THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
c
Mười Bài Tụng Chăn Trâu
Hoà Thượng Quách Am
(Trú đỉnh châu lương sơn Quách Am Hòa thượng. Thập Ngưu Đồ Tụng)

TỰA

Chúng sinh vốn đã có saün cái nguồn suối Chân tánh của chư Phật ; nếu mê, phải chịu trôi lăn trong tam giới, nếu ngộ, tức khắc vượt ngay ra ngoài cõi tứ sinh. Do đó, có kẻ thì thành Phật, có hạng thì làm chúng sinh.

Các bậc hiền triết xưa,với tấm lòng thương yêu, đã bằng mọi cách dựng lên lắm đường đi. Về Lý, thì vượt những méo mó hay tròn đầy ; về Giáo nêu cao Đốn hoặc Tiệm. Từ thô sơ cho đến tinh tế, từ cạn cợt cho đến sâu sắc, cuối cùng, trong một chớp mắt, đóa sen xanh đã gợi lên nụ cười chúm chím của Đầu đà (Ca Diếp). Chánh pháp nhãn tạng từ đó chảy cùng khắp thiên thượng nhân gian, cõi này và cõi khác. Ai nắm được Lý của nó, thì siêu tông vượt cách, như đường chim không vết tích. Ai chỉ nắm được Sự của nó, tất lặn lội trong vũng ngôn từ, như con linh qui lết đuôi trong bùn lầy vậy.

Gần đây, có Thanh Cư thiền sư, ngài quán sát căn khí của chúng sinh, theo bệnh mà cho thuốc, soạn những bức tranh chăn trâu, tùy cơ trình bày giáo nghĩa. Từ buổi đầu, dần dần trắng, nêu rõ lực lượng còn yếu kém. Lần hồi, đến chỗ thuần chân, biểu trưng cho căn cơ đang tỏa dần. Cho tới lúc, người và trâu không còn thấy đâu nữa, đó là tiêu biểu cho yếu lý rằng Tâm và Pháp thảy đều quêân hết và cũng tiêu biểu cho giáo pháp nói rằng đã thấu suốt căn nguyên rồi vậy. Còn để lại cái nón lá, do đó, khiến cho kẻ căn khí thấp kém ngờ vực, bậc trung và bậc hạ phân vân. Hoặc ngờ nó rơi vào cõi hư vô, hoặc cho là nó rớt vào cái chấp thường hữu.

Nay xét ra, ngài thiền sư phỏng theo mô phạm của các đấng tiền hiền, rút ra từ lưng túi của mình làm mười bài thi tụng tuyệt tác, những luồng sáng giao nhau phản ảnh. Bắt đầu từ chỗ lạc mất, cuối cùng đến chỗ hoàn nguyên ; khéo léo phù hợp với mọi lớp căn cơ, lòng từ xa rộng cứu cơn đói khát. Do đó, tìm tòi diệu nghĩa, lượm lặt huyền vi, như kiếm đồ ăn cho sứa, làm mắt sáng cho loài cua biển. Bắt đầu từ việc tìm trâu, cho đến lúc đi vào chợ, thật như là đất bằng sóng dậy, đầu bỗng mọc thêm sừng. Tâm còn chẳng có để mà mò, thì làm gì có trâu để phải kiếm. Đậu lại nơi chỗ vào chợ, sao mà quỉ quái thế ? Thế là còn làm cho các ông không biết tai vạ, con cháu chẳng biết đâu mà lường. Đây, tôi thử hoang đường soạn ra đề xướng.

I. TÌM TRÂU

DẪN.Xưa nay đâu có mất, săn tìm chi? Bởi, quay lưng với Giác mà thành ra lỏng lẻo ; sấn bước vào Trần nên mới bị mất đi. Từ đó, quê hương càng lúc càng diệu vợi, mà đường sá lại gập ghềnh. Cái lẽ được và mất đã cháy bừng bừng ; phải và quấy mọc lên tua tủa.

TỤNG

Mang mang bát thảo khứ truy tầm

Thủy khoát sơn diêu lộ cánh thâm

Lực tận thần bì vô mịch xứ

Đản văn phong thụ vãn thiền ngâm

Nức lòng vạch cỏ rong tìm

Non xa nước rộng đường chim mịt mù

Sức cùng dạ mỏi tìm mô ?

Rừng phong bóng ngả nghe hồ ve ngâm.

II- THẤY DẤU

DẪN.Mò kinh để thấy nghĩa, học giáo để tìm ra tung tích. Rõ, bao khí dụng chỉ một chất vàng, hết thảy tạo vật là chính ta cả. Chính tà khỏi lựa, chân ngụy khỏi phân. Bởi chưa vào được cửa đó, nên mượn tiếng kêu là "thấy dấu".

TỤNG 

Thủy biên lâm hạ tích thiên đa

Phương thảo li phi kiến dã ma

Túng thị thâm sơn cánh thâm sứ

Liêu thiên tị khổng tạc tàng tha

Dấu chân dọc bến ven rừng 

Cỏ non chằng chịt biết chừng đâu đây?

Non kia cứ vẫn xa dầy

Trời cao mũi hẹp dấu mày được ư ?

III.THẤY TRÂU

DẪN.theo tiếng mà vào, ghé mắt là thấy. Cửa sáu căn tỏ rõ không nhầm ; ngay nơi động dụng rành rành hiển lộ. Chất mặn trong nước, chất xanh trong màu. Vén lông mày lên, là nó chứ ai!

TỤNG 

Hoàng li chi thượng nhất thanh thanh

Nhật noãn phong hòa ngạn liễu thanh

Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ

Sâm sâm đầu giác họa nan thành

Vàng anh trên ngọn líu lo

Gió reo nắng ấm bên bờ cỏ xanh 

Chỗ này thôi hết chạy quanh

Đầu sừng rối rắm khó thành vẽ lên

VI.ĐƯỢC TRÂU

DẪN.Từ lâu, vùi lấp ngoài đồng hoang, hôm nay đã gặp mi. bởi cảnh đẹp nên khó lòng đuổi, đắm say cỏ non hoài mãi không thôi. Cứng đầu còn quá lắm, tính buông lung chưa hết. Muốn cho chịu khép mọi bề, cần cho roi vọt.

TỤNG

Kiệt tận thần thông hoạch đắc cừ 

Tâm cường lực tráng tốt nan trừ

Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng

Hựu nhập yên vân thâm xứ cư

Trăm đường mới chộp được mi

Cứng đầu hăng tiết chưa qui thuận nào 

Thoảng khi dắt đến gò cao

Lại trông mây khói dạt dào buông lung

V.CHĂN TRÂU

DẪN.Niệm trước vừa khởi, niệm sau tiếp theo. Bởi đã Giác nên thành Chân. Bởi tại mê, hóa ra vọng. Chẳng phải do cảnh mà có, nhưng chính do tâm mà sinh. Xỏ mũi, cùm đầu, không chần chờ gì nữa.

TỤNG

Tiên sách thời thời bất li thân

Khủng y túng bộ nhập ai trần

Tương tương mục đắc thuần hòa dã

Cơ tỏa vô ức tự trục nhân

Cây roi mang saün kè kè

Ngại y tung vó theo bè trần ai

Sửa lưng, mày đó ta đây

Trói chân cho kỹ, mày quây đường nào ?

VI.CƯỠI TRÂU VỀ NHÀ

DẪN.Đã hết cuộc can qua, đã rồi câu được mất. Hát bài ca đồng của anh đốn củi, thổi điệu khúc quê của chú bé con. Vắt mình trên trâu, mắt mở nhìn mây vời vợi. Kêu réo, không quay đầu ; kéo lôi, cũng chẳng dừng bước.

TỤNG 

Kî ngưu dĩ lý dục hoàn gia

Khương địch thanh thanh tống vãn hà

Nhất phách nhất ca vô hạn ý

Tri âm hà tất cổ thần nha

Lưng trâu bước chậm ta về

Sáo lên vi vút ngoài tê ráng chiều 

Vừa ca vừa nhịp hiêu hiêu

Tri âm rồi khỏi ra điều nọ kia

VII. QUÊN TRÂU CÒN NGƯỜI

DẪN.Pháp không là pháp phân hai, mắt trâu là tông chỉ. Mượn tiếng "bẩy thỏ" để dụ cho dị danh ; lấy chữ "dò cá" để nêu cái sai biệt. Như vàng ròng rút ra từ đống quặng ; như trăng tỏ vén khỏi cụm mây. Một đạo hàn quang qua khỏi kiếp Uy Âm vô thủy.

TỤNG 

Kî ngưu dĩ đắc đáo gia sơn 

Ngưu dã không hề nhân dã nhàn 

Hồng nhật tam can do tác mộng

Tiên thằng không đốn thảo đường gian

Lưng trâu thoắt đã quê mình

Buông trâu mất hút mặc tình thong dong

Nắng cao còn đượm giấc nồng

Quăng roi nhà cỏ hết dùng nữa thôi

VIII.NGƯỜI TRÂU ĐỀU QUÊN

DẪN.Buông bỏ tình phàm, thì ý Thánh cũng không. Chỗ có Phật cũng không thèm rong chơi, chỗ không Phật cũng không thèm ngó lại. Không vướng đầu này hay đầu nọ, không liếc xéo nơi này hay nơi kia. Hàng trăm con chim ngậm hoa, thẹn sao là thẹn !

TỤNG 

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không

Bích thiên liêu quách tín nan thông

Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết

Đáo thử phương năng hiệp tổ tông

Người, Trâu, roi vọt đều không

Trời xanh vời vợi mù trông chốc mòng

Tuyết khoe trắng giữa than hồng

Cội nguồn quê quán tao phùng một phen

IX.PHẢN BẢN HOÀN NGUYÊN 

DẪN.Bản lai thanh tịnh, không vướng một mảy trần. Quán sát vẻ tươi và héo của những gì là hữu tướng, an thân trong cảnh ngưng tịch của đạo vô vi. Không đồng với huyễn hóa, cần gì phải tu, phải trị. Nước biếc, non xanh, ngồi mà xem cuộc thành bại.

TỤNG 

Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công

Tịnh như trực hạ nhược manh lung

Am trung bất kiến am tiền vật

Thủy tự mang mang hoa tự hồng

Mất công mò lại cội nguồn

Trắng trong một dải ra tuồng điếc đui

Trong am không thấy cõi nào

Ngoài kia hoa thắm nước trào mênh mông

X.VÀO CHỢ BUÔNG TAY

DẪN.Khép cánh cửa sài, một mình một bóng, dù Thánh Hiền vạn cổ cũng không hay. Chôn vùi cái văn vẻ của riêng ta, bỏ lại lối mòn của cổ đức. Mang bầu vào chợ, chống gậy về nhà, hàng rượu hàng cá, dạy cho thành Phật hết.

TỤNG

Lộ hung tiển túc nhập triền lai

Phù thổ đồ hôi tiếu mãn tai

Bất dụng thần tiên chân bí quyết

Trực giao khô mộc phóng hoa khai

Lưng trần chân đất chợ người 

Cát lầm bụi vẩn ta cười say sưa

Thần tiên bí quyết cũng thừa 

Cây khô thoắt đã đong đưa nhụy vàng.

"Thiền Qua Tranh Chăn Trâu" 

Hòa thượng Quách Am

Phụ lục của Tuệ Sỹ. (Trang Kế)


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap