Khi đức
Phật nhập diệt rồi, cuộc kiết tập mới bắt đầu. Cuộc
kiết tập tụng lại Kinh tạng và Luật tạng. Trong Luật tạng,
bộ Luật đầu tiên theo trong sử nhắc đến là bộ Bát thập
tụng luật do Tôn giả Ưu-ba-li tám mươi lần ngồi tụng thì
mới xong bộ Luật của Phật dạy.
Nội dung của
Kiết tập có nghĩa như thế nào?
Kiết tập: Phạn tự là Samgati,
Tàu dịch là "Chúng đẳng tụng", nghĩa là cả chúng cùng nhau
tụng lại lời đức Phật dạy. Tụng bằng cách nào? Tôn
giả Ưu-ba-li hay Tôn giả A-nan-đà ngồi giữa chúng đọc rõ
từng câu như: ngày hôm đó, tại chỗ đó, tôi có nghe đức
Phật dạy như thế này thế này... nếu đại chúng có vị
nào nghe Ngài dạy khác xin phát biểu, nếu không ai phát biểu
mà im lặng thì cho qua. Tiếp tục tụng đoạn khác cũng y như
trên cho đến hết, nên gọi là chúng đẳng tụng. Cuộc kiết
tập đầu tiên chưa có văn tự gì hết. Kiết tập bằng miệng
đọc lên rồi ai nấy đều ghi nhớ trong ký ức mà thôi. Ký
ức của các vị toàn là các bậc A-la-hán thì ghê gớm lắm.
Nhớ như vậy cốt để mà tu tập chứ không có mục đích
gì khác.
Tôn giả Ưu-ba-li
tụng Luật
Như vậy, về Luật bộ đầu tiên
là Bát thập tụng do Tôn giả Ưu-ba-li tụng, rồi sau đó nó
biến ra năm bộ nữa:
-
Ðàm-vô-đức bộ (Pháp tạng bộ)
truyền luật Tứ phần, gồm 60 cuốn.
-
Tát-bà-đa-bộ (Hữu bộ) truyền luật
Thập tụng, có 60 cuốn.
-
Di-sa-tắc bộ truyền luật Ngũ phần,
có 30 cuốn, thuộc Hóa địa bộ.
-
Ca-diếp-di bộ truyền Giải thoát giới,
gồm 50 cuốn, thuộc Căn bản nhất thiết hữu bộ.
-
Ma-ha Tăng-kỳ bộ truyền luật Tăng
kỳ, có 40 cuốn, thuộc Ðại chúng bộ và Ðộc tử bộ.
Trong thời Phật, Ngài không phân ra
năm bộ luật như trên, nhưng trong quá trình hành hóa, tùy
chỗ phạm lỗi mà chế ra giới để cho hàng đệ tử biết
và lần sau đừng có phạm nữa. Ðó là khởi nguyên của Luật.
Sau khi đức Phật diệt độ, cuộc kiết tập lần thứ nhất
chỉ tụng thuần nhất là tám mươi lần ngồi tụng mà thôi.
Từ đó về sau, qua sự truyền trì của Tôn giả Ðại Ca-diếp,
A-nan, Mạt-điền-địa, Thương-na-hòa-tu, Ưu-ba-cúc-đa (Maha
Kàsyapa, Ananda, Madhyàntika, Sàna Vàsa, Upagupta) đều thuần nhất
vị, chưa phân dị kiến về giới luật. Ðến Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa
là vị thứ năm, nhằm khoảng thời gian sau Phật diệt độ
110 năm, lúc đó A-dục vương ra đời. A-dục vương là vị
vua lúc đầu cai trị rất tàn ác nên dân chúng gán cho cái
tên là Hắc A-dục vương (A-dục vương đại ác). Nhưng về
sau cải ác tùng thiện, qui y Tam Bảo và trở thành một Phật
tử thuần thành, hộ trì Phật pháp một cách đắc lực nhất,
gọi là Pháp A-dục vương.
Nguyên nhân
phân hóa Luật
Giáo pháp đức Phật do vậy cũng
bị điêu linh, các vị tỷ kheo mỗi đoàn du hóa một phương,
không kết tụ với nhau được, do đó mà từ nơi một bộ
Bát thập tụng luật lại chia ra năm nơi, năm nhóm. Năm nhóm
này ghi nhớ và đọc tụng theo năm cách riêng và việc hành
trì cũng khác, nên tạo ra năm bộ luật khác nhau. Năm bộ
luật đó là do năm đệ tử của Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa nắm
giữ và truyền tụng. Năm bộ luật đó là:
-
Ðàm-vô-đức bộ truyền trì luật
Tứ Phần.
-
Tát-bà-đa bộ truyền trì luật Thập
Tụng.
-
Di-sa-tắc bộ truyền trì luật Ngũ
Phần.
-
Ca-diếp-di bộ truyền trì luật Giải
Thoát.
-
Bà-ta-phú-la bộ truyền trì luật Ma-ha
Tăng Kỳ.
Năm nhóm trên đều truyền trì Luật
tạng riêng mà phát sinh thành ra năm bộ như trên.
Năm bộ luật vừa nêu về phần
chính thì giống nhau, chỉ có sai khác về Ba-dật-đề và Chúng
học pháp.
Năm bộ luận
giải thích Luật
Ngoài những bộ luật chính ở trên,
sau này có những bộ gọi là luận về luật. Năm bộ luận
đó là gì?
-
Tỳ-ni-mẫu luận, 8 quyển (thất truyền).
-
Ma-đắc-lặc-già luận, gọi đủ là
Tát-bà-đa-bộ Tỳ-ni Ma-đắc-lặc-già, 10 quyển do Lưu tống
Tăng-già-bạt-ma dịch.
Hai bộ luận trên dựa vào Tát-bà-đa
bộ tức Căn bổn nhất thiết hữu bộ mà giải thích những
điều trong bộ luật đó mà tạo ra luận này.
-
Thiện kiến luận, hay còn là Thiện
kiến luật Tỳ-bà-sa, 18 quyển do Tiêu-tề Tăng-già-bạt-ma
dịch. Cốt giải thích Tứ phần luật.
-
Tát-bà-đa luận hay gọi là Tát-bà-đa
Tỳ-ni-tỳ-bà-sa, chín quyển, mất tên người dịch, cốt giải
thích luật Thập tụng.
-
Minh liễu luận, hay còn gọi là Luật
nhị thập nhị minh liễu luận, một quyển do Trần-chân-đế
dịch, cốt giải thích giới luật thuộc Chính lượng bộ.
Hai bộ này đều thuộc Chính lượng
bộ, tức một trong hai mươi bộ phái tiểu thừa Phật giáo.
Nội dung của
Luật tạng
Khi nói Luật tạng là nói chung cả
năm bộ luật và năm bộ luận đó gọi là luật tạng.
Sự hành trì về Luật tại Ấn
Ðộ chắc cũng có sự sai khác chút đỉnh. Khi thì các Tổ
dùng bộ này, khi thì dùng bộ khác, nên đôi lúc tưởng chừng
trong nội dung của nó có sai khác. Nhưng tùy theo địa phương
và hoàn cảnh, các Tổ có thể du di phần học pháp, vì vậy,
khi truyền qua Trung Hoa, Tổ Ðạo tuyên mới lấy một bộ làm
căn bản cho việc truyền Luật, nên Tổ đã dùng bộ Tứ phần
luật, phát triển thành Luật tông mà Tổ là vị khai sáng.
Từ đó Tứ phần luật được diễn giảng, giải thích và
truyền bá rất mạnh.
Việt Nam chúng ta từ trước tới
nay cũng áp dụng Tứ phần luật để hành trì.
Nội dung Tứ
phần luật
Tứ phần luật, 60 cuốn do Diêu
Tần Phật-đà-da-xá và Trúc-phật-niệm cùng dịch, chia bốn
phần.
-
Phần một, gồm hai mươi mốt cuốn:
nội dung chuyên nói 250 giới của Tỷ-kheo.
-
Phần hai, gồm mười sáu cuốn: chín
cuốn đầu nói 348 giới điều của Tỷ-kheo-ni. Bảy cuốn
sau quy định việc thọ giới, thuyết giới, an cư, tự tứ...
-
Phần ba, có mười hai cuốn: gồm các
chương quy định việc Tự tứ tiếp theo, Bì-cách, y, Dược,
Casina y, việc xảy ra ở Câu-diệm-di, ở Chiêm-ba, Kiết-ma-ha-trách,
về người, về tội phú tàng, giá, phá tăng, diệt tránh,
về pháp Tỳ-ni và về Pháp.
-
Phần bốn, gồm mười một cuốn:
là các chương nói về phòng xá, tạp, ngũ bách kiết tập,
thất bách kiết tập, điều bộ Tỳ-ni, Tỳ-ni tăng nhất.
Tóm lại, Tứ phần luật gồm có hai
phần chính:
(a) Phần thứ nhất nói về giới
bổn của Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni.
Giới bản của Tỷ-kheo có 250 giới,
Tỷ-kheo-ni có 348 giới. Theo Nam truyền Luật tạng Tỷ-kheo
có 227 điều, Tỷ-kheo-ni có 311 điều. Các giới điều tuy
có khác, nhưng chỉ khác phần chi tiết, còn phần nội dung
chính vẫn giống nhau.
(b) Phần thứ hai nói về hai mươi
kiền độ (hai mươi chương).
-
Chương Thọ giới: Thuyết minh về
việc thọ giới.
-
Chương Thuyết giới: Thuyết minh về
nghi thức thuyết giới.
-
Chương An cư: Thuyết minh về ý nghĩa
và sự việc an cư.
-
Chương Tự tứ: Nói về ý nghĩa tác
pháp tự tứ.
-
Chương Bì-cách: Khai cho các Tỷ-kheo
gặp hoàn cảnh đặc biệt được dùng các loại da thuộc.
-
Chương nói về Y: Thuyết minh cách
may y và sử dụng nó.
-
Chương nói về dược liệu: Thuyết
minh về cách dùng thuốc để chữa bịnh.
-
Chương nói về Y Casina (Kathina): Nói
về cách thọ y và xả y Casina (công đức y).
-
Chương nói về việc xảy ra ở Câu-diệm-di
(Kosambi): Nói về việc các Tỷ-kheo tranh cãi nhau, và ba loại
cử tội: (1) Bất kiến cử là cử cái tội có lỗi mà nói
không thấy, không nhận tội. (2) Bất sám cử là cử cái tội
đã nhận tội mà không chịu sám hối. (3) Ác kiến bất xả
cử là cử cái tội có ác kiến mà không chịu bỏ.
-
Chương nói về việc xảy ra ở Chiêm-ba,
nói về các loại Kiết-ma như pháp và phi pháp.
-
Chương nói về Ha-trách: Nói về chế
định bảy thứ Ha-trách, tức 35 việc mà một Tỳ-kheo đã
phạm tội thì không được làm.
-
Chương nói về Người: Thuyết minh
phạm tội Tăng tàn, lục dạ biệt trú phép bản nhật trị
và cách sám trừ nghiệp quả, sám diệt phi pháp.
-
Chương Phú tàng: Nói các thứ tướng
của tội phú tàng và cách diệt trừ tội.
-
Chương nói về Giá: Nói về cách ngăn
ngừa và cử tội người khác, khi cử phải đủ năm pháp
là: Tri thời, chân thật, lợi ích, nhu nhuyến, từ tâm.
-
Chương phá Tăng: Nói việc tội phá
Tăng.
-
Chương diệt tránh: Nói về Thất diệt
tránh (bảy phép diệt sự tranh cãi).
-
Chương nói về Ni: Nói việc Ni chúng
thọ giới, thuyết giới.
-
Chương nói về Pháp: Nói các oai nghi,
pháp thức đi lại... của Tỷ-kheo.
-
Chương nói về Phòng: Nói việc sửa
sang tu bổ phòng xá.
-
Chương tạp: Thuyết minh xen lẫn hết
thảy các chương, và cách trì giới.
Ðạo Tuyên Luật sư trong "San bổ tùy
cơ yết-ma" tóm tắt hai mươi chương trình mười điều.
-
Chương tập pháp: Nói tổng quát về
sự duyên thành không thành của các pháp Kiết-ma.
-
Chương kết và giải giới
-
Chương nói pháp thọ các giới.
-
Chương nói áo, thuốc, thọ trì, thuyết
tịnh.
-
Chương nói các pháp thuyết giới.
-
Chương nói về chúng an cư.
-
Chương nói pháp tự tứ.
-
Chương nói về chia áo (của Tăng đã
chết)
-
Chương nói sám hối các tội.
-
Chương nói việc cốt yếu của vị
trú trì Phật pháp.
Chỉ trì, Tác
trì
Giới luật thì nhiều, nhưng không
ngoài hai môn: Chỉ trì và Tác trì.
-
Chỉ trì là đình chỉ, đình chỉ
không làm các điều ác. Tức qui định về điều giới, đó
là giới, thuộc chỉ trì.
-
Tác trì là tu thiện, tức làm các
điều thiện. Tức qui định về các pháp Kiết-ma, đó là
luật, thuộc Tác trì.
Ví dụ thực hành giới bổn là Chỉ
trì, giữ gìn hai mươi kiền độ là Tác trì.
Phân tích Giới
bổn
Vì sao gọi là Giới bổn? Ðây là
những giới bổn gốc, chính yếu của Luật tạng. Giới bổn
của Tăng có 250, của Ni có 350 giới. Ngoài giới bổn chính
còn có phần Kiền-độ dịch âm chữ Khandha, có nghĩa là nhóm,
thiên, chương.
Phân tích giới bổn gồm có tám
mục, 250 giới, chia năm thiên và bảy tụ.
Năm thiên:
-
Ba-la-di có 4 giới.
-
Tăng tàn có 13 giới.
-
Ba-dật-đề gồm 30 xả đọa, 90 đơn
đọa.
-
Ðề-xá-ni có 4 giới.
-
Ðột-kiết-la gồm 100 chúng học, 7
diệt tránh.
Bảy tụ:
-
Ba-la-di.
-
Tăng-tàn.
-
Thâu-lan-giá.
-
Ba-dật-đề.
-
Ðề-xá-ni.
-
Ác-tác.
-
Ác-thuyết.
( 6. và 7. hợp chung gọi là "Ðột-kiết-la")
Năm thiên là nương ở chỗ tội
nặng nhẹ của tội quả. Bảy tụ là những loại tụ căn
cứ ở tội tính và nguyên nhân của nó. Thâu-lan-giá là phương
tiện tội (tức nhân tội) của Ba-la-di và Tăng-tàn. Ác-tác
là tội nhẹ thuộc về thân. Ác-thuyết là tội nhẹ thuộc
về khẩu.
Giải thích
bốn Ba-la-di
Bốn Ba-la-di: Ba-la-di, Phạn tự là
Pàràjjka, Tàu dịch là Khí - bỏ vứt ra ngoài Tăng chúng. Tội
Ba-la-di có bốn, là bốn tội phạm vào thì bị bỏ đi, vứt
đi. Mắc bốn tội này coi như bỏ ra ngoài Tăng chúng, vì vậy
gọi là Khí (vứt bỏ). Phạm tội này gọi là bất cọng trụ,
tức không được phép tham dự tất cả công việc của Tăng.
Luận Du-dà-sư-địa cho rằng khi phạm bốn tội này gọi là
Tha thắng - tức khi phạm tội nầy thì bị Ma thắng. Vì sao?
vì người tu sĩ ví như một chiến sĩ chiến đấu với bốn
thứ ma: Ma phiền não, ma ngũ ấm, tử ma, thiên ma. Họ đánh
bằng khí giới gì? Họ chiến đấu bằng cách hành trì giới
luật. Khi người tu sĩ không trì giới, không giữ giới thì
thua bốn thứ ma đó, như vậy là Ma thắng. Do đó phạm bốn
Ba-la-di cũng gọi là phạm Tha thắng. Tha là kẻ khác, thắng
là hơn. Phạm tội để kẻ khác hơn gọi là Tha thắng. Nếu
phạm tội này thì Ma hơn. Còn phạm tội dưới tội đây thì
còn dằn co, chưa phần thắng bại.
Giải thích
mười ba Tăng tàn
Mười ba Tăng tàn: Phạn tự là
Samghà-vasena. Phiên âm là Tăng-già-bà-thi-sa. Tàu dịch là "Tăng
tàn". Tăng tàn có hai nghĩa:
-
Nghĩa thứ nhất: Giới luật là tính
mạng của Tăng. Khi phạm Ba-la-di coi như chết hẳn. Còn nếu
phạm Tăng tàn thì như một người chết mà chưa chết hẳn,
mới hấp hối thôi, nếu cấp cứu kịp thời, gặp thầy hay
thuốc tốt thì có thể cứu được.
-
Nghĩa thứ hai: Phạm giới này nếu
đủ hai mươi Tỷ-kheo hợp lại Kiết-ma đúng pháp, cho họ
sám hối thì có thể tiêu diệt được tội này, nên gọi
là Tăng tàn. Trong Căn bản nhất hữu bộ gọi là Chúng giáo.
Chúng là chúng Tăng, giáo là giáo dục. Chúng giáo có nghĩa
phải có hai mươi vị Tăng giáo dục cho, cho sám hối thì mới
hết tội.
Giải thích hai
Bất định
Hai bất định: Vì sao gọi là Bất
định? Vì không dứt khoát tội đó là Ba-la-di hay Tăng tàn
hay Ba-dật-đề. Nó có thể thành tội Ba-la-di hay tội Tăng
tàn hoặc Ba-dật-đề theo lời trú tín Ưu-bà-di, là vị nữ
cư sĩ có lòng tin thanh tịnh kiên cố, không nhất định nên
gọi là Bất định. Hai tội này chỉ liên hệ giới bất dâm,
chứ không liên hệ các giới khác.
Giải thích
ba mươi Xả đọa
Ba mươi tội Xả đọa: Phạn tự
là Nissagiya-pàcittiya. Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề là phiên âm. Tàu
dịch là "Xả đọa".
Tội xả và tội đọa. Loại tội
này là chỉ các Tỷ-kheo, đồ dùng đó khi phạm vào mà trái
phép thì phải đọa. Muốn sám hối tội đó thì phải ở
giữa chúng hoặc đối một người mà xả đồ vật lấy dùng
trái phép trước rồi sám tội sau.
Nói cách khác, khi đề cập đến
tội xả đọa là các vật sở hữu của Tỷ-kheo, như y, bát,
tọa cụ... lại không làm thủ tục tác pháp thì phải làm
phép xả vật, xả tội, chừa bỏ tâm lý chứa chấp, tàng
trữ tài vật để khỏi đọa lạc, nó gồm ba mươi giới.
Ai phạm nên đưa các phẩm vật ấy ra giữa Tăng, từ bốn
vị trở lên để xả và đối trước một vị Tỷ-kheo để
nói tội và xin sám hối.
Giải thích
chín mươi Ba-dật-đề
Ba-dật-đề (Pàcittiya). Tàu dịch
là "Ðơn đọa". Nó liên quan đến các tội tiểu vọng ngữ,
cố ý sát hại côn trùng, cùng với nữ nhơn đi chung đường
v.v... gồm có chín mươi đơn đọa là tội không dính dáng
gì đến vật dụng hết. Phạm thì bị đọa thôi, không cần
xả, nên gọi là đơn đọa.
Giải thích
bốn Hối quá pháp
Bốn hối quá pháp. Ba-la-đề Ðề-xá-ni
(Pàtidesanniya), Tàu dịch là "Hướng bỉ hối". Phạm tội này
chỉ hướng tới một Tỷ-kheo khác, nói rõ lỗi lầm đã phạm
và xin sám hối. Tóm lại là tội nhỏ, có thể hối cải,
người phạm có thể nói tội với một Tỷ-kheo khác mà xin
sám hối.
Giải thích
một trăm Học pháp
Một trăm Học pháp phiên âm Phạn
tự là Thức-xoa-ca-la-ni (Sikkhà Karaniya). Tàu dịch là "Chúng
học". Chúng học pháp là những pháp cần nên học. Như các
sinh hoạt hằng ngày, các oai nghi nhỏ nhặt.... Pháp này chủ
yếu là tự trách lấy mình. Ðây là tội nhỏ nhặt, tội
khó giữ nhưng hết sức dễ phạm. Khi biết phạm thì tự
trách lấy mình để ăn năn, tự hứa lần sau không tái phạm
là đủ.
Giải thích
bảy Diệt tránh
Bảy Diệt tránh pháp, tiếng Phạn
là Adhika-ramásama-thaàdharmàh. Tàu dịch là "Diệt tránh pháp".
Tức bảy phương pháp trị tội hay bảy cách thức để chấm
dứt sự tranh cãi giữa chúng Tăng. Phạm 100 học pháp và 7
Diệt tránh kết vào tội Ðột-kiết-la, chỉ tâm niệm sám
hối, học tập, là đủ.
Riêng về Tỷ-kheo-ni, Phật ưu đãi
hơn:
-
Ba-la-di không phải bốn mà là tám.
-
Tăng tàn không phải mười ba mà là
mười bảy.
-
Xả đọa bằng nhau.
-
Ðơn đọa không phải chín mươi mà
là 178.
-
Hối quá không phải bốn mà là tám.
-
Một trăm học pháp giống nhau.
Cộng tất cả là 348 giới. Chưa hết,
Ngài còn trao thọ mạng Phật pháp cho Ni nữa. Ðặc biệt là
Ni có Tám kỉnh pháp, nhưng Tăng thì có nhị bất định, còn
Ni thì không. Như vậy Ni hơn tám, Tăng hơn hai. Ni thì có ngũ
thiên lục tụ.
(Trích "Cương
Yếu Giới Luật", Sài Gòn, 1996
