|
c
ÐỊNH
HƯỚNG TƯƠNG LAI
VỚI
THẾ HỆ TĂNG SỸ TRẺ (*)
(Buổi
nói chuyện của Thượng Toạ Tuệ Sỹ với Tăng sinh chùa Từ
Hiếu - Huế)
Lời
giới thiệu của BBT Trang nhà - Mặc dù hằng ngày tại Chùa
Già Lam có hàng chục Công An (mặc thường phục) để canh
gác và ngăn cản việc đi lại của Thượng tọa Tuệ
Sy, nhưng khi nhận tin Cố Ðại lão Hoà Thượng Thích Thiện
Siêu viên tịch, Thượng tọa vẫn đến Huế để đảnh lễ
Giác linh Cố Hoà thượng tại chùa Từ Ðàm. Nhân dịp này
Ban Giáo Thọ chùa Từ Hiếu đã cung thỉnh Thượng tọa nói
chuyện với Tăng sinh chùa Từ Hiếu vào ngày 10/10/2001.
Kính
bạch quý Ôn,
Kính
thưa quý thầy, đại chúng, cùng quý Phật tử hiện diện
x
Hôm
nay chúng tôi được quý ôn, quý thầy trên cho phép và tạo
điều kiện cho chúng tôi gặp gỡ đại chúng và quý Phật
tử có nhân duyên. Trong hai năm qua, từ các buổi học về
Câu xá, học Luật, các thầy, chú đã có nghe tiếng nói của
tôi rồi, nhưng nay mình mới có điều kiện để nói chuyện
với nhau. Ðây không phải là lớp học mà là buổi nói chuyện.
Chuyện đời có, chuyện đạo có; tuy rằng mình nói chuyện
đạo, nhưng bây giờ mình không thể tách đạo riêng ra khỏi
đời. Chuyện thì nhiều lắm, đây mình chỉ nói vài chuyện.
để hiểu thôi! Với lại, quan trọng hơn, để cho chúng ta
quen sau này khi nghe tôi ở trong đó giảng ra mấy thầy, chú
tưởng tượng được như tôi ngồi đây cho nó dễ. Phần
tôi khi giảng ở trong đó tôi cũng tưởng tượng được trước
mặt tôi như thế nào; chứ trước nay ngồi ở trong đó mà
giảng tôi chỉ thấy có vách tường không hà (tiếng cười
rộ.), thành ra nhiều khi không biết nói như thế nào, không
biết được các thầy, chú có hiểu không và hiểu tới mức
nào. Ðúng là nhắm mắt mà nói. Bây giờ mấy thầy nghe, được
mở mắt mà nhìn, còn tôi mở mắt mà nói!
Ngoài
ra hôm nay còn có thêm một số Phật tử tham dự để nghe,
gọi là kết duyên, nhưng cũng xin quý vị thông cảm vì hôm
nay chắc tôi nói chuyện với mấy thầy ở đây nhiều hơn,
và có nhiều vấn đề có thể không liên can với quý vị.
Vã lại đây cũng không phải là buổi giảng pháp hay buổi
học.
Trong
buổi nói chuyện, nói về tiếp xúc, nếu tôi sống ở đây
với đại chúng thì vấn đề nó khác vì quan hệ của mình
hằng ngày có tiếp xúc, nói với nhau về tâm tư tình cảm;
giưõa thầy và trò hiểu nhau thì vấn đề truyền trao, học
hỏi có dễ dàng hơn. Còn chúng ta đây thầy trò mỗi người
mỗi đường, sự hiểu biết, trình độ, mọi cái đều rất
là cách biệt, thì để nói chuyện thật thông cảm rất là
khó. Với lại, có một điểm mà tôi biết qua kinh nghiệm
của mình từ hồi nhỏ,là giưõa hai thế hệ, thế hệ lớn
và thế nhỏ, chắc chắn phải có một khoảng cách mà mình
rất khó vượt qua.
Vấn
đề khoảng cách, như trong gia đình giưõa cha và con, trong
xã hội giưõa thầy và trò, không nhưõng chỉ chúng ta mà
ở phương tây cũng vậy, luôn có nhiều xung đột, ray rức
trong xã hội mà vì không để ý nên chúng ta không thấy thôi.
Ví dụ như tôi hồi nhỏ đi học, hay ngay cả trước tôi như
Sư ông Nhất Hạnh mà qua lời kể, tôi biết có nhưõng khoảng
cách rất khó. Lúc đó với các thầy tổ đi trước họ chỉ
học nội điển thuần túy, không đi học ngoài. Là người
đầu tiên chủ trương Tăng sĩ cần phải học để hiểu biết
xã hội chung quanh mình, Sư ông là người đầu tiên tự động
học tiếng anh, tiếng pháp; lúc đó đã bị chống đối rất
nhiều. Cho đến ngày nay nếu một vài quý vị còn nghe vài
lời không bằng lòng về Sư ông nghĩa là hậu quả đó vẫn
còn, tức là đã qua nhiều thế hệ - trên 50 năm rồi - mà
ảnh hưởng đó vẫn còn kéo dài. Còn trường hợp của tôi,
như hồi trẻ lúc ở Từ Ðàm, tôi có nghe Ôn Từ Ðàm than
như vầy: "hồi xưa giưõa thầy với các Tổ luôn có tình
cảm thân thiết thầy-trò, là vì thầy dạy cái gì thì trò
học cái đó, mà trò học cái gì thì thầy dạy đuợc. Còn
bây giờ như tui (ôn Từ Ðàm), tui làm thầy mà học trò nó
đi học đem về nhưõng cái mình không dạy được." Cũng đúng
thôi, vì như tôi lúc đó đi học toán về thì Ôn Từ Ðàm
không dạy được; tôi đi học vật lý thì về Ôn không biết
đâu mà dạy! Còn dạy kinh điển, theo như chương trình hồi
xưa thì lớp trẻ họ không thích cách tiếp thu đó. Ðó là
khoảng cách, và là nỗi ray rức của các thế hệ lớn, như
thế hệ Ôn Từ Ðàm. Mà thế hệ đệ tử đầu tiên đó
Ôn chăm sóc kỹ lắm, nhưng khi hiểu ra mình không thể dạy
được thì Ôn bỏ lơ, như thế hệ của tôi, nghĩa là Ôn
bỏ dần, đứa nào học được gì thì học, Ôn không nói
được. Cho đến lớp của tôi thì khi tôi bắt đầu đi dạy
tuy không có cách biệt nhiều về tuổi tác - vì tôi đi dạy
hồi còn rất trẻ - giưõa thầy và trò chỉ hơn nhau vài ba
tuổi, nhưng tôi nhớ có lần mình la các thầy học tăng ở
viện cao đẳng hải đức không lo học, thì các thầy có nói
"thầy thông cảm tụi con còn trẻ, thầy cho tụi con chơi một
chút." tôi nói "chớ tui có lớn đâu, hơn mấy thầy vài ba
tuổi là cùng." nhưng chỉ cách vài ba tuổi mà vẫn có khoảng
cách, hoặc cảm giác có khoảng cách. Cho tới bây giờ, tôi
vẫn cảm giác có khoảng cách. Bây giờ không phải là khoảng
cách về vấn đề trình độ nưõa, như khoảng cách hồi thời
Ôn Từ Ðàm. Bây giờ các thầy các chú đi học đại học
về tôi có thể giảng được, ngay như các thầy đi học toán,
học vật lý cấp đại học, khi cần tôi vẫn có thể giảng
cho đuợc, huống hồ là kinh điển. Nhưng mà vẫn có khoảng
cách mà nhiều khi tôi không dám nói. Ngay như ở chùa Già lam
có nhiều cái mình không dám nói; mình có cảm giác rằng có
lẽ mình lạc hậu rồi, mình già nên có thể lạc hậu...
Nên có nhiều điều mình không dám nói. Nhưng vấn đề chủ
động là ở thế hệ trẻ. Tuy là có khoảng cách, nhưng chính
thế hệ trẻ phải chủ động, nhất là với các học tăng,
ở cái giai đoạn gọi là bắt đầu... Ít nhất là từ khi
bắt đầu thọ giới Tỳ kheo, các tân Tỳ kheo, ở tuổi hai
mươi, cái tuổi đó ở ngoài người ta gọi là bắt đầu
bước vào đời, ở đây là mình bước vào đạo. Mà đời
hay đạo, đều phải có định huớng. Ở cái tuổi đó là
phải có định hướng. Ðịnh hướng thế nào cho chính mình,
và cho nhiều vấn đề nưõa. Ở ngoài, cái tuổi đó vào đời
chỉ cần định hướng cho tương lai của chính mình, nhiều
lắm là cho gia đình mình, chỉ có hoàng tử may ra mới có
định huớng cho tương lai của đất nước, dân tộc mình.
Nhưng đối với quý thầy còn hơn như thế nhiều, tuy là còn
trẻ. Khi mới thọ giới, phải định hướng cho cuộc đời
của mình có giưõ trọn chiếc áo này không? Phải làm thế
nào để giưõ được? Tức là cái tinh thần, cái khí tiết
của mình, phải giưõ cho bản thân mình và cho cả đạo pháp
nưõa; trong đó có nghĩa một cách gián tiếp định hướng
cho cả dân tộc, chứ không phải đơn giản. Ðó là cái sứ
mạng mình phải nhận thấy. Bởi khi mình nói rằng một người
thọ giới Tỳ kheo là "phát túc siêu phương, tâm hình dị
tục", tức là tiến tới một phương trời cao rộng, thì mục
đích không phải là thấp kém, không thể hèn nhát, không bình
thường như người sinh viên ngoài đời. Sinh viên ngoài đời
nếu học giỏi lắm, chức vụ làm tới tổng thống là cùng.
Và ước mong nhiều lắm là làm ích nước lợi dân cho một
đời là hết. Còn trách nhiệm của một Tỳ kheo, một vị
thầy, thì định hướng cho tương lai của mình là phải bảo
đảm cho trọn vẹn con đường đi của mình mà còn bảo đảm
cho được cả sự kế thừa và tồn tại của chánh pháp.
Ðiều đó có nghĩa là làm đuốc soi sáng cho cả cộng đồng
- nếu nói nhỏ là cộng đồng Phật tử chung quanh mình, nói
lớn ra là mình đủ khả năng thắp lên ngọn đèn để tìm
hướng đi cho đất nước, cho dân tộc, hay rộng lớn hơn
nưõa là cho cả nhân loại. Nhưng nói lo cho đất nước, cho
cả nhân loại thì cao quá, xa quá, ta cho là viễn vông. Thì
thu nhỏ lại, nói là cho cộng đồng Phật tử thôi thì tạm
thời cũng được, nhưng không thể không định hướng.
"Ðịnh
hướng" thì tuỳ vào khả năng của mình, cái đó mấy thầy
dạy không được. Không ai dạy được cái định hướng này
cho mình. Các thầy dạy đủ cả: giới luật, tu trì, kinh nghiệm...
Nhưng chắc chắn các thầy dù có trí tuệ tới đâu, vì mình
chưa phải là thánh, chưa có được trí tuệ Bát nhã của
Phật, nên vẫn bị hạn chế về thời đại của mình. Như
nói trong 10 năm nưõa đất nước này sẽ như thế nào, bản
thân tôi không biết được. Nhưng mấy thầy cần phải biết!
Vì bây giờ các vị thọ tân Tỳ kheo, ở tuổi 20, thì 10 năm
nữa 30 tuổi, mấy thầy bắt đầu hành đạo, có trách nhiệm
gánh vác việc đạo, thì lúc ấy đất nước như thế nào,
mình sẽ phải làm gì; phải định huớng! Ðó là việc tôi
đã phải định hướng ngay từ khi tôi mới 20 tuổi. Không
thể không có được! Như bây giờ nói riêng chuyện bản thân
tôi, khi tiếp xúc với thanh niên ở nước ngoài về, họ có
học, có trình độ, nói đủ các vấn đề Ðông-Tây, văn
hoá, triết lý, tôi không sợ; nhưng tôi vẫn nói rằng có
một khoảng cách thế hệ - không phải chỉ là khoảng cách
giưõa thầy và Phật tử - nhưng dù sao tới một lứa tuổi
nào đó người ta vẫn có tinh thần bảo thủ nhất định.
Tôi lấy giả thiết. Nói về gia tài Phật giáo Việt nam, tôi
nói đó là một cơ đồ đã mục, có thể sập. Nhưng vì,
trong đó tôi là người đã góp công rất nhiều, nên dù biết
nó có thể sập tôi cũng không đủ can đảm để phá đi.
Nhưng thế hệ trẻ các anh có đủ can đảm để phá, vì các
anh chưa đóng góp gì trong đó cả, các anh có quyền phá sập
đi để xây dựng lại cái mới. Họ hoảng, họ nói thầy
bảo sao tụi con không hiểu. Tụi con làm sao dám làm chuyện
đó? nhưng mà tôi nói, là thanh niên, nếu các người muốn
định hướng tương lai, phải đủ can đảm phá sập cái cũ,
nhưõng cái đang mục rã. Không phải mình phản bội Thầy
tổ, không phải mình phản bội cơ nghiệp của Tổ tiên, nhưng
nếu cái nhà nó đã mục nát, cần đập làm lại thì mình
đập để làm lại cho nó đẹp. Mình đâu phải thuộc loại
phá gia chi tử, thấy có sẵn nhà cửa muốn đập đâu thì
đập, phá đâu thì phá. Mà mình muốn làm tốt hơn, phải
biết tình trạng cái nhà; phải nhận thức cho sáng suốt...
Mà như vậy ngay từ bây giờ, từ khi mới thọ Tỳ kheo, phải
tập nhìn, nhận xét, học hỏi chung quanh, học các thầy lớn,
thầy nhỏ, và phải tự định hướng cho mình. Nếu tôi không
tự định hướng, tôi đã không học hỏi đuợc. Mà mình
phải nhận định trong 10 năm nưõa mình sẽ như thế nào?
Cái này thầy không định hướng cho mình được. Các thầy
dạy mình đủ cả, từ kinh nghiệm, đức tu trì, giới luật,
mọi cái đều dạy hết. Nhưng mà thầy không thể biết trong
10 năm nưõa mình sẽ trở thành cái gì? Chỉ tự mình biết
lấy. Mình muốn làm cái gì thầy không thể biết được.
Thầy muốn mình như thế nào thì có, nhưng bản thân mình
muốn mình sẽ như thế nào thì thầy không biết được. Tôi
dạy đệ tử, tôi muốn sau này họ như thế này, thế kia;
muốn họ kế nghiệp, kế thừa, truyền bá Chánh Pháp; nhưng
thật sự tôi không biết họ muốn cái gì, muốn làm ông hoà
thượng hay muốn làm ông tổng thống, muốn là ông thầy tu
hay muốn làm ông tiến sĩ, hay muốn làm ông ăn mày, tôi không
hiểu được. Bản thân mình, là đệ tử mình phải biết
để mà định hướng cuộc đời mình: biết mình sẽ làm
cái gì, và trong 10 năm tới khi mình trở thành như thế thì
đất nước sẽ như thế nào, nhân loại sẽ như thế nào...
Ðó gọi là định hướng mà nãy giờ tôi giới thiệu để
các thầy nhìn thấy cái ý nghĩa, cái khái niệm rất tổng
quát, để có nhưõng suy nghĩ về định hướng của mình.
Bây
giờ nói về cách nhìn của tôi. Cách nhìn của mấy thầy
tôi đã nói chừng đó rồi, còn lại mấy thầy tự nhìn lấy.
Bây giờ nói cách nhìn của tôi về thế hệ tương lai, về
mấy thầy đang ngồi trước mặt tôi đây, tức là một tầng
lớp Tăng trẻ sẽ làm gì cho đạo pháp, và tôi sẽ nhìn.
Trước hết là thất vọng. Ở đây quý thầy ở Từ hiếu
tôi chưa tiếp xúc nhiều tôi không dám nói. Nhưng bản thân
tôi gặp ở trong Sàigon, tôi thấy thất vọng! Thiếu nghị
lực, đó là cái thất vọng thứ nhất. Một người xuất
gia điều cần thiết là nghị lực; nếu không có nghị lực
không thể giưõ được chiếc áo. Sau đó, nếu không có nghị
lực không thể học hành được gì nhiều.
Khi
tôi mới ở tù về, nhiều học tăng thuộc thế hệ mới lớn,
trong đó có nhiều người thật ra khi mới cạo đầu thì tôi
đã ở tù rồi, họ chưa biết tôi thế nào nhưng đa số vẫn
mến, đúng là vẫn có kính trọng, nhưng mà họ nói với nhau
thế này, "thầy tuệ sỹ học hành giỏi nhưng mà thầy về...
Ðại khái là họ không dám nói tôi ngang ngược, nhưng họ
nói là thầy không dạy cho mình học kinh, uổng đi." Thì tôi
đã trả lời thế này: cái học trong sách vở rất là dễ.
Kinh sách trong Ðại tạng cứ lấy ra học thì dễ. Nhiều người
Thiên chúa giáo hay các tôn giáo khác họ học Phật rất là
giỏi, giỏi hơn cả mấy thầy lớn, hơn cả quý ôn, có người
còn giỏi hơn cả tôi nưõa. Nhưng không phải vì vậy mà họ
trở thành người Phật tử, họ phụng sự, truyền bá Chánh
Pháp, cho nên cái học đó không đáng. Cái học cơ bản, đó
là học làm người; cái cốt cách của một thầy tu: cái đó
mới xứng đáng học. Mà nếu cái học đó thiếu thì không
có hy vọng. Còn bây giờ bảo rằng thôi thầy cứ ngồi dịch
kinh dịch sách cũng được, thì việc đó dễ thôi. Khi cần
tôi sẽ ngồi dịch - cứ cho rằng tôi có sức khoẻ để dịch
trong 20 năm nưõa đi - lúc đó tôi gần 80 tuổi rồi hỷ -
tôi dịch được. Mỗi năm tôi làm chừng 5, 6 bộ vì chỉ
dịch thì dễ thôi. Nhưng tôi dịch ra để chất chồng cả
đống đó, không có ai đọc, thế hệ trẻ không ai đọc,
mà có đọc cũng chả hiểu, thì tôi dịch làm gì? Ðể cho
mối mọt ăn à? Cái quan trọng là phải có người đọc, phải
có người kế thừa. Ngoài đời người ta chỉ kế thừa về
sách vở là đủ. Như ông thầy đi truyền nghề thợ hồ,
ông chỉ cần truyền tay nghề cho khéo là đủ rồi, chứ học
trò nó làm thợ hay đi ăn trộm thì là việc của nó. Nhưng
mà người đi học đạo đi truyền đạo không phải chỉ kế
thừa kiến thức học được ở sách vở, mà là kế thừa
cái tinh thần của đạo mà mình học được, không phải trong
vài ba ngày, không phải trong một thế hệ, mà nếu nói ra
là 2500 năm lịch sử, mình phải học cái truyền thừa đó.
Nói thì hơi quá đáng nhưng đó là sự thực lịch sử mà
mình phải nhận định: trên vai mình là 2500 năm lịch sử
không thể chối cãi, mà mình phải gánh mà đi! Và mình đủ
nghị lực để gánh mà thấy nó nhẹ chứ không phải nặng.
Khi mình vận dụng đủ nghị lực và ý chí thì việc đó
không nặng đâu; chỉ với người lười nhát thiếu ý chí
thì nó mới nặng. Tôi nói ngoài lề một chút cho vui: cái
thời của tôi đi học, khi lớn lên một chút thì các thầy
hay nhắc như thế này, các chú ráng tu, chứ về đời khổ
lắm, phải lo cho gia đình, vợ con, khổ lắm! thì tôi nói
thế này, mình ở đời lo cho một cái gia đình, một bà vợ
với hai, ba đứa con mà lo còn không nỗi, còn sợ khổ, thì
khi mình xuất gia, mình phát nguyện độ tận chúng sanh, lo
cả thiên hạ, thì lo làm sao mà lo? Như vậy chẳng lẽ mình
cạo đầu vô chùa là để kiếm cơm à? Lo gia đình có vài
ba người còn sợ khổ thì vô chùa anh lo cho ai? Anh đi trốn
à? Không xứng với tư cách một thầy tu. Ðương nhiên về
chuyện này thì tôi cãi với quý thầy tôi rồi. Ðúng ra các
ngài muốn khích lệ mình hãy ráng mà tu, nhưng mà nói như
vậy thì tôi phải cãi. Ngay cả với mẹ tôi cũng nói thế.
Bà nói làm như vậy thì mình khổ sao con. tôi nói, mình đi
tu mà còn sợ khổ thì tu làm chi, ở ngoài đời cho sướng
hơn cho rồi. Có gì mà khổ? Bà nói rằng mình được ở đây
mà nói lung tung như thế làm mất lòng người, họ không cho
mình ở, đuổi đi chỗ khác có phải khổ không! Tôi nói,
cái gì phải là nói. Ðuổi đi hả, tôi không sợ. Không cho
tôi ở chùa tôi ra gầm cầu tôi ở; ở đâu mà tu chả được?
Tôi giưõ cốt cách của tôi. Tôi ở gầm cầu cũng sống được.
Phật ngày xưa là thái tử mà ngài sống ở gốc cây có sao
đâu! Còn tôi là cái gì, chỉ là dân thôi, mà sống ở gốc
cây không nỗi à? Tất nhiên là ý chí của mình ban đầu chưa
đủ, nhưng mình phải học, phải rèn luyện; mà cái học trước
tiên là cốt cách, cái đó mình phải biết. Ðã chọn con đường
xuất gia, "cát ái từ thân", thì nhưõng chuyện như vậy mình
không sợ. Phải phân biệt rõ giưõa gia đình và trách nhiệm
của mình chứ đừng để mình hèn, yếu kém quá: vì không
lo nỗi cho gia đình nên bỏ đi tu. Chuyện đó không thể chấp
nhận được! Cũng có thể có nhiều người như vậy, nhưng
trong một tập thể Tăng ít nhất phải có những người đủ
nghị lực để mà gánh lên vai mình cái gánh nặng đó. Gọi
là gánh nặng chứ nó không nặng đâu. Chứ còn người xuất
gia mà cái tâm tư không rộng rãi thì không thể làm gì được,
không thể lớn được.
Trở
lại vấn đề, tôi nói cái học của mình, mục đích của
mình không chỉ dừng lại ở đó. Nguời đời họ học, nhiều
lắm là để làm tổng thống, đứng trên một xã hội thế
là to rồi. Còn mình đây không chỉ là tổng thống. Mình đứng
trên cả ba cõi thì tổng thống nghĩa lý gì, đến chư thiên
còn chưa ăn thua gì; làm ông trời, ông thượng đế còn không
thèm làm mà. Ðó là cái mình phải nhận định. Mình phải
hiểu bản lãnh của mình. Ở đây tôi nói lại cái thất vọng
của tôi: mình thiếu nghị lực! Khi nghe thầy về thì cũng
muốn học; thì được, tôi tìm cách cho học. Dù tôi nói vậy,
nói phải rèn luyện cái cốt cách, cái khí tiết, nhưng nếu
muốn học thì tôi vẫn tạo điều kiện cho học. Thực sự
ra không cần phải mở trường mới học được. Ở đây các
thầy Từ hiếu đâu cần có trường lớp vẫn học đuợc;
đâu cần phải có ban giảng huấn, bộ giáo dục mới học
được. Ngay cả trong thời kỳ khó khăn, mấy thầy hỏi thầy
Thái Hoà đây thì biết, từ nhưõng năm 80 rất khó khăn, cả
nước không ai mở đuợc một truờng học Phật mà mấy thầy
ấy vẫn học được 4 năm, dù học rất khổ. Có đêm ông
thầy Quản ly còn lên kêu mình hết gạo rồi thầy ơi! tôi
làm sao kiếm được gạo đây? Tôi cũng chả biết, thôi thì
nhờ... Mình nói là mê tín đi, nhưng mà tự nhiên cũng có
Phật tử ở đâu có lẽ thấy mấy ông thầy khổ quá họ
cũng thương, nên đem lên cho một ít gạo... Rồi sau đó thầy
trụ trì, tức thầy Ðức Chơn, cũng phải đi cúng. Vì mấy
thầy khác đa số lo học, ít ai đi cúng, thầy trụ trì phải
tìm người đi cúng. Rồi có hôm mấy thầy lên thưa thầy
trụ trì tối nay không thấy về thầy chả ai biết ra sao.
Sáng ra thấy về hỏi thầy đi đâu vậy? nói, thì vô "sở"
ngồi vì hành nghề trái phép. Là vì đi cúng mà, cha mẹ người
ta chết, coi giờ nhập liệm rồi lên mời thầy về cúng mà
còn chờ mình đi xin giấy phép hành nghề thì sao kịp? Cho
nên phạm tội hành nghề trái phép, bị mời vô sở nhốt
một đêm. Còn nhiều chuyện lắm... Hết chú này đến thầy
kia bị công an mời lên... 4 năm trời như vậy mà vẫn học,
và học giỏi! Nhưng mà các thầy vẫn cố chí học, và chính
nhờ tình trạng đó mà vẫn duy trì được sinh mạng của
Phật giáo, hay nói chung là tồn tại được trong cái... Mình
gọi là đại hùng đại lực thì hơi quá đáng, hỷ; nhưng
mà không để cho người đời họ nói đó là một cái tập
thể nhút nhát, hay hèn nhát, không! Mà vẫn tồn tại được.
Nên tôi vẫn tìm cách cho mấy thầy học được.
Ban
đầu thì mừng lắm, nghe nói học với thầy Tuệ Sỹ thì
mừng lắm, nhưng được ít bưõa thì nói thầy dạy khó. Thì
đương nhiên học là phải khó rồi; tôi có hát cho mấy thầy
nghe đâu. Nhưng giưõa thầy trò nếu thấy chỗ nào khó thì
nói, không hiểu thì nói tôi dạy lại. Mình học cái mới,
cái lạ thì phải khó rồi; chứ cái dễ thì học làm chi!
Học mà ngại khó, rứa là chừng một tháng thì bỏ. Tôi làm
nhiều lần, và tôi thấy rằng từ khi tôi bắt đầu dạy
học, cho tới nay trên 30 năm rồi chưa có lần nào thất bại,
nhưng đây là lần đầu tôi thất bại. Ngày xưa tôi dạy
thì mấy thầy cũng than khó, có người còn nói thầy Tuệ
Sỹ dạy hay tung hoả mù, nhưng khó thì khó mà vẫn học, chưa
có ai bỏ. Còn hiện tại thì có học đó, tới nhiều lần,
nhưng chỉ được một thời gian rồi bỏ. Cái đó tôi không
trách, tôi chỉ nói là thiếu nghị lực. Thế nhưng cũng có
chuyện ngược đời: trong khi đó có nhưõng Phật tử, một
số huynh trưởng gia đình Phật tử muốn được thầy dạy.
Thì tôi cũng chỉ cho học; tôi nói nhiệm vụ của tôi là
học để truyền dạy mà. Họ nói sợ thầy bận việc. Tôi
nói không, bận cái gì. Việc của tôi là truyền dạy thì
ai cần là tôi dạy. Chỉ có điều là dạy lắc nhắc thì
nó mệt, mình không đủ thì giờ. Phải học cho nó đông một
chút, mình giảng một lần cho tiện. vậy mà họ học rất
kiên trì. Có người tôi biết ở tận thủ đức, ban đêm
đạp xe về Saigon mười mấy cây số mà người ta vẫn đi.
Và họ ở ngoài, học Phật pháp là học phụ, nhưng họ cần
cái gì mà vẫn đi học? Vì thiệt ra học Kinh điển họ chẳng
vì danh vọng hay chức tước gì; họ học có giỏi lắm cũng
chả lên được thượng toạ cũng chả làm được hoà thượng,
cũng chẳng có ai lạy họ một lạy, nhưng tại sao họ học,
mà học rất đều? Mà tôi dạy kinh khó chứ không phải dễ
đâu; như kinh duy-ma-cật đâu phải dễ hiểu. Nhưng tôi thấy
khi tôi giảng họ hiểu. Trình độ của họ đâu có bằng
mấy thầy mấy chú, đã lên tới cao đẳng, nghĩa là đã học
liên tục 6 hay 10 năm Phật học rồi, mà tôi dạy không hiểu.
Trong khi Phật tử họ chẳng học gì nhiều, họ còn lo đi
làm ăn, mà nghe tôi giảng họ hiểu. Không phải hiểu lơ mơ
vì tôi coi mặt, tôi hỏi họ trả lời chứng tỏ họ hiểu.
Vậy tại sao người ta hiểu, học được, còn mấy thầy mấy
chú học không được?
Mình
nói chuyện trong nhà một chút mà các Phật tử đây nếu nghe
được thì đừng nghĩ lộn xộn nghe, rồi nói tôi nói xấu
mấy thầy. Tôi nói để mấy thầy ở đây nghe mà hiểu. Thực
tế có nhưõng vị buổi tối ngồi coi đá banh tới 3, 4 giờ
sáng không thấy mệt, mà học thì mệt. Ðây chỉ là một
số thôi. Vì da^`u sao, ngay cả ở saigon, mình cũng có hy vọng.
Vì cũng co`n có một số khác rất là hăng hai, thích học hỏi.
Bây giờ tôi nói lại thế này: không phải tôi chỉ trích
mấy thầy lười, nghị lực hay không nghị lực. Mà phải
có điều kiện tu tập. Tôi nói tại sao mấy thầy không thích
học. Ở trong đó đi học nhiều lắm, trường lớp mở rất
nhiều, nhưng có nhưõng trường hợp đi học mà, vì muốn
xin vô trường cao đẳng mà thiếu cái bằng cơ bản, người
ta phải mua cái bằng cơ bản hai, ba triệu đồng để đi học.
Thì cái học này là thế nào? Ði học kinh điển mà phải
mua bằng cấp để đi học. Ðây là một dấu hiệu không lành
mạnh trong vấn đề giáo dục, tôi nói để mấy thầy phải
ý thức về chuyện này. Không phải mình bày chuyện để nói
xấu, nhưng mình phải hiểu biết tất cả nhưõng hoàn cảnh
giáo dục chung quanh mình. Bây giờ thì cái vấn đề xây dựng,
lãnh đạo để hướng dẫn thì quý Ôn với quý thầy chúng
tôi có trách nhiệm, nhưng trong 10 năm nưõa ở đây các thầy
các chú phải ra làm cái nhiệm vụ đó thì phải hiểu ngay
từ bây giờ nhưõng chuyện như vậy; hiểu hết nhưõng mặt
xấu và mặt tốt. Ở đây mình không cần nói tới mặt tốt
tại vì mình hiểu rồi, mình học Phật mình biết cái tốt
của nó rất nhiều, và mình biết mình phải khai triển nhưõng
mặt tốt đó thế nào. Nhưng đồng thời mình cũng phải biết
nhưõng mặt xấu. Mình trồng rau thì mình biết rau tốt rồi;
tốt mới trồng chứ, nhưng mình cũng nên vạch lá tìm xem
chỗ nào có sâu để cho bớt sâu đi...
Thế
hệ trẻ như vậy, tôi không có ý chê, nhưng đó là một sự
thật. Nếu nói về trách nhiệm thì đó là trách nhiệm của
mấy thầy lớn, mà trong đó tôi cũng có một phần. Mình đã
không tạo đủ điều kiện cho thế hệ trẻ rèn luyện nghị
lực và ý chí. Cái nghị lực và ý chí này, có một số trường
hợp bẩm sinh đã có, nhưng đại đa số thì phải rèn luyện.
Ta gọi là tinh tấn ba-la-mật mà; đó là nghị lực, phải
tu tập. Như bồ tát phải trải qua hai a-tăng-kỳ kiếp mới
luyện được cái mình gọi là tinh tấn ba-la-mật. Rất tiếc
là có nhưõng người khi xuất gia, quý thầy đưa vào chùa
rồi không rèn luyện cho mình có nghị lực. Học đời thì
dễ nhưng học đạo thì phải ngồi lại, trầm tĩnh và trang
nghiêm để nhận định vì hoc kinh điển thì không thể hời
hợi được. Anh học toán tuy là khó, nhưng giải xong bài toán
rồi chạy ra ngoài chơi, có rơi rụng hết vô học Ôn lại
là được ngay. Nhưng học một trang kinh kim cang, tâm kinh, học
thuộc xong bỏ đi chơi, không có một chút suy nghĩ nào, thì
không thể hiểu được. Cho nên cần có thì giờ học, suy
nghĩ; cần có nghị lực. Và phải tạo điều kiện để các
thầy rèn luyện nghị lực, đó là một vấn đề.
Ðó
là trường hợp trực tiếp của tôi dạy ở Saigon. Và tôi
vẫn hy vọng rằng nếu có điều kiện, tôi vẫn luôn tìm
cách cổ vũ, hướng dẫn lớp trẻ tự mình rèn luyện được
nghị lực. Còn riêng ở Từ hiếu này hay nói chung là các
thầy Tỳ kheo trẻ ở huế, qua nhưõng buổi dạy học và tiếp
xúc quý vị rất ít, nhưng nói chung thì qua cách hiểu ở đây
tôi thấy tinh thần học: có. Nhưng về đây mà khen thì người
ta nói tôi nịnh nên tôi không nói nưõa. Tự mình có nghị
lực hay không, mình biết lấy. Tôi nói qua chuyện khác.
Bây
giờ tới chuyện này: có nhiều vị, như các vị ngày xưa
thì kinh điển không cần, nhớ trong đầu một chưõ Như cũng
được; cái đó đúng! Trí huệ các ngài, ngay như đức Phật,
thì chả học hành gì, chỉ cần ngồi khoanh chân một thời
gian sau cũng thành Phật, gọi là Vô sư trí mà. Nhưng chắc
mình không có đủ cái đó rồi, mà ngay như Thiện tài đồng
tử cũng phải học, học nhiều. Thiện tài đồng tử học
cả 10 năm với Ðức Vân rồi đi lang thang, lên học với Úc
Già trưởng giả, rồi học toán, học liên tục, học không
mệt mỏi... Ðó là nói chuyện lý tưởng của Phật giáo.
Chứ ta đừng nghe chỉ một phía, bảo là chỉ cần học cái
vô tâm hay vô trụ xứ, vô tâm tiện thị đạo là đủ, rồi
xả bỏ hết, dẹp hết sách vở. Nói như vậy cũng đúng nhưng
mới là một phần. Cũng như trong Thiền, mấy ông Thiền sư
nói là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự ai cũng
biết rồi phải không? Kinh điển không cần. Nhưng mà lật
trong Ðại tạng, trong 10 tông phái đạo Phật, tông phái nào
sách vở nhiều nhất? Không nhưõng chỉ sách vở mà còn nhiều
thứ nưõa. Các phái khác nhiều lắm chỉ có sách vở gồm
chú giải với vài luận thuyết. Mấy ông thiền sư, ngoài
chú giải và luận thuyết còn nhiều chuyện nưõa: vẽ tranh,
làm thơ, cắm hoa... học đủ mọi cái. Thành ra nói giáo ngoại
biệt truyền, bất lập văn tự, rồi kiến tánh thành Phật
nghĩa là không có gì cả, thế mà học rất nhiều, chứ ta
đừng có hiểu một mặt. Nhưng mà cái học không phải dễ
đâu. Ngày xưa tôi đi học nên tôi biết, ở ngoài đời họ
học để đi thi Tú tài, thi Cử nhân phải học ngày học đêm,
có nhiều người học mà sợ buồn ngủ, phải uống cà phê
cho thức để mà học. Mình tuy không cần làm như thế, nhưng
mà học ít hơn họ thì không được. Còn nói về sự thông
minh thì mấy thầy chắc không thông minh hơn tôi hay thầy Thát
được. Mà cơõ như tôi với thầy Thát, khi ngồi vào bàn
học mà dưới 10 tiếng một ngày thì chưa thể học được
gì nhiều. Còn muốn làm việc thì phải từ 12 tiếng trở
lên mới may ra làm được cái gì. Ðấy, không phải dễ đi,
nhưng cái học đó nó luyện ý chí của mình, tạo nên nghị
lực. Mà nếu luyện được nghị lực; mỗi người đều có
nghị lực, thì đó là tương lai của Phật pháp.
Ðó
là hai chuyện, giờ nói thêm một chuyện nưõa. Tôi đã nói
nhưõng nỗi buồn của tôi, nhưõng thất vọng. Bây giờ nói
đến sự kế thừa. Hồi trong thời kỳ căng thẳng, khi Phật
học viện giải tán rồi, tôi có nói với Ôn Già lam, ôn nhìn
xuống còn có đám tụi con - nghĩa là còn có nhưõng học trò
có khả năng, giỏi, kế thừa được - còn tụi con nhìn xuống
thì chưa thấy ai cả. Mà Ôn cũng thấy như vậy, Ôn nói đúng,
tui có phước hơn mấy thầy. Tức là, nhưõng năm đó tan rã
hết, mấy thầy không còn ai, mà sau này Ôn phải nói là tôi
sẽ chịu nhục cho mấy thầy làm việc. Ðến bây giờ nhắc
lại tôi vẫn còn muốn rơi nước mắt: tôi già rồi, tôi
sẽ chịu nhục cho mấy thầy làm việc.Mà chính vì đó, bằng
mọi giá - tôi đã trình với Ôn - cái sức mạnh của Phật
giáo không phải là chính trị, mà là văn hoá và xã hội,
mà giáo dục là hàng đầu.có thể mất cái gì cũng được
nhưng không thể để một ngày mà không giáo dục Tăng ni.
Thành ra bằng mọi cách mình phải lập lại trường học;
dưới mọi hình thức phải có trường học. Nhưng mà đương
nhiên mình học rồi mình dạy, thầy truyền trò, chứ không
thể có bất cứ nguời nào muốn mình dạy sao cũng được.
Còn như nếu tôi không được dạy theo ý kiến của tôi, theo
sự hiểu biết của tôi, mà đằng sau tôi có người biểu
phải dạy thế này, thế kia, thì không bao giờ tôi đi dạy.
Nếu sau lưng tôi là quý thầy quý Ôn thì được, tôi còn
quay lại mà trình bày; nhưng nếu đằng sau đó là ai đó,
là chính quền, hay thế lựu, mà ra lệnh, thì tôi không thể
dạy.
Chuyện
này nếu tôi nói ra thì có vài vị, không phải ở đây, nghe
được sẽ bảo tôi cố tình gây chuyện này nọ. Nhân chuyện
vừa rồi có hai buổi phát văn bằng, ở đây và ở Vạn Hạnh.
Ở đây thì tôi không biết rõ, nhưng ở Vạn Hạnh, nhận
văn bằng rồi, một chú ở Già Lam khi thấy tôi đi qua đưa
cái hình chụp, nói thầy nhìn xem; thầy mừng cho tụi con.
Nhìn rồi tôi cười, tôi bỏ đi, nghĩ trong bụng rằng, thầy
không mừng nỗi đâu con. Mấy thầy biết tại sao không? Sau
đó, khi tình cờ gặp sư Giác Toàn, tôi nói "mấy thầy làm
việc mà vô ý thức quá. Mấy thầy dạy cho một lớp Tăng
ni ra truyền thừa Chánh pháp, mà chiếc áo của mình, mình
không hãnh diện để bận khi ra lãnh bằng, lại bận cái áo
thụng, vậy mấy thầy truyền thừa cái gì? Rõ ràng cái áo
thụng đó là của phương Tây. Cái áo thụng đó có từ đâu?
Từ thời các Pháp quan La-mã, người ta vẫn còn sợ. Tôi nói
với thầy Giác Toàn, ngay ở toà án cộng sản mà cái áo đó
họ không bận; mấy thầy biết đó, truyền thống của các
toà án phương Tây là khi ra xử họ bận áo thụng; nhưng toà
án cộng sản họ cho rằng đó là cái ảnh hưởng còn lại
của Thiên chúa giáo, họ không bận, vậy tại sao mấy thầy
lại cho học Tăng bận chiếc áo đó mà ra lãnh bằng? Như
vậy mấy thầy truyền và thừa cái gì? Thì thầy ấy nói
rằng, ngày xưa Ðại học Vạn Hạnh cho bận cái đó thì sao?
Tôi nói, hồi xưa Vạn Hạnh là trường đời, dạy sinh viên
đời, họ mặc theo quy định của chính phủ. Còn đây là
trường đạo, mấy thầy dạy kinh lại đi làm theo đời; mà
đây lại là học Tăng nưõa, cho mặc như thế thì truyền
thừa cái gì? Rồi thì họ đổ thừa nhau. Nhưng tôi nói, mấy
thầy đều là người có học, có bằng cấp cả chứ không
phải dốt. Có hai trường hợp: nếu mấy thầy dốt, thì đừng
làm văn hoá để rồi đầu độc cả một thế hệ thanh niên.
Còn nếu vì nghe lệnh người khác mà làm, tôi không chấp
nhận chuyện đó! Mình học để kế thừa sư tổ, truyền
thừa Chánh pháp; ai nói đúng, ủng hộ thì tôi làm; mà là
nghe đúng, chứ không nghe bậy để rồi đầu độc thanh niên.
Tôi biết, nhiều chú thích cái áo đó, thích hơn chiếc áo
của mình nưõa. Nếu thích thì cứ cởi áo tu mà đi, chứ
đừng bận áo của mình mà làm chuyện như vậy, không chấp
nhận được. Vì đó là cái tình trạng suy sụp tinh thần
học tập. Tất nhiên họ nói là tôi hơi quá đáng, nhưng tôi
phải nói để Tăng ni ý thức việc đó, đừng để nó tái
diễn, chứ tôi không chống; việc mấy thầy muốn học cái
gì thì học, tôi không chống. Ðừng nghĩ rằng nó đơn giản
mà sai lầm rồi đầu độc cả một thế hệ.
Tôi
sống như đời sống của một ông thầy chùa, với tất cả
danh dự của tôi và ngôi chùa của tôi. Và nếu đời cần
thì tôi đem kiến thức, đầu óc của tôi ra phục vụ đời;
còn nếu không cần thì thôi, tôi về chùa tôi ở. Mà nếu
không cho tôi ở chùa, tôi ra gầm cầu tôi ở cũng đuợc.
Nhưng tôi giưõ vưõng phẩm giá của tôi, và phải nhận định
rõ việc đó. Tôi muốn nhắc lại, ở đây nếu mấy thầy
đã đủ sức dạy Cao đẳng Phật học - và đó là tinh hoa
của Phật giáo của một nước, là trí thức thượng đẳng
của một nước - mà lại làm việc vô ý thức, thì chỉ có
hai trường hợp: một là dốt, hai là cúi đầu làm theo lệnh
của người khác. Cả hai đều không thể chấp nhận được.
Dốt mà làm văn hoá thì không nên làm, còn cúi đầu nghe lệnh
người ta là hèn, cũng không nên làm văn hóa.
Nói
về văn hoá Phật giáo: trước năm 75, tính từ khi ông Diệm
sụp, thì Phật giáo mới bắt đầu có cơ chế đào tạo Cao
đẳng (CÐ) và Ðại học (ÐH). Như vậy chỉ trong khoảng 10
năm thôi; Phật giáo đã có nhưõng cơ sở giáo dục và văn
hoá bắt kịp thời đại.
Nói
lại thời Ông Diệm. Khi tôi đi học, mỗi lần đọc tờ báo
ÐH Huế, mình đọc mà thấy sôi sục vì người ta coi Phật
giáo không ra gì cả. Ỷ có cái trường ÐH, họ cho là mình
học đông tây kim cổ, muốn nói gì thì nói, mà Phật giáo
không đính chính được, không có ai đủ khả năng để nói.
Ví dụ có mấy ông giáo sư ở ÐH Huế, họ học ở Lovain
về. Họ học ở đó về, họ nói chuyện, dẫn sách thôi nhưng
dẫn đủ cả: luận Câu xá có, Thành duy thức có, Ðại trí
độ luận có, Giải thâm mật có; mà dẫn tiếng Phạn có,
tiếng Tàu có, mấy thầy mình không trả lời được. Biết
nói sai mà không trả lời đuợc. Tới khi ông Diệm sụp và
Phật giáo có đủ cơ sở vật chất để ăn nói, thì họ,
các Linh mục và các Giáo sư Ðại học, không còn chê bai Phật
giáo như trước nưõa. Rồi văn hoá Phật giáo bắt đầu lên,
chỉ trong vòng 10 năm, mà là thời kỳ chiến tranh nưõa. ÐH
Vạn Hạnh mà mấy thầy nên biết, sau này khi viết về lịch
sử văn học tư tưởng Việt Nam không ai có thể bỏ qua Vạn
Hạnh. Ngay bây giờ nhiều người đã viết về nó rồi, chỉ
trừ ở trong nước không ai nói thôi, chứ ở ngoài người
ta vẫn viết. Trong cái gọi là tư tưởng văn học nghệ thuật
Phật giáo thì nó đứng hàng đầu. Các thầy biết, hồi đó
nhưõng đám thanh niên gọi là hippy, tức nhưõng thanh niên
thời đại mới đó, ra đường rất hãnh diện khi cầm tờ
Tư Tưởng, tờ báo của ÐH Vạn Hạnh. Ðọc thì chưa chắc
đã hiểu hết đâu, nhưng đó gần như là một cái mode; họ
hãnh diện vì mình có đọc tờ Tư Tưởng của Vạn Hạnh.
Chỉ hoạt động trong 10 năm, nó đã chinh phục cả một thế
hệ thanh niên trí thức. Mà đâu phải hoạt động dễ dàng.
Xung quanh nó có rất nhiều báo không ưa Phật giáo. Mình chỉ
có một trường ÐH nhưng bên Thiên chúa giáo có ít nhất là
hai trường: ÐH Ðà Lạt và ÐH Minh Ðức. Và bên Minh Ðức
đầu tiên muốn khai hoả tấn công Phật giáo. Một linh mục
viết trên báo của Ðại học Minh đức xuyên tạc Phật giáo,
nói tới độ Tổng vụ Văn hoá phải họp, và cuối cùng đề
nghị tôi viết trả lời. Tôi nói cái này không cần, tại
vì ông linh mục này cũng nói tào lao không đáng gì; ông ta
mới là cử nhân thôi, để tôi cho học trò của tôi viết.
Rồi tôi đưa cho một ông thầy, cũng là sinh viên thôi, một
học Tăng sinh viên, viết. Viết mới một bài thôi, họ im
liền! Ðây không phải là chuyện tự hào hay tự kiêu, nhưng
tôi muốn nói để mấy thầy thấy kết quả của hoạt động
văn hoá, và sức mạnh của chúng ta là ở chỗ đó, chứ không
phải ở chính trị đâu. Cái sức mạnh gọi là chính trị
của Phật giáo Việt Nam hồi đó chỉ là chuyện phù phiếm
bên ngoài; sức mạnh thật sự của nó nằm ở văn hoá.
Còn
sau này - mình nói thời gian còn lại nghe - từ 75 đến 80 thì
thôi khỏi nói rồi. Tính từ độ 82 đi, cho tới bây giờ,
Phật giáo Việt Nam có cái gì? Ðược bao nhiêu tờ báo? Bao
nhiêu quyển sách nghiên cứu? Không cần trả lời ai cũng biết.
Mà bây giờ chùa thì rất nhiều, tăng cũng nhiều hơn, học
tiến sĩ nhiều hơn hồi xưa, nhưng tại sao không làm nổi
một tờ báo? Chỉ có tờ Giác Ngộ gọi là tiếng nói chính
thức của giáo hội. Mà tờ Giác Ngộ, nói kinh Phật thì cũng
có, mà mình chê thì bảo là vì thành kiến, chứ thật ra chưa
đúng với tầm vóc của nó. Mà nhiều khi còn viết tầm bậy
nưõa! Một tờ báo Phật giáo thì mắc mớ gì cái chuyện
của Nato với Kosovo mà mình chống báng. Mấy thầy đó làm
báo chính trị hay là báo Phật giáo? Mà cái chuyện chống
Nato để ủng hộ đảng Cong san Viet nam hay ủng hộ Trung quốc,
cái đó hàng chục tờ báo ở ngoài người ta nói rồi, mình
nói làm chi? Nghĩa là không có 1 tờ báo Phật giáo thật sự.
Mà cái sức mạnh của Phật giáo là ở văn hoá, chứ không
phải ở chính trị. Sức mạnh văn hoá mà chinh phục cả thế
giới; mình phải ý thức được chuyện đó.
Nhìn
lại mình, trong 20 năm nưõa Phật giáo Việt Nam có cái văn
hoá nào cho đáng để chứng tỏ sự tồn tại của mình không?
Không có gì cả. Trong hiện tại, với tôi bây giờ thì chứng
tỏ là bất lực rồi. Còn thế hệ trẻ - các thầy bây giờ
- trong 5, 10 năm nưõa các thầy phải ý thức rõ việc này
và phải làm cho được. Nhưng muốn làm được thì ngay bây
giờ tôi phải tìm người để gầy dựng, nghĩa là để hướng
dẫn, rồi sau đó đủ sức rồi mấy thầy tự đi lấy. Tôi
phải tìm người. Thứ nhất, bây giờ phải tập mấy thầy
dịch kinh cái đã. Ban đầu dịch mấy bài dễ thôi, mà cũng
chưa có người làm được. Ði tìm ở Saigon, cả năm nay rồi.
Tôi nói mấy thầy ở Già Lam đi tìm, vẫn chưa ra. Mà với
điều kiện nếu trình độ còn yếu thì tôi sẵn sàng giảng
dạy cho. Còn ở Saigon nếu vật chất thiếu, tôi sẽ vận
động giúp cho; cả vật chất lẫn tinh thần, mà vẫn chưa
tìm ra người; không dịch nỗi! Tốt nghiệp Cao đẳng rồi
vẫn không dịch nỗi. Ngày xưa đi dạy tôi biết, học Tăng
chỉ cần tốt nghiệp Trung đẳng thôi, ví dụ như lớp thầy
Phước Viên đây, học hết Trung đẳng, dịch Luận Câu xá
được. Tôi coi lại tôi thấy dịch được, và PHV Nha trang
in đàng hoàng. Ở Saigon như vậy, ở Huế cũng không có. Thầy
Phước Viên đi tìm người ở Từ Ðàm, Từ Hiếu để làm,
có tôi hướng dẫn thêm, mà cũng chưa thấy ai. Có mấy thầy
ở Bình định tôi cũng nói để ý tìm. Mình đi tìm nhân tài,
nhưõng người để hợp tác và kế thừa. Mấy thầy phải
tập ngay từ bây giờ để, vừa phải thì 5 năm, có chậm
lắm thì 10 năm nũa, phải gánh lấy vai trò đó. Mà trong 5,
10 năm nưõa đất nước Việt Nam sẽ có nhưõng tiến bộ
mình bất ngờ, và trong tình trạng tiến bộ của trí thức
ngoài đời như thế mà mình là Tăng sĩ Phật học, cứ nửa
nạc nửa mơõ, thì không truyền bá được gì, sẽ tự mình
đào thải. Và Phật giáo nếu còn tồn tại chỉ tồn tại
theo cái cách mà người ta coi ông Phật cũng như ông Ðịa,
nghĩa là thờ Phật để cầu buôn may bán đắt, cầu cho đừng
bệnh tật, cho trúng số đề... Mà nếu cứ không tìm ra người
và không tổ chức được thì sẽ đến tình trạng đó thôi.
Ở đây không phải tôi nói quá. Tôi biết có nhưõng vị còn
ẩn dật đâu đó mà mình chưa tìm ra. Nhưng ở đây ngay cả
nhưõng vị đi học tiến sĩ ở Ấn Ðộ về: mình thất vọng.
Tôi đã nói chuyện, tôi biết.
Ở
đây mình có rất nhiều trường học: Trung cấp có, Cao đẳng
có, Học viện có, mà các thầy dạy Cao đẳng Phật học chỉ
trừ vài số còn lại hầu như không biết chưõ Hán. Hoặc
biết rất ít. Ðọc sách, chưa đủ chưõ để đọc. Mà nghiên
cứu kinh điển không biết chưõ Hán coi như mất hết 50%,
và không biết luôn Pali với Sanskrit thì mất hết 100%. Trình
độ học Phật như thế thì đi tới đâu? Thành ra mình phải
thấy cái điều bất thường này, là chùa to thì rất nhiều,
tăng ni rất nhiều, trường học cũng rất nhiều, mà nội
dung: không có! một cái tình trạng không đơn giản chỉ là
suy sụp mà là... mình nói, như là làng lên đi, là nguy hiểm
cho sinh mạng của Phật giáo. Bởi học kiểu đó rồi ra trường,
kinh điển đọc không hiểu, giảng kinh giảng tầm bậy, cứ
theo ý mình mà giảng kinh.
Nói
về cơ cấu tổ chức giáo dục, sau này cơ cấu giáo dục
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát triển hơn hồi xưa
nhiều. Tỉnh nào cũng có trường, trường nhiều hơn xưa.
Hồi đó khi tôi làm Giám học PHV Trung phần; soạn chương
trình giáo dục từ sơ cấp cho tới Cao đẳng, Ðại học,
tôi đều có tham gia nên tôi biết rất rõ. Ban đầu chúng
ta chỉ có một trường CÐ là Huệ Nghiêm, sau do nhu cầu lập
thêm một cái nưõa ở Nha trang. Các trường, cấp thấp hơn
mình phân theo từng địa phương; tỉnh nào cần trường sơ
cấp, tỉnh nào cần trung cấp, phân công rõ ràng, và mình
điều động được. Ví dụ các học Tăng học hết sơ cấp
ở Ðà nẵng, tôi nói cần đưa họ vào học trung cấp ở
Nha trang để các học Tăng sinh viên ở đây vừa học vừa
thực tập dạy, có tôi hướng dẫn, thì họ đưa vô liền.
Mình di chuyển được, điều đó rất quan trọng, vì có sự
chỉ đạo rất tập trung của một ban giáo dục Tăng ni rõ
ràng. Và khi trên ra lệnh là họ đi, điều đi đâu họ đi
đó. Bây giờ tãn ra từng địa phương; Nha trang có, Phú yên
có, mỗi nơi có một PHV, tỉnh nào lo cho tỉnh nấy, khi cần
điều động họ có thể không đi. Nói trung ương là một
chuyện, nhưng mà trung ương có cho tôi một giờ học nào đâu,
tôi không cần đi. Rồi còn tình trạng này nưõa: trường
nhiều quá thì lấy thầy đâu mà dạy? Tôi biết rất nhiều
tỉnh không có người đủ trình độ Phật học để dạy;
thế tại sao vẫn mở trường? Thực sự ra, nếu mình dạy
và học cho đúng tiêu chuẩn thì trong tình hình hiện tại
mình chưa cần nhiều trường lắm đâu. Ta dồn lại mà học,
chứ không mở tràn lan như thế này được, không có thầy.
Thầy đang còn học chưõ Hán thì làm sao giảng kinh? Kinh đâu
có đơn giản như vậy. Ở ngoài, sinh viên học Hoa văn ba năm
đi xin làm thư ký, phiên dịch thôi, người ta còn chưa thuê
vì nói chưa đủ trình độ. Ở đây mình học chưa được
ba năm mà ra dạy thiên hạ thì dạy cái gì? Mà dạy kinh điển
đâu phải chuyện đùa. Chỉ trừ khi, mình nói mê tín đi,
có thiên long bát bộ nào ở đâu hiện ra khai huệ cho mình
sáng ra, ngủ một đêm thức dậy tự nhiên dạy hay ra...? Còn
nếu nói cho đúng nguyên tắc thì không thể được. Mà gặp
mấy thầy tôi cũng nói thẳng: mở như vậy là thế nào! Lãnh
đạo một trường CÐ Phật học thì ít nhất người đứng
đầu phải thông thạo chưõ Hán, chứ không thể ai làm cũng
được. Không phải chính phủ biểu ai thì người đó làm;
không phải đảng biểu người đó làm Viện trưởng thì người
đó là Viện truởng. Không được. Về tư cách đạo đức
thì có thể có nhiều người, nhưng để lãnh đạo giáo dục
phải có trình độ, nhất là cấp ÐH nưõa. Ðào tạo cấp
ÐH là đào tạo nhưõng thành phần mà trong đó sẽ có người
lãnh đạo giáo hội trong tương lai, mà học bậy bạ như vậy
ra lãnh đạo sẽ đi sai, sẽ dẫn hàng triệu Phật tử đi
đâu? Chuyện giáo dục đâu đùa được. Người ta đã nói
rồi, làm chính trị mà sai lầm thì giết hại cả thế hệ,
nhưng làm văn hoá mà sai lầm thì di hại muôn đời. Mình không
phải thần thánh gì, không ai thần thánh gì để biết mình
đúng hay sai; nhưng mà cái cơ bản, nhưõng cái tiêu chuẩn
ở đời thì phải có chứ. Học kinh, dạy kinh thì bắt buộc
phải biết chưõ Hán. Chưa biết chưõ Hán thì phải biết
Sanskrit, Pali; còn không thì thôi, anh đọc chơi, để nghiên
cứu cho biết thì được. Ðiều đó chắc ai cũng biết. Vậy
tại sao vẫn mở trường? Cách trả lời phải vướn qua quan
điểm chính trị thôi. Ðến đây tôi nói hơi xa vấn đề
rồi đó, nhưng vẫn phải nói để mấy thầy hiểu tại sao
có nhưõng cái trường như vậy.
Nếu
như chỉ Nha trang có trường thì học tăng ở Phú Yên bắt
buộc phải vô Nha trang học. Mà nếu như Nha trang cũng không
có trường thì cả hai nơi phải vô Saigon học. Như vậy là
tập trung Tăng sĩ lại một chỗ. Bây giờ, Phú yên có trường
thì ai cho anh vô Nha trang hay vô Saigon học? Ðịa phương nào
lo cho chỗ nấy. Mà học Tăng ở đâu thì chắc chắn phải
khai báo rồi, như vậy có lợi vô cùng. Các thầy mình trong
trung gian đã làm hộ lý lịch cho công an, cho địa phương
quản lý. Một biện pháp để quản lý tăng sĩ chặt chẽ
chứ đó; không phải vì mục đích giáo dục. Các vị ở đây
có ai nói tôi xuyên tạc thì tôi chịu tội, nhưng theo cách
nhìn của tôi thì tôi thấy như vậy, rất là nguy hiểm. Phải
thoát ra khỏi tình trạng này nếu muốn tồn tại. Giáo dục
không phải là chuyện lơi khơi. Ở ngoài đời muốn làm bác
sĩ phải học tốt nghiệp bác sĩ, có bằng cấp rồi còn phải
qua hội đồng y khoa xác nhận trình độ tay nghề. Muốn làm
luật sư, học đậu rồi anh còn phải thực tập, có hội
đồng luật sư xác nhận khả năng biện hộ của anh rồi
mới được làm luật sư. Vì đó là sinh mạng con người.
Anh cãi cho người ta, người ta chưa đáng tội tử hình mà
anh cãi tầm bậy, người ta bị tử hình. Làm bác sĩ, bệnh
người ta chưa đến nỗi chết mà anh trị bậy làm người
ta chết. Cho nên phải bảo đảm cái học. Và trong học Phật
cũng vậy thôi. Và cái kia là chết về thể xác, còn đây
người ta chết về tinh thần thì không thể lập lờ chuyện
đó được. Cho nên tôi mới nói là tình trạng nguy hiểm,
mình phải ý thức được.
Ðó
là về vấn đề giáo dục mà tôi mới nói một cách tổng
quát. Và trong vấn đề này, mấy thầy mấy chú ai có cách
nhìn khác tôi không nói là sai, mà tôi cũng không nói là tôi
đúng đâu. Cứ tự nhìn lấy, từ từ tìm hiểu lấy, phải
suy luận theo cách của mình, nhưng quan trọng là phải biết
mình cần học và cái ý hướng của mình. Phải định hướng
cho đúng, cho tương lai của mình và cho cả tương lai của
Phật giáo. Còn tiến xa hơn nưõa thì cho đất nước, cho dân
tộc. Mình xác định sự tồn tại của Phật pháp là vì chúng
sanh. Tăng già tồn tại giưõa thế gian này ngoài cái hạnh
phúc, cái tịnh lạc niết bàn cá nhân, còn phải vì chúng
sanh. Vì Tam bảo là chỗ quy y mà. Nếu tồn tại mà không làm
chỗ nương dựa được, chỉ là một tập thể ô hợp, sống
không xứng đáng để làm chỗ nương dựa cho người ta, thì
cái Tăng già đó không đáng tồn tại. Mà tôi nói thật, nếu
Phật giáo mà như vậy thì dẹp Phật giáo đi! Không cần thiết,
đời họ không cần. Có nhiều lý thuyết để tồn tại, để
làm giàu rồi; họ cần Phật pháp là cần cái gì khác hơn,
cái mà đời không có. Chứ Phật pháp mà như vậy thì diệt
cũng được, không cần thiết. Thì mình biết rồi, đối với
Phật giáo cái chuyện hoại diệt là chuyện thường. Phật
Thích Ca cũng đã nói đến lúc nào đó giáo lý của Ngài sẽ
không còn nưõa, đức Phật Di Lặc sẽ ra đời, thuyết lại
giáo pháp mới. Nên cái chuyện đó mình không cần, không sợ.
Xong
chuyện giáo dục, tôi sẽ nói qua một chuyện hơn nưõa, và
tôi nhắc lại: quý vị đừng có hoàn toàn tin vào tôi, hỷ;
cứ kiểm chứng để thấy cái nào đúng thì nghe, không đúng
thì thôi. Tôi không tới đây để nói nhưõng chuyện lung tung,
mà để nói nhưõng ưu tư của tôi mà tôi muốn mấy thầy
biết, các thầy trẻ cần phải biết. Ðó là cái chuyện tồn
tại của, thứ nhất, Tăng già, và thứ hai, của cả Phật
giáo Việt Nam mình. Ðó là cái tâm sự chung. Bây giờ thì
không còn riêng vấn đề riêng của Tăng sĩ nưõa mà của
cả Phật tử, có nhiều người rất ưu tư. Ðó là sự tồn
tại.
Bây
giờ ta nhìn chung, ở nhiều nước Phật giáo trên thế giới,
chưa có nước nào mà Phật giáo phải chịu... mình không nói
là thảm cảnh, mà là sự tan rã như Phật giáo Việt nam. Rất
nhiều khi bị khủng hoảng, ở trong nước ở nước ngoài
gì vẫn chịu sự khủng hoảng đó. Và cái này tìm nguyên
nhân không phải trong vài buổi mà thấy hết, nhưng phải tìm
ra nguyên nhân để khắc phục, để thay đổi nó. Thì đó
là nguyên nhân sâu xa, lâu dài. Bây giờ mình nhìn lại hiện
tại, để biết cái niềm tin của mình... Nói chung, thiệt
ra tôi cũng không muốn nói, vì nói ra người ta bảo đây là
vấn đề chính trị, tôi đi tuyên truyền chính trị, tôi không
muốn. Tôi dạy mấy thầy chỉ muốn mấy thầy học kinh điển.
Cũng như trước đây khi ở tù, công an hỏi tôi mấy ông dạy
thế nào mà mấy ông trong chùa ông nào cũng cố bảo vệ đạo
pháp. Tôi nói không, tôi từ khi đi dạy, trong lớp chưa bao
giờ tôi nói đến chuyện chính trị. Tôi chỉ dạy kinh Phật,
và khi họ hiểu, họ biết chuyện phải trái thì họ làm,
theo ý của họ. Nhưng đây không phải là lớp học. Ðây là
buổi tiếp xúc mà như tôi đã nói: mình nói chuyện đời
và chuyện đạo. Thiệt sự ra mình nói ra rất đau lòng; nói
ra nó đụng chạm nhiều nên gần như không bao giờ tôi muốn
nói. Ở ngoài, nhiều người khuyên thầy nên nói - cho thấy
cái thực trạng. Không, tôi không nói, đụng chạm nhiều lắm;
trên là thầy, Ôn của mình, dưới là huynh đệ mình, khó
nói lắm. Ở đây với các thầy tôi mong rằng mình coi như
trong nhà, chuyện gì cần hiểu mình phải hiểu. Bây giờ ta
hay nói - ở ngoài cũng vậy, nhiều người về hay nói với
tôi câu ữmấy ông thầy quốc doanhữ, ông Hoà thượng quốc
doanh này, ông thầy quốc doanh kia, hỷ, thì tôi nói là ở
Việt Nam giáo hội quốc doanh: có, nhưng mà thầy quốc doanh:
không có, mấy thầy cũng là thầy của tui, là bạn của tui
cả. Mỗi người làm theo mỗi cách. Tui không cho là mình làm
đúng, và như vậy tui cũng mong mấy thầy đừng bắt tui làm
theo cách mấy thầy. Nhưng tui có cách nhìn của tui à. Tui nhìn
thấy thế nào, tui nói à. Mà nói trong nhà thôi; tui chưa viết
một bài báo hay cuốn sách nào để nói chuyện này hết, dù
đúng ra phải nói, để cho mấy thầy trẻ hiểu. Thì ở đây
tôi cũng muốn vậy: nói ra tôi không muốn nói để rồi sinh
ra chia rẻ mấy thầy bên này bên kia.
Thì
bây giờ trong nhà mình cũng vậy, nếu như một người ngoài
không phải là Phật tử, là người dửng dưng, họ bảo "ối,
cái đám thầy chùa này chưõi nhau. Xấu hết! Tôi nói xấu
thầy à? Tôi cũng xấu luôn vì, ví dụ như bây giờ tôi nói
xấu mấy thầy bên kia là quốc doanh này nọ thì ở ngoài
người ta bảo ờ, thì quốc doanh cũng là thầy chùa với nhau
cả, cũng ăn chung cơm Phật từ nhỏ tới lớn mà ra cả tề!
Mình không nên nói xấu. Nhưng ở đây tôi cũng phải nói,
và nói nhiều để mấy thầy nhận định, phải bình tĩnh,
cần phải hiểu nhưng không phải vì cái chỗ hiểu đó mà
đi nói lung tung, gây những xung đột không đáng. Và trong này
nếu như có vị vì cái chỗ đó mà hỗn ẩu với các bậc
trưởng thuợng của mình thì không nên. Nhưng mà cần phải
nói; ví dụ như ngay từ lần đầu tiên Ôn Từ Ðàm đi họp
ngoài Hà nội, tôi đưa Ôn ra tôi có nói, mà sau này Ôn còn
phải nhắc lại, tôi nói thầy đi ra dự họp kỳ này, con
mong rằng thầy đừng để nhục sau này tụi con phải rửa.
Tôi nói thẳng như vậy, mà đối với ôn, làm chi thì làm,
tôi vẫn kính trọng. Và tôi nhắc lại nhiều lần, ở đây
các thầy trẻ mình đừng vì quá hăng hái mà công kích lung
tung. Mình phải biết trách nhiệm của mình khi nói. Bởi vì
5, 10 năm nưõa thì mấy thầy ở cái vai trò nếu chưa phải
là lãnh đạo thì cũng giưõ vai trò hỗ trợ quý ôn, quý thầy
lãnh đạo nên cần phải biết, ngay từ bây giờ.
Vì
sao tôi nói điều này? Vì tôi ở Già Lam, học tăng rất đông,
toàn học CÐ, ÐH cả, nhưng họ không biết thế nào là Giáo
hội thống nhất, thế nào là Giáo hội PGVN. Tất nhiên các
vị đó khi mới cạo đầu đi tu thì tôi đã ở tù rồi, mọi
việc đã ổn định rồi, họ không biết gì cả. Thế mà
họ nói chuyện với nhau, tôi nghe kể lại. Họ nói thế này:
ông Hoà thượng Huyền Quang với Hoà thượng Quảng Ðộ, hồi
thời kỳ 63 là có công với Cách mạng. Nhưng sau này Cách
mạng thành công rồi người ta không cho mấy ông la`m gì nên
mấy ông bất mãn, mấy ông chống đối. Ðó là mấy chuyện
của học tăng. Tôi nghe tôi buồn, và chính vì vậy tôi có
trách nhiệm phải nói. Nhưng tôi nhắc lại, không phải vì
nghe lời tôi mà mấy thầy đi công kích lung tung để gây nhưõng
mâu thuẩn giưõa thầy này thầy kia, không hay. Cái chuyện
nó như vậy, mình phải biết.
Tôi
nói cái nguyên nhân khai sinh ra GHPGVN, và từ khi giáo hội này
ra đời. Ðó là thời kỳ rất căng thẳng. Lúc đó HT Trí
Thủ làm Viện trưởng, và có hôm đi họp về ông kể lại
với tôi là tiếp xúc với chính quyền - hồi đó Mai Chí Thọ
làm chủ tịch UBND TP. HCM - họ căng thẳng với các thầy bên
Viện Hoá đạo quá. Ông Mai Chí Thọ nói thế này: các thầy
chỉ có hai con đường: một là theo hai là chống. Các thầy
theo, chúng tôi dành nhiều thứ yểm trợ các thầy; còn các
thầy chống, chúng tôi có đủ xe tăng thiết giáp, các thầy
muốn chống thì chống đi! Cả hai cái đối với mình đều
sai cả. Ðó là thái độ hăm dọa, mà Hoà thượng cũng nói
rõ: theo chúng tôi không theo, mà chống chúng tôi cũng không
chống. Nhưng họ nói không có con đường thứ ba. Rồi cho
tới khi vận động thành lập thống nhất... tôi chỉ nói
tâm trạng của Hoà thuợng, Ôn rất căng thẳng. Nghĩa là Ôn
không muốn làm nưõa, dưới áp lực như vậy của chính phủ
hoàn toàn Ôn không muốn làm. Có hôm tôi dậy lúc 3g30. Hôm
đó mới thức dậy, thì thị giả lên thưa với tôi ôn dậy
từ lúc 2g00, Ôn chờ thầy, và Ôn mời thầy qua uống trà.
Tôi qua nói chuyện với ôn. Ôn bảo muốn rút lui, Ôn chịu
không nỗi vấn đề này. Thì tôi có ý kiến. Tôi nói hoặc
Hoà thượng tiếp tục làm, hoặc Hoà thượng ra lãnh đạo
giáo hội mới. Thì đó là ý kiến của tôi chứ tôi không
xúi Hoà thượng, mà tôi có xúi cũng chưa chắc Ôn nghe, Ôn
có quyết định của Ôn chứ. Rõ ràng Ôn còn thắc mắc chuyện
này, mà ở đây có thầy Thái Hoà chắc nhiều lần có nghe
Ôn nói, tôi sẽ chịu nhục cho mấy thầy làm việc. Rồi thì,
trong thời kỳ thảo luận bàn về hiến chương, Hoà thượng
hay về bàn với tôi và thầy Thát. Trong đó có một điều
khoản thế này: GHPGVN là thành viên của MTTQVN. Cả tôi với
Ôn với thầy Thát thấy không thể chấp nhận được. Vì
trên lý thuyết, Mặt trận tổ quốc là một tổ chức chính
trị đặt dưới sự lãnh đạo của đảng, mà Phật giáo
không làm chính trị. Nếu vô đó nó trở thành một tổ chức
chính trị chứ không còn là giáo hội Phật giáo, nên Hoà
thượng cương quyết chống. Họ thuyết phục rất nhiều.
Ban đầu là thành phố, không được. Sau họ sai bà Ngô Bá
Thành, là luật sư, lên thuyết phục, nói lý với Hoà thượng.
Sau Ôn kể lại với tôi, Ngô Bá Thành lên đây nói với ta
về cái chuyện đó. Ông bảo mình thì không cãi luật lại
Ngô Bá Thành rồi, người ta là luật sư mà, nhưng Ôn nói
như vầy: trong Mặt trận có hội liên hiệp phụ nư, liên
hiệp thanh niên... mà giáo hội tui toàn là cao Tăng, đại đức
mà biểu chúng tôi ngồi chung với mấy bà thì làm sao chúng
tôi ngồi? Bà Ngô Bá Thành không trả lời được. Ôn đơn
giản lý luận chừng đó thôi. Nhưng mấy thầy biết, qua cách
lý luận đó mấy thầy thấy cái vị trí giáo hội như thế
nào. Ôn không cần luật mà Ôn nói một cách cụ thể, để
tránh luật mà. Cho nên, cần phải biết cái vị trí của GHPGVN
như thế nào: nó chỉ là một hiệp hội, tuy cũng dùng hai
chưõ Giáo hội như bên đây thôi. Nhưng họ có nhiều cách
đánh tráo. Khi dịch ra tiếng Anh người ta không dịch Giáo
hội - nói trong tiếng Anh không có chưõ Giáo hội, mà dùng
chưõ Association, một hiệp hội, như Association of women: hội
liên hiệp phụ nưõ; ngang nhau! Một Giáo hội với hội LH
phụ nưõ, LH công nông v.v... ngang nhau. Như vậy thì nói mình
lãnh đạo ai? Ôn chủ tịch Giáo hội cũng như bà chủ tịch
hội phụ nưõ, trong Mặt trận ngồi ngang nhau, thì nói ông
lãnh đạo tui sao được? Hoà thượng ôn thấy liền, ôn không
chịu. Thì họ không nói nưõa. Sau ra Hà nội họp, họ vẫn
đề nghị lại, nhưng Ôn chống tới cùng, và nói nếu không
được thì thà Ôn từ chức. Bên Mặt trận, Ban tôn giáo,
thuyết phục không được, chính phủ thuyết phục không được,
đảng cũng không được; Ôn cương quyết. Ðó là giai đoạn
căng nhất của Hoà thượng. Mà Ôn già rồi. Mà mình biết,
Ôn là người chơn chất tu hành không biết thủ đoạn chính
trị, không có một khả năng chính trị nào hết. Ôn không
có khả năng đối phó; không thích thì Ôn lầm lì, thế thôi.
Thế nhưng lúc đó không có một thầy nào yểm trợ Hoà thượng,
họ xa lánh Hoà thượng. Ngay cả Ôn Từ Ðàm lúc đó cũng
sợ không dám nói chuyện với Hoà thượng. Mấy ngày liền
Ôn ở một mình. Mình phải hiểu tâm trạng của ông già lúc
đó: không ai đến với Ôn hết, không dám nói chuyện với
Ôn, sợ liên luỵ, sợ người ta nói mình xúi giục Ôn vì
Ôn vẫn cương quyết, một mình cũng cương quyết không chấp
nhận. Mà mình biết Hoà thượng rồi, Ôn tu hành đức độ
thì co, mà khả năng ăn nói hay đối phó không có bao nhiêu,
đối với cái tập thể chính trị họ nhiều thủ đoạn như
vậy, mà Ôn vẫn cương quyết. Cuối cùng họ sợ Ôn từ chức,
họ chấp nhận thế này: để là CÓ thành viên trong MTTQ. Ôn
chấp nhận; CÓ chứ không phải LA.CÓ thì ai muốn vô thì vô,
khi cần thì mình cử người vô, không thì thôi. Vậy nên Ôn
chấp nhận. Sau về Ôn kể với tôi, lúc đó thầy Từ Hạnh
là Tổng thư ký, đưa biên bản lên cho Ôn ký, Ôn thấy chưõ
là thành viên, ông bảo: mấy thầy thấy tui già mấy thầy
gạt tui; trước nói là CÓ, tại sao bây giờ để chưõ LÀ?
Tôi không ký! Ký biên bản như vậy Ôn không ký. Mấy thầy
thấy cái chuyện nó lắt léo như thế. Ðó là chuyện khai
sinh cái giáo hội. Rồi còn một chuyện bên lề nữa: lúc
đó Ôn Thiện Siêu gọi là Thượng toạ thôi, dẫn phái đoàn
Giáo hội thống nhất mình với mấy thầy ở Ấn Quang đều
là Ðại đức hết. Nhưng ra tới Hà nội, ngoài đó mấy thầy
khác toàn là Hoà thượng với Thượng tọa, 50 tuổi Hoà thượng,
30 tuổi Thượng toạ, một loạt toàn là Hoà thượng với
Thượng toạ. Thầy Minh Thành của mình đâm hoảng, thấy rằng
phái đoàn Thống nhất của mình ra, Thầy thì mới là Thượng
toạ còn trò toàn là Ðại đức, như vậy khi ra mình thua.
Thôi thì đồng loạt lên hết, tự mình phong mình lên thành
Hoà thượng với Thượng toạ hết. Cho nên tôi nói, một cái
Giáo hội mới khai sinh, chưa hình thành, mà đã dành giật
tranh chấp chức vụ, địa vị như ngoài đời, cái Giáo hội
đó không đáng để tôi phục vụ. Mặc dù tôi vẫn kính trọng
quý thầy của mình, Ôn Thiện Siêu tôi vẫn đảnh lễ, Ôn
Trí Tịnh là bậc thầy tôi vẫn cung kính. Nhưng một cái Giáo
hội sinh ra với sứ mạng cao cả, chưa làm gì đã lo tranh
dành địa vị với nhau thì không đáng cho tôi phục vụ chứ
đừng nói là lãnh đạo tôi. Rõ ràng đó là một công cụ
chính trị chứ không phải là Giáo hội. Ðây mấy vị nếu
nói tôi xuyên tạc thì nói, cần thì kiểm điểm lại xem,
tôi chịu trách nhiệm về lời nói của mình.
Rồi
tới chuyện khác nữa. Cái này Ôn Già Lam đi họp về nói
lại với tôi. Ðó là vấn đề tổ chức cơ cấu. Trên đảng
người ta chỉ cho mình tổ chức Ban trị sự (BTS) tới cấp
tỉnh thôi, Hoà thượng ông mới nói, Phật tử chúng tôi người
ta sinh hoạt ở thôn, xã chứ còn trên tỉnh chỉ có mấy thầy
không hà. Nếu BTS chỉ ở cấp tỉnh thì chỉ có mấy thầy
với nhau không, Giáo hội không lãnh đạo được Phật tử.
Phải có BTS tới thôn, xã. Họ không chịu, ta cãi nhau căng,
tới nỗi có lúc Ôn đập gậy lên bàn, Ôn đòi về. Ôn nói
vì đây là trách nhiệm lịch sử của Ôn, không thể để
cho lịch sử sau này lên án Ôn, chê cười Ôn. Sau họ chấp
nhận cho tới quận, mà Ôn nói với tôi thế này, mình không
thể làm căng được, mình đòi cho tới xã nhưng cuối cùng
họ chỉ nhận tới quận thì tạm thời cũng được, rồi
mình tranh đấu từ từ. Nhưng mà, trong này có hai điểm: Thứ
nhất, tại sao lại phải đòi? Tổ chức của mình, mình làm
đúng; nếu chỗ nào vi phạm chính sách thì nhà nước gạt
bỏ, còn việc tổ chức sinh hoạt tui tổ chức tới đâu mặc
kệ tui. Nếu vi phạm chính sách, phạm luật, thì phạt! Chứ
không có chuyện xin; cái gì cũng xin phép, không có chuyện
đó. Và điểm này nữa, thuộc về cái lắt léo của danh từ:
cho tới quận, nhưng gọi là Ban đại diện (BÐD) chứ không
phải BTS. Gíao hội thống nhất thì từ trên xuống dưới
tới quận đều là BÐD. Mà như vậy, mấy thầy nếu có sinh
hoạt mấy thầy biết đó, khi BTS tỉnh họp, các quận về
họp vì là BÐD nên mấy thầy chỉ có quyền nghe và trình
thôi, có nghĩa là mấy thầy không lãnh đạo được Phật
tử mình dưới quận. Mà nếu mấy thầy không lãnh đạo thì
ai vô đây? đương nhiên là mấy ông trong Mặt trận thôi.
Rõ ràng là tổ chức thế nào để cho nhà nước vẫn kiểm
soát Giáo hội. Tôi nói điều này có hơi xa đề một chút
nhưng để mấy thầy hiểu cái vấn đề tổ chức. Sau này
nếu ở vị trí lãnh đạo, ngay từ bây giờ mấy thầy phải
ý thức được chuyện đó. (... hết mặt băng, thiếu 1 đoạn)
... một cái Giáo hội cho có hiệu quả, và cái hình thức
thế nào để đừng trở thành công cụ của bất cứ thế
lực chính trị nào.
Hôm
trước ở bên Châu Lâm ông Ngọc có lên thăm và nói chuyện,
tôi cũng có nói vấn đề này: Vấn đề Giáo hội nằm trong
Mặt trận, tôi không chấp nhận. Còn vấn đề liên hiệp
giữa hai giáo hội. Tôi nói lập trường của chúng tôi là
không có vấn đề liên hiệp. GHPGVN là thành viên của MTTQ,
đó là một tổ chức chính trị; chúng tôi không làm chính
trị, không liên hiệp với bất cứ tổ chức chính trị nào.
Rồi người ta có nói rằng trong qui chế, trong hiến pháp mình
thì đảng lãnh đạo tất cả. Tôi nói tôi biết điểm đó.
Tôi còn biết Lenin đã nói "đảng phải thông qua tôn giáo
để tập họp quần chúng". Lenin nói, cán bộ cộng sản
nào mà đàn áp tôn giáo là phản động. Lenin không chấp nhận
chuyện đàn áp tôn giáo; trong cộng sản không có chuyện đàn
áp tôn giáo, đó là Lenin đã chỉ thị. "đảng phải thông
qua tôn giáo để tập họp quần chúng" có nghĩa là tôn
giáo là một công cụ chính trị của đảng. Vì đảng không
đủ khả năng tập họp, phải mượn tay tôn giáo tập họp
dùm. Mà tôi không bao giờ để cho Phật giáo làm công cụ
cho bất cứ đảng phái chính trị nào. Như Liên xô, một đảng
phái chính trị, 70 năm thì sụp. Cứ cho là đảng CSVN tồn
tại 1000 năm nữa đi, tôi cũng không bao giờ đem 2500 năm lịch
sử truyền thừa Phật giáo ra làm công cụ cho bất cứ đảng
phái nào. Tôi còn nói: nếu mà lời nói này của tôi là tự
đào hố chôn mình, tôi vẫn sẵn sàng tự chôn mình, chứ
không thể chấp nhận chuyện đó. Còn nếu nói là luật pháp,
đúng, tôi tôn trọng luật pháp, nhưng luật pháp mà xâm phạm
lý tưởng của tôi, tôi không chấp nhận cái luật pháp đó,
chứ đừng có dùng chư luật pháp với tôi. Ðúng là ở trong
đất nước nào thì phải tôn trọng luật pháp đó, nhưng
nếu tự mình đặt ra luật pháp để dùng luật pháp đó xâm
phạm tới giá trị, xâm phạm lý tuởng của người khác thì
tôi không chấp nhận luật pháp đó, tôi sẵn sàng chịu chết.
Tôi đã từng đứng trước bản án tử hình rồi, tôi không
sợ, tôi chấp nhận nó. Ðây không phải tôi thách thức, mà
là vấn đề lý tưởng của mình.
Rồi
tôi hỏi thêm chuyện này nữa: Ở trong Saigon tôi có nghe một
Phật tử nói, Phật tử thiệt sự đó, nói là chùa Từ Hiếu
hát thánh ca Thiên chúa và treo biểu ngữ liên tôn. Mà tôi
nói thẳng với ông, tôi biết chắc chắn Mỹ không xúi chuyện
này, Vatican cũng không xúi chuyện này, vậy ai xúi chuyện này?"
Tức chuyện Phật tử đặt điều xuyên tạc mấy Thầy. Mà
ở đây tôi nói cái chuyện bất thường chỗ này: một Phật
tử, huynh trưởng gia đình Phật tử, sinh hoạt nhiều năm
rồi, mà bày đặt chuyện ra vu khống quý thầy. Ở đây ai
cũng biết, mấy thầy hát thánh ca hồi nào, treo biểu ngữ
liên tôn hồi nào? Mà nói với tôi là "mắt thấy tai nghe".
Một Phật tử mà dựng chuyện nói láo như vậy. Tôi nói với
ông, "tôi biết chắc mấy thầy bên Giáo hội không ai xúi
họ nói láo như vậy, không có lợi gì. Mà mấy thầy bên
đó cũng như tôi, tu hành họ cũng sợ mang tội vọng ngưõ
chứ. Như vậy nói láo tất phải có lợi họ mới nói; vậy
cái lợi này là lợi gì, và ai xúi họ nói?" Ðây là chuyện
bất thường mà còn bất thường nưõa. Mình diễn ra thêm
một chút thì có nghĩa: chùa Từ Hiếu không phải là Phật
giáo vì mấy thầy tụng kinh mà hát thánh ca, vậy Từ Hiếu
chỉ là một tổ chức Thiên chúa trá hình, và mấy thầy đây
là Thiên chúa trá hình cả. Thì đấy, người ta nói thầy
Hải Tạng là Thiên chúa, Vatican mua thầy Hải tạng. Thế ai
tung cái tin này? đồn với mục đích gì? Tôi còn hỏi ông
công an, "vì ông là công an nên tôi hỏi cho biết, chứ tôi
có nghe mà chưa biết đúng hay không. Tôi nghe nói mấy thầy
bên giáo hội đi tuyên truyền chùa Từ Hiếu liên tôn, mà
tôi biết chắc không có vấn đề liên tôn. Ngay cả ông cũng
biết HT Thiện Hạnh không có trong chuyện liên tôn, ông đã
xác nhận với tôi là không có; vậy tại sao mấy thầy đó
đi nói? Tôi biết mấy thầy cũng sợ tội vọng ngưõ, nhưng
có 2 cái tội: tội trước mắt và tội sau lưng. Cái tội
trước mắt gần hơn, mấy thầy sợ mấy thầy phải nói.
Còn tội sau lưng chưa thấy, mấy thầy để sau."Cái đó tôi
nói thẳng với họ: dùng nhưõng thủ đoạn lắt léo như vậy
đối với Phật giáo, không xứng đáng.
Còn
nhiều chuyện nữa. Ở trong Saigon tôi biết nhiều thầy không
dám đến gặp tôi. Nhiều khi tình cờ gặp, tánh tôi ngang
tôi hay chọc, tôi hỏi "Ði đâu lâu nay sao không thấy?" nói
"Bạch thầy lâu nay con bận." Hỏi "Con bận hay con sợ?" Ðáp
"Dạ bạch thầy con bận, con đang xây chùa..." - "Ờ biết,
vậy lo xây chùa đi, không sao, nói chơi cho vui thôi." Rồi có
nhiều thầy tuy không dám tới nhưng sai đệ tử tớ, thiệt
ra tôi biết, tình huynh đệ mình đâu bỏ nhau được. Nhưng
tôi hay chọc. Họ nói "Dạ thầy con bận, sai đem cái này qua
cúng thầy." - "À, thầy con bận hay thầy con sợ, con? Nói "Dạ
thầy con bận..." Ðó là nói chơi. Nhưng ở đây tôi hỏi công
an: "tại sao mấy thầy họ sợ tới tui? Có hai trường hợp.
Một là họ coi chính quyền là tiểu nhơn nên gặp tôi mấy
thầy không dám gặp, tại vì chính quyền toàn là tiểu nhơn
hay thù vặt, (tiếng cười rộ...) họ sợ bị trả thù.
Thế chính quyền có tiểu nhơn hay không? Còn không, là mấy
thầy hèn. Nhưng tôi kông tin là Phật giáo Việt nam lại hèn
như thế. Hèn như thế thì không xứng đáng tồn tại.
Nói
nghe thì mình cười, nhưng ở đây tuy rằng cười mà là cười
ra nước mắt. Ðó là cái tình trạng mình phải hiểu. Ngay
cả mấy thầy ở Huế đây vô, gặp tôi cũng tránh. Có nhiều
khi tôi cũng hơi quá đáng, tôi kêu lại hỏi "tại sao ông
gặp tôi mà không chào? Ông hèn vừa vừa thôi chứ." Nhưng
nói xong tôi cười, bảo "nói chơi vậy thôi chứ đi đi, việc
ông ông làm, việc tôi tôi làm. Nghĩa là nói xong mình hối
hận, thấy nhiều khi mình cũng là... gọi là "sân tâm phẫn
khởi mà ngôn ngưõ cai nhơn; mình nói hơi quá đáng. Nhưng
mà rồi cũng không mất lòng, sau đó gặp lại cũng cười
xuề xoà, nói chuyện với nhau. Mình tìm cách, nghĩa là mình
lỗi thì mình tìm cách cải hoá để sau họ đừng có mặc
cảm để nói chuyện. Chứ làm sao được? Tôi nói, ở ngoài
đời họ ghét nhau họ chưõi nhau rồi ai về nhà nấy ngủ.
Còn mình ở chùa thì không được. Tui có la lối mấy thầy
thì ăn cơm quá đường cũng lên ngồi chung, lên lạy Phật
cũng lạy chung. Chả lẽ mình lạy Phật ở trong thì niệm
"Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật" ở ngoài đứng kế bên
mình nghĩ cái mặt này thấy dễ ghét!" Làm sao được cái
chuyện đó, hỷ. Nó khác ngoài đời nhiều. Cho nên phải tạo
điều kiện để mà sống.
Nãy
giờ nói như vậy cũng khá nhiều. Ðúng ra mình còn rất nhiều
vấn đề để nói... Tôi thấy là mình đã có dịp may, cái
duyên rất tốt, được gặp và nói chuyện với các học tăng,
để rồi mấy thầy ở đây khi học hiểu được cái tâm
trạng của tôi, và nhất là hiểu được mục đích của tôi
khi giảng dạy quý thầy, để làm cái gì, và quý thầy học
để làm gì. Còn tôi, bằng bất cứ cách nào tôi cũng tìm
điều kiện cho mấy thầy học. Tôi vẫn dạy, khó khăn mấy
tôi cũng chấp nhận. Chỉ có điều ra đây tôi không đi được.
Nếu đi được tôi vẫn ra như thường. Cho nên mình thấy
cái học của mình nó khó như vậy đó. Mà nếu thầy có mục
đích để dạy, trò nếu muốn có mục đích phải nỗ lực.
Và nói chung, nhiệm vụ trước mắt của mấy thầy là phải
học. Còn nhưõng chuyện kia mình biết, mình để đó mà suy
nghiệm. Chứ không phải biết rồi đi nói lung tung nghe, đây
tôi nhắc lại thêm lần nưõa. Ðừng nói lung tung vì mấy
thầy xung quanh mình cũng đều là huynh đệ của tôi cả, cũng
là sư thúc, sư bá của mấy thầy. Mình không nên nói hỗn,
như vậy nó lỗi đạo. Tôi nói ví dụ như với HT Từ Ðàm
tôi vẫn kính nễ; Ôn vô Già Lam tôi vẫn đắp y qua đảnh
lễ, còn Ôn có nói chuyện với tôi thì tôi nói, Ôn không
nói thì thôi. Phần học trò mình phải giưõ lễ. Nhưng trong
nhà mình nói với nhau thì nói, chứ người ta nói đụng tới
Ôn thì tôi bênh à.
Thôi
thì nói tàm tạm chừng đó cũng đuợc, để dành thì giờ
cho nhưõng chuyện khác. Thứ nhất, tôi cũng muốn biết một
số ý kiến của mấy thầy ở đây về vấn đề học, vấn
đề tu, kể cả vấn đề tương lai - tương lai của giáo hội...
thôi bây giờ mình quên cái chuyện giáo hội đi -tương lai
của Phật giáo, và tương lai của bản thân các thầy. Ta cũng
nên thảo luận, ở đây có quý thầy quý Ôn tham gia, mình
nghe và mình may ra tìm được một cái hướng nào đó để
mà thoát ra khỏi tình trạng này. Nếu mình không thoát nỗi,
không phải mình chết trong danh dự đâu mà Phật giáo Việt
nam sẽ chết trong trạng thái gọi là nhục. Chẳng thà người
ta tiêu diệt mình bằng vũ lực, đem mình ra xử bắn. Ðằng
này cho mình chùa to Phật lớn mà bên trong trống rỗng; thì
tất nhiên mình cũng sẽ chết thôi, nhưng giống như một cái
xác ngày càng phình to trong trạng thái bệnh hoạn mà ở trong
thối tha, trống rỗng, thì cái đó không thể chấp nhận được.
Rất tiếc đúng ra chúng ta học Phật chỉ nói chuyện Phật
thôi, nhưng mà chuyện Phật nó bị chuyện đời lôi kéo nhiều
quá thành mình phải nói. Nhiều khi tôi cũng thầm tự hỏi
mình học kinh và tu cả đời mà không biết sai chỗ nào mà
càng học càng lớn càng thấy nó rắc rối chuyện đời ra?
Ta học Phật tu Phật đáng lẽ phải thong dong giải thoát chả
có ràng buộc gì, chuyện đời thấy nó phiêu diêu; mà mình
sao đủ chuyện hết! Thế mình học đúng hay học sai? Chắc
có sai ở trong đó; có sai mà cũng có cái đúng. Cái đúng
mình nói vậy thôi chứ mấy thầy gặp nhau vẫn vui vẻ như
thường, chả có gì. Gặp nhau vẫn ăn cơm chung nói chuyện
qua lại vui vẻ, mà không phải là giả dối đâu, có thiệt
tình ở trong đó, nói giả đạo đức với nhau thì hơi quá,
không phải đâu... Nhưng mà cái chuyện nhà thì nhiều khi phải
nói, tại vì mình tu thì không phải lúc nào cũng ngồi tụng
kinh cả, có lúc phải ra quét rác, có lúc phải lau bát nhang.
Ðốt nhang, nhang thơm thì có bụi, mà có bụi thì phải quét,
chứ đừng có mong nhang thơm mà không có bụi. Chuyện chi cũng
vậy, vì đời là như thế. Mình còn ở trong thế gian mà.
Chắc mấy thầy ở đây hành điệu thì biết rồi, thắp nhang
nhiều thì có bụi nhiều hà; hễ muốn có nhang trầm nhiều
cho thơm thì phải đổ bụi nhiều, mình phải chấp nhận.
Cho nên chi... mà cái này tôi nói giống như tôi biện hộ cho
nãy giờ mình nói lung tung?...
Nhóm
Phóng viên từ Huế ghi
*
Do
BBT Trang nhà viết
Source:
www.tangsidanthan.org
|