huy đạo đức, giữ gìn văn hóa,
nét đẹp nhân văn, bên trong tỏa ra đức tính bất bạo động,
thì chắc chắn xã hội cũng được thăng hoa. Có như vậy,
xã hội mới yên bình, không còn các tệ nạn cũng như sự
bạo loạn, khủng bố. Cho nên, khi người Thầy đứng đúng
vai trò, vị trí của mình; người học trò làm đúng trách
nhiệm, vị trí của mình, thì đó chính là tướng thường
trú của thế gian. Nên trong kinh Pháp Hoa có nói:
是
法 住 法 位(Hán tự)
世
間 相 常 住
Nghĩa là:
Pháp nào
đứng đúng vị trí pháp nấy
Đó chính
là tướng thường trụ của thế gian.
Khi quan hệ
Thầy-Trò trong chốn Già Lam vững mạnh, dẫn đến quan hệ
Thầy- Tín đồ gắn bó keo sơn; thì ngôi chùa cũng sẽ là
nơi nương tựa cho tất cả. Ngôi chùa là hình ảnh thu nhỏ
của xã hội, nên chùa bền vững thì xã hội thanh bình, con
dân an lạc, hạnh phúc.
Để kết
thúc cho bài viết này, chúng tôi xin mượn hai câu thơ của
thi sĩ Huyền Không để kết luận:
“Mái
chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống
muôn đời của tổ tông”.
Đó là hình
ảnh Thầy và Trò cùng đi vào xã hội để hiến tặng sự
bình an và hạnh phúc.
Thích Thanh
Tâm