I.
NHÂN CÁCH HUYỀN THOẠI.
Vaisālī (Tỳ-da-li)
, thủ phủ của Vraji (Bạt-kỳ), một cường quốc theo chế
độ cộng hòa thị tộc của người Vraji, mà các lân bang
quen gọi là Licchavī, là một đô thị phát triển trù phú
thời đức Thích Tôn tại thế, và những người Licchavī giàu
có, vinh quang, được ví như các thiên thần cõi trời Đao-lợi
(Trayastri'sa) .
Một buổi
sáng, có tiếng trẻ khóc trước vườn Thượng uyển của
nhà vua. Người giữ vườn ra xem, bắt gặp một bé gái bị
bỏ rơi dưới một gốc xoài. Ông ẳm bé gái về nuôi và
đặt tên là Amrapālī , với ý nghĩa là người con gái được
bảo vệ bởi gốc xoài.
Lớn lên,
sắc đẹp của nàng không những rục sáng cả nước, mà còn
chói rạng xa đến những địa phương mà tiếng đồn có thể
lan đến. Nhan sắc của nàng che mờ trí tuệ và dũng lược
của các vương tôn, công tử, những người Licchavī giàu có,
thế lực. Nàng trở thành đối tượng tranh chấp của họ.
Để tránh cho sự tranh chấp không trở thành xung đột quyết
liệt, họ thỏa thuận Amrapālī là bảo vật chung. Định mệnh
bắt nàng phải trở thành một kỹ nữ. Và cũng từ đó, Vaisālī
trở thành một vườn hoa chói lọi bởi sắc đẹp thiên kiều
bá mỵ của Amrapālī, thu hút khá nhiều tài sản vật chất
của các vương tôn, và của cả những quân vương đầy quyền
uy. Trong đó có cả vua Bimbisāra , vua nước Magadha hùng cường
bậc nhất vào thời bấy giờ. Vua một thời là bạn của
Thái tử Siddhārtha, và sau đó là đệ tử thành tín của Phật.
Amrapālī sinh cho Bimbasāra một người con . Một con người
được sinh ra từ những đam mê trụy lạc của một quân vương
và một kỹ nữ. Nhưng, đó sẽ là một đóa sen từ bùn lầy
hôi tanh mà vươn lên với hương sắc thuần tịnh. Họ đặt
tên cho con mình là Vimala , không ô nhiễm, hay sẽ dứt sạch
ô nhiễm. Quả nhiên, về sau Vimala xuất gia theo Phật, rồi
chứng đắc quả A la hán.
Đó là một
Vimala ẩn sỹ. Từ thanh lâu đi vào rừng tía. Lang thang với
một bình bát và ba y. Hạnh phúc với đời sống tri túc.
Nhưng, còn
một Vimala khác không chỉ làm chói sáng Vaisālī như một nhân
vật huyền thoại. Một con người mà danh tiếng không chỉ
được đồn đãi giữa các vua chúa, các phú gia địch quốc,
giữa các trà đình tửu quán, giữa các chốn thanh lâu trụy
lạc; mà danh tiếng ấy còn vang xa đến tận cùng biên giới
của vũ trụ, nếu vũ trụ có biên giới; được các Thánh
nhân, các Bồ-tát kính trọng; được các đức Phật tán dương.
Đó là danh tiếng không chút ô nhiễm ngay dù được truyền
tụng giữa bùn lầy ô nhiểm. Đó là một Vimala-kīrti. Là
một Thánh nhân nhưng không hề ở trên cõi Thánh thanh tịnh
vô vi. Đó cũng là một tay lạc phách giang hồ, mà trong lòng
tay, dung sắc vi diệu của các thiên nữ trở thành thể tính
Chân không vi diệu.
Có một nhân
vật lịch sử như thế chăng, hay đấy chỉ là một nhân vật
hư cấu để biểu tượng một tư tưởng triết học hay một
lý tưởng Bồ-tát đạo của Phật giáo Đại thừa?
Có thể trả
lời một cách dứt khoát rằng đó là một nhân vật lịch
sử, xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của lịch
sử phát triển Phật giáo nói chung, và trong thời kỳ vận
động của Đại thừa.
Một con người
có thật được trang bị với một cơ sở tư tưởng bất
nhị (advaita) để có thể tự nâng lên hàng Thánh giả vượt
ngoài tam giới nhưng đồng thời có thể hạ mình ngập lụt
trong thế gian ô nhiễm mà vẫn không tách lìa thế giới thuần
tịnh vô nhiễm.
Một
con ngưòi có thật, sống trong trạng thái an nhiên giải thoát
bất khả tư nghị, đã bưng ngọn đèn trí tuệ ra khỏi các
hang động tĩnh mặc, từ các thâm sơn cùng cốc, để rọi
sáng đường đi cho những con người đang mãi chìm đắm trong
bùn lầy hôi thối bỗng phát hiện chân diện mục của mình
nguyên lai là thanh tịnh. Đó là một nghệ sĩ lớn, bằng du
hí thần thông tam muội, hằng rong chơi trong sáu nẻo luân
hồi, với những chất liệu thấp hèn, dơ bẩn, đã nắn thành
những tác phẩm thánh thiện tuyệt vời. Lịch sử nhân loại
nếu chưa từng xuất hiện một, hay nhiều nhân vật như vậy,
thì thế giới này chỉ là một sa mạc nóng bức đầy quái
tượng dã thú. Đó là một khẳng định mang tính bản thể
luận, và cũng là yếu tính lịch sử phát triển của xã hội
loài người.
Chính vì,
trong một thời kỳ nhất định, tất yếu xuất hiện một
nhân vật hiện thực như vậy để làm sáng tỏ khát vọng
vĩnh cửu của con người, thúc đẩy lịch sử chuyển hướng
sang một giai đoạn mới; và đã có nhiều nhân vật lịch
sử như vậy, cho nên hình ảnh một Vimalakīrti hiện thực
được hoá thân thành nhân vật huyền thoại. Nói cách khác,
từ một con người hiện thực, Vimalakīrti trở thành biểu
tượng cho tác nhân lịch sử. Thế nhưng, đó là con người
mà chúng ta sẽ học tập ở đây, như là một cách người
nhân cách hóa cho lý tưởng của Đại thừa Bồ-tát.
II. Ý NGHĨA
NHÂN CÁCH VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Vimalakīrti-nirdeśa,
đó là đề kinh tiếng Phạn được khôi phục dựa trên các
bản dịch và chú giải của Hán tạng.
Chú Duy-ma-cật
kinh dẫn lời giải của La Thập (Kumarajīva): «Duy-ma-cật,
tiếng nước Tần (Trung hoa) nói là Tịnh Danh. Tức là một
người trong số năm trăm đồng tử . Từ nuớc Diệu hỷ ,
du hành đến cõi này. Sau khi làm xong những việc cần làm,
lại trở về chỗ cũ.» Cùng tác phẩm, dẫn lời giải của
Trúc Đạo Sinh : «Duy-ma-cật, tiếng Hoa nói là Vô Cấu Xưng.
Do bởi lẩn hành vi trong ngũ dục mà siêu nhiên không vấy
bẩn, danh thơm lan khắp xa, nên có tên như vậy.»
Tịnh danh
huyền luận , Cát Tạng, dẫn chứng giải thích của Chân Đế
Tam tạng: «Nói đủ theo tiếng Phạn, thì phiên âm là Tỳ-ma-la-cật-lị-đế.
Trong đó, tỳ nghĩa là diệt, ma-la nghĩa là cấu (cáu bẩn),
cật-lị-đế nghĩa là minh (tiếng hót). Tổng hợp lại, có
nghĩa là diệt cấu minh (tiếng hót không vấy bẩn).» Và Cát
Tạng nêu ý kiến: «Minh (tiếng hót) cũng có nghĩa là danh
(tiếng tăm) vậy.» Trước đó , Cát Tạng cũng nêu ý nghĩa
có tính cách biểu tượng về Tịnh Danh: «Do tịnh đức được
chứa đấy bên trong, và danh tiếng tốt đẹp truyền khắp
thiên hạ, nên được gọi là Tịnh Danh.»
Theo những
giải thích dẫn trên, Tịnh Danh được hiểu như một danh
từ mô tả một nhân cách hay một phẩm tính được nhân cách
hóa. Tịnh Danh, như vậy, không nhất thiết phải là tên của
một nhân vật lịch sử có thật nào đó, mà là một đức
tính hay một giá trị phổ quát được nhân cách hoá từ lý
tưởng Bồ-tát đạo của Đại thừa. Nói rõ hơn, Tịnh Danh,
hay Vô Cấu Xưng, biểu trưng tinh thần nhập thế của Đại
thừa Bồ-tát. Và như vậy, tên kinh Vimalakīrti-nirdeśa, dịch
là Duy-ma-cật sở thuyết theo ngài La Thập, hay Thuyết Vô cấu
xưng theo ngài Huyền Tráng, có thể được hiểu theo hai nghĩa.
Thứ nhất, đó là tác phẩm ghi lại những trần thuật của
Vimalakīrti, một nhân vật lịch sử sáng chói nhất trong phong
trào vận động Đại thừa. Thứ hai, đó là tập hợp của
học thuyết về sự vinh quang không ô nhiễm. Với ý nghĩa
thứ hai này, kinh còn có tên khác nữa, gọi là Bất tư nghị
giải thoát . Căn cứ theo nội dung, tư tưởng của Vimalakīrti
thuộc hệ Bát-nhã, mà đỉnh cao ở đây là lý bất nhị (advaita)
được diễn tả bằng sự im lặng của Vimalakīrti trước
câu hỏi của Bồ-tát Văn-thù (Mañjuśrī). Về mặt thực tiễn
hành đạo, như giải thích của Đại sư Trí Khải, Duy ma kinh
huyền sớ , dẫn chứng phẩm 7 «Quán chúng sinh»: «Đối với
hạng người tăng thượng mạn, Phật nói diệt trừ dâm, nộ,
si là giải thoát. Với hạng người không tăng thượng mạn,
Phật nói thể tính của dâm, nộ, si chính là giải thoát.»
Và Đại sư nêu ý kiến: «Thể tính dâm, nộ, si là chân tính
bất tư nghị, lấy giải thoát làm thể.»
Bởi vì Đại
sư Trí Khải là người sáng lập Thiên thai tông, lấy kinh
Pháp hoa (Saddharma-puṇḍarika-sūtra) làm sở y, do đó từ ngữ
tăng thượng mạn (abhimāna) trong trích dẫn trên cần được
hiểu theo nội hàm của Pháp hoa. Đó là từ ngữ chỉ những
vị A-la-hán tự thỏa mãn với Thánh quả mà các ngài đã
chứng, với một cứu cánh duy nhất là nhập Niết-bàn không
lưu lại dấu tích như ngọn lửa tắt khi chất đốt đã hết.
Trên phương
diện tư tưởng, Duy-ma-cật phê phán tất cả giáo pháp không
chỉ của Thanh văn, mà còn luôn cả Đại thừa; dù rằng các
giáo pháp ấy được tin tưởng là do chính đức Thích Tôn
đã thuyết giảng. Nhưng rồi, như chúng ta sẽ thấy trong chính
văn, sự phê phán của Duy-ma-cật không có tác dụng đả kích
và bác bỏ, mà là lật ngược các điểm giáo pháp để có
thể nhìn rõ những hàm ẩn dưới nhãn quang khác. Tuy khẳng
định, «Tính thể của tham dục, sân hận và si mê chính là
giải thoát,» nhưng khi hiện bịnh, Duy-ma-cật ứng dụng sự
hiện bịnh ấy như là phương tiện thực tiễn để diễn
giải cho các cư sỹ tại gia về bản chất của tồn tại:
«Này các nhân giả, thân này là vô thường; là pháp yếu
ớt, không chắc thật, chóng mục rữa… Thân này vốn như
huyễn, từ phiền não sinh. Thân này vốn như mộng, được
nhìn thấy do hư vọng… Thân này như rắn độc, như kẻ thù,
như một đống rỗng không…» Nếu nhìn trên lý luận
hình thức, hai đoạn văn vừa dẫn hoàn toàn mâu thuẫn nhau.
Nhưng nếu bằng lý luận biện chứng siêu nghiệm của kinh
điển Bát-nhã thì cả hai đều là một thực tại tuyệt đối
bất nhị.
Khi gặp ngài
Xá-lợi-phất (Śāriputra) đang tĩnh tọa trong khu rừng vắng,
Duy-ma-cật phê phán: «Thưa ngài Xá-lợi-phất, bất tất ngồi
như thế mới là tĩnh toạ... Không khởi diệt tận định
(sa'jñāvedita-nirodha-samāpatti) mà hiện các oai nghi; đó mới
là tĩnh tọa… Không đoạn phiền não mà nhập niết-bàn;
ấy mới là tĩnh tọa…»
Khi lên viếng
đức Di-lặc (Maitreya) trên cung trời Đâu-suất (Tuṣita), Duy-ma-cật
hỏi: «Thưa ngài Di-lặc, Thế Tôn thọ ký cho ngài một đời
nữa sẽ thành Phật. Nhưng ngài được thọ ký theo đời nào?
Quá khứ chăng? Quá khứ đã qua rồi. Vị lai chăng? Vị lai
chưa đến. Hiện tại chăng? Hiện tại không dừng.»
Rõ ràng,
những phê phán ấy không có tác dụng phá huỷ, mà bằng vào
biện chứng siêu nghiệm của hệ tư tưởng Bát-nhã, triển
khai những ý nghĩa ẩn tàng thâm sâu trong những giáo pháp
mà Phật đã dạy. Đó là phê phán để thành tựu. Thành tựu
như thế được gọi là bất tư nghị (acintya).
Trên nền
tảng nhận thức ấy, Duy-ma-cật mở ra con đường thực tiễn
hành động. Con đường đó được gọi là bất tư nghị giải
thoát (acintya-vimok'a). Mục tiêu cứu cánh cho những giáo pháp
của Phật là giải thoát. Trong giáo pháp được cho là nguyên
thủy, thì ý nghĩa của giải thoát là diệt trừ tham, sân,
si; đoạn tận phiền não, để chấm dứt khổ đau. Trong Đại
thừa, giáo pháp ấy không hoàn toàn bị bác bỏ. Nhưng giải
thoát được xác nhận với nhận thức trực quán về thể
tính của tham, sân, si. Từ đó, Duy-ma-cật được coi là đỉnh
cao trong phong trào vận động của Đại thừa. Về một phương
diện, cuộc vận động để xác lập Đại thừa trong giáo
nghĩa của Phật bị chỉ trích gay gắt là xu hướng thế tục
hoá đạo Phật. Bởi vì nó đề cao vai trò của cư sỹ tại
gia trong quá trình tu đạo và hành đạo ngang với chúng đệ
tử xuất gia. Giáo pháp nguyên thuỷ, những yếu nghĩa căn
bản do đức Thích Tôn giảng dạy chỉ có thể được thành
tựu với điều kiện thoát ly mọi ràng buộc thế tục. Cư
sỹ tại gia chỉ có vai trò hộ đạo, mà chính yếu là cung
cấp các nhu yếu thường nhật cho các đệ tử xuất gia của
Phật. Đó là điều được xác nhận rõ ràng, tất nhiên là
mặt ngoài, trong tất cả kinh điển nguyên thủy hay sơ kỳ
Phật giáo.
Về mặt
giáo nghĩa, cả bốn chúng đệ tử Phật đều có khả năng
thành tựu Thánh đạo như nhau, và tục gia đệ tử cũng có
thể chứng đắc quả vị A-la-hán vốn được coi là mục
đích cứu cánh trong qúa trình tu đạo. Nhưng tất nhiên đệ
tử tại gia với nhiều ràng buộc khó đạt đến mục đích
ấy.
Ý nghĩa của
sự so sánh ấy, cho đến ngày nay, hay trong những thời kỳ
hay nơi những địa phương mà Đại thừa hưng thịnh nhất,
vẫn còn nguyên giá trị. Thế nhưng, trong những thế kỷ đầu
Phật lịch, ý nghĩa ấy được nhận thức như là tuyệt đối.
Vì vậy, nhiều tác giả viết sử Phật giáo gọi thời đó
là thời kỳ Phật giáo tu viện, nghĩa là thời kỳ mà giáo
pháp của Phật chỉ dành riêng cho đệ tử xuất gia, chỉ
được nghiên cứu và tu tập trong các tu viện.
Tất nhiên,
lịch sử phát triển của đạo Phật không tách ngoài phát
triển chung của xã hội. Khi xã hội phát triển đến một
hình thái nhất định nào đó, hình thái sinh hoạt Phật giáo,
về mặt hành trì cũng như trên phương diện tư tưởng, phải
thay đổi cho phù hợp với hình thái xã hội mới. Thế nhưng,
tích cực tiếp nhận những thay đổi mới để tiến bộ là
một khía cạnh tâm lý của con người, thì tinh thần bảo
thủ, sợ thay đổi, cũng là một khía cạnh tâm lý khác. Cải
cách, và bảo thủ, là hai thế lực luôn luôn cọ xát nhau
tạo thành những xung động thường xuyên của lịch sử. Sự
tồn tại của Phật giáo, của các cộng đồng đệ tử Phật
giữa các cộng đồng xã hội khác cũng chưa hề thoát ly các
quy luật ấy. Có lẽ tránh cho các chúng đệ tử sau này không
bị khóa chặt bởi quán tính lịch sử, cho nên, trước khi
nhập Niết-bàn, đức Thích Tôn cho phép chúng tỳ kheo có thể
lược bỏ một số điều khoản giới luật nếu xét thấy
không phù hợp. Nhưng trong cuộc kiết tập lần đầu tại
Rājagṛha, trưởng lão Ca-diếp (Kaśyapa), với tư cách là trưởng
lão cao niên nhất trong các đệ tử Phật, đã quyết định,
những gì Phật đã thiết chế, dù lớn dù nhỏ, không một
tỳ kheo nào được quyền thay đổi.
Chỉ một
trăm năm sau ngày Phật Niết-bàn, nhóm tỳ kheo ở Bạt-kỳ
(Pali: Vajji) đã đề ra một số sửa đổi trong các lề luật
sinh hoạt. Tất nhiên họ gặp phải sự chống đối quyết
liệt của nhóm tỳ kheo bảo thủ. Một hội nghị Tăng đoàn
được triệu tập tại Vaiśāli để phán quyết tính cách
hợp luật hay vi luật đối với những sửa đổi của nhóm
tỳ kheo Vajji. Kết quả của hội nghị là giáo đòan bị phân
liệt thành hai bộ phái: Thương tọa bộ gồm các tỳ kheo
cao niên có tinh thần bảo thủ, và Đại chúng bộ gồm số
đông các tỳ kheo trẻ có xu hướng cải cách.
Mâu thuẫn
và xung đột như vậy là quy luật phát triển của xã hội.
Sự phân liệt giáo đoàn là một chứng minh tích cực rằng
Phật giáo không tồn tại ngoài những quá trình thay đổi
và phát triển chung của xã hội. Điều đó cho thấy sự xuất
hiện của Đại thừa là tất yếu lịch sử. Và điều này
cũng chứng minh tính cách hiện thực của Duy-ma-cật như một
nhân vật lịch sử trong dòng vận động của Đại thừa.
Có thể chỉ có một Duy-ma-cật trong một thời điểm nhất
định, mà cũng có thể có nhiều Duy-ma-cật trong nhiều thời
điểm khác nhau.
Nói một
cách vắn tắt, sự xuất hiện của Duy-ma-cật là xu hướng
khẳng định vai trò tích cực của chúng đệ tử tại gia
trong giáo pháp của Phật, về các mặt hành đạo cũng như
hóa đạo. Tuy nhiên, trước khi vai trò này được khẳng định,
một quá trình biến thái của tư tưởng đã phải xảy ra.
Trước hết,
vị trí của bậc A-la-hán được hạ thấp xuống. Quả vị
A-la-hán không còn được nhận thức như là cứu cánh trong
quá trình tu đạo. Và phẩm cách của Thánh giả A-la-hán cũng
chưa phải là toàn thiện. Cũng như mục đích học tập của
các người con của một gia đình là để thừa kế và quản
lý sản nghiệp của gia đình. Cũng vậy, người tu Phật chỉ
có một cứu cánh duy nhất phải thành tựu là kế thừa sự
nghiệp của Như lai. So sánh hai mục đích với nhau, các đệ
tử chỉ mong muốn chứng quả A-la-hán và nhập Niết-bàn ngay
trong đời hiện tại; các đệ tử ấy được nói là những
người đi trên cỗ xe nhỏ - Tiểu thừa. Ý nghĩa của sự
phân biệt Tiểu thừa và Đại thừa là như vậy.
Cứu cánh
thành Phật không phải là ý tưởng mới mẻ của các nhà
vận động Đại thừa. Ngay trong các kinh điển được cho
là nguyên thủy, nhiều vị Phật trong quá khứ thường được
đề cập. Và chính đức Thích Tôn cũng huyền ký về vị
Phật tương lai kế tiếp Ngài là Phật Di-lặc. Có nhiều chúng
sinh đã thành Phật và sẽ thành Phật, như vậy, trong quá
khứ cũng như trong hiện tại và vị lai có nhiều chúng sinh
đã, và đang tu hành để thành Phật. Thế nhưng, ngay quả
vị A-la-hán vốn được nhận thức là thấp như vậy mà đời
sống cư sỹ tại gia còn khó có thể thành tựu, huống gì
quả vị cao như Phật. Vậy, cần một nền tảng tư tưởng
để đề cao cứu cánh ấy. Nền tảng ấy, trước vận động
của Duy-ma-cật, là hệ tư tưởng Bát nhã.
Trong nguyên
thủy, giáo pháp mà Phật giảng cho đệ tửa tại gia tu học
là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới
và niệm thiên. Thực tiễn thường nhật, hành đạo của người
tại gia chủ yếu là bố thí, và mục đích là để được
sinh thiên. Bố thí, tức là đem tài sản của mình sở hữu
phân phát cho người khác. Trước hết, tài sản được sử
dụng như là phương tiện hộ đạo. Bằng tài sản sở hữu
của mình, cư sỹ tại gia cung cấp cho chúng xuất gia bốn
nhu yếu sinh tồn: thực phẩm, y phục, thuốc trị bịnh, và
các phương tiện cư trú. Bố thí cho những người nghèo khốn
cũng là hình thức hành đạo của người tại gia.
Trong Đại
thừa, sự hành đạo chủ yếu của Bồ-tát cũng vẫn là bố
thí. Nhưng, trên nền tảng tư tưởng Bát nhã, sự bố thí
bấy giờ không thuần chỉ là sự ban phát của cải vật chất,
mà là phương tiện dẫn vào bản thể thâm sâu của thực
tại. Sự bố thí ấy không nhắm mục đích sinh thiên nữa,
mà là nhắm thẳng đến cứu cánh thành Phật. Nội dung của
bố thí không chỉ thuần của cải vật chất nữa, mà bao
hàm cả ba phương diện: Tài thí, pháp thí và vô úy thí. Để
thực hành tài thí, Bồ-tát phải giàu có. Để thực hành
pháp thí, Bồ-tát phải có kiến thức uyên bác. Để thực
hành vô úy thí, Bồ-tát cần có nghị lực và dũng cảm. Như
thế, Bi-Trí-Dũng là phương châm hành đạo của Bồ-tát.
Chúng ta cũng
thấy rằng các Bồ-tát với sự hành đạo như vậy không
phải hoàn toàn là lớp người mới, hay một thế hệ Phật
tử mới, hay những ngưòi mới quy y mà tập quán tư tưởng
cố hữu chưa dứt bỏ. Mà đó lại là các đệ tử kỳ cựu
trong hàng đệ tử xuất gia của Phật. Như ngài Subhuti (Tu-bồ-đề)
chẳng hạn.
Subhuti là
một Đại thanh văn, mà môn vô tránh tam muội của ngài không
có vị Thanh văn nào khác có thể so sánh. Trong Kim cang
Bát- nhã, khi Subhuti hỏi về ý nghĩa phát bồ đề tâm và
làm thế nào để củng cố và phát triển tâm bồ đề ấy,
Phật chỉ ra pháp môn tu tập thích ứng là bố thí ba-la-mật.
Chỉ duy nhất bằng vào bố thí ba-la-mật, Bồ-tát có thể
thành tựu nhiều Phật pháp vi diệu khác như thành tựu giới
đức, chứng đắc các thiền định và tam muội, thể hiện
được trí tuệ.
Để chứng
quả A-la-hán, tỳ kheo cần có thiền định. Muốn có thiền
định, tỳ kheo cần ở nhừng nơi yên tĩnh, cần sống trong
những khu rừng vắng vẻ. Nhưng Bồ-tát có thể thực hành
bố thí ba-la-mật ngay giữa thế gian náo nhiệt. Do thế, giải
thoát của Bồ-tát không thể nhận thức được một cách
hợp lý bằng tri thức thường nghiệm. Và do ý nghĩa này,
đời sống hành đạo của Duy-ma-cật được nói là bất tư
nghị giải thoát.
Trong nguyên
thuỷ, giải thoát được hiểu là diệt trừ phiền não ô
nhiễm, dứt sạch tham, sân, si, để chứng nhập niết-bàn.
Còn trong Duy-ma-cật sở thuyết, giải thoát có nghĩa là gì,
và mục đích hành đạo của Bồ-tát là gì? Ngay giữa dòng
đời ô nhiễm mà không hề bị ô nhiễm, vì bản chất của
tồn tại là vô nhiễm. Cho nên, hành đạo và giải thoát của
Duy-ma-cật nhắm đến một cứu cánh hiện thực. Cứu cánh
ấy được thể hiện qua hai phương diện, tuy hai nhưng là
một tuyệt đối bất nhị. Hai phương diện đó là tịnh Phật
quốc độ và thành tựu chúng sinh. Chúng ta gọi đó là tông
chỉ của Duy-ma-cật sở thuyết.
III. CƠ
SỞ TƯ TƯỞNG
Như đã biết,
Duy-ma-cật sở thuyết còn có một tên khác nữa là Bất tư
nghị giải thoát. Đó là tên kinh mà cũng là tông chỉ của
kinh. Chúng ta có thể đi sâu vào tông chỉ của kinh qua hai
phạm trù: tông thể và tông dụng. Tông thể là cơ sở tư
tưởng để từ trên đó Bồ-tát triển khai thực tiễn hành
đạo của mình. Tông dụng là mục tiêu và cũng là thực tiễn
hành đạo của Bồ-tát. Như vậy, cơ sở tư tưởng của Duy-ma-cật
là bất tư nghị giải thoát, mà thực tiễn hành đạo của
Duy-ma-cật cũng là bất tư nghị giải thoát. Nói cách khác,
ở đây tông thể của kinh là “nhập bất nhị pháp môn”
và tông dụng của kinh là “tịnh Phật quốc độ, thành tựu
chúng sinh.”
Từ quan điểm
triết học mà nhìn, chủ điểm mà kinh lấy làm nền tảng
và triển khai nhận thức về thực tại là nguyên lý bất
nhị (advaita). Để nhận thức được thực tại chân tực,
Bồ-tát cần đi qua cánh cửa bất nhị.
Nguyên lý
bất nhị hướng dẫn nhận thức khởi đi từ những thực
tại sai biệt mà khám phá ra thực tại tối hậu là Tuyệt
đối thể ngay trong các tồn tại sai biệt ấy. Tức siêu việt
những mặt đối lập của thực tại vốn chỉ tồn tại trong
thế giới danh ngôn và khái niệm, như sinh và diệt, nhiễm
và tịnh, sinh tử và Niết-bàn. Trước hết, hiện thực được
phơi bày với bản tính mâu thuẫn nội tại của nó. Các khái
niệm mâu thuẫn nhau, loại trừ lẫn nhau, cùng tồn tại như
là yếu tính của tồn tại, khiến cho hiện thực xuất hiện
trước nhận thức như là thực tại hư huyễn, và như vậy
nhận thức không có nội dung, trống rỗng.
Thế nhưng,
thực tại tối hậu, mà nhận thức đạt được ở đây như
là Tuyệt đối thể, nguyên lai là chỉnh thể thống nhất
của hai thái cực mâu thuẫn biện chứng.
Tuyệt đối
thể đó là kết luận của quá trình tư biện, là giới hạn
của tri thức duy lý. Nó tồn tại như khái niệm vô hạn hay
vô cực trong toán học. Bản thân của khái niệm vô hạn là
một nghịch lý toán học. Không một phép tóan nào khả dĩ
chứng minh tồn tại hiện thực của một thực thể vô hạn.
Nhưng nếu loại bỏ khái niệm vô hạn, thì không một phép
tóan nào khả dĩ được thực hiện trong toán học. Cũng vậy,
Tuyệt đối thể là một khái niệm nghịch lý trong triết
học. Nguyên lý bất nhị không thủ tiêu các mặt đối lập
và mâu thuẫn của hiện thực để cho nhận thức đối diện
một thế giới trống rỗng, hư vô. Nguyên lý bất nhị dung
hợp các mặt đối lập và mâu thuẫn của hiện thực thành
một Tuyệt đối thể. Nhưng Tuyệt đối thể không được
nhận thức trong từng hiện thực sai biệt; vả lại, ngoài
hiện thực sai biệt cũng không thể nhận thức được Tuyệt
đối thể. Nguyên lý bất nhị đẩy nhận thức diễn qua nhiều
đợt khủng hoảng, để rồi cuối cùng đặt nhận thức trước,
hay trong, một thực tại vô ngôn, hoàn toàn im lặng.
Nguyên lý
bất nhị, mà cũng là thực tại bất nhị, là giải thoát
bất tư nghị, như vậy là cánh cửa giao thông cho Bồ-tát
qua lại giữa Niết-bàn và sinh tử. Nếu không được trang
bị bằng nguyên lý bất nhị, Bồ-tát sẽ không đủ nghị
lực và dũng mãnh để trụ vững trên bồ đề tâm, dù chưa
đoạn tận phiền não. Do đã thấu triệt nguyên lý bất nhị
mà thiên nữ, hiện thân như là thị nữ của Duy-ma-cật, đã
đề xuất một tiền đề khiến cho ngài Xá-lợi-phất phải
sửng sốt: đam mê dục vọng, thù hận, và vô minh, chính là
chân tính của giải thoát.
IV. THỰC
TIỄN HÀNH ĐẠO
Trong Duy ma
kinh huyển sớ, Đại sư Trí Khải phân tích nội dung của
kinh theo năm lớp huyền nghĩa, trong đó huyền nghĩa thứ ba,
thứ ba, tông chỉ của kinh, là nhân và quả của Phật quốc
bất khả tư nghị. Bởi vì ý nghĩa Phật quốc được giới
thiệu ngay ở phẩm tựa, theo bản dịch của Huyền Tráng,
mà theo bản dịch của Cưư-ma-la-thập thì có tiêu đề là
phẩm Phật quốc. Theo đó, cư sỹ Bảo Tích (Ratnarāśi), trưởng
đoàn của năm trăm cư sỹ, sau khi cúng dường và xưng tán
Phật, bày tỏ ước nguyện muốn nghe Phật nói về sự thanh
tịnh của quốc độ Phật và hành động của Bồ-tát để
thành tựu quốc độ thanh tịnh ấy.
Ở đây,
căn cứ theo thỉnh cầu của cư sỹ Bảo Tích, chủ đề của
kinh có thể nói một cách vắn tắt, gồm hai khía cạnh: tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh.
Nhưng, Phật
quốc ở đây cần được hiểu như thế nào? Nói theo ý nghĩa
tổng quát nhất, đó là phạm vi mà trong đó giáo pháp của
Phật được lưu truyền. Hoặc nói, đó là môi trường chịu
ảnh hưởng giáo hóa của một đức Phật nhất định trong
một thời gian nhất định. Hoặc nói rõ hơn, và gọn hơn,
đó là thế giới của Phật.
Theo ý nghĩa
tôn giáo, người ta nói rằng một, và duy nhất chỉ có một,
thế giói là một tác phẩm sáng tạo của một đấng Sáng
Tạo Tối Cao. Đấng Sáng Tạo ấy có quyền lực vô biên và
tuyệt đối để sáng tạo ra một thế giới theo ý muốn của
mình, thì cũng có quyền lực như vậy để hủy diệt thế
giới theo ý muốn. Ý nghĩa ấy phản ánh sự thành lập một
quốc gia và một Nhà nước quân chủ. Vua là sở hữu chủ
của đất nước. Đất nước là của vua.
Phật không
tự nhận Ngài là đấng Sáng Tạo, mà chỉ là vị Đạo sư
của trời và người. Phật không phải là sở hữu chủ của
thế giới, thế thì, làm sao có thể nói là có thế giới
của Phật?
Để có thể
nhận thức rõ ý nghĩa này, chúng ta không thể không có một
ít khái niệm về sự hình thành một quốc gia, sự xuất hiện
của Nhà nước, trong lịch sử xã hội loài người, theo quan
điểm Phật giáo, nói một cách tổng quát.
Tất nhiên,
ý thức về sự tồn tại của một quốc gia, sự xuất hiện
một cơ cấu Nhà nước, không phải là ý thức tiên nghiệm.
Trong ý thức tôn giáo, đó là sự giao ước giữa đấng Sáng
Tạo và con người. Trong quan điểm xã hội học, đó là sự
giao ước giữa người và người.
Xã hội loài
người vá các định chế của nó là một hình thái sinh hoạt
ý thức trong một giai đoạn nhất định trong toàn bộ quá
trình sinh thành và hủy diệt của thế giới. Vì vậy, khi
luận về ý nghĩa tồn tại của xã hội và các định chế
của nó, không thể không đề cập đến nguồn gốc của thế
giới, và như một hệ luận, nguồn gốc của loài người.
Đức Phật
đã nhiều lần từ chối trả lời về nguồn gốc và sự
hình thành của thế giới. Sự từ chối ấy hoặc được
giải thích là do lập trường thực dụng, hoặc do giới hạn
nhận thức luận. Thế nhưng, khi cần giải thích nguồn gốc
các định chế xã hội, mà quan niệm tôn giáo đương thời
cho thiên định, đức Phật đã nói rõ về nguồn gốc và
quá trình tiến hóa của con người và xã hội con người.
Nếu đọc
thẳng vào nhiều kinh điển Phật giáo, người ta co cảm tưởng
thế giới quan Phật giáo bị bao phủ bởi lớp sương mù huyền
thoại dày đặc. Nhưng, cũng nên hiểu rằng, lớp huyền thoại
ấy không phải đơn giản là hư cấu của ý thức, mà là
một hình thái ngôn ngữ. Sự thật hay huyền thoại tùy thuộc
vào cách đọc, hay cách giải mã, ngôn ngữ ấy. Trong nhận
thức luận chung của các khuynh hướng tư tưởng Phật giáo,
không hề có khởi điểm và tận cùng của thời gian, cũng
không hề có tâm điểm và biên giới của không gian, mà chỉ
có tận cùng giới hạn của trí năng. Tất nhiên là trí năng
của nhận thức duy lý, dù là nhận thức triết học hay nhận
thức khoa học. Trong khỏang thời gian và không gian vô cùng
và vô tận ấy, nói về sự xuất hiện và tồn tại của
một thế giới, trong vô số thế giói khác, cũng có nghĩa
là đặt thế giới vào một hệ quy chiếu đặc biệt nào
đó.
Chúng ta
cần đứng trên một nền tảng tư duy về thế giới quan như
thế để phân tích những vấn đề chinh trị và xã hội trong
các truyền thống và xu hướng tu tưởng khác nhau của Phật
giáo.
Trong quá
trình tiến hóa, từ một vi sinh vật tồn tại và phi hành
trong ánh sáng, xuất hiện vào một thời điểm nhất
định trong một chu kỳ thành-trụ-hoại-không của thế giới,
con người cũng chỉ là một sinh vật trong các sinh vật khác,
nhưng do thừa hưởng kết quả quá khứ mà bẩm sinh với một
hữu thể tồn tại được phát triển dần thành hai yếu tố
vừa độc lập vừa bất phân là danh và sắc. Trên cơ sở
đó, ý thức được phát triển càng lúc càng cao do vừa lấy
ngoại giới làm đối tượng vừa phản chiếu trên chính nó
như là chuỗi tồn tại liên tục của một tự ngã.
Cho đến
khi ý thức về sự tồn tại của một tự ngã được hình
thành, con người tự tách mình ra khỏi thế giới quanh mình,
phân
biệt những gì thuộc về ta và những gì không thuộc về
ta. Cũng như để tăng lớn thể tích của thân xác, con người,
như các sinh vật khác, cần hấp thu các dưỡng chất từ ngoại
giới; cũng vậy, để tăng lớn tự ngã, con người cần chinh
phục và chiếm hữu. Từ đó, hình thành một ý thức về
sự tích lũy. Tích lũy như vậy không phải là một khái niệm
tiên thiên, không phải là ý thức tiên nghiệm, mà là một
hình thái đặc biệt của ý thức xuất hiện vào một thời
điểm có ý nghĩa trong quá trình tiến hóa.
Tích lũy
tất nhiên dẫn đến xung đột, cạnh tranh. Mâu thuẫn xã hội
bắt đầu, trật tự cũ bị đảo lộn. Một định chế mới
cần được thiết lập để điều hòa những mâu thuẫn, xung
đột, do hệ quả của cạnh tranh. Chính quyền đầu tiên được
gọi theo tiếng Pali là Mahāsammato, được bầu lên bởi đại
chúng. Người đứng đầu cơ cấu mới này đươc gọi
là Râjâ, mà sau này thường được hiểu là vua, hay người
cai trị. Nhưng theo định nghĩa của Pâli, rājā có nguồn gốc
từ động từ rājati, «nó làm vui lòng.» Như vậy, chính
quyền hay vua là trọng tài xã hội, được bầu lên và được
ủy quyền điều hòa những mâu thuẫn xã hội.
Song song với
hình thái chính quyền nguyên thủy như trên, các kinh luận
còn nêu lên một hình thái chính quyền khác, đứng đầu là
một Chuyển luân vương (Cakravartin), không phải do dân
chúng bầu lên để bảo vệ quyền lợi của họ, mà do phước
báo tích lũy từ nhiều đời của vị ấy. Cả hai quan điểm
cùng được lưu truyền trong một hệ Thánh điển. Nhưng theo
cách nhìn từ lập trường xã hội và sử quan duy lý, cả
hai đại diện cho hai thời kỳ phát triển khác nhau của tư
tưởng Phật học về nguồn gốc và hình thái chính quyền.
Hình thái
chính quyền Chuyển luân vương là quan niệm, và cũng là lý
tưởng phổ biến, trong cả hai truyền thống Đại và Tiểu
thừa. Đó là một chính quyền đức trị, và nhân dân
được giáo hoá thuần thiện, với đầy đủ mười phạm
trù đạo đức, hay mười nghiệp đạo thiện. Lý tưởng về
một chính quyền đức trị và một xã hội đạo đức phản
ánh ước mơ của các Phật tử vào các thời kỳ suy thoái
của xã hội. Vả lại, về mặt tiêu cực, như được thấy
trong nhiều kinh luận, trong nhiều truyện truyền kỳ, sự suy
thoái của con người về mặt đạo đức, và kéo theo đó
là sự suy thoái về mặt thể chất, rồi như là hậu quả
tất nhiên của cả hai là suy thoái xã hội toàn diện, là
những xu hướng đương nhiên trong một giai đoạn tiến hoá
của thế giới. Tất nhiên, đó không phải là tiến hóa luận
theo chiều tuột dốc, cũng không phải theo chiều hướng thượng.
Tuột dốc hay hướng thượng tùy theo từng thời kỳ; chúng
nối tiếp nhau lên xuống như những đợt sóng trong đại dương
sinh tử bao la.
Trong Duy-ma-cật,
và trong nhiều kinh điển Đại thừa khác, hình ảnh một quốc
gia lý tưởng, và nói rộng ra là một thế giới lý tưởng,
là hình ảnh một Phật quốc. Dù theo nghĩa đen thì cũng không
thể hiểu đó là nột quốc gia Phật giáo. Một cách chính
xác, từ ngữ ấy cần được diễn theo hai nghĩa: quốc gia
Phật tính và quốc gia Phật hóa. Cả hai tổng hợp thành một
ý nghĩa duy nhất: tư tưởng tịnh độ.
Nhưng cũng
cần phân biệt tịnh độ tha lực và tịnh độ Bồ-tát. Tịnh
độ tha lực nhắm mục đích thoát khỏi thế giới Ta-bà được
coi là uế trược này để sinh về một thế giới tốt đẹp
hơn. Tịnh độ Bồ-tát là thế giới lý tưởng mà Bồ-tát
xây dựng. Bồ-tát trước hết sinh ra trong một thế giới
xấu xa, thoái hóa. Bằng ý chí, bằng hành động, «năng hành
nan hành,» làm những việc khó làm, Bồ-tát biến đổi thế
giới ô trược ấy thành tịnh độ. Vì rằng, tự bản chất,
hết thảy các pháp vốn thanh tịnh.
Tự bản
chất, hết thảy các pháp đều thanh tịnh. Đó là tiền đề
căn bản cho tư tưởng tịnh độ Bồ-tát. Đây không phải
là điều mới mẻ và riêng biệt của Đại thừa. Trong A-hàm
và Nikāya, đức Phật trước khi nhập Niết-bàn cũng đã nhiều
lần ca ngợi vẻ đẹp những nơi Ngài đi qua, xác nhận ý
nghĩa rằng, với những ai đã giác ngộ thì thế giới này
luôn luôn được nhìn thấy là thanh tịnh. Đây cũng là điều
được khẳng định trong phẩm Phật quốc.
Cõi tịnh
độ mà Bồ-tát phát nguyện xây dựng, nói một cách tổng
quát, có những đặc điểm như dưới đây.
Về thiên
nhiên, đó là thế giới không có những vật chất xấu xa,
dơ bẩn và hôi thối. Người với người sẽ không bị gián
cách nhau bởi không gian vật lý, do đó sự giao thông và giao
tiếp không hề bị chướng ngại. Sự biến đổi khuôn mặt
thế giới như vậy là do sự cải hóa tư tưởng của chúng
sinh tồn tại trong đó. Nếu tâm chúng sinh là một tập hợp
thiện và ác lẫn lộn, thì thế giới vật chất mà chúng
sống trong đó cũng gồm đủ các thứ đẹp và xấu. Vì, như
Phật đã nói: “Chúng sinh là kẻ thừa tự những hành vi
mà nó đã làm trong quá khứ.” Nói cách khác, với những
hành vi được thúc đẩy bởi tham. Chúng sinh sẽ sáng tạo
ra những thứ xấu xa, hôi thối mà chính nó là kẻ thừa hưởng.
Bằng những hành vi bị chi phối bởi thù hận, chúng sinh sẽ
sáng tạo những vật chất chướng ngại để làm gián cách
người với người.
Thiên nhiên
phản ánh hình thái ý thức. Cho nên, một thế giới được
cấu thành bởi thiên nhiên xinh đẹp là cõi sống của các
loại chúng sinh thuần thiện, bao gồm mười nghiệp đạo thiện.
Trong một quốc gia mà đứng đầu là Chuyển luân vương, thì
nhân dân trong đó cũng thuần thiện. Điểm khác biệt với
chúng sinh trong tịnh độ Bồ-tát là ở chỗ, trong cõi này
ngoài sự thành tựu muời nghiệp đạo thiện, chúng sinh thảy
đều được giáo hoá Bồ đề tâm, hướng ước nguyện đến
cứu cánh là thành Phật.
Một điểm
đặc biệt nữa là, trong tịnh độ Bồ-tát, không tồn tại
một quốc vương hay một hình thức Nhà nước hay chính quyền.
Duy chỉ có Phật hiện hữu như là vị Đạo sư giảng dạy
chân lý chứ không có chức năng cai trị. Chúng ta đã biết
rằng, cơ cấu chính quyền hay hình thái Nhà nước chỉ xuất
hiện khi mà mâu thuẫn xã hội tiến đến mức độ gay gắt.
Xung đột và mâu thuẫn diễn ra trong quá trình cạnh tranh để
tích lũy. Tích lũy được thúc đẩy bởi tham. Tham là yếu
tố tăng trọng bản ngã.
Không phải
tất cả chúng sinh trong tịnh độ Bồ-tát đều đã diệt
trừ ngã chấp, đạt đến trình độ vô ngã. Nhưng do bởi
không tồn tại những chất liệu nuôi dưỡng, nên tham phiền
não chìm sâu dưới đáy biển ý thức, không phát huy tác dụng
để chi phối con người. Nếu không được thúc đẩy bởi
tham, ý niệm tích lũy không tồn tại. Không tích lũy, do đó
không cạnh tranh, và xã hội không
bị cuốn hút vào những xung đột mâu thuẫn. Trong trường
hợp đó, sự tồn tại của một cơ cấu chính quyền là không
cần thiết, và không hợp lý.
Nhưng, tịnh
độ Bồ-tát không phải là ước nguyện chủ quan của Bồ-tát.
Vì đó là môi trường tồn tại của những chúng sinh có chung
những hình thái ý thúc giống nhau, do đó tịnh độ Bồ-tát
là công trình tập thể. Chừng nào chúng sinh chưa được giáo
hóa đầy đủ để tự mình xác lập Chánh đạo, chừng ấy
Bồ-tát vẫn chưa thể thành viên mãn hạnh nguyện «tịnh
Phật quốc độ.» Cho nên, để tịnh Phật quốc độ, Bồ-tát
đồng thời cũng nỗ lực để thành tựu chúng sinh. Trả lời
câu hỏi của Bảo Tích về ý nghĩa tịnh độ của Bồ-tát,
đức Phật nói: «Chúng sinh loại là tịnh độ của Bô tát.»
Và sau đó Ngài nêu ví dụ: Một người có thể xây dựng
tùy ý cung điện lâu đài trên khoảng đất trống, không có
các thứ chướng ngại làm vướng bận. Nhưng người đó không
thể dựng các thứ hoặc bằng gỗ hoặc bằng đất giữa
hư không. Chúng sinh chính là nền tảng để Bồ-tát xây dựng
tịnh độ.
Nói cách
khác, Bồ-tát hành đạo để tịnh Phật quốc độ vì biết
rằng tất các các pháp bản lai thanh tịnh. Đó là Đại trí.
Đồng thời Bồ-tát cũng thành tựu chúng sinh, vì mục đích
hành đạo của Bồ-tát là vì muốn đem sự an lạc đến cho
tất cả. Đó là Đại bi. Cỗ xe Đại thừa luôn luôn phải
được vận chuyển bằng hai bánh: Đại trí và Đại bi.
Tuệ Sỹ
Chú Thích
1 Pali: Vesāli,
thủ phủ của bộ tộc Licchavi. Huyền Tráng, Đại Đường
Tây vực ký, q.7 (T.2087,tr.908a.ff): «Vệ-xa-ly…từ cung thành
đi về phía tây bắc 5, 6 dặm có một ngôi tăng-già-lam…đông
bắc già-lam 3 dặm có một ngôi tháp. Đó là nền của nhà
cũ của Tỳ-ma-la-cật (Vimalakīrti: Vô Cấu Xưng), có nhiều
linh dị. Cách đó không xa, có một miếu thần, hình trạng
như đống gạch. Truyền thuyết gọi là đá dồn (tích thạch),
là chỗ trưởng giả Vô Cấu Xưng hiện bịnh, thuyết pháp.
Cách đó không xa, có một ngôi tháp, là nhà cũ của trưởng
giả Bảo Tích. Cách đó không xa có một ngôi tháp, là nhà
cũ của Yêm-một-la nữ (Amrapālī). Di mẫu của Phật và các
bí-sô-ni chứng nhập Niết-bàn ở đây.»
2 Mahāparinibbāna-suttanta,
D.ii. tr 96: yesaṃ, bhikkhave, bhikkhūnaṃ devā Tāvatiṃsā adiṭṭapubbā,
aloketha, bhikkhave, Licchaviparisaṃ. «Này các tỳ kheo, những
tỳ kheo nào chưa nhìn thấy các thiên thần Tāvatiṃsa, các
ngươi hãy nhìn chúng Licchavī.»
Pàli: Ambapālī,
hay Ambapālikā. Hán, phiên âm: Am-bà-bà-lị; Huyền Tráng: Yêm-một-la
nữ; dịch nghĩa: Nại Nữ: cô gái vườn xoài.
Skt., Pàli:
Bimbisāra, Hán, phiên âm: Tần-bà-sa-la, hoặc Tần-tỳ-sa-la;
vua nước Ma-kiệt-đà (Magadha).
Tài liệu
Hán, Xuất diệu kinh, T. 212, đó là y sỹ Kỳ-bà, cũng là con
trai một kỹ nữ ở thành Vương xá. Theo tài liệu Pàli, Kỳ-vực
tức Jīvaka-Komārabhacca cũng là con một kỹ nữ ở Rājagaha
tức Vương xá, nhưng mẹ là Sālavatī và cha là Abhayarājakumāra
(Vương tử Vô Uùy). –Dictionary of Pali Proper Names.
Tức trưởng
lão Vimala-Koṇḍañña, A-la-hán, thi kệ được chép trong Theragathā,
bài số 64.
T. 1775,
tr 327b.
Chỉ 500
vị công tử dẫn đầu bởi Bảo Tích (Ratna-rāśi), giới thiểu
trong phẩm 1 «Phật quốc.»
Đề cập
ở phẩm 12 «Kiến A-súc Phật» (La-thập); “Quán Như lai.”
(Huyền Tráng).
T.1775,
tr. 327c8.
T. 1780,
tr 865a.
T. 1780,
tr 853a.
Phẩm 14
«Chúc lụy.» Chú Duy-ma-cật kinh, T. 1775, tr 327c. Tên Skt. giả
định: Acintya-vimokṣa-paryāya.
T. 1777,
tr 519b.
Xem chánh
văn, phẩm 2 «Phương tiện.»
2 Xem chánh văn,
phẩm 3 «Đệ tử.»
Xem chánh
văn, phẩm «Bồ-tát.»
Cullavagga
xi.1.10. Tứ phần luật 54. T.1424,tr.967b13; Thập tụng luật
60, T.1435,tr.449b15.
Cullavagga
xii.1.1. Tứ phần luật 54, T.1428, tr.968c19; Thập tụng luật
60, T.1435, tr.450a 28: sau Phật Niết-bàn 110 năm.
araṇāvihāriṇām
agro; (Vajracchedika, Mahāyāna-sūtra-saṅgraha, tr. 28). Câu-xá 27
(Đại 29, tr.141c15: «A-la-hán quán sát rằng khổ của hữu
tình phát sinh từ phiền não. Tự biết bản thân là thù thắng
trong các phước điền, nhưng sợ phiền não của kẻ khác
duyên nơi thân mình (A-la-hán) mà phát sinh, nên bằng ý chí
(=tư) mà dẫn khởi tướng trí như vẩy, để do bởi đó mà
hữu tình không duyên nơi thân của ngài khiến phát sinh các
thứ tham, sân vv. Vì hành này (vihāra) có thể dập tắt phiên
não của các hữu tình, nên được gọi là vô tránh..»
Aggañña-sutta
(D.iii.tr.84).
Aggañña-suttanta
(D.iii.93): Mahājana-sammato ti kho... mahā-sammato.
Ibid., dhammena
pare rañjetī ti kho... rājā.
Cf. Cakkavatti-sīhanāda-suttanta,
iii.58ff.
Ibid., tr.59:
..ahosi cakkavatti dhammiko dhammarājā... so imaṃ paṭhaviṃ sāgara-pariyantaṃ
adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi.