|
c
NHỮNG
CHỈ THỊ THỰC TIỄN
ĐỐI
VỚI TU TẬP CÔNG ÁN
Dưới đây
là một vài dẫn khởi có tính cách thực tiễn đối với
sự tu tập công án, được đề ra do các Thiền sư qua nhiều
thời đại; từ đó, chúng ta có thể thấy rõ một công án
sẽ làm được việc gì để khai triển ý thức Thiền và
cũng thấy rõ sự tu tập công án đã bộc lộ cho khuynh hướng
nào theo thời gian. Rồi chúng ta sẽ thấy, sự bành trướng
của tu tập công án đã tạo nên một trào lưu mới mẻ giữa
các Thiền sư dưới triều đại nhà Minh liên kết với phép
niệm Phật. Đây là một danh hiệu gọi chung giữa tâm lý
cơ giới luận của tu tập công án và phép trì tụng Phật
danh (đề tài này sẽ được bàn riêng ở đoạn sau). (Thiền
quan sách tấn của Chu Hoằng.)
Một Thiền
sư trên núi Hoàng bá, khoảng đầu nhà Tống, chỉ thị về
lối học Thiền như sau: (Thiền quan sách tấn của Chu Hoằng.)
"Này chư
huynh đệ! Có thể chư vị thích nói về Thiền, về Đạo,
chưởi Phật, chưởi Tổ nhưng đến khi tính lại, các thứ
Thiền đầu môi chót lưỡi của chư vị nào có ích chi. Như
thế chỉ làm mờ mắt kẻ khác, nhưng nay chư vị sẽ thấy
rằng mình tự làm mờ mắt mình. Này chư huynh đệ! Lúc thân
thể còn khang kiện hãy cố mà hiểu biết chân chính Thiền
là gì. Quả tình, cái ổ khóa đó chẳng phải khó mở xoay
vào cho lắm, mà chỉ vì chư vị không quyết lòng sống chết
với công phu; rồi khi không biết làm sao để chứng, chư vị
lại bảo "khó lắm, khó lắm, sức ta không làm nổi".
Thật là
vô lý! Nếu chư vị quả thật là những kẻ trượng phu, chư
vị sẽ thấy ra ý nghĩa công án của mình. Một thầy Tăng
hỏi Triệu Châu: "Con chó có Phật tính không?" Châu đáp "Vô
".
Rồi, bây giờ chư vị hãy chuyên tâm vào chữ Vô
này
và cố mà tìm hiểu ý nghĩa của nó. Hãy chuyên tâm vào đây
cả ngày lẫn đêm; dù đi, đứng hay nằm, ngồi suốt trong
mười hai thời; dù cả khi mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu
tiện, hãy chú tâm nhất định nơi công án. Hãy tận lực
ghi nhớ nó mãi trong lòng. Ngày qua tháng lại, cho tới khi tâm
của chư vị được nhồi lại thành một khối, thì hoa lòng
bỗng nhiên bừng nở tỏ ngộ cái tâm cơ của Phật và Tổ.
Bấy giờ, kể từ nay, khắp trong thiên hạ chẳng còn một
lão Thiền sư nào mà mắt chư vị được nữa." (Lời Bình
của Chu Hoằng: "Đây là khởi thủy của việc đề công án
khán thoại đầu về sau này. Nhưng, bất tất chấp chặt chữ
vô. Hoặc chữ vô, hoặc vạn pháp, hoặc núi Tu di, hoặc chết
rồi, hoặc đốt rồi, v.v., nhẫn đến hoặc tham cứu niệm
Phật. Tùy theo mà giữ lấy một tắc (một công án hay một
thoại đầu), hẹn cho đến khi Ngộ thì thôi. Chỗ ghi chẳng
đồng, nhưng chỗ ngộ không khác." Thiền quan sách tấn (D.G.)
Phật tích
Di-am Chân thiền sư khuyên rằng: "Lời xưa có nói mười
phần tin là mười phần nghi; mười nghi là mười phần ngộ;
(Tín hữu thập phần, nghi hữu
thập phần.
Nghi hữu thập phần, Ngộ hữu thập phần. (D.G.) hãy rửa
sạch cái tâm bình sinh chứa đầy những sở kiến, sở văn,
biết lầm, hiểu bậy, lời lạ, tiếng hay, đạo Thiền, pháp
Phật, cống cao, ngã mạn v.v. Chỉ chuyên chú tâm vào cái công
án chưa hiểu thấu. Nghĩa là ngồi tréo chân cho vững, dựng
xương sống cho thẳng, đừng phân biệt đêm ngày, giữ tâm
chuyên nhất cho đến lúc chẳng bận lòng đông tây hay nam
bắc. Như một người chết còn thở.
"Tâm theo
cảnh mà hóa, đụng đến là biết ngay. Rồi tự nhiên ý niệm
thôi móng khởi, tâm thức hết đường đi. Rồi hốt nhiên
đập vỡ óc não và tự đấy nhận ra rằng nguyên lai Đạo
vốn có trong mình. Bây giờ há chẳng phải là một bình sinh
khoái chí sao?"
Đại Huệ
là một đại luận sư về công án của thế kỷ XII. Một
trong những công án lừng danh của sư là Vô của Triệu
Châu, nhưng sư cũng có một công án riêng của mình. Sư thường
mang cây gậy trúc ngắn đưa ra trước chúng tăng và bảo:
"Nếu các ngươi gọi đây là cây gậy, hãy nói là phải; nếu
các ngươi không gọi nó là cây gậy, hãy nói là không phải.
Ngoài cái phải và không phải, các ngươi sẽ gọi nó là gì?"
Trong trích dẫn sau đây rút ra từ các bài pháp của ngài nhan
đề là Đại Huệ Phổ Thuyết do Thủ Tịnh (Tsu-Ching,
hay Thủ Tịnh là một trong những môn đồà của Đại Huệ?
Cũng tác phẩm này, in trong DTK. 1998 thì là do Uẩn Văn, cũng
một cao đệ của Đại Huệ. (D.G.) 1190, soạn tập, ngài
còn nêu lên một công án khác cho vị tăng thị giả của mình
là Tịnh Quang. (Ching Kuang, không rõ là Tịnh Quang hay
Kinh Quang, cả hai tên này không thấy có trong DTK. 1998; trong
đây chỉ thấy có Kinh Cán, nhưng không cùng một phát âm,
và nội dung cũng khác với đoạn trích dẫn, DG)
"Pháp không
do kiến văn giác tri mà biết rõ. Nếu pháp kiến văn giác
tri mà biết rõ, đấy chỉ là kiến văn giác tri mà thôi; hoàn
toàn không phải là cầu pháp. (Đoạn này trích trong kinh
Duy-ma-cật; và được trích rất nhiều trong tác phẩm dẫn
trên của Đại Huệ: Pháp bất khả kiến văn giác tri. Nhược
hành kiến văn giác tri, thị tắc kiến văn giác tri, phi cầu
pháp dã". (D.G.) Bởi vì pháp không ở nơi những cái mà
người ta nghe từ kẻ khác hay học tập bằng thế trí. Bây
giờ, ngươi hãy bỏ đi những gì thấy, nghe và suy nghĩ mà
thấy những gì trong chính ngươi. Chỉ có chân không, vô vật,
không thể bắt nắm được, không thể nghĩ tưởng đến được.
Tại sao? Bởi vì đó là nơi siêu việt giác quan. Nếu giác
quan mà với tới nơi này được, thì đó là cái có thể ghi
tưởng có thể bám víu; và như vậy, nó nằm trong vòng sống
chết.
"Điều cốt
yếu là khép chặt các giác quan, và biến tâm thức thành như
một khúc cây. Khi khúc cây này đột nhiên chổi dậy và khua
vang, ấy là ngươi như sư tử cất tiếng rống tự do, tự
tại không ai quấy phá, hay như một con voi vượt qua sông chẳng
e dè dòng nước chảy xiết. Đấy là lúc không còn dao động,
không còn tại tác, không có gì hết, Trưởng lão Ping tien
(?) nói:
Trời trong
không mây mù
Đạo thường
tồn miên viễn
Ai bước
vào cửa này
Không học,
không luận biện
"Nhà ngươi
phải biết rằng do kiến văn tri giác mà bước vào đạo và
cũng do kiến văn tri giác mà không bước vào được. Tại
sao? Hãy cầm lấy cây dao hai lưỡi, nó giết chết và cứu
sống; nơi này là chỗ kiến văn tri giác của ngươi, và ngươi
có thể dùng được cái kiến văn tri giác ấy. Nhưng nếu
thiếu con dao hai lưỡi này, nó vừa giết chết vừa cứu sống
ấy, thì kiến văn tri giác của ngươi chỉ là một khối trở
ngại lớn lao, nó xô ngươi té sấp mãi mãi; con mắt Đạo
của ngươi sẽ mù hẳn, ngươi sẽ lang thang trong bóng tối,
mắt mù, không biết sẽ làm sao để tự do tự tại. Nhưng
nếu ngươi muốn mình là một vị thầy tự tại của chính
mình bằng cách dứt bỏ kiến văn tri giác, hãy kềm lại cái
tâm leo trèo như vượn, đừng để làm bậy; hãy bắt nó đứng
yên; hãy kiên quyết chú tâm vào bất cứ những gì ngươi
đang làm đi đứng hay nằm ngồi, im lặng hay nói năng; hãy
giữ tâm ngươi như một sợi dây căng thẳng; đừng để nó
vuột khỏi tay mình. Ngay khi nó vuột khỏi vòng câu thúc, ngươi
sẽ thấy nó lao đầu vào nơi kiến văn tri giác. Trong trường
hợp như thế, có cách nào đối trị? Phải đối trị cách
nào khả dĩ đây?
"Một thầy
tăng hỏi Vân Môn: "Phật là cái gì?" "Đồ chùi phân." Đây
là trị liệu; dù khi đi đứng hay nằm ngồi, hãy mãi mãi
để tâm trên cái "Đồ chùi phân" này. Thời cơ sẽ đến
khi tâm ngươi đột nhiên dừng lại như một con chuột già
thấy mình đang ở bước đường cùng. Rồi khi nhảy bổ vào
cái tịt mù và kêu lên; "À, là đây;" khi tiếng kêu này được
thốt lên, ngươi đã khám phá ra chính mình. Cùng lúc ngươi
thấy tất cả những giáo thuyết quí báu xưa kia được ghi
trong Tam Tạng kinh điển, trong Bách Gia Chư Tử, chỉ là những
chú giải của tiếng kêu bất chợt của chính ngươi "À, là
đây!"
Đại Huệ
không hề mỏi lòng nhắc nhở môn đệ của mình sự quan trọng
của chứng ngộ siêu việt ngôn ngữ biện biệt, vượt ngoài
giới hạn của tâm hành. Những bức thư và những bài pháp
của ngài đầy cả khuyến thị và giáo huấn hướng về cứu
cánh này. Tôi trích dẫn một vài đoạn trong đó. Sự nhấn
mạnh của ngài trên điểm này chứng tỏ rằng đương thời
Thiền đang sa đọa thành một hình thức một chiều tịch
mặc, và đằng khác thành biện biệt về các công án của
các bậc tôn túc để lại.
"Học Thiền
phải đi đến chung cùng là chứng ngộ (ngộ nhập).
Như một chiếc thuyền hội được làm để giựt giải nay
bị ném vào một góc vắng. Các bậc tôn túc của Thiền cũng
vậy; bởi vì chúng ta chỉ biết rõ sự thành đạt đích thực
của Thiền khi nào chúng ta chứng ngộ. Bất cứ cách nào,
phải đạt đến chứng ngộ; nhưng các ngươi sẽ không bao
giờ đạt được mong ước bằng cách ngồi yên lặng một
mình, ngồi như một người chết. Tại sao? Tổ sư há chẳng
có nói rằng khi các ngươi cố đạt cái tĩnh mặc bằng cách
dẹp hết các hoạt động thì cái tĩnh mặc của các ngươi
lại càng quấy nhiễu hơn nữa? Dù các ngươi có hăng hái
để làm lắng đọng cái tâm tạp loạn của mình kết quả
sẽ hoàn toàn ngược lại những gì ước mong thể hiện được,
khi mà tập quán biện biệt vẫn còn tiếp tục. Vì vậy hãy
vứt bỏ tập quán biện biệt đó đi; phải vẽ ra trước
mắt hai chữ sống và chết và khăng khăng chú
tâm vào công án sau đây như phải gánh chịu một món nợ
phải trả vô cùng nặng nề. Hãy nghĩ nhớ công án dù đang
làm bất cứ việc gì, dù là ngày hay đêm. Một thầy tăng
hỏi Triệu Châu "Con chó có Phật tính không". Châu nói Vô.
Hãy chú tâm vào chữ vô này và hãy nhìn xem cái gì nằm
trong đó. Đến lúc tâm đã định ngươi sẽ thấy công án
chẳng có mùi vị gì hết, nghĩa là chẳng có đường lối
phân biệt nào để dò vào trong lòng của nó. Nhưng cùng lúc
ấy, các ngươi có thể cảm thấy hoan lạc xâm chiếm trong
lòng mình, và ngay sau đó, một cảm giác khác tiếp theo, lần
này là một cảm giác bất an. Đừng để ý đến sự xen kẽ
của các xúc cảm này, hãy cố tiến tới công án, cho đến
lúc ngươi sẽ tự thấy là mình như một con chuột già lao
đầu vào đường. Bây giờ cần một bước quay lui, nhưng
những kẻ hạ căn hay dao động và ngập ngừng không bao giờ
có thể làm vậy nổi.
Nơi khác,
Đại Huệ nói : "Hãy kiên trì công án trong suốt cả bình
sinh. Nếu một niệm khởi lên, đừng cố ý dẹp xuống, mà
cứ cố giữ công án hiện tiền với tâm. Dù khi đi khi đứng
hay nằm ngồi, chú tâm không gián đoạn. Đến khi bắt đầu
thấy nó không còn hương vị gì hết, ấy là lúc thời cơ
quyết định đang đến; đừng để nó vuột mất. Đến khi
một vật đột nhiên chớp lên trong tâm ngươi, ánh sáng của
nó sẽ sáng rực cả vũ trụ, và ngươi sẽ thấy rằng quốc
độ của chư Phật hoàn toàn hiện lên trên đầu một sợi
tóc, và bánh xe Chánh pháp vĩ đại đang quay trong một hạt
bụi" (Những đoạn trên của Đại Huệ được trích trong
Phổ thuyết, ngữ lục và thư. Ngài rất giỏi về kinh Hoa
Nghiêm (Avatamsaka hay Gandayùaha), nên có nhiều dẫn dụng của
giáo nghĩa kinh này, như đoạn chót ở trích dẫn trên.)
Không Cốc
Long (Nguyên tác viết theo âm Bắc bình là K ung-ku Ching-lung.
Dò theo bản sách dẫn thì những âm sau đây chỉ chung một
người : K ung-ku ching-hung, K ung-ku Ching-lung, K ung-ku lung.
Hai âm sau, theo âm Hán Việt là Không cốc Cảnh Long và Không
cốc Long, thấy trong Truy môn Cảnh huấn (DTK. 2023) và Thiền
quan sách tấn (DTK. 2023); nhưng K ung-ku Ching-hung thì không biết
đọc âm Hán Việt ra sao, vì chúng tôi chưa tìm ra xuất xứ
của đoạn trích dẫn này (tác giả không cước chú xuất
xứ; lối trích dẫn không cước chú này, trong nhiều chỗ
khác, thường khiến người dịch bối rối không ít khi muốn
tìm một dụng ngữ chính xác. Vả lại, các ấn bản của
trích dẫn thường là rất cổ, nên nhiều bản hoặc thừa
hoặc thiếu khác nhau. Trừ phi có ngay ấn bản mà tác giả
dẫn dụng mới tránh khỏi những phiền phức khi vừa dịch
vừa đối chiếu xuất xứ). (D.G) đã từng khuyên các sư
tăng tương tợ!
"Cái vô
của Triệu Châu, trước khi các thầy thấu triệt nghĩa lý
của nó, thì nó như một hòn núi bạc hay như một bức tường
sắt (nó đứng chắn lối của các thầy). Nhưng khi các thầy
tiến tới với cái vô ngày qua ngày, cố bước vào trong
lòng của nó, đừng để một khoảnh khắc dừng nghỉ, thời
cơ tối thượng nhất định sẽ đến, như một cơn lụt tràn
ngập; và rồi các thầy sẽ thấy rằng bức tường sắt hay
hòn núi bạc chẳng chút gì đáng sợ. Điều quan trọng là
đừng tin gì ở cái học, mà để hết tâm trí vào việc giải
quyết vấn đề sanh tử. Đừng phí thì giờ ngồi không suy
nghĩ về cái vô, hãy như một tên si ngốc không khác,
đừng cố giải quyết sai lầm bằng tư duy biện biệt. Hãy
kiên quyết để hết tâm chí mà hiểu thấu cái vô. Rồi
đột nhiên, khi các người buông tay xuống, toàn thể tâm thức
hoàn toàn đảo ngược và kể từ đây các người nhận thấy
vô cùng minh bạch nơi chốn tận cùng của nó."
Tác giả
của Thiền gia qui giám (Thiền gia qui giám Do Thối
Ẩn, một Thiền sư người Cao li, đời Minh (A.D. 1368-1650) Tác
phẩm xuất hiện năm 1579.) xác nhận tất cả những điều
đã được trích dẫn trên, và mô tả đầy đủ về tâm lý
của thực tập công án.
"Người học
Thiền cần phải nhìn vào chỗ sống động chứ đừng nhìn
vào chỗ chết. (Các Thiền sư thường phân biệt tử cú
và hoạt cú. Hoạt cú chỉ cho những câu không hề có giảng
giải bằng suy lý mà đẩy tác động ý thức thường nghiệm
đến kỳ cùng. Còn tử cú là những câu chịu chi phối của
luận lý hay triết học do đó có thể học và có thể truyền.
Đấy là theo Thối Ẩn.) Hãy cố tìm hiểu ý nghĩa công
án của mình, đồng thời đặt hết sức mạnh tinh thần vào
phận sự như gà mái ấp trứng, như chuột rình mèo, như người
đói tìm thức ăn, như kẻ khát tìm thức uống, như con nhớ
mẹ. Nếu nổ lực đến kỳ cùng và kiệt lực như thế, chắc
chắn thời cơ sẽ đến khi ý nghĩa của công án soi tỏ trên
mình.
"Có ba yếu
tố khiến cho việc học Thiền được thành tựu: 1.) Tín lớn;
2.) Chí lớn và 3.) Nghi lớn. Thiếu một trong ba cũng như cái
đỉnh gẩy hết một chân, nó sẽ đổ. Trong suốt cả bình
sinh, bất kể đang làm gì, hãy nỗ lực tìm thấy nghĩa lý
cái Vô của Triệu Châu, luôn luôn gìn giữ công án hiện
tiền, đừng bao giờ xao lãng tinh thần cầu hiểu. Hành trì
liên tục bất đoạn, các thầy sẽ thấy rằng chẳng có khúc
mắc của trí thức nào ở trong công án, thấy rằng nó hoàn
toàn vô nghĩa khi các thầy hiểu chữ này một cách bình thường,
thấy rằng nó hoàn toàn nhạt nhẽo vô vị, chẳng chút ngon
ngọt nào, và rồi các thầy sẽ cảm thấy bồn chồn bất
an. Đến đây là lúc rút kiếm ra khỏi vỏ, buông mình xuống
vực thẳm và từ đó mà gieo trồng căn tính của Phật quả.
"Đừng nghĩ
rằng ý nghĩa của công án hiện ra khi các thầy nắm lấy
nó để giải quyết; đừng biện biệt hay nghĩ tưởng gì
hết, đừng mong chờ chứng ngộ bằng cách lắng tâm dứt
hết các ý tưởng tạp loạn; chỉ chuyên tâm vào tính cách
bất khả tư nghì của công án, trên đó, tâm trí rõ ràng
không chút câu thúc. (Về thái độ của hành giả Thiền
đối với công án, trong các phụ lục, tôi đã dẫn chứng
các chỉ thị cung cấp những tài liệu hứng thú đối với
việc khảo cứu tâm lý về ý thức Thiền. Thối Ẩn (Tui
yin) khuyên các môn đệ công án gồm sáu điểm : 1) Không tính
toán theo trí tưởng tượng: 2) Không phóng tâm xao lãng khi
minh sư nhướng mày hay nhắm mắt ; 3) Không qui định công
án để rút ra một ý nghĩa; 4) Không bộc bạch bằng lời
; 5) Không đặt ý nghĩa công án làm đối tượng cho tư tưởng
; 6) Đừng coi Thiền như một trạng thái chỉ thụ động ;
7) Không phán đoán công án theo tiêu chuẩn hữu và vô ; 8)
Không coi công án như là chỉ điểm cho ngoan không (tuyệt đối
trống rỗng) ; 9) Không lẩm nhẩm công án ; 10) Đừng đem lòng
chờ đợi chứng ngộ. Thực tập công án được pha trộn
với Thiền định, nhưng theo tất cả những cảnh giác này
do một vị tôn túc đề ra về việc thực tập công án, thì
rõ ràng Thiền (tông) không phải là thực tập Thiền định
(tư duy) hay kham nhẫn (thụ động). Nếu những người học
Thiền từ Đông đến Tây hiểu đúng đắn, thì phải hiểu
trọn vẹn nét đặc sắc này. Thiền có một chủ đích rõ
: "bừng tâm tỏ ngộ" ; và để đi đến tâm trạng này, phải
nhìn thẳng công án bằng đôi mắt của tâm không tư duy, không
chấp trước, chỉ coi như một cây sào nhờ đó mà nhảy khỏi
dòng sông tương đối qua bờ tuyệt đối bên kia. Cái đặc
sắc của đạo Phật Thiền tông là mọi thành quả không qua
trung gian của khái niệm tôn giáo như tội lỗi, đức tin,
Chúa, ân sủng, cứu chuộc, đời sau. v.v.) Cuối cùng các
thầy sẽ thấy mình như một con chuột già lao vào góc kín
đáo nhất của kho lúa nơi đây khi nhìn tới nhìn lui đột
nhiên nó tìm ra lối thoát. Cân nhắc công án bằng tiêu chuẩn
trí thức, như các thầy thường làm với những việc khác;
sống cái kiếp sống trôi nổi trong dòng sinh tử; luôn luôn
bị dày vò bởi những cảm giác sợ hãi, lo âu và lưỡng
lự, tất cả những thứ đó đều do tưởng tượng và tâm
trí mưu toan mà ra. Các thầy phải biết cách đứng lên trên
những tế toái cuộc sống mà lắm người đang bị chìm đắm
trong đó. Đừng phí thời giờ hỏi phải làm sao, chỉ cứ
để hết tâm hồn vào công việc. Như một con muỗi châm chích
con bò mộng bằng sắt; ngay khi tấm sắt đẩy ngược hẳn
cái vòi yếu ớt của các thầy, nhưng hãy cố một lần quên
lãng mình đi, mà cứ bước vào, công trình sẽ thành tựu."
Đến đây
chúng ta đã trích dẫn khá đủ những thẩm quyền cho thấy
đâu là sứ mệnh của công án dẫn đến chỗ gọi là chứng
ngộ và cũng cho thấy cái gì xảy ra trong lòng Thiền sư khi
ngài bắt đầu tập luyện tâm trí của môn nhân đưa họ
đến chỗ thuần thục của ý thức Thiền. Tôi kết luận
vắn tắt chương này với một đoạn trích từ tác phẩm của
Bạch ẩn Huệ Hạc, cha đẻ của phái Thiền Lâm Tế Nhật
bản ngày nay. Trong trích dẫn này chúng ta sẽ thấy tâm lý
của Thiền tiến hành ra sao vốn chẳng có thay đổi nhiều
qua hơn một nghìn năm, từ thời Huệ Năng và các môn đệ
Trung hoa của ngài.
"Nếu các
ngươi muốn đạt được đạo lý thanh tịnh của vô ngã,
thì hãy cứ một lần buông tay rơi trên vực thẳm, rồi các
ngươi sẽ bừng tỉnh chổi dậy trở lại và thành tựu bốn
đức thường, lạc, ngã, tịnh. Thế nào là buông tay xuống
vực thẳm? Giả sử có người dạo bước giữa những hòn
núi xa xôi, nơi chưa từng có ai lưu lạc đến. Người ấy
đến bên bờ một vực thẳm không đáy, đá lởm chởm, rong
rêu phủ kín, vô cùng trơn tuột, không biết đặt chân đâu
cho vững; y không thể đi tới, không thể bước lui, cái chết
đối diện. Nguồn hy vọng độc nhất là giữ lấy sợi dây
saün trong tay; sinh mệnh của y gởi vào sợi dây này. Nếu
y bất cẩn buông tay, thân thể y sẽ lao thẳng xuống vực,
xương thịt sẽ tan ra từng mảnh.
"Người học
Thiền cũng vậy. Khi y bám chặt công án trong tay, rồi y sẽ
thấy rằng mình đã bước tới cực độ khẩn trương của
tinh thần và đang ở trong bước đường
như một
người bị treo lơ lửng trên vực thẳm, chẳng còn biết phải
làm gì. Trừ những cảm giác bồn chồn bất an, từng lúc
và từng lúc, y giống như một người đã chết. Đột nhiên
y thấy thân và tâm của mình bị quét ra khỏi cuộc sống
cùng lúc với công án. Đấy gọi là "buông tay"; khi các ngươi
tỉnh khỏi cơn si ngốc và lấy lại hơi thở, giống khi uống
nước chỉ mình biết là lạnh. Đó là một niềm vui khôn
tả".
"Tu Tập Công
Án"
Tuệ Sỹ
|