Nhiều
lý thuyết siêu hình của Phật giáo tỏ ra xa vời, khó hiểu
và khó tiếp cận đối với độc giả trung bình chưa được
chuẩn bị để tiếp nhận chúng. Đó là vì chúng đòi hỏi
một sự thông hiểu sâu sắc và lâu dài các định luật của
thế giới tâm linh và tiết nhịp của đời sống tinh thần,
chưa nói đến khả năng hãn hữu cần có để duy trì sự
suy nghiệm khô khan. Thêm vào đó, các nhà tư tưởng Phật
giáo lại tạo nên một số giả định ngầm mà các triết
gia Tây phương hiện đại đã minh nhiên bác bỏ. Thứ nhất,
chung cho hầu hết mọi người Ấn độ bình thường, khác
với người châu Âu có tính ‘khoa học’, tư tưởng lấy
những kinh nghiệm du-già làm nguyên vật liệu cho phản tỉnh
triết học. Thứ hai, mọi triết gia ‘trường cửu’ (ngược
với ‘hiện đại’), đồng ý với cấu trúc giai tầng của
vũ trụ, như được thể hiện trong (a) sự phân biệt về
một ‘thế giới ba cõi’ và (b) các cấp bực của ‘thực
tại’, và (c) trong việc thiết lập một hệ thống đẳng
cấp các kiến giải tùy theo độ chín chắn của tâm linh.
Thứ ba, mọi triết lý tôn giáo (ngược với phi-tôn giáo)
đều (a) sử dụng các thuật ngữ ‘thiêng liêng’ để phân
biệt với các thuật ngữ ‘phàm tục’ và (b) coi sự tỏ
ngộ như là nguồn gốc tối thượng của mọi chân tri thức.
Điều này dẫn đến không ít hơn sáu giả định ngầm mà
đa số độc giả của tôi chắc không dễ chia xẻ. Và vì
chúng minh định tầm mức và phạm vi trong đó tư tưởng Phật
giáo tương đối có ý nghĩa và giá trị, tôi hẳn phải có
vài lời về từng trường hợp một.
1. Người
ta thường phàn nàn về sự bất dung thông giữa hai nền triết
học Đông và Tây phương. Nếu như không có sự giao tiếp
nào giữa một bên là triết học Tây phương ‘duy nghiệm’
và bên kia là triết thuyết Vedānta và Mahāyāna, có thể là
vì chúng tiên định hai hệ thống thực hành khác nhau như
là hai nền tảng mặc nhiên – khoa học một bên, bên kia là
sự chiêm nghiệm du-già. Khởi đầu mọi triết gia đều đương
nhiên
chấp nhận một số hành trì, với những phương tiện đặc
thù và cứu cánh riêng, mà họ xem cả hai vừa là hiệu quả
vừa như phương huớng dẫn tới chân thực tại.
Ðương nhiên
điều cốt yếu là phải nắm vững sự khác nhau giữa một
trình tự hành tập, hay ‘các thủ thuật’ thông thường
sẽ đưa đến một số kết quả nhất định, với những
cấu trúc lý thuyết thượng tầng nhằm đánh giá, lý giải
và hệ thống hóa chúng. Kỹ thuật giải quyết những gì xảy
ra khi thực hiện một trong hai điều trên. Lý thuyết giải
quyết lý do tại sao việc xảy ra như vậy và ý nghĩa
của những việc như vậy. Dù rất nhẹ dạ và cả tin về
các chủ điểm biện luận và về các đề mục hành trì,
con người vẫn khá cứng đầu và khó thuyết phục họ
rằng một phương pháp kỹ thuật nào đó vẫn «làm việc»
vượt quá bất cứ hạn lượng nào của thời gian trong khi
thực sự nó không làm việc.
Thiền du-già
đòi hỏi một số việc nhất định phải được làm xong
trước khi khởi sự. Đó là những bài tập quen thuộc về
hơi thở được thực hành trong một số tư thế cụ thể.
Phải kiêng cử một số thực phẩm và thuốc kích thích. Phải
từ bỏ hầu hết mọi sở hữu cá nhân và xa lánh các đoàn
thể. Thời kỳ dài rèn luyện thân xác đó khiến cho cơ thể
sẵn sàng tiếp nhận các phần việc sắp tới, và sau khi đã
thích nghi với các điều kiện sống đơn độc, vô sản, vô
gia cư, tâm trí hành giả cuối cùng mới có khả năng thực
hành pháp du-già đích thực. Pháp đó cốt ở chỗ, một cách
có hệ thống, không lưu tâm đến các đối tượng của giác
quan . Và đâu là mục tiêu và kết quả của hành động hướng
nội kiên trì này – như đã được Bồ-đề-đạt-ma thực
hiện một cách đầy ấn tượng qua chín năm ngồi bất động
trước tường đá xám? Hết thảy các bậc thầy du-già, dù
có khác nhau về giáo lý hay triết thuyết, đều đồng ý rằng
những hành trì này sẽ tạo nên một tâm trạng lắng đọng,
bình an nội tại (śamatha, chỉ).
Có nhiều
người cùng thời với chúng ta, bị tù hãm trong cái mà họ
gọi là ‘lương tri’, thừa nhận một cách vô cớ như thể
đó là điều hiển nhiên, rằng nội dung của đời sống tinh
thần xuất phát từ sự tiếp xúc với các trần cảnh bên
ngoài. Do đó họ tin rằng sự từ bỏ triệt để các trần
cảnh này chỉ có thể dẫn đến tâm trạng trống rỗng mơ
hồ nào đó, rất giống như giấc ngủ hay một loại hôn mê.
Cần có một cái gì hơn cả lương tri để khám phá rằng
điều đó dẫn tới một tâm trạng mà các nhà du-già Ấn
độ, vốn chịu ảnh hưởng của văn phạm Phạn ngữ luôn
đặt nặng yêu cầu chính xác về thuật ngữ, gọi là ‘tĩnh
chỉ’, tâm trạng hoàn toàn thanh thản, đầy an lạc. Cũng
như người Dayak ở Borneo khó tin được làm sao một viên than
đá đen nhẽm có thể biến thành ánh sáng trong bóng đèn điện
tử. Chỉ duy nhất có một con đường mở ra cho những ai không
tin các giá trị của những nhà du-già. Họ sẽ phải lặp
lại các thử nghiệm – trong rừng sâu chứ không phải trong
phòng thí nghiệm – họ sẽ phải làm những gì các nhà du-già
khuyên làm, rồi sẽ biết kết quả. Chừng nào điều này
chưa được thực hiện thì sự hoài nghi rõ ràng là vu vơ,
cũng ngang với sự hoài nghi của anh lùn pygmy ở trạm biến
điện Battersea, đã bướng bỉnh từ chối rời khỏi vịnh
Congo, để tưởng tượng xem nó có thật hay không và có được
không. Nói cách khác, đối với tôi, việc phủ nhận có những
kỹ thuật hành trì được biết dưới cái tên Du-già, mà
nếu được áp dụng một cách sáng suốt theo đúng hướng
dẫn sẽ khiến tâm trạng được bình an , hình như là không
thích hợp với những người có học thức.
Thượng tầng
kỹ thuật quả là phong phú. Còn thượng tầng tư tưởng,
đến lượt nó, bao gồm một số hệ thống lý thuyết không
phải lúc nào cũng hòa nhau. Về mặt lý thuyết có người
theo đạo Hindu, đạo Phật, hay đạo Jain. Một số vô thần,
một số đa thần, số khác lại theo nhất thần tối cao. Về
triết thuyết, một số hệ phái như Vaiśeṣika (Thắng luận)
và Abiddharma (A-tỳ-đàm) chủ trương đa nguyên luận, số khác
như Vedānta (Vệ-đà) và Mādhyamikas (Trung quán) thuộc nhất
nguyên luận. Mà hai hệ thống nhất nguyên luận này dường
như lại hoàn toàn trái nghịch nhau trên các mặt cơ bản nhất
– một phái khẳng định tự Ngã (ātman) là thực tại duy
nhất, phái kia cho rằng chính sự vắng mặt của một cái
ngã (nairātmya) mà phân biệt được chân thực tại với giả
tướng.
Tìm hiểu
kỹ những bất đồng này ta thấy thực ra chúng chỉ ở bề
mặt. Mọi triết thuyết ‘du-già’ này khác biệt nhau ít
hơn là chúng khác biệt với những triết thuyết phi du-già.
Chúng không những thừa nhận tính xác đáng của những cách
hành trì du-già mà còn mặc nhiên xem các hành trì này là con
đường dẫn tới tri thức đáng giá nhất về chân thực tại,
đồng thời là nền tảng cho một đức hạnh đáng kính trọng,
và rằng, như là căn nguyên của tính xác thực tuyệt đối,
tầm nhìn du-già tự nó không cần phải minh chứng. Chỉ ở
trong trạng thái cảm thụ du-già chúng ta mới sẵn sàng và
có khả năng tiếp nhận chân lý tối hậu. Các quan sát được
thực hiện trong thế gian hư huyễn, giả tạo và sai lầm,
đều không thể cho ta chuẩn mực để đánh giá những sự
phóng thích của tâm thức du-già.
Một tình
trạng tương tự như vậy cũng đang diễn ra ở tây Âu đối
với khoa học. Trong lãnh vực này chúng ta cũng có thể phân
biệt giữa tự thân kỹ thuật và những phát triển có tính
lý thuyết. Ưu thế của sự tiếp cận khoa học trong những
triết gia hiện đại của chúng ta dường như hoàn toàn nhờ
vào các ứng dụng của nó. Nếu một triết gia bảo đảm
với ta rằng mọi tri thức ‘thật sự’ mà chúng ta có đều
do khoa học, rằng chỉ có khoa học mới đem đến cho chúng
ta những ‘hiểu biết mới về hoàn vũ’ – thì cái gì đã
khiến ông ta tin như vậy? Chắc chắn ông đã bị lóa mắt
trước những kết quả thực dụng, bởi sự gia tăng khổng
lồ các năng lực đến từ một loại tri thức đặc thù các
nhà khoa học đã mở ra. Không có các kết quả thực tế này
thì những lý thuyết khoa học kia có nghĩa lý gì? Một bong
bóng mong manh, một trò tiêu khiển của những nhà toán học
nhàn rỗi, một phép lạ hoang đường chẳng kém câu chuyện
‘Alice ở xứ sở thần tiên’. Gần đây nhiều thay đổi
đáng kể đã diễn ra trong thế giới vật chất như là kết
quả của khoa học. Dù cũng chẳng ‘bền vững hơn sắt thép’
chút nào, những tượng đài khoa học tuy vậy lại khá kỳ
vỹ – những công trình xây dựng rộng hàng mẫu, vô số
máy móc có năng xuất đáng kinh ngạc, tốc độ di chuyển
nhanh chóng hơn, nhiều loại thú bị tuyệt diệt, tật bệnh
dễ chữa hơn, cái chết chậm lại hoặc đến nhanh hơn, và
đại khái như vậy. Phương tiện này của khoa học rõ ràng
là đang ‘tác động’, tuy vậy không phải trong chiều hướng
tăng thêm sự ‘bình an’ cho chúng ta – còn rất xa điều
đó. Tất cả những gì nó làm là gia tăng quyền lực của
con người để kiểm soát ‘môi trường vật chất’ xung
quanh, và đó là điều các phương pháp du-già chẳng bao giờ
quan tâm. Kỹ thuật khoa học đương nhiên hứa hẹn một năng
lực vô hạn, nhưng vô hạn trong ý nghĩa tự nó không thiết
đặt những giới hạn nào, luân lý hay cái gì khác, lên những
lãnh vực chinh phục của nó. Có lẽ ta rất ít chú ý những
cấu trúc-tư tưởng của các nhà khoa học của chúng ta nếu
không vì những kết quả thực tế đầy ấn tượng của họ.
‘Cuộc du hành đến Laputa’ của Dean Swift như vậy đã lên
tiếng bày tỏ thái độ chung, kể cả thái độ của phần
lớn các triết gia.
Đối với
du-già, kỹ thuật trơ trọi ở đây cũng được khoác lên
vô số lý thuyết, giả thuyết, khái niệm và các hệ thống
triết học có khả năng gây bất đồng đáng kể. Nhưng mọi
triết thuyết khoa học đều đồng ý rằng nghiên cứu khoa
học, đặt nền tảng trên sự quan sát thực nghiệm các đối
tượng ngoại tại*, là chìa khóa của mọi tri thức có giá
trị và của một cách sống duy lý.
Nhưng dù
tôi có nói bằng ngôn ngữ của thiên thần, những người
bạn ‘duy nghiệm’ của tôi vẫn nhún vai lắc đầu trước
đề nghị rằng yoga và những kỹ thuật phi khoa học khác
cần phải được tiếp nhận một cách nghiêm chỉnh. Tự nhận
là những ‘nhà nhân bản’ họ được trông mong hãy tin nhiều
hơn vào tính sâu sắc và phóng khoáng của tinh thần con người
với mọi sắc thái của nó. Là những người ‘duy nghiệm’
họ hẳn phải có một ý niệm phổ đồng hơn về ‘kinh nghiệm’,
và là những người chủ trương ‘thực chứng’ họ tất
phải có một khái niệm rõ ràng hơn về những gì đang hiện
hữu, những gì không hiện hữu - một sự kiện ‘có thể
kiểm chứng’. Và cho dù là những nhà ‘khoa học’, họ
hẳn phải có chút hoài nghi về cái thế giới của tri thức
tù túng trong giác quan này liệu có thực sự là toàn bộ chân
lý hay không. Nhưng hỡi ôi, một sự bành trướng kinh khủng
các khả năng phê phán đã vùi lấp mọi đức tính tốt đẹp
khác. Những triết gia duy nghiệm và duy thực chứng đương
đại, bằng độc quyền tin tưởng vào tri thức khoa học của
họ, đã phạm tội mà Whitehead đã khoan dung gọi là ‘chủ
nghĩa cục bộ hẹp hòi’. Thường thờ ơ với các phương
pháp kỹ thuật truyền thống phi khoa học, họ cũng thế, mà
còn tệ hơn, không bao giờ nhìn lại mình. Trong điều kiện
tốt nhất thì những phương pháp kỹ thuật này, nếu để
ý một chút, thường được diễn giải một cách vội vàng
như những phương pháp khoa học, và được trình bày bằng
sự dò dẫm trong bóng tối một cách mê muội và cẩu thả.
Trên những bờ bến hoang dã hơn của chủ nghĩa duy lý, người
ta còn rỉ tai nhau: “nhà thơ là nhà vật lý bán khai” . Chúng
ta rùng mình mà làm ngơ.
Đánh giá
mọi phương pháp mang tính nhân bản bằng một lô ‘kiểm
chứng’ hay ‘năng lực’ trần trụi do họ tạo ra thì thật
là bất công. Có nhiều mục tiêu khác cũng xứng đáng không
kém để theo đuổi, và nhiều người thông minh hơn chúng ta
có thể đã chủ tâm ngoảnh mặt trước việc theo đuổi sức
mạnh vô biên, không phải vì không thể sở đắc, mà là bẩm
sinh không mong cầu. Sự nhượng bộ cao nhã trước điều không
thể tránh cũng có nét duyên dáng của nó. Có lẽ người ta
đã nói nhiều về sự đừng mong cầu nhiều hơn quyền lực
mà ta có thể sử dụng một cách khôn ngoan, và có quá chăng
khi lo sợ ‘những người bắt giữ của một thế giới bất
đắc dĩ’* có thể kết thúc như những người huấn luyện
sư tử đã kết thúc trước họ.
Về tất
cả các mặt vô hạn của vũ trụ, những triết gia trong biên
độ khoa học sẽ đi đến chỗ chỉ biết những gì được
phơi bày trước các phương pháp khoa học, với lòng mong muốn
vô độ của họ về quyền năng vô tận và sự bất chấp
mọi thứ của họ ngoại trừ sự tiện nghi bị lạm dụng
của nhân loại, và họ không thể chứng minh, hay thậm chí
nghĩ đến một cách hợp lý, rằng cái mẩu nhỏ sự thật
về thực tại này là cái đáng để hiểu biết nhất. Đối
với những tiềm năng vĩ đại của lý trí con người, họ
sẽ chỉ đưa ra những gì có một giá trị sinh tồn trong nền
văn minh cơ khí hiện đại. Không những đó chỉ là một phần
nhỏ lý trí con người đang được sử dụng, chúng ta còn
phải cân nhắc xem đó có phải là phần đáng giá nhất chưa
– khi chúng ta xét đến sự khó chịu, sự náo nhiệt và hoạt
động không ngừng nơi các đô thị, hay ảnh hưởng của các
loại máy móc tác động trên những người thợ, của những
công cụ khoa học trên những nhà khoa học. Hiện tại có vẻ
như cách sống này đang quét sạch mọi thứ trước mắt nó.
Đồng thời nó cũng quét luôn nhiều giá trị.
2a. Trở lại
với ‘thế giới ba cõi’ , chúng ta thấy truyền thống nhất
quán của nền Triết học Muôn thuở phân biệt có ba tầng
thực tại khác nhau về phẩm tính: thiên nhiên, huyền bí,
và tinh thần. Định tính của con người do đó cũng bao gồm
ba thành phần này, thực tại tự thể hiện qua ba mức độ,
và thái độ để chúng ta có thể tiếp cận các sự cố cũng
gồm ba mặt.
Trong con người
chúng ta có thân-tâm là định tính đầu tiên, thứ đến là
‘tâm hồn’, và cuối cùng là ‘tâm linh’ (hay ‘tinh thần’).
Trong thế giới khách thể, mức độ đầu tiên là thân thể
gồm các sự kiện được phơi bày cho giác quan và cho khảo
sát khoa học, và được sắp xếp theo lẽ thường và lý thuyết
khoa học. Mức thứ hai bao gồm nhiều sự kiện đa dạng mà
trong chừng mực nào còn được gọi là ‘thần bí’, vì
chúng thường ẩn khuất trước cái nhìn soi xét của chúng
ta. Với tổ tiên của chúng ta chúng rất được xem trọng,
nhưng ngày nay chúng thường bị chế giễu. Như khoa chiêm tinh
hay thuật xem tử vi, hay sự nghiên cứu về các tương giao
có thể có giữa vị trí các thiên thể trên bàn tay với tính
khí, số phận, sở thích và tiềm năng của con người. Hơn
nữa tầm mức thứ hai này còn bao gồm các hoạt động của
những cảm thức thần bí như đồng bóng, tiên tri, thần giao
cách cảm v.v…, phạm vi mênh mông các chuyện hoang đường
và những nhân vật hoang đường, truyền thuyết về ma quỷ
và linh hồn của những người đã khuất, và công năng của
‘ma thuật’, được cho là có tác động trong thế giới
vật chất qua bùa chú hay phép gọi hồn. Thứ ba, thế giới
tâm linh là một thực tại không sờ thấy, phi cảm giác và
không định hình, vừa là một vừa vô số, vừa siêu việt
thế giới tự nhiên vừa nội tại trong chính nó, cùng lúc
vừa chẳng là gì vừa là tất cả, vô cảm như một dữ liệu
và khá vô nghĩa như một khái niệm. Không thể mô tả bằng
bất cứ thuộc tính nào từ kinh nghiệm của giác quan, và
chỉ có thể đạt được bằng việc triệt tiêu tính cá nhân
riêng lẻ, nó được gọi là ‘Thánh linh’ theo Thiên Chúa
giáo, là cái ‘không’ theo Phật giáo, còn với các triết
gia nó là ‘Tuyệt đối thể’. Ở đó các giác quan của
chúng ta mù mịt, lý lẽ tê liệt, và tính tư lợi phá sản.
Ba thế giới
đó có thể được nhận thấy dễ dàng qua thái độ của
chúng ta, lấy ví dụ, trước thời tiết lạnh. Phản ứng
thông thường là đốt lửa lên, mặc thêm quần áo ấm, hay
vận động bằng một cuộc đi bộ. Thuật sỹ thì tin vào
những phương pháp như gtum-mo của người Tây tạng, làm khởi
phát nguồn nội nhiệt tại bằng những phương thức huyền
bí. Chúng dựa trên một nền tảng sinh lý học khác hẳn những
gì được dạy trong các giáo trình khoa học, và tùy thuộc
vào sự điều hành ba ‘bí huyệt’ (nadis), được coi như
ba luồng năng lượng tinh thần mà sự quan sát thông thường
không nhìn thấy được, bởi chúng ‘trống rỗng không hiện
thực về mặt vật lý’ . Và cuối cùng, một người ‘tâm
linh’ thì hoặc phớt lờ cái lạnh như một việc không quan
trọng, một hiện tượng nhất thời hay bất thực, hoặc vui
vẻ tiếp nhận nó như một phương tiện để khổ hạnh hay
huấn luyện tính tự chủ.
Tiến bộ
về kỹ thuật và những thói quen tư duy theo khoa học không
ngừng gia tăng giới hạn chúng ta trong vòng thế giới tự
nhiên. Các hiện tượng thần bí và kinh nghiệm tâm linh không
còn quen thuộc với chúng ta nữa, và cá nhân nhiều người
không thừa nhận chúng như những thực tế. Do cơ chế nội
tại cá biệt mà ba địa hạt này khác nhau ở quá trình trải
nghiệm của chúng, những quy luật cho chứng cớ hiển nhiên
hoàn toàn không như nhau trong cả ba mà mỗi cái có tính lô-gíc
riêng của nó. Trong sự mênh mông vô hạn của lãnh vực tâm
linh không có sự kiện đặc thù nào có thể nắm bắt được
bằng những phương tiện tự nhiên, mọi thứ trong thế giới
thần bí đều mang dấu mập mờ vô giới hạn, một sự u
huyền xuất phát một mặt từ cách thái trong đó thế giới
trung gian thể hiện và mặt khác từ những bất định trong
liên hệ với những dữ kiện quen thuộc của thế giới minh
bạch của hiện tượng tự nhiên. Mọi học viên khoa thần
bí đều biết trong lãnh vực này các hiện tượng bổn lai
đều mù mờ tối nghĩa một cách bất khả trị. Quả thật
không thể thấu hiểu một hiện tượng thần bí ngay cả khi
nó được thiết lập bằng cách thức mà với hiện tượng
tự nhiên người ta có thể kiểm chứng được. Thế giới
thần bí luôn mờ ảo. Nó không sáng hẵn, cũng chẳng tối
hẵn; chẳng thể nhìn thấy nó một cách tách bạch và, như
một con thú nhút nhát mà bạn lại chỉa ánh đuốc vào, hiện
tượng tan biến ngay khi ánh sáng xuất hiện.
Tình trạng
còn thất vọng hơn khi chúng ta xét đến lãnh vực tinh thần.
Ở đây tuyệt đối không thể xác lập bất cứ sự kiện
nào vượt qua giới hạn hoài nghi. Phật giáo diễn tả điều
này bằng cách nói Niết bàn là ‘vô tướng’, có nghĩa,
nó thuộc về một bản chất không thể lĩnh hội như là bản
chất thông thường. Đây quả là một tư tưởng làm nãn lòng
nhất. Tinh thần thì phi cảm giác và chúng ta không có dữ
liệu giác quan nào để tác động. Hơn nữa, các hoạt động
tâm linh sẽ tan biến khi bị soi xét. Chúng phải được thực
hiện một cách vô ý thức và tự động nếu không muốn mất
đi vẻ sáng lạn. Xa hơn, để được xem là thuộc về tâm
linh, một hoạt động phải ‘vô ngã’. Chính ở bản chất
của những sự vật tuyệt đối không thể chứng minh dù với
sự minh bạch của toán học mà một hành động được xem
là vô ngã, vì tính vị ngã ẩn khuất rất tài tình, vì kiến
giải về những động cơ nhân bản sẽ thui chột khi tự dối
mình, và, trong mọi trường hợp, bất cứ lúc nào các động
cơ cũng nhiều đến độ không ai có thể đoan chắc là mình
thông hiểu tất cả. I. Kant đã đưa ra tiếng nói cuối cùng
về chủ đề này khi ông vạch rõ “trong thực tế tuyệt
nhiên không thể bằng kinh nghiệm mà hoàn toàn thấu hiểu
một trường hợp đơn lẻ trong đó châm ngôn của một hành
động, dù tự nó là đúng, chỉ đơn giản dựa trên những
nền tảng đạo đức và khái niệm về trách nhiệm. Đôi
khi với sự tự kiểm nghiệm sâu sắc nhất chúng ta cũng không
tìm thấy gì bên cạnh nguyên tắc đạo đức của trách nhiệm
vốn có thể đủ mạnh để chuyển chúng ta hướng về một
hành động này hay hành động kia và về một sự hy sinh lớn;
tuy thế chúng ta không thể vì vậy suy ra một cách quyết đoán
rằng quả thật không có một động lực bí ẩn nào của
sự tự-ái, dưới bề ngoài giả tạo của ý tưởng đó,
rằng đó là nguyên nhân thật sự hình thành nên ý muốn.
Và chúng ta thích tự tâng bốc mình bằng công trạng giả
dối về một động cơ cao thượng, dù thật ra chúng ta không
bao giờ có thể, ngay cả với sự khảo sát nghiêm ngặt nhất,
hoàn toàn thấu hiểu những động cơ bí ẩn của hành động.
Vì lẽ đó, một khi vấn đề thuộc về giá trị luân lý,
điều liên quan đến chúng ta không phải là những hành động
có thể thực mục mà là những yếu tố vô hình ẩn tàng
bên trong chúng. ”
Đây là một
trong những khó khăn không thể tránh của thân phận con người.
Toàn bộ ý nghĩa cuộc đời có thể có đều bắt nguồn từ
sự giao tiếp với thế giới tâm linh huyền bí, mà nếu không
có sự giao tiếp đó đời sống chẳng còn giá trị, lợi
ích và hấp dẫn với vẻ đẹp của nó. Có thể là ngây thơ
khi loại bỏ những phẩm chất tác thành sống của các lãnh
vực này chỉ vì chúng không y theo một chuẩn mực chân lý
chỉ thích hợp với thế giới tự nhiên, nơi đối với nhà
khoa học các hiện tượng chỉ đáng quan tâm khi chúng có khả
năng tái lặp, có thể quan sát và định lượng đuợc. Một
cách tự nhiên chúng còn khó thấu đạt kinh nghiệm tự nhiên
hơn các hiện tượng tự nhiên. Những phương pháp khoa học,
dù mạnh mẽ và hiệu quả, vẫn tỏ ra vô dụng trước việc
khám phá hai phần ba vũ trụ, và các lãnh vực tâm lý và tinh
thần hoàn toàn nằm ngoài tầm tay chúng. Có những khả năng
khác bên trong chúng ta có thể khám phá điều mà các giác
quan bất lực. Trong tín ngưỡng Phật giáo, trực giác huyền
bí, sự xuất thần và sức mạnh của trí tuệ siêu việt
được vận dụng để khám phá xơ cấu của các thế giới
tâm linh trung gian. Không ai được coi là có vận hội tốt
để đến với tư duy Phật giáo nếu người đó nhất mực
lên án những nguồn tri thức ngoài tầm tay này là phù phiếm
và vụn vặt.
2b. Kế đến,
triết học muôn thuở giả định có ba ‘cấp thực tại’
rõ ràng. Trong sách này chúng ta sẽ nghe nói ‘dharmas’ (pháp)
‘thật’ hơn vật, những hình ảnh trong định ‘thật’
hơn các đối tượng của giác quan, và Vô vi ‘thật’ hơn
cái hữu vi. Nhiều người ngày nay có thể hiểu được sự
khác nhau giữa những sự kiện có thật và những ‘phi sự
kiện’ không có thật. Nhưng họ tin rằng sự kiện, nếu
có thật, hết thảy đều có thật ngang nhau, và rằng những
dị biệt về phẩm tính của chúng không có nghĩa gì. Đây
là quan điểm ‘dân chủ’ đang thịnh hành trong thời hiện
đại, xem mọi sự kiện đều bình đẳng y như mọi người
được xem là bình đẳng ngang nhau*. Trong khoa học không có
gì gọi là ‘có ý nghĩa’; những ‘sự kiện’ là tất
cả những gì mà bạn từng có.
Trong thời
kỳ hưng thịnh của Phật giáo, điều này dường như là đỉnh
cao của sự phi lý. Cũng vậy các hệ thống chủ đạo của
châu Âu vào thời đó, như của Aristotle và Plotinus, đã xem
hệ thống đẳng cấp của thực tại là hiển nhiên và hoàn
toàn căn cứ vào đó. Cấp thực tại thấp nhất là ‘thuần
vật chất’, cấp cao nhất là ‘thuần hình thái’, còn lại
tất cả đều nằm đâu đó giữa hai mức độ này. Những
mức độ thực tại cao thì vững chắc và đáng tin cậy hơn,
đáp ứng một cách thông minh hơn, và trên hết là chúng ‘tốt
hơn’ các mức độ thấp một cách khách quan, có giá trị
hơn nhiều. Ens et bonum convertuntur. Do đó sự tiếp xúc với
những mức độ thực tại cao đòi hỏi một cuộc sống mà
về mật phẩm chất cao hơn người dựa vào sự tiếp
xúc với những cấp độ thấp hơn. Đây là mẩu xương mắc
trong cổ thế hệ hiện tại. Vì ở đây chúng ta thừa nhận
những ‘thẩm định về giá trị’ không chỉ là những ý
kiến chủ quan, vốn thay đổi tuỳ theo tâm trạng con người
hay thị hiếu hoặc địa vị xã hội của họ, mà chúng còn
có nguồn gốc sâu xa trong cấu trúc và trật tự của chính
thực tại khách quan*.
Nếu giá
trị của cuộc sống tuỳ vào sự tiếp xúc với một mức
độ thực tại cao, thì đương nhiên điều quan trọng là xác
định xem thực tại là gì trong tận bản chất riêng
(svabhāva) của nó, và điều quan trọng nữa là có thể phân
biệt chúng với những thực tại kém hơn tương đối hư cấu
đã làm nên thế giới kinh nghiệm bán-xã hội hoá thông thường
mà chúng ta đã tự dựng lên cho phù hợp với những mục
tiêu riêng. Thiết lập nên sự giao tiếp với chân thực tại
luôn là mối quan tâm của những nhà diễn giải về nền triết
học ‘muôn thuở’, nghĩa là những triết gia đáng kính trọng
của cả châu Âu lẫn châu Á cho tới khoảng năm 1450.
Khoảng thời
gian này châu Âu bắt đầu sự xa lánh thực tại vốn là khởi
điểm của nền triết học Tây phương hiện đại nhất. Nhận
thức luận thay thế bản thể luận. Chỗ nào bản thể luận
chú tâm vào sự khác nhau giữa thực tại và giả hiện thì
nhận thức luận lại chú tâm vào sự khác nhau giữa chân
hay ngụy tri thức. Những nhà theo chủ nghĩa Occam* đã
kiến thiết nét chung cho tất cả mọi giai đoạn sau này của
triết học hiện đại đã khẳng định rằng vạn vật tự
chúng không quan hệ gì với nhau, và rằng một ý thức ngoại
tại bàng quang đối với chúng sẽ thiết lập những quan hệ
giữa chúng với nhau. Như vậy bản thể luận như một giáo
thuyết duy lý mất đối tượng của nó và mọi vấn đề
liên quan đến hữu thể như là hữu thể (qua being) hình
như chỉ là lời nói suông. Khoa học tự thấy không nên quan
tâm đến bản thân vạn vật mà đến những chỉ dấu và
biểu tượng của chúng, và nhiệm vụ của nó là cung cấp
một tập họp các hình thức ngoại hiện (salvare apparentias)
bất cần sự hiện hữu in esse et secundum rem (trong thể tính
và theo thực tại) của những cơ cấu giả định của nó
. Hậu quả là các nhà tư tưởng chỉ mưu tìm những ‘điều
bịa đặt thành công’ và ‘thực tại’ trở thành một
từ sáo rỗng.
Điều đáng
chú ý là 1400 năm trước những nhà Phật giáo Đại thừa
đã giảng dạy gần như cùng một chủ đề này. Họ biết
rõ việc mình xa lánh thực tại là để mưu tìm một thực
tại thực hơn cái nhìn thấy xung quanh họ, nghĩa là chính
pháp-giới (dharma-element) của vạn pháp. Triết lý hiện tại
kết luận rằng tốt hơn chúng ta nên từ bỏ những ý tưởng
mơ hồ kiểu như vậy về thực tại, và hãy tập trung vào
việc sở đắc sức mạnh chinh phục môi trường xung quanh
như nó đang hiển hiện. Cái sức mạnh do ai và vì ai? Một
nền triết học chủ trương chỉ cái đặc thù duy nhất hiện
hữu và cái phổ quát chỉ là những từ sáo rỗng, lại đi
tìm nương náu nơi cái trừu tượng được gọi là ‘con người',
mà cách nào đó được coi như hình thái cao nhất của hữu
thể có lý trí và vì lợi ích của nó mà phát sinh mọi sự
phát triển. Đối với Long Thọ (Nāgārjuna) và những người
kế thừa ông điều này dường như tự nó biểu hiện một
sai lầm nghiêm trọng về lý luận ở ngay chỗ căn bản nhất
của những học thuyết kiểu như vậy.
2c. Điểm
cuối cùng, và điều này dễ hiểu hơn nhiều, rằng cái cấu
trúc đẳng cấp của thực tại là bản sao của và được
phản chiếu trong chính hệ thống đẳng cấp giữa những cá
nhân đi tìm sự tiếp xúc với nó. Đồng thanh tương ứng,
và chỉ có tâm linh mới có thể hiểu những sự kiện tâm
linh. Trong một cố gắng đưa Phật giáo đến thời hiện đại,
vài nhà truyền giáo đã quá nhấn mạnh tính chất lý trí
và gần gũi với khoa học của nó. Họ thường dẫn lời của
đức Phật nói với nhóm Kalama rằng họ không nên chấp nhận
bất cứ gì khi chỉ căn cứ vào mỗi mình nó mà phải tự
mình thử nghiệm, khảo sát nó và chỉ chấp nhận nó khi bản
thân mình đã biết, đã thấy và đã cảm nhận nó .
Nói như vậy họ đã đưa đức Phật vào hàng ngũ những người
ủng hộ truyền thống triết lý Anh quốc về ‘chủ nghĩa
duy nghiệm’. Nhưng ai là người có thể làm việc khảo sát
đó? Vài khía cạnh của học thuyết rõ ràng chỉ có thể
kiểm nghiệm bởi những người có các phẩm chất đặc biệt
quí hiếm. Để thực sự kiểm chứng được thuyết tái sinh
bằng sự quán sát trực tiếp, người ta phải thực sự nhớ
được những tiền kiếp của mình, một khả năng được
coi là chỉ thành tựu ở cõi thiền thứ tư, trạng thái tịch
tĩnh cực kỳ tinh tế rất khó đạt. Vậy kiến giải cần
phải sâu rộng và chín chắn đến mức nào để thật sự
‘biết’ rằng nhân tố quyết định trong mỗi sự kiện
là ‘tinh thần’, hay rằng Niết bàn là sự chấm dứt mọi
đau khổ ? Vả chăng phẩm chất, đó là tính sống động,
chứ không chỉ là trí tuệ. Phật giáo hẳn phải nói nhiều
về hệ thống đẳng cấp tinh thần của cá nhân, vì con người
thế nào thì biết và thấy thế ấy. Như vậy hiền thánh
thì biết nhiều hơn phàm phu, và giữa các hiền thánh thì
bậc cao hơn tất biết nhiều hơn bậc thấp. Thế nên, ý kiến
và kinh nghiệm của thế gian thì có hạn, như những lời lằng
nhằng của đám thợ sơn phê bình bức ‘Virgin of the Rocks’
của Leonardo da Vinci vậy.
3. Phật giáo
có vẻ giống những tôn giáo khác trên thế giới hơn là giống
khoa học hiện đại , và đặc tính tôn giáo của nó ảnh
hưởng đến tư duy của nó ít nhất theo hai cách.
3a. Mãi đến
gần đây hết thảy mọi xã hội đều đương nhiên tách bạch
giữa thần thánh và thế tục . Một số nơi được xếp riêng
ra như những ‘chốn thiêng liêng’, và không gian được phân
loại thế nào thì trong lãnh vực ngôn ngữ cũng như thế.
Một số từ thuộc loại ‘thiêng liêng’, số khác mang tính
lý trí hay thông tục. Những thuật ngữ thiêng liêng sẽ bị
hiểu méo mó nếu được sử dụng trong chiều hướng thuần
lý. Ví dụ dễ hiểu nhất là từ ‘Thượng đế’. ‘Thần
học tự nhiên’, hay những nhà Thần luận, sử dụng nó như
một thuật ngữ mang tính lý trí. Nhưng, với Pascal thì cụm
từ ‘Thượng đế của những triết gia’ là cái gì khác
hẳn với ‘Thượng đế của Abraham và Isaac’. Một giáo
sư khả kính ở Oxford đã cho thấy sự mù mờ của ông trong
việc phân biệt này khi ông chỉ trích Jehovah đã tự miêu
tả mình bằng câu nói thừa ‘Ta là cái mà ta là’ (I am that
I am) khi thật ra đáng lẽ ngài phải nói một cách chính xác
ngài là gì (what he was). Suy nghiệm thích đáng của M.
Eckhart về câu nói này trong ‘Sách về sự lưu đày’ cho
thấy từ Ho On rõ ràng là một thuật ngữ thiêng liêng rất
thâm thuý. Không người nào nghiên cứu các kinh điển nguyên
thuỷ của Phật giáo mà không nhận thấy nơi chúng đầy rẫy
những thuật ngữ thiêng liêng chẳng hạn như Pháp (Dharma),
Phật (Buddha), Thế tôn (Bhagavat), La hán (Arhat, Thánh giả),
Niết bàn (Nirvana), hay Như lai (Tathāgata) . Sự nổi trội của
chúng mang lại nhiều kết quả quan trọng.
Trong chừng
mực nào đó nó giải thích lý do của sự mơ hồ và đa trị
của hầu hết các thuật ngữ then chốt của triết học Phật
giáo. Sự phớt lờ ‘tính tất yếu tiên quyết của một
ngôn ngữ lý tưởng’ vốn ‘nên có một tên gọi cho mọi
sự đơn giản nhưng không bao giờ dùng cùng một tên gọi
cho hai trường hợp đơn giản khác nhau’ chưa chắc chỉ
vì bất cẩn hay thiếu suy nghĩ. Cũng không thể đổ thừa
là từ vựng tiếng Phạn nghèo nàn, mà thật ra tiếng Phạn
có một biên độ từ đồng nghĩa về triết học rộng rãi
hơn bất cứ ngôn ngữ nào trừ tiếng Hy lạp. Có lẽ đặc
tính thiêng liêng của các thuật ngữ được sử dụng rất
có trách nhiệm. Phân tích kỹ hơn những từ như manasikāra
(tác ý), upekṣā (xả), dhātu (giới) hay ākāśa (hư không)
ta thấy chúng bao hàm ý nghĩa vô cùng phong phú. Nếu những
người học Phật sau này không phân biệt được những ý
nghĩa này bằng các thuật ngữ riêng, đó là vì những thuật
ngữ truyền thống dù đa trị, đã được thần thánh hoá
bởi sự kiện chúng đã được chính đức Phật sử dụng.
Và do đó nếu thay thế chúng bằng những thuật ngữ thông
tục, dù có thể chính xác hơn, cũng sẽ là bất kính hay báng
bổ.
Còn có những
nguyên do khác cho tính đa trị của các thuật ngữ Phật giáo.
Những nguyên do liên quan đến cốt lõi thiêng liêng một cách
riêng biệt của học thuyết phơi bày ý nghĩa của chúng trong
trạng thái tán dương mang tính tôn giáo. Tạo cho chúng một
định nghĩa rành mạch hợp lô-gic hình như là một việc chẳng
đáng bõ công. Vã chăng, sự phân biệt về ngữ nghĩa chỉ
cần thiết khi sự truyền thông bị bế tắc. Giữa những
tình nhân thì sự truyền thông thật quá dễ. Họ hoàn toàn
hiểu rõ nhau, vì người này bằng trực giác biết ngay những
từ người kia dùng có ý nghĩa gì. Thiếu một sự đồng cảm
như thế thì mọi từ ngữ đều phải được định nghĩa,
tuy vậy hiểu lầm bao giờ cũng phát sinh nhanh hơn tốc độ
sửa chữa chúng. Tư tuởng Phật giáo được thiết lập là
cho một samgha – tăng già - một đoàn thể những người cùng
ý tưởng mà, trên lý thuyết, ít nhất họ là đồng đạo
chứ không phải là đối thủ, có cùng sự rèn luyện tu tập
và không bao giờ bất đồng trên những điểm cơ bản, và
người này luôn hiểu được tiến trình tâm linh của người
kia. Khi họ nghe những thuật ngữ này họ đơn giản ‘hiểu’
chúng có nghĩa gì, như một người Anh học thức có thể hiểu
một đoạn văn phức tạp không cần tra từ điển, nhưng dù
vậy lại không thể chuyển tải ý nghĩa đầy đủ của những
từ đó đến những người ít học. Trên thực tế, nghĩa
của một từ được định ra qua quá trình sử dụng nó giữa
những thành phần ưu tú trong cuộc, những người hiếm khi
gặp khó khăn. Chỉ khi cần truyền đạt nó cho người ngoài
cuộc thì những ‘định nghĩa’, những khác biệt về ngữ
pháp vv… mới thành cần thiết. Một học thuyết cứu khổ
như Phật giáo trở thành ‘triết học’ khi nội dung trí
thức của nó được đem ra diễn giảng cho người ngoại cuộc
. Đây không phải là một công việc đáng nên làm, nhưng trong
sách này tôi thử đảm nhận, và không bao giờ quên rằng
điều đó hàm chứa sự thất thoát lớn nội dung của nó.
3b. Có bốn
nguồn tri thức khả dĩ, là (1) nhận thức qua giác quan, (2)
lý trí, (3) trực giác và (4) khai thị. Phật giáo đồ coi tri
thức qua giác quan về căn bản là sai lầm. Nếu lý luận có
nghĩa là suy luận từ những cứ liệu giác quan, nó bị lên
án cũng sai lầm như cơ sở của nó. Thay vào đó, như trong
chủ nghĩa duy lý Tây phương, nó có thể có nghĩa là sự lãnh
hội về một thế giới có thể tri thức đuợc, để phân
biệt với thế giới có thể cảm giác được. Những người
theo chủ nghĩa duy lý Tây phương cho rằng ít nhất có bốn
loại hiện tượng khác nhau không thể đuợc diễn dịch từ
những cứ liệu giác quan: những qui luật của luận lý, qui
luật của toán học, những nguyên tắc đạo đức (khác với
những phép tắc đạo lý) và ‘qui luật tự nhiên’ (khác
với những qui luật hiện hành của bất kỳ xã hội đặc
định nào)*. Trong lược đồ về vạn hữu của Phật giáo,
nghiên cứu về dharmas là sự tiếp cận duy lý những thực
thể khả tri. Tri nhận (jñāna) được hình thành từ sự tập
chú vào vạn pháp (dharmas) . Những nhà Phật học chuyên môn
về Abhidharma này đã tạo ra phái duy lý cho tôn giáo của họ*.
Tính duy lý
trí của phái Abhidharma dù như vậy, vẫn đòi hỏi bốn phẩm
chất. (1) Sự tiếp cận về lý trí chỉ có tính tạm thời
và dự bị và cần được tiếp theo bằng một trực giác
tâm linh mà đặc tính trực tiếp và phi khái niệm của nó
được nhấn mạnh bằng việc sử dụng những từ như ‘thấy’,
‘cảm nhận’, ‘cảm xúc của cơ thể’. Về Dharma, như
những vị đã giải thoát «nhìn thấy» nó, đức Phật nói
rằng nó ‘sâu sắc, khó thấy, khó biết, tịch tịnh, vi tế,
không thuộc cảnh giới tư duy phân biệt (atarka-avacara), vi
tế, chỉ có thể kinh nghiệm bởi những trí giả’.
Ở đây những khái niệm định sẵn không còn giá trị, và
cái gì nằm ngoài thế giới khả tri giác của những giả
tướng cũng vượt ngoài địa hạt tư tưởng luận lý. (2)
Sự tuyển trạch và định nghĩa về các pháp được thừa
nhận bởi Abhidharma không phải là kết quả của sự khảo
sát độc lập mà phần lớn dựa vào những lời nói ra của
đức Phật. Hành trì của phái Abhidharma không chỉ bao hàm
tri thức về những đề mục được xác định bởi truyền
thống như dharma, mà còn sẵn sàng chấp nhân chúng như những
sự thể cứu cánh theo bản chất của chúng. (3) Chỉ có Phật
hay La hán mới có những kinh nghiệm đủ rộng và đủ sâu
để khảo sát toàn bộ phạm vi chân lý, và sự chứng nhận
của các ngài do đó là nguồn gốc và sự bảo đảm tối
hậu của chân lý cho tất cả ngoại trừ những vị toàn giác.
(4) Thế nhưng nếu chân lý của Dharma không thể hoàn
toàn được xác lập bằng lý trí, thì lý tính Phật giáo
có cốt yếu ở chỗ nó không dạy bất cứ điều gì mà không
tương hợp với lý trí không? Điều này vẫn thường được
khẳng định. Không có một tiêu chuẩn khách quan nào, tuy thế,
tách rời cái hợp lý bẩm sinh với cái vốn không hợp lý.
‘Lý tính’ tuỳ vào thói quen tư duy của chúng ta và tuỳ
những gì chúng ta được giáo dưỡng để tin.
Nếu tư duy
túc lý được áp dụng vào đó, bất cứ mệnh đề nào, dù
thoạt trông có vẻ phi lý, cũng có thể khiến cho trở thành
chấp nhận được. Mọi người đều có thể thấy điều
này khi nhìn một tín đồ ca-tô-lích được đào luyện bằng
thần học Thomas biện hộ cho các phép lạ, sự giáng sinh vô
nhiễm của Chúa Ki-tô, hay ngay cả sự kiện thăng thiên của
đức Mẹ đồng trinh. Cũng vậy, khi nhìn thấy thich hợp, những
tín đồ Phật giáo có khả năng trình bày rất nhiều điều
hợp lý thú vị, nhưng rốt cùng tính hợp lý này được dùng
để phỉnh dụ người khác chấp nhận những sự chệch hướng
xa rời tục thức một cách đáng kinh ngạc.
Hẳn có vẻ
khó nuốt và khó tin đối với trí năng đương thời,
Phật giáo trước hết dựa vào sự khai thị chân lý bởi
một đấng toàn trí, được biết là đức ‘Phật’, và
kế đến là trực giác tâm linh* của những bậc hiền thánh.
Trong mọi tranh luận sự viện dẫn tối hậu vẫn là, không
phải kinh nghiệm của bất cứ ông Giáp hay ông Ất nào đó,
mà của đức Phật toàn giác, được đúc kết thành ‘lời
của Phật’. Không như các tín đồ Ki-tô giáo, người Phật
tử không có sách phúc âm nhỏ gọn, dễ mang, quyết đoán
dù cực kỳ mơ hồ mà mọi tín đồ đều biết và chấp nhận.
Vì vậy họ gặp một số khó khăn trong việc đạt đến một
tiêu chuẩn về tính xác thực của một bộ kinh, nhưng những
rắc rối hệ quả đó nằm ngoài mục tiêu của sách này.
Hạnh Viên
* Nguyên tác Anh
ngữ ‘Buddhist Thought in India’ của Edward CONZE, Giáo sư thỉnh
giảng về Phật giáo tại Đại học Washington, Phó Chủ tịch
Hội Phật giáo London. Trong số này chúng tôi trích đăng chương
1. – ND.
Ngoại trừ
số tương đối ít là các nhà Thuận thế Cārvākas, hay ‘duy
vật’.
Châm ngôn
này trích từ Bhagavadgīta II 58 có thể được coi như tôn chỉ
của mọi trường phái Yoga:
Yadā saṃharate
cāyaṃ kūrmo’ṅgānīva sarvaśaḥ, indriyānīndriyārthebhyas
tasya prajñā pratiṣṭihitā. (Kẻ nào khéo giữ các giác quan
của mình xa khỏi các đối tượng của giác quan, như con rùa
biết giữ mình trong lớp vỏ vững chắc, thì trí tuệ sẽ
vững chắc. – Radhakrishnan.)
Tác phẩm
toàn diện và đủ thẩm quyền nhất, cuốn ‘M. Eliade, Yoga.
Sự bất tử và giải thoát’, 1958
* Cứ liệu của
sự nội quán đã gây ra nhiều bất ổn trong biểu đồ các
sự kiện này. Giải pháp hợp lý nhất có lẽ là của chủ
nghĩa Hành vi (Behaviourism), biến cải những sự kiện tâm lý
thành các đối tượng ngoại tại khả dĩ quán sát được.
K. Nott,
the Emperor’s Clothes (Y áo của vị Hoàng đế), 1953, p. 248
* Quis neget esse
nefas invitum prendere mundum
Et velut in semetcaptum
deducere in orbem? (Manilius II, 127-8)
A. David
Neel, ‘With mystics and magicians in Tibet’ (Với huyền học và
những thuật sỹ Tây tạng), p. 203. Chi tiết hơn về Nadis,
xem ‘Tibetan painted scrolls’ (Những hoạ phẩm hình vòng tròn
của Tây tạng) của G. Tucci, 1949, và ‘An Introduction to Tantric
Buddhism’ (Dẫn luận về Phật giáo Mật tông) của S. B. Dagupta,
1950.
I. Kant,
Metaphysics of morals (Siêu hình học về luân lý) trsl. T.H. Abbott,
1879, p. 33.
* Cấu trúc về
vũ trụ luôn luôn phản ánh cấu trúc của xã hội. Tương
tự, thật thú vị khi ta nhận thấy những người thay thế
bản thể luận bằng nhận thức luận là những người Tin
lành bác bỏ thẩm quyền tập thể, trong khi đó những người
Thiên chúa giáo, Mác-xít và Phật giáo tin là những trạng
thái có ý nghĩa có thể đến từ ‘bản chất’ của vạn
hữu.
* Hơn nữa, đương
nhiên, cái giả định về những dị biệt về phẩm chất
trong giá trị của cuộc sống hoàn toàn không có cơ sở khoa
học, vì ‘khoa học’, như chúng ta biết, không thạo về
phẩm chất mà chỉ thạo về số lượng. Cũng vậy không ai
đòi hỏi năng lực đạo đức nơi các nhà khoa học, và phẩm
chất cuộc sống của họ không quan trọng khi người ta phán
xét các phát minh của họ.
Chi tiết
hơn, xem thêm SW, pp. 205-66, và tổng mục tiếng Anh tạp chí
Tam cá nguyệt Marxist, 1937, pp. 115-24.
MN I, p.
265; T. 26, k.54, p. 769b. Ch. A. Moore, Phật giáo và Khoa học: Cả
hai phương diện, trong ‘Phật giáo và Văn hoá’, Kyoto 1960,
p. 94.
* William of Occam
(1270-1349), triết gia Anh, được gọi là The invincible Doctor.
- ND
Điều
này đã được Moore chỉ ra một cách đầy thuyết phục trong
bài viết của ông (ct. nêu trên)
Về chủ
đề này, xem thêm M. Eliade, Das Heilige und das Profane, 1957
Meister
Eckhart, trsl. J. M. Clark và J. V. Skinner, 1958
Xem BS 13-15
B. Russell
quot. PhEW viii 111
Tìm hiểu
sự lệ thuộc của tư tưởng Phật giáo vào nếp sống Phật
giáo, xem thêm Suzuki St. 163, 169, 285, cũng như F. 61.
* Vài người
vẫn cho rằng khoa học hiện đại có quan hệ với những ‘thiết
lập về khái niệm’, và khó mà xác định sự liên quan giữa
chúng với những cứ liệu giác quan. B. Russell đã từng đề
nghị nhiều giải pháp nhưng chưa có giải pháp nào thoả mãn
đuợc ông hay người khác.
VM. 132,
485
* Tất nhiên
cũng có vài tác giả hiện đại làm cho Phật giáo thành hoàn
toàn duy lý bằng cách loại bỏ hết siêu hình học, sự hóa
thân, thần thánh, phép lạ và những năng lực siêu nhiên.
Phật giáo đó của họ không phải là Phật giáo của những
tín đồ đạo Phật.
Grimm, pp.
30, 389-94. Ad. F. 222a.
* Thật khó đưa
ra một định nghĩa về ‘trực giác tâm linh’ cho phù hợp
với mọi trường hợp. Hiểu theo Phật giáo thì nó khác xa
cái ‘tính sáng tạo đích thực’, ‘sự hiệp thông với
vũ trụ’ hay ‘cái hiểu biết toàn năng’ của những người
đặc biệt xuất sắc như Nostradamus, Jacob Boehme hay William Blake.
Xem E. Lamotte,
La critique d’authenticité dans le Bouddhisme (Phê bình tính xác
thực trong Phật giáo), trong India Antiqua, 1947, pp. 213